Ngư trường vùng biển VN Dựa vào đặc điểm về vị trí địa lý và địa hình, vùng biển Việt Nam được chia làm 4 ngư trường khai thác chính: ngư trường vịnh Bắc bộ, ngư trường miền Trun
Trang 1KHAI THÁC THỦY SẢN ĐẠI CƯƠNG
Phần 1 Nghề cá và ngư trường
Trang 2KHAI THÁC THƯƠNG MẠI VÀ ĐÁNH CÁ GIẢI TRÍ
Khai thác thủy sản là một trong những hoạt động cổ xưa nhất của loài người
Khai thác thương mại muốn đạt được lợi
nhuận tối ưu (doanh thu và chi phí hoạt động của tổng cường lực đánh bắt là hợp lý nhất) đòi hỏi phải có sự kết hợp liên ngành từ các dịch vụ hậu cần nghề cá đến cơ cấu nghề
phát triển hợp lý, đồng thời phải duy trì và
bảo vệ tốt nguồn lợi thủy sản
Trang 3ĐÁNH CÁ GIẢI TRÍ
Trên thế giới đã xuất hiện hình thức này từ rất lâu
Ở Việt Nam, loại hình giải trí này chưa được đầu tư một cách thích đáng
Hiện nay, chỉ có ở Mỹ mới có phân ra nghề
cá thương mại và nghề cá giải trí Hầu hết các nước khác chỉ gọi là công nghiệp cá,
công nghiệp khai thác thủy sản, nghề đánh
cá biển, công nghiệp khai thác hải sản…
Trang 4Ngư trường
Ngư trường khai thác là nơi có các quần thể
cá (hay hải sản khác) tập trung tương đối ổn định, việc tiến hành khai thác tại đây luôn đạt sản lượng cao
Sự xuất hiện các quần thể cá tại ngư trường thường mang tính mùa vụ, với chu kỳ dài
ngắn khác nhau tùy thuộc các yếu tố sinh thái
tự nhiên
Các ngư trường thường đựơc gọi tên theo
địa danh gần chúng nhất, thường là tên các đảo hoặc cửa sông
Trang 5Bãi cá khai thác
Bãi cá khai thác là vùng nước có những điều kiện sinh thái thích hợp, là nơi hội tụ đàn cá
để sinh đẻ hay để kiếm mồi
Tùy theo quần thể cá, các bãi cá được chia thành bãi cá đáy hoặc bãi cá nổi
Mỗi ngư trường thường gồm nhiều bãi cá
Trong thực tế đôi khi khái niệm bãi cá được dùng chỉ ngư trường
Trang 6Ngư trường vùng biển VN
Dựa vào đặc điểm về vị trí địa lý và địa hình, vùng biển Việt Nam được chia làm 4 ngư
trường khai thác chính:
ngư trường vịnh Bắc bộ,
ngư trường miền Trung,
ngư trường Đông Nam bộ
ngư trường Tây Nam bộ
Chế độ gió mùa đã tạo nên sự thay đổi cơ
bản điều kiện hải dương sinh học, làm cho sự phân bố cá mang tính chất mùa vụ rõ ràng
Trang 7 Dựa vào mối tương quan giữa cá và nguồn thức ăn (sinh khối động vật phù du và động vật đáy), vùng biển Việt Nam được chia ra thành các ngư trường:
ngư trường gần bờ,
ngư trường thềm lục địa
ngư trường ngoài thềm lục địa
Theo sự phân chia này, tổng diện tích của:
vùng biển gần bờ của Việt Nam là 98.100km2;
thềm lục địa Việt Nam khoảng 326.200km2
vùng biển ngoài thềm lục địa Việt Nam là 377.000km2
Ngư trường vùng biển VN
Trang 8Vùng biển vịnh Bắc bộ
Thời kỳ gió mùa đông bắc từ tháng 10 đến
tháng 3 năm sau, cá tập trung ở vùng nước sâu giữa vịnh
Thời kỳ gió mùa tây nam từ tháng 4 đến
tháng 7, cá di cư vào vùng nước nông ven bờ
để đẻ trứng Thời kỳ này các loài cá nổi tập trung nhiều nhất ở vùng gần bờ, sau đó giảm
đi
Sản lượng cá đáy ở vùng gần bờ cao nhất từ tháng 9 đến tháng 11
Trang 9Vùng biển miền Trung
Từ Đà Nẵng đến Mũi Dinh:
địa hình đáy dốc
khu vực nước nông dưới 50m rất hẹp,
lưu lượng nước sông ít nên chịu ảnh hưởng trực tiếp của nước ngoài khơi
vùng gần bờ, cá thường tập trung từ tháng 3 đến
tháng 9, chủ yếu là các loài cá nổi di cư vào bờ đẻ
trứng
sự phân bố của cá đáy không thay đổi nhiều theo mùa
Vùng nước nông ven bờ từ Quy Nhơn đến Nha
Trang có mật độ cá đáy tập trung tương đối cao
Trang 10Vùng biển Đông Nam bộ và Tây Nam bộ
Thời kỳ gió mùa đông bắc, cá nổi tập trung ở vùng gần bờ nhiều hơn thời kỳ gió mùa tây nam Các khu vực tập trung chính ở Vũng Tàu - Phan Thiết, quần đảo Côn Sơn
Thời kỳ gió mùa tây nam, cá phân tán, mật độ cá trong toàn vùng giảm, không có những khu vực tập trung lớn và có xu hướng ra xa bờ
Các khu vực đẻ trứng gần bờ, số lượng đàn cá tăng lên, có nhiều đàn lớn, có lúc di chuyển nổi lên tầng mặt
Sản lượng cá đáy vùng gần bờ phía Tây Nam bộ nhìn chung cao hơn vùng biển phía Đông Nam bộ
Bờ phía đông, sản lượng khai thác vào thời kỳ gió mùa đông bắc cao hơn thời kỳ gió mùa tây nam, còn ở bờ phía tây thì ngược lại
Trang 11Ngư trường trọng điểm của nghề khai thác xa bờ VN
Ngư trường nghề lưới kéo đơn
Ngư trường nghề lưới kéo đôi
Ngư trường lưới vây
Ngư trường khai thác lưới rê
Trang 12Ngư trường nghề lưới kéo đơn
Vùng giữa vịnh Bắc bộ (từ Nam Định đến Nghệ An), chủ yếu ở
độ sâu 30-50m
Ngư trường Hòn Mê - Mát đến Cồn Cỏ: chủ yếu ở độ sâu 30-50m và cả dải độ sâu dưới 30m
Ngư trường Bạch Long Vĩ và nam Bạch Long Vĩ nằm trong dải
độ sâu 30-50m
Ngư trường ven theo dải độ sâu 30-50m, chạy từ Thái Bình đến Nghệ An và lấn sâu cả vào đường đẳng sâu dưới 30m
Ngư trường đông bắc đảo Phú Quý có phạm vi hẹp, nằm trong dải độ sâu 50-100m
2 ngư trường nhỏ phía đông nam đảo Côn Đảo: một ở dải độ sâu 30-50m và một ở dải độ sâu 100-200m
Ngư trường khơi nam - đông nam Côn Sơn ở dải độ sâu
70-200m, là ngư trường cá bò của nghề lưới kéo đơn
Ngư trường tây - tây nam đảo Hòn Khoai trong dải độ sâu 30-50m và kéo vào tận độ sâu 20m nước
Trang 13Ngư trường nghề lưới kéo đôi
Vào vụ Nam các tàu lưới kéo đôi có công suất 300-600CV hoạt động ở ngư trường nam Nghệ An đến bắc Quảng Bình, nằm trong dải độ sâu 30-50m
Vùng đông nam Côn Sơn là ngư trường hoạt động của tàu trên 600CV Vùng biển Đông Nam bộ là ngư trường rộng lớn, nhưng các tàu hoạt động chủ yếu ở vùng biển Phan Thiết - Vũng Tàu
và tại các vùng đông bắc, tây - tây nam, nam và đông nam Côn Sơn
Ngư trường đông bắc đảo Phú Quý: là ngư trường nhỏ ở dải độ sâu 30 -50m nước
Ngư trường Côn Sơn có độ sâu >30m
Ngư trường khơi phía nam đảo Côn Sơn: ở dải độ sâu 30-50m,
là ngư trường quan trọng của nghề cá xa bờ vùng biển Đông Nam bộ
Trang 14Ngư trường lưới vây
Ngư trường của vịnh Bắc bộ: từ dải độ sâu 30m trở ra độ sâu 30-100m, nhưng chủ yếu ở mức 50-100m nước
Vùng khơi biển Nghệ An: có độ sâu từ 30m đến lớn hơn 50m
Ngư trường Quảng Bình - Quảng Trị: ở dải độ sâu trên dưới 30m nước
Ngư trường Quảng Ngãi
Ngư trường Phan Thiết - Vũng Tàu, nằm theo dải độ sâu 30-100m, chủ yếu tập trung ở vùng nước trên dưới 50m nước
Vùng biển Nam Trung bộ, chủ yếu tập trung ở dải độ sâu 200m trở vào tới phía bắc đảo Phú Quý
Ngư trường nam Côn Sơn, ở độ sâu 30-50m nước
Ngư trường Hòn Khoai, dưới 30m nước
Ngư trường giữa vịnh Thái Lan, là ngư trường rộng lớn, nằm ở dải độ sâu 30-100m nước, tập trung nới có độ sâu lớn hơn 50m nước
Trang 15Ngư trường khai thác lưới rê
Khu vực giữa vịnh Bắc bộ: nằm dọc theo đường đẳng sâu 50m nước
Ngư trường ngoài khơi biển miền Trung: nằm rải rác trong
vùng, chủ yếu là khu vực nam Hoàng Sa
Ngư trường nhỏ ngoài khơi Phú Yên, Khánh Hòa - Bình Thuận đến độ sâu dưới 30m nước
Ngư trường từ Vũng Tàu đến Côn Sơn, trong dải độ sâu 30-50m nước
Ngư trường Đông Nam bộ, nằm rải rác khắp vùng biển từ nam Bình Thuận, tập trung nhiều ở dải độ sâu 30-50m nước
Ngư trường phía nam Hòn Khoai
Ngư trường biển Tây Nam bộ từ giữa vịnh Thái Lan đến phía nam Phú Quốc và từ ven bờ ra đến hết độ sâu 50m nước
Trang 16Ngư trường nội địa
Hệ thống sông, suối
Hồ tự nhiên
Hồ chứa
Các thủy vực và hồ nông cạn
Vùng đồng bằng ngập nước
Cửa sông
Rừng ngập mặn
Vùng duyên hải
Đầm lầy (marsh)
Đầm than bùn (bog)
Rừng đầm lầy (swamp
Trang 17Tài liệu tham khảo
Chính phủ, 2010 Nghị định số 33/2010/NĐ-CP Về quản lý hoạt động khai thác thủy sản của tổ chức, cá nhân Việt Nam trên các vùng biển
HN, 31/3/2010.
Ngô Đình Chùy, 1881 Giáo Trình Nguyên Lý Tính Toán Ngư Cụ Đại Học Thủy Sản Nha Trang.
F.A.O, 1985 Fishing Method of The World 1245 pp
Friman, A L., 1992 Calculations for fishing gear designs Fishing News Books, University Press, Cambridge 241pp.
Nguyễn Nguyễn Du, Claire Smallwood, Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn
Xuân Trinh, Nguyễn Trọng Tín Bộ sưu tập ngư cụ nội địa vùng Đồng bằng sông Cửu Long Viện NCNT TS II & MRC.
Nguyễn Thiết Hùng, 1982 Giáo Trình Thiết kế lưới Kéo Đại Học Thủy Sản Nha Trang.
Nguyễn Văn Kháng, Lê Văn Bôn, Bùi Văn Tùng - Bách khoa thủy sản - Hội Nghề cá Việt Nam