Sự phát triển ngành khoa học kỹ thuật quân sự sẽ phụ thuộc vào quy mô, tổ chức lực lượng các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật quân sự, và đặc biệt phụ thuộc vào việc phát triển nguồn lự
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
TP HỒ CHÍ MINH - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Chuyên nghành: CNDVBC&CNDVLS
Mã số: 62228005
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học PGS.TS TRỊNH DOÃN CHÍNH
TP HỒ CHÍ MINH – 2013
Trang 3Công trình được hoàn thành tại
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Phản biện độc lập 1: PGS.TS ĐẶNG HỮU TOÀN
Phản biện độc lập 2: TS NGUYỄN TIẾN SĨ
Phản biện 1: PGS TS ĐẶNG HỮU TOÀN
Phản biện 2: PGS TS VŨ VĂN GẦU
Phản biện 3: PGS.TS LƯƠNG MINH CỪ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRỊNH DOÃN CHÍNH
Luận án sẽ được bảo vệ trước hội đồng chấm luận án cấp cơ sở đào tạo họp tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia
Thành phố Hồ Chí Minh Vào hồi 8 Giờ 00 Ngày 13 Tháng 4 Năm 2013
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trịnh Doãn Chính Các số liệu, tài liệu được
sử dụng trong luận văn là hoàn toàn trung thực, chính xác và có nguồn gốc
rõ ràng
Tp.Hồ Chí Minh, ngày 6 tháng 4 năm 2013
Tác giả
Trịnh Xuân Sơn
Trang 5MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1 PHẦN NỘI DUNG 13
Chương 1 LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CÁN
BỘ KHOA HỌC TRONG CÁC VIỆN NGHIÊN CỨU KHOA
HỌC KỸ THUẬT VÀ CÔNG NGHỆ QUÂN SỰ 13 1.1 QUAN NIỆM VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CÁN BỘ
KHOA HỌC TRONG CÁC VIỆN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
1.1.1 Khái luận về nguồn lực và phát triển nguồn nhân lực 13
1.1.2 Nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu
khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự 35
1.1.3 Phát triển nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện
nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự ở Việt Nam
1.2 VAI TRÒ CỦA NGUỒN LỰC CÁN BỘ KHOA HỌC
TRONG CÁC VIỆN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KỸ THUẬT
VÀ CÔNG NGHỆ QUÂN SỰ ĐỐI VỚI AN NINH QUỐC
PHÒNG VÀ NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN 61 1.2.1 Nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu
khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự với việc xây dựng tiềm lực
Trang 61.2.2 Nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu
khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự với sự nghiệp giáo dục và
1.2.3 Nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu
khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự với nhiệm vụ nghiên cứu
khoa học, chuyển giao công nghệ, phục vụ an ninh quốc phòng và
1.2.4 Nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu
khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự với nhiệm vụ đấu tranh về
Kết luận chương 1 72
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CÁN
BỘ KHOA HỌC TRONG CÁC VIỆN NGHIÊN CỨU KHOA
HỌC KỸ THUẬT VÀ CÔNG NGHỆ QUÂN SỰ Ở VIỆT
NAM HIỆN NAY 74
2.1 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC PHÁT TRIỂN
NGUỒN LỰC CÁN BỘ KHOA HỌC TRONG CÁC VIỆN
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KỸ THUẬT VÀ CÔNG NGHỆ
2.1.1 Sự tác động của tình hình thế giới và khu vực đến việc
phát triển nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa
2.1.2 Sự tác động của tình hình trong nước đến việc phát triển
nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ
Trang 72.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CÁN BỘ KHOA
HỌC TRONG CÁC VIỆN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KỸ THUẬT
2.2.1 Thực trạng nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện
nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự hiện nay 92 2.2.2 Thực trạng phát triển nguồn lực cán bộ khoa học trong các
2.2.3 Nguyên nhân thành công và hạn chế của việc phát triển
nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ
Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
NGUỒN LỰC CÁN BỘ KHOA HỌC TRONG CÁC VIỆN
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KỸ THUẬT VÀ CÔNG NGHỆ
QUÂN SỰ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 145
3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CÁN BỘ KHOA
HỌC TRONG CÁC VIỆN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KỸ
3.1.1 Quán triệt bản chất giai cấp công nhân, rèn luyện tính đảng,
gắn xây dựng đội ngũ cán bộ với đội ngũ đảng viên cho cán bộ khoa
học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự
146 3.1.2 Phát triển nguồn lực cán bộ trong các viện nghiên cứu
khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự gắn với yêu cầu, nhiệm vụ
Trang 83.1.3 Kết hợp đồng bộ giữa phát triển về số lượng, chất lượng
và điều chỉnh cơ cấu hợp lý nguồn lực cán bộ khoa học trong các
3.1.4 Sử dụng có hiệu quả nguồn lực cán bộ khoa học trong các
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CÁN
BỘ KHOA HỌC TRONG CÁC VIỆN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KỸ
3.2.1 Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể quản lý
về phát triển nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu
3.2.2 Thực hiện tốt việc quy hoạch, tuyển dụng, đào tạo nguồn
lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và
3.2.3 Đổi mới, hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý, sử dụng,
đãi ngộ và xây dựng môi trường xã hội thuận lợi để nguồn lực cán bộ
trong các viện nghiên cứu khoa học khoa học kỹ thuật và công nghệ
3.2.4 Phát huy tính tích cực, sáng tạo và ý thức tự học, tự rèn
luyện của cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ
3.2.5 Mở rộng hợp tác với các cơ quan khoa học trong và
ngoài nước để phát triển nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện
Kết luận chương 3 205
Trang 9PHẦN KẾT LUẬN 207
PHỤ LỤC 210
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 229
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 230
Trang 10
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
nước tham gia từ 1995 đến 2007
27
lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự
75
khoa học kỹ thuật so với cán bộ toàn quân
quân sự đã thực hiện từ năm 2000 đến 2010
101
khoa học kỹ thuật quân sự
104
phát triển nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự
138
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong tiến trình vận động và phát triển của lịch sử nhân loại, con người luôn là nhân tố quyết định Con người không chỉ là tinh hoa trong sự phát triển của thế giới mà còn là tác nhân cải biến thế giới, làm nên lịch sử của mình và hoàn thiện chính bản thân mình Ngày nay, khi khoa học, công nghệ phát triển mạnh mẽ, đặc trưng chung của nền kinh tế thế giới là nền kinh tế tri thức và quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế trở nên sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội thì nhân tố con người càng được xem là nguồn lực quan trọng nhất để cạnh tranh và phát triển Nguồn lực con người với tri thức, trình độ chuyên môn, kỹ năng, tinh thần thái độ và phẩm chất đạo đức đã trở thành nguồn tài sản vô cùng quý giá, là nhân tố quyết định sự tăng trưởng và phát triển của mọi quốc gia và vùng lãnh thổ Phát triển con người là mục tiêu cao nhất trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia, đồng thời là động lực của sự phát triển xã hội Vì lẽ đó, nhiều quốc gia đã đặt việc phát triển nguồn lực con người ở vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển của mình Đối với Việt Nam, trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa xây dựng đất nước ta thành một nước “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” [19, tr 70] đã đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Trên cơ sở nhận thức một cách sâu sắc vị trí, vai trò và ý nghĩa chiến lược của việc xây dựng và phát triển nguồn nhân lực trong giai đoạn mới, trong Văn kiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta đã khẳng định: “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi; đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ, văn hóa đầu đàn; đội ngũ doanh nhân và lao động lành nghề” [19, tr 216] Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội được thông
Trang 12qua tại đại hội XI, Đảng ta cũng khẳng định phải đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân, gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển
và ứng dụng khoa học, công nghệ là một trong ba khâu "đột phá chiến lược" Trong thế kỷ XX, nhân loại đã chứng kiến hai cuộc chiến tranh thế giới
do chủ nghĩa đế quốc phát động và hàng loạt cuộc chiến tranh lớn nhỏ xảy
ra ở các khu vực khác nhau trên thế giới, trong đó có cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ ở Việt Nam Thực tiễn các cuộc chiến tranh
đó đều chứng tỏ rằng, vai trò quyết định giải quyết chiến tranh là nhân tố con người với trí tuệ và bản lĩnh của nó Ngày nay, dưới tác động ngày càng sâu rộng và mạnh mẽ của cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại và toàn cầu hóa, chiến lược bảo vệ tổ quốc, ngăn ngừa và giải quyết chiến tranh của các quốc gia đều đặt lên hàng đầu vai trò của nguồn lực con người, nhất là nguồn lực con người trong lực lượng vũ trang, trong đó có vai trò không nhỏ của nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự
Cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự là lực lượng có phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức tốt, năng lực chuyên môn giỏi, có tư duy độc lập, sáng tạo, thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao công nghệ và đào tạo cán bộ có trình độ cao; tham gia chế tạo, sản xuất, cải tiến các trang thiết bị
kỹ thuật quân sự Đồng thời, họ đang cùng với đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật quốc gia đẩy mạnh việc nghiên cứu khoa học, phát triển khoa học kỹ thuật dân dụng, dân sinh, gắn kết khoa học và công nghệ quốc phòng với
sự phát triển kinh tế, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Phát triển nguồn nhân lực nói chung và đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ đầu đàn nói riêng không chỉ là "đột phá chiến lược" trong phát triển kinh tế - xã hội, mà còn là "đột phá chiến lược" trong trong tăng cường quốc
Trang 13phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Bởi
lẽ, đất nước ta đang đẩy mạnh công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế trong điều kiện thế giới và khu vực tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó lường Sự nghiệp cách mạng to lớn này đòi hỏi phải có một nền quốc phòng toàn dân vững mạnh; một quân đội chính quy, hiện đại với một nền khoa học nghệ thuật quân sự, khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự bậc cao Với chiến lược bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia trong tình hình mới và chủ trương: “Xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có số lượng hợp
lý, với chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu cao” [19, tr 234], ngoài những yêu cầu về tổ chức lực lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu thì trình độ khoa học công nghệ kỹ thuật quân sự cũng như vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại cũng hết sức quan trọng đòi hỏi ngành khoa học kỹ thuật quân sự phải đáp ứng yêu cầu này Vì thế trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã viết: “Đẩy mạnh công nghiệp quốc phòng, an ninh; tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật, bảo đảm cho các lực lượng vũ trang từng bước được trang bị hiện đại… Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, nghệ thuật quân sự, an ninh, đánh thắng chiến tranh bằng vũ khí công nghệ cao của các lực lượng thù địch” [19,tr 235] Sự phát triển ngành khoa học
kỹ thuật quân sự sẽ phụ thuộc vào quy mô, tổ chức lực lượng các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật quân sự, và đặc biệt phụ thuộc vào việc phát triển nguồn lực cán bộ khoa học, trên các mặt số lượng, chất lượng, cơ cấu
và hiệu quả sử dụng nguồn lực ấy trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự ở Việt Nam hiện nay Trong thực tiễn quá trình xây dựng và phát triển ngành khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự của quân đội những năm qua đang đặt ra những yêu cầu cấp bách đòi hỏi cán bộ khoa học phải không ngừng học tập, rèn luyện để có đầy đủ các phẩm chất
và năng lực, làm tốt vai trò chủ lực trong nghiên cứu, sản xuất, chế tạo các
Trang 14loại vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật phục vụ sự nghiệp xây dựng quân đội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới
Thời gian qua, việc xây dựng và phát triển nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật quân sự đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần đáng kể vào sự nghiệp xây dựng và phát triển ngành khoa học kỹ thuật quân sự Việt Nam Tuy nhiên, dù đã rất cố gắng, song nguồn lực này còn bộc lộ những hạn chế nhất định như: số lượng cán
bộ còn thiếu so với tổ chức, biên chế; chất lượng cán bộ đặc biệt là kỹ năng nghiên cứu khoa học; trình độ chuyên môn, ngoại ngữ chưa thực sự đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ của đất nước nói chung cũng như của quân đội nói riêng; cơ cấu đội ngũ cán bộ khoa học, đặc biệt là cơ cấu nghành nghề, cơ cấu phân bố lực lượng chưa hợp lý Do đó, xây dựng và phát triển nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật quân sự là vấn
đề có ý nghĩa chiến lược, không chỉ đáp ứng yêu cầu nâng cao tiềm lực khoa học và công nghệ quân sự, mà còn là vấn đề cơ bản lâu dài của công tác cán
bộ trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật quân sự nói riêng và công tác tổ chức cán bộ trong Quân đội Nhân dân Việt Nam nói chung Xuất phát
từ những lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Phát triển nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự
ở Việt Nam hiện nay” làm luận án tiến sĩ Triết học
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Nguồn lực con người và phát triển nguồn lực con người trong sự phát triển xã hội là đề tài hấp dẫn, đã và đang thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong và ngoài quân đội, với nhiều công trình
đã được xuất bản và phổ biến rộng rãi trong xã hội Có thể khái quát các công trình trên thành các nhóm đề tài có liên quan đến luận án như sau:
Trang 15Thứ nhất, nhóm đề tài nghiên cứu về nguồn lực con người và phát triển nguồn nhân lực nói chung:
Liên quan đến chủ đề này, có nhiều công trình và tác phẩm như cuốn
"Con người và nguồn lực con người trong phát triển" của Trung tâm khoa
học xã hội nhân văn quốc gia, (Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 1995) Cuốn sách là tập hợp các bài viết, công trình nghiên cứu của các tác giả trên thế giới bàn về vấn đề con người theo các góc độ khác nhau, nhằm luận giải mô hình phổ quát về con người trong xã hội; về động cơ hoạt động của con người; mô hình mới sử dụng nguồn lực con người; trí tuệ hóa lao động và đào tạo chuyên môn; tiếp cận mới đối với chính sách việc làm, con người và
môi trường Tiếp đến là công trình "Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước", do GS, TS Phạm Minh Hạc, chủ nhiệm
đề tài, (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996) Đề tài đã đưa ra cơ sở lý luận
và thực tiễn để thực hiện chiến lược con người, bước đầu khái niệm về phát triển nguồn lực con người và cấu trúc của khái niệm đó Đồng thời, trình bày khá rõ mối quan hệ giữa đào tạo, sử dụng và việc làm với phát triển nguồn nhân lực; từ đó xác định trách nhiệm quản lý của nhà nước, của ngành giáo dục và đào tạo đối với việc phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay Cũng liên quan đến vấn đề con người
trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa có công trình “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” do PGS Mai Quốc Chánh chủ biên, (Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1999) Trong công trình này các tác giả đã phân tích vai trò của nguồn lực và sự cần thiết phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nước ta đáp
ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa Công trình “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, lý luận và thực tiễn” do GS.TS Nguyễn Trọng
Chuẩn, PGS.TS Nguyễn Thế Nghĩa, PGS.TS Đặng Hữu Toàn đồng chủ biên, (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002) Đây là cuốn sách đã tập hợp
Trang 16những nghiên cứu khá sâu về công nghiệp hóa, hiện đại hóa và mối quan hệ giữa công nghiệp hóa, hiện đại hóa với phát triển con người và đào tạo nguồn nhân lực, với sự nghiệp xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và với sự phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển giáo dục và khoa học, công nghệ Liên quan đến chủ đề này
còn có công trình nghiên cứu “Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của TS Đoàn Văn Khải, (Nxb Lý luận
chính trị, 2005) Tác phẩm đã trình bày vai trò của nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; thực trạng nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay; qua đó, đưa ra các giải pháp cơ bản nhằm khai thác và phát triển hiệu quả nguồn lực con người trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước Tiếp đến là đề tài “Phát huy nguồn lực con người để công nghiệp hóa, hiện đại hóa: kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam” của
TS.Vũ Bá Thể, (Nxb Lao động – Xã hội, Hà Nội, 2005) Tác giả đã nêu một
số vấn đề như: lý luận và kinh nghiệm một số nước trong việc phát huy nguồn lực con người để phát triển kinh tế, thực trạng nguồn nhân lực ở nước
ta trong những năm qua Trên cơ sở đó, đề xuất những định hướng và giải pháp phát huy nguồn lực con người để tiến hành công nghiệp hóa, hiện
đại hóa trong thời gian tới; hay công trình nghiên cứu “Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của TS
Nguyễn Thanh, (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005) Trong công trình này tác giả đã nêu thực trạng nguồn nhân lực của Việt Nam và đặc điểm công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay, đồng thời đề xuất giải pháp phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trong các công trình nghiên cứu về vai trò của công tác đào tạo và sử
dụng nguồn nhân lực trong giai đoạn hiện nay, có tác phẩm "Từ chiến lược phát triển giáo dục đến chính sách phát triển nguồn nhân lực" của Viện
Trang 17phát triển giáo dục, (Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 2002) Đây là công trình tập hợp kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học và các nhà quản lý ở nhiều lĩnh vực khoa học kinh tế và xã hội khác nhau với mục tiêu thống nhất quan điểm và chính sách về phát triển nguồn nhân lực; đồng thời, đề xuất một khung chính sách phát triển nguồn nhân lực nhằm triển khai thành công các mục tiêu đề ra trong chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo Tiếp đó
phải kể đến cuốn sách "Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam" của TS Bùi Ngọc Lan, (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002) Cuốn
sách tập trung vào những vấn đề như trí tuệ và nguồn lực trí tuệ, vai trò của nguồn lực trí tuệ và những điều kiện chủ yếu để phát huy nguồn lực trí tuệ trong sự phát triển của xã hội nói chung Đồng thời cuốn sách cũng trình bày đặc điểm, thực trạng phát huy và xu hướng phát triển của nguồn lực trí tuệ Việt Nam trong thời gian qua; từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu của việc phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam trong công cuộc đổi mới
và xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Ngoài ra còn một
số công trình viết về việc sử dụng nguồn nhân lực như công trình “Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam” của TS Nguyễn Hữu Dũng,
(Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003) Trong đó, tác giả đã phân tích một
số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến phát triển, phân bố, sử dụng nguồn lực con người, đồng thời đề xuất các chính sách và giải pháp nhằm phát triển, phân bố hợp lý và sử dụng hiệu quả nguồn lực con người trong sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Thứ hai, nhóm đề tài liên quan đến nguồn lực con người và phát triển nguồn lực con người trong quân đội:
Viết về nguồn lực con người trong quân đội từ trước đến nay đã có nhiều công trình được nghiên cứu và biên soạn, đáp ứng kịp thời cho lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan đơn vị làm cơ sở xây dựng và phát triển nguồn
nhân lực phục vụ cho hoạt động quân sự, như bài viết: "Suy nghĩ về xây
Trang 18dựng nguồn lực con người cho quân đội trong tình hình hiện nay" của Đức
Lê, (Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 7, năm 2001) Tác giả đã khẳng định việc xây dựng nguồn lực con người cho quân đội trong tình hình mới là để đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ mới của quân đội, bước đầu đề xuất một số giải pháp để xây dựng nguồn lực con người cho quân đội trong tình hình
hiện nay; đề tài "Nghiên cứu hệ thống đào tạo cán bộ nhân viên kỹ thuật quân sự trong giai đoạn mới", PGS, TS Ngô Quý Ty, chủ nhiệm đề tài, (Đề tài cấp Tổng cục Kỹ thuật, Hà Nội, 1996); bài viết "Giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ chuẩn bị cho nền kinh tế tri thức" của GS, TS Nguyễn Hoa
Thịnh, (Tạp chí Kỹ thuật và Trang bị, số 4, năm 2000) Trên cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng hệ thống, những căn cứ chủ yếu về đổi mới hệ thống đào tạo, nhóm tác giả đã nghiên cứu vấn đề xây dựng hệ thống cơ cấu, mục tiêu đào tạo, xác định quy mô, chất lượng, đưa ra các phương án quy hoạch hệ thống mạng lưới trường và các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo cán bộ, nhân viên kỹ thuật quân sự đáp ứng yêu cầu,
nhiệm vụ mới Liên quan đến chủ đề này còn có đề tài “Phát huy nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự trẻ trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Minh Thắng, (Luận án tiến sỹ Triết học, Hà
Nội, 2005) Tác giả đã làm rõ một số vấn đề về lý luận nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự trẻ, nêu thực trạng và đề xuất giải pháp phát huy nguồn lực này trong xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam; hay đề tài
“Nâng cao chất lượng công tác Đảng, công tác chính trị ở các cơ quan, Viện nghiên cứu khoa học công nghệ của quân đội trong thời kỳ mới” của
Viện khoa học xã hội và nhân văn quân sự Bộ quốc phòng, (Đề tài cấp Bộ quốc phòng, Hà Nội, 2005) Đề tài đã nêu một số vấn đề lý luận và thực tiễn công tác Đảng, công tác chính trị, đặc biệt là công tác cán bộ ở các cơ quan, viện nghiên cứu khoa học công nghệ của quân đội, nêu thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác Đảng, công tác chính
Trang 19trị, công tác cán bộ ở các cơ quan, viện nghiên cứu khoa học công nghệ của
quân đội trong thời kỳ mới; gần đây nhất có đề tài, “Xây dựng đội ngũ trí thức quân đội trong thời kỳ mới” của Viện Khoa học Xã hội, Nhân văn
Quân sự, (Đề tài cấp Bộ Quốc phòng, Hà Nội, 2012) Đề tài đã tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ trí thức trong tình hình mới, nghiên cứu thực trạng, dự báo nhân tố tác động, đề xuất yêu cầu và giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức quân đội trong thời kỳ mới; ngoài ra liên quan đến xây dựng nguồn lực con người trong lĩnh vực
khoa học và công nghệ quân sự còn có đề tài "Nghiên cứu xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ kỹ thuật quân sự trong tình hình mới" (Đề tài
cấp Bộ Quốc phòng, Hà Nội 2012) Đề tài đã làm rõ vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ kỹ thuật quân sự, nêu định hướng và giải pháp chủ yếu xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ kỹ thuật quân sự
trong tình hình mới
Ở những góc độ khác nhau, các công trình nêu trên đã đưa ra quan niệm về nguồn lực con người, nguồn lực cán bộ quân đội, nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực; về vai trò của nguồn nhân lực trong sự phát triển kinh tế, xã hội; mối quan hệ biện chứng giữa giáo dục và đào tạo, sử dụng, đãi ngộ với việc phát triển nguồn lực con người; định hướng sự phát triển nguồn lực con người; các chính sách đối với cán bộ khoa học kỹ thuật quân
sự Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu chuyên sâu dưới góc độ chính trị - xã hội về việc xây dựng và phát triển nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự trong giai đoạn hiện nay Để bổ sung thêm các công trình nghiên cứu liên quan đến nguồn lực con người trong quân đội, tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu chuyên sâu về nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự làm luận án tiến sĩ triết học
Trang 203 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận án
Mục đích
Mục đích của luận án là phân tích, làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn việc phát triển nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự hiện nay; từ đó đề xuất những định hướng và giải pháp cơ bản nhằm phát triển nguồn lực này đến năm 2020
- Trình bày, phân tích, đánh giá thực trạng việc xây dựng và phát triển nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự thời gian qua, thông qua khảo sát, đánh giá, tổng kết tại bốn viện nghiên cứu tiêu biểu của ngành khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự Quân đội nhân dân Việt Nam
- Đề xuất những định hướng và giải pháp cơ bản nhằm phát triển nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự ở Việt Nam đến năm 2020
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu: Phát triển nguồn lực cán bộ khoa học trong các
viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự hiện nay
Phạm vi nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu tình hình xây dựng
và phát triển nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học
kỹ thuật quân sự bao gồm 4 viện lớn là Viện khoa học kỹ thuật và công nghệ
Trang 21quân sự; Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga; Viện kỹ thuật Quân chủng Phòng không - Không quân; Viện kỹ thuật Quân chủng Hải quân, thời gian từ năm
2000 đến năm 2011
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Về ý nghĩa khoa học: Luận án làm rõ những vấn đề lý luận chung về
nguồn lực con người (nguồn nhân lực); nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự; phát triển nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự; vai trò của nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự; luận giải một cách khoa học thực trạng việc sử dụng và phát triển nguồn lực cán bộ khoa học, đề xuất định hướng và giải pháp phát triển nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự đến năm 2020
Về ý nghĩa thực tiễn: Luận án khẳng định việc phát triển nguồn lực cán
bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân
sự là vấn đề cơ bản và quan trọng trong xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội nói chung và đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự nói riêng Với kết quả đạt được, luận án nhằm làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn của nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự hiện nay, giúp lãnh đạo, chỉ huy các cấp đổi mới công tác tổ chức, lãnh đạo, quản lý và bồi dưỡng cán bộ khoa học Đồng thời, kết quả của luận án cũng góp phần nâng cao nhận thức để mỗi cán bộ khoa học phát huy hiệu quả những khả năng sẵn có của mình, cùng đội ngũ cán bộ kỹ thuật toàn quân xây dựng ngành khoa học kỹ thuật
và công nghệ quân sự của quân đội nhân dân Việt Nam ngày càng phát triển Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho lãnh đạo, chỉ huy ở các
cơ quan, đơn vị nghiên cứu khoa học công nghệ; các học viện, nhà trường
kỹ thuật; các quân, binh chủng; cơ quan cán bộ các cấp, các trạm, xưởng và các nhà máy trong quân đội
Trang 225 Cái mới của luận án
Trên cơ sở lý luận chung về phát triển nguồn lực con người, luận án đã nêu khái niệm và đặc điểm của nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự;
lý giải và phân tích làm rõ vấn đề phát triển nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự ở Việt Nam hiện nay Từ sự phân tích, đánh giá thực trạng nguồn lực và việc phát triển nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự qua thực tế khảo sát đánh giá ở các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự của quân đội trong thời gian qua, luận án đã đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự ở Việt Nam đến năm 2020
6 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp lịch sử và lôgic, phân tích
và tổng hợp, trừu tượng hóa và khái quát hóa, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp chuyên gia,v.v để nghiên cứu và trình bày luận án
Luận án dựa vào số liệu thống kê, các báo cáo tổng kết, đánh giá đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự của các cơ quan chức năng thuộc Bộ Quốc phòng và các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân
sự Luận án được thực hiện dựa trên kết quả điều tra, khảo sát thực tế của tác giả về thực trạng nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự hiện nay
7 Kết cấu của luận án
Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và
Phụ lục, luận án gồm 3 chương và 6 tiết
Trang 23Chương 1
LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CÁN BỘ KHOA HỌC TRONG CÁC VIỆN NGHIÊN CỨU
KHOA HỌC KỸ THUẬT VÀ CÔNG NGHỆ QUÂN SỰ
1.1 QUAN NIỆM VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CÁN BỘ KHOA HỌC TRONG CÁC VIỆN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KỸ THUẬT VÀ CÔNG NGHỆ QUÂN SỰ
1.1.1 Khái luận về nguồn lực và phát triển nguồn nhân lực
Để làm rõ nội dung lý luận về phát triển nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự, trước hết luận án tập trung trình bày, phân tích những khái niệm, phạm trù và những quan điểm,
lý luận chung về nguồn lực con người và phát triển nguồn lực con người
Khái luận về nguồn lực: Trong thời đại ngày nay việc xác định đúng
và huy động có hiệu quả các nguồn lực có ý nghĩa to lớn đối với việc thực hiện chiến lược phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc Nguồn lực là toàn bộ các yếu tố có khả năng tạo ra sức mạnh tổng hợp, thúc đẩy quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng, của tự nhiên và xã hội Xét về phương diện nào đó nguồn lực cũng có thể xem như động lực, nguyên nhân thúc đẩy sự vật, hiện tượng phát triển Nói đến nguồn lực con người là nói đến chủ thể đã, đang và sẽ tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia nhất định
Khi nói đến nguồn lực không chỉ nói đến sức mạnh, năng lực đã được bộc lộ và đang phát huy tác dụng, mà cả những sức mạnh, năng lực tồn tại ở dạng tiềm ẩn, hay còn gọi là tiềm năng, tiềm lực tiếp tục nảy sinh và sẽ được khơi dậy, khai thác, sử dụng trong quá trình hoạt động thực tiễn, nó phản ánh không chỉ số lượng mà còn cả chất lượng các yếu tố và sự biến đổi không ngừng của các yếu tố đó
Trang 24Tùy theo từng góc độ tiếp cận khác nhau, có thể chia nguồn lực thành: nguồn lực vật chất và nguồn lực tinh thần, nguồn lực bên trong và nguồn lực bên ngoài, nguồn lực khách quan và nguồn lực chủ quan, nguồn lực kinh tế và nguồn lực văn hóa Nhìn chung, cho đến nay, để khẳng định vai trò của nguồn lực đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc, người
ta chia nguồn lực thành các loại cơ bản sau đây: nguồn lực con người; nguồn lực tài nguyên và điều kiện thiên nhiên; nguồn lực do đặc điểm, điều kiện và
vị trí địa lý mang lại; nguồn vốn tài chính và cơ sở vật chất - kỹ thuật; các nguồn lực bên trong và bên ngoài Các nguồn lực này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại thúc đẩy sự phát triển của xã hội Trong các nguồn lực đó, nguồn lực con người là quan trọng nhất; vừa là điểm khởi đầu, vừa ở vị trí trung tâm, là nhân tố chủ động, là chủ thể, có khả năng định hướng và gắn kết các nguồn lực khác vì mục tiêu phát triển
Lịch sử phát triển của xã hội loài người là quá trình vận động, biến đổi và thay thế kế tiếp nhau của các hình thái kinh tế - xã hội Trong tiến trình phát triển, con người luôn giữ vị trí trung tâm Bằng hoạt động thực tiễn của mình, con người cải tạo giới tự nhiên, sáng tạo ra lịch sử và từng bước hoàn thiện bản thân mình Con người là chủ thể sáng tạo ra mọi giá trị, đồng thời là thước đo của chính những giá trị đó V.I Lênin khẳng định: "Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân,
là người lao động" [39, tr 430] Ngày nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa, nghiên cứu con người với tư cách là nguồn lực của sự phát triển cần được quan tâm xây dựng, bồi dưỡng hơn nữa đối với các quốc gia, dân tộc đang
phát triển như Việt Nam, vì thế trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011)
đã khẳng định: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển” [19, tr 76]
Trang 25Khái niệm nguồn lực con người được dùng phổ biến từ những năm 70 của thế kỷ XX ở nhiều nước phương Tây và một số nước châu Á, dựa trên quan niệm mới về vị trí, vai trò của con người trong sự phát triển lịch sử xã hội Gần đây, khái niệm "nguồn lực con người" được sử dụng khá phổ biến trong các tài liệu chính trị - xã hội và triết học với tư cách là một trong những phạm trù trung tâm của sự phát triển kinh tế - xã hội Hiện nay, khái niệm nguồn lực con người hay nguồn nhân lực đang được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau
Theo nghĩa rộng, nguồn lực con người là tổng thể các tiềm năng (lao
động) của con người, của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một địa phương
đã được chuẩn bị về thể lực, trí tuệ, năng lực chuyên môn, đạo đức ở mức độ cần thiết để có thể huy động vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước (hoặc một vùng, một địa phương cụ thể) Với cách tiếp cận này, nguồn lực con người như một bộ phận cấu thành các nguồn lực của một quốc gia như nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính, nguồn lực tài nguyên, nguồn lực trong nước, nguồn lực ngoài nước , những nguồn lực này có thể được huy động một cách tối ưu để phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia đó
Theo nghĩa hẹp, nguồn lực con người là toàn bộ lực lượng lao động
trong nền kinh tế quốc dân (hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế), nghĩa
là những người trong độ tuổi nhất định, có khả năng lao động, đang có việc làm và cả những người thất nghiệp Về độ tuổi, hiện nay có nhiều quy định khác nhau Đa số các nước có quy định tuổi tối thiểu bắt đầu lao động thường là 15 tuổi, tuổi tối đa thường trùng với tuổi nghỉ hưu hoặc không giới hạn
Theo tổ chức Liên hiệp quốc, nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, kiến thức và năng lực hiện có thực tế và dưới dạng tiềm năng của con người (lực lượng lao động) để phát triển kinh tế, xã hội trong một cộng đồng Ngân
Trang 26hàng thế giới cho rằng, nguồn lực con người được hiểu như toàn bộ "vốn" người Khái niệm "vốn" được hiểu là giá trị ban đầu, khi tham gia vào hoạt động thực tiễn xã hội sẽ sản sinh ra giá trị lớn hơn giá trị ban đầu, do đó mang lại lợi ích kinh tế - xã hội nhiều hơn, đồng thời để chỉ ra tầm quan trọng của việc đầu tư vào phát triển con người thông qua giáo dục và đào tạo, chăm sóc sức khỏe nhằm tạo ra những người lao động có tri thức, có khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, có kỹ năng nghề nghiệp và có sức khoẻ, đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng cao của công việc
Ở nước ta, quan niệm về nguồn lực con người cũng khá phong phú Ngay từ đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), Đảng ta đã đưa
ra luận điểm coi trọng yếu tố con người, phát huy yếu tố con người trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Văn kiện nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X cũng nêu rõ: “Thực hiện chính sách trọng dụng nhân tài, phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao” [17, tr 212] Một số nhà khoa học cũng cho rằng: “Nguồn lực con người là số dân
và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất”, “là tổng thể sức dự trữ, những tiềm năng, những lực lượng thể hiện sức mạnh và sự tác động của con người trong việc cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội” Giáo sư Phạm Minh Hạc có quan niệm:
“Nói đến nguồn nhân lực, theo định nghĩa đầy đủ, là nói tới nguồn lao động, đội ngũ lao động, nói chung là nói tới vốn người” [25, tr 10] “Nguồn nhân lực cần được hiểu là dân số và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của người lao động Nó là tổng thể nguồn nhân lực hiện có thực tế và tiềm năng được chuẩn bị sẵn sàng để tham gia phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia hay một địa phương nào đó” [25, tr 17]
Phương diện cá thể của nguồn lực con người được hiểu là những yếu tố tạo thành cơ sở để hoạt động và phát triển của một con người với tư cách là
Trang 27một cá nhân, chủ thể của mọi hoạt động cải tạo tự nhiên, xã hội Đó là sự phát triển cao về trí tuệ, thành thạo về chuyên môn kỹ thuật, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức, bảo đảm cho con người phát triển, trưởng thành một cách bình thường hoặc có thể đáp ứng được những đòi hỏi về sự hao phí sức lực, thần kinh, cơ bắp trong lao động với những đặc thù nghề nghiệp khác nhau
Từ đó, có thể quan niệm: nguồn lực con người là tổng hòa các yếu tố
về thể chất, trí tuệ, trình độ chuyên môn kỹ thuật, đạo đức, ý thức trách nhiệm, thái độ và tác phong lao động,v.v… cách tạo nên năng lực sáng tạo của con người, của cộng đồng người mà trước hết là lực lượng lao động đang và sẵn sàng tham gia vào hoạt động vì sự tiến bộ và phát triển của xã hội Nguồn lực con người không phải là sự cộng lại giản đơn các cá nhân
với những phẩm chất, năng lực của họ mà là tổng hợp các yếu tố số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn lực con người: sức mạnh thể lực, trí tuệ, ý chí, tinh thần gắn kết với nhau trong một hệ thống xã hội, hoạt động có mục đích, tạo thành sức mạnh tổng hợp, là sự cộng hưởng sức mạnh của mỗi cá nhân và cộng đồng Mỗi yếu tố có vị trí, vai trò nhất định trong cấu trúc của nguồn lực con người, song giữa chúng có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại với nhau, tạo ra sự phát triển bền vững của nguồn lực con người Vì vậy, vấn đề nguồn lực con người cần phải được xem xét, phân tích dưới những góc độ về số lượng, chất lượng, cơ cấu, hiệu quả sử dụng; đồng thời cũng cần phải xem xét một cách biện chứng cả ở trạng thái tĩnh, trạng thái khả năng lẫn cả trạng thái động, trạng thái hiện thực hóa khả năng đó, để làm sáng tỏ hơn vị trí, vai trò của nguồn lực con người trong
sự phát triển của xã hội
Trước hết về số lượng nguồn lực con người, số lượng nguồn lực con
người là tổng số lực lượng lao động đang và sẵn sàng tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội Nó được quy định bởi quy mô dân số (số lượng
Trang 28dân, mật độ dân số, tốc độ tăng dân số) và lực lượng lao động (cơ cấu tuổi tác, giới tính, phân bố lao động theo lãnh thổ và theo lĩnh vực ngành nghề) Trên thực tế, có hai nhóm yếu tố ảnh hưởng đến số lượng nguồn lực con
người: Thứ nhất, là nhóm yếu tố tự nhiên, cụ thể là cơ thể sinh học, nhu cầu
và quy luật sinh học của con người tác động đến tỷ lệ sinh đẻ và tử vong của dân số; tức là sự tăng, giảm dân số và lực lượng lao động một cách tự nhiên
Thứ hai, là nhóm yếu tố cơ học xã hội, cụ thể là vấn đề di dân làm tăng
(giảm) dân số và lực lượng lao động trong một không gian và thời gian nhất định Chẳng hạn, trong những năm qua ở nước ta do tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa đã tạo ra “làn sóng di cư” từ nông thôn ra thành thị, làm tăng dân số và lực lượng lao động ở thành thị
Về chất lượng nguồn lực con người Chất lượng nguồn lực con người
là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực, mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn lực bao gồm sức khỏe, trí tuệ, năng lực, đạo đức, thẩm mỹ… Trong thực tiễn, “để xây dựng và phát triển đất nước phải dựa vào tổng thể các nguồn lực: nguồn vốn, đất đai, tài nguyên thiên nhiên, khoa học kỹ thuật, nguồn nhân lực… Mỗi nguồn lực này đều có
vị trí, vai trò và sức mạnh nhất định trong sự phát triển xã hội, trong đó nguồn nhân lực luôn ở vị trí trung tâm và giữ vai trò quyết định không những đối với các nguồn lực khác, mà còn quyết định toàn bộ quá trình phát triển của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” [58,
tr 325] Bởi lẽ, tự mình các nguồn lực khác không tự động phát huy tác dụng, không trở thành động lực của sự phát triển, muốn phát huy tác dụng
và trở thành động lực của phát triển chúng phải dựa vào sức lực và trí tuệ của con người Mặt khác, cần phải thấy rằng các nguồn lực đó có những giới hạn nhất định, nếu không được con người giữ gìn, phát triển thì khai thác mãi cũng phải cạn kiệt, chỉ có nguồn nhân lực với trí tuệ, chất xám có khả
Trang 29năng tự sản sinh và tự tái sinh đến vô hạn [71, tr 41] Có thể nói, nguồn lực con người, với tất cả những phẩm chất, năng lực và sức mạnh của mình, có thể trở thành chủ thể, thành động lực của phát triển xã hội
Như vậy, chất lượng nguồn lực con người bao gồm nhiều yếu tố cấu thành như sức khỏe, năng lực chuyên môn, đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ…
trong đó “trí tuệ” là yếu tố cơ bản và quan trọng nhất Nó trở thành tiêu chí chủ yếu thể hiện chất lượng nguồn nhân lực Trí tuệ là năng lực nhận thức,
năng lực tư duy, sáng tạo và khả năng thích ứng với hoàn cảnh của con người, là “sản phẩm sáng tạo về tinh thần của con người, thể hiện qua việc huy động có hiệu quả lượng tri thức tích lũy vào quá trình sáng tạo cái mới, nhằm cải biến tự nhiên, xã hội và bản thân con người trong sự phát triển ngày càng tiến bộ, văn minh” [46, tr 21] Trong khi đánh giá vai trò yếu tố trí tuệ đối với sự phát triển xã hội, ngay từ thế kỷ XIX, C.Mác đã chỉ rõ rằng: “Lao động phức tạp chỉ là lao động giản đơn được nâng lên lũy thừa” [45, tr 75] Điều này có nghĩa là, trong cùng một điều kiện và một đơn vị thời gian, lao động phức tạp (lao động có hàm lượng trí tuệ) tạo ra được giá trị gấp bội lần của giá trị lao động giản đơn (lao động chủ yếu bằng sức cơ bắp) Không chỉ khẳng định tính ưu việt của lao động trí tuệ so với lao động giản đơn, C.Mác còn đưa ra dự báo, tri thức khoa học sẽ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, rằng: “Sự phát triển của tư bản cơ bản là chỉ tiêu của việc tri thức (Wissen, Knowledge) xã hội phổ biến đã biến thành sức sản xuất trực tiếp đến mức độ như thế nào và do đó là chỉ số của việc những điều kiện của quá trình sinh hoạt xã hội, chịu sự kiểm soát của trí lực phổ biến và được biến hóa phù hợp với nó tới mức nào” [46, tr 215] Thực tiễn phát triển của sản xuất và khoa học trong nửa cuối thế kỷ XX đã chứng tỏ rằng, thông qua hoạt động sáng tạo, tự giác và có tổ chức cao của con người mà khoa học đã và đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Và nhờ đó mà từ
Trang 30nền kinh tế công nghiệp loài người đã bước vào nền kinh tế tri thức, ở đó yếu tố trí tuệ chiếm hơn 60% giá trị sản phẩm được tạo ra Điều đó, thêm một lần nữa khẳng định, trí tuệ ngày càng có vai trò đặc biệt trong sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc
Cốt lõi của nguồn lực con người là trí tuệ Trí tuệ là yếu tố tinh thần, nói lên tiềm lực văn hóa, trình độ tri thức, năng lực, tinh thần của con người, quyết định khả năng sáng tạo của con người Trí tuệ của con người chính là
sự hiểu biết một cách có hệ thống ở cấp độ lý tính về các lĩnh vực tự nhiên,
xã hội, tư duy, là khả năng khái quát hóa và xử lý các tình huống phức tạp đặt ra trong thực tiễn một cách sáng suốt, mau lẹ, đạt hiệu quả Trí tuệ chỉ có
ở con người như một thuộc tính cố hữu Trong đời sống mỗi người, trí tuệ sẽ nảy sinh, tồn tại, phát triển và mất đi; nhưng xét trong sợi dây nối tiếp các thế
hệ, trí tuệ liên tục được kế thừa và ngày càng phát triển Do đó, nói đến nguồn lực con người trong giai đoạn hiện nay phải nói tới trí tuệ Nhờ có trí tuệ mà nguồn lực con người có những đặc trưng khác với các nguồn lực khác
Thứ nhất, các nguồn lực như tài nguyên thiên nhiên, môi trường địa lý,
nguồn vốn tài chính và cơ sở vật chất - kỹ thuật chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng và nó chỉ phát huy tác dụng và có giá trị thông qua hoạt động tích cực, sáng tạo của con người
Thứ hai, nguồn lực con người không chỉ quyết định hiệu quả của việc
khai thác, sử dụng các nguồn lực tự nhiên và các nguồn lực khác hiện có mà còn góp phần tạo ra các các giá trị mới, quy định trình độ phát triển của nhân loại Điều này được thể hiện rõ nét trong sự kế thừa giữa các thế hệ và các xã hội nối tiếp nhau, tạo ra sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất
Thứ ba, bằng hoạt động thực tiễn, con người có thể tạo ra những nguyên
liệu mới, những nguồn năng lượng mới không có sẵn trong tự nhiên, bù đắp những thiếu hụt của nguồn lực tự nhiên, phục vụ cho cuộc sống con người
Trang 31Thứ tư, các nguồn lực khác đều là hữu hạn và sẽ dần dần cạn kiệt trong
quá trình khai thác, sử dụng Trái lại, nguồn lực con người luôn có khả năng tái sinh, và thường lớn hơn cả giá trị ban đầu nếu biết bồi dưỡng, phát triển
và sử dụng hợp lý
Thứ năm, nguồn lực con người vừa là chủ thể, vừa là đối tượng của quá
trình phát triển lịch sử xã hội Bằng hoạt động thực tiễn, con người đã in dấu
ấn sáng tạo của năng lực và trí tuệ của mình vào giới tự nhiên, không ngừng chinh phục và cải tạo thế giới, phát triển lực lượng sản xuất Trong quá trình
ấy, con người đã sáng tạo nên lịch sử Đó là lịch sử của chính con người, do con người và vì con người
Cùng với trí tuệ, nhân cách của con người với cấu trúc “đức - tài”
(đạo đức - năng lực) là những thành phần cơ bản không thể tách rời chất lượng nguồn nhân lực Vì vậy, sẽ là phiến diện nếu chỉ đề cao trí tuệ mà không thấy hoặc xem nhẹ vai trò tích cực của yếu tố đạo đức và năng lực của con người, của nguồn nhân lực Trong cấu trúc nhân cách, theo Hồ Chí Minh, đức và tài là hai yếu tố không tách rời nhau, luôn tác động thúc đẩy nhau phát triển, trong đó, đức như là cái gốc của cây, nguồn của sông Hồ Chí Minh cho rằng đạo đức là cái gốc, là cái vốn quý của cá nhân con người, của tập thể và của cả dân tộc, “một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm là một dân tộc văn minh tiến bộ” [47, tr 642] “cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo, người cũng phải có đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không
có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa, thì còn làm nổi việc gì?” [47, tr 253] Như vậy, đức là cái gốc, là cơ sở để phát triển nhân cách, năng lực và trí tuệ của con người Và, đến lượt mình, năng lực và trí tuệ lại tạo điều kiện
Trang 32để con người vươn tới những giá trị đạo đức mới, từ đó hoàn thiện nhân cách của mình Đạo đức và năng lực luôn “thẩm thấu vào nhau, chi phối, điều chỉnh lẫn nhau, tạo ra khung cấu trúc của nhân cách cá nhân, chúng là
sự phản ánh tập trung và tiêu biểu cho chất lượng nhân cách chỉ khi mà đạo đức và năng lực đó biểu hiện ra trong hoạt động, trong trạng thái vận động của đời sống cá nhân vươn tới khả năng tác động và gây được ảnh hưởng tới người khác, tới xã hội” [3, tr.10-11]
Cùng với yếu tố trí tuệ, đạo đức và năng lực, thẩm mỹ là thành phần
không thể thiếu của chất lượng nguồn lực con người Thẩm mỹ định hướng tới việc bồi dưỡng nhu cầu, khát vọng của trí tuệ, đạo đức và năng lực con người theo tiêu chuẩn giá trị của cái đẹp và giá trị văn hóa Còn trí tuệ, đạo đức và năng lực trang bị cho con người hệ thống tri thức, kỹ năng, lối sống trong mọi lĩnh vực, trong đó có thẩm mỹ Và, đến lượt mình, thẩm mỹ kích thích năng lực sáng tạo, định hướng con người vươn tới cái đẹp, cái hoàn thiện Từ đó, con người sống theo lý tưởng thẩm mỹ nhất định “Sự phát triển thẩm mỹ đúng đắn sẽ có tác động trở lại thúc đẩy sự phát triển trí tuệ ở trình độ cao hơn, đặc biệt nó có giá trị định hướng cho các hoạt động trí tuệ, cho việc sử dụng các thành tựu của trí tuệ, của khoa học vào những mục đích nhân văn, tiến bộ xã hội vì cuộc sống hạnh phúc của con người” [46, tr 54] Như vậy, xem xét chất lượng nguồn nhân lực cần chú ý đến những yếu
tố cơ bản và quan trọng như trí tuệ, năng lực chuyên môn, đạo đức, thẩm mỹ
và những yếu tố khác… Việc hình thành và phát triển chất lượng nguồn nhân lực được tác động, chi phối bởi những yếu tố chủ yếu dưới đây:
Thứ nhất, yếu tố giáo dục, đào tạo Để phát triển tiềm năng con người,
không ngừng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thì phải đầu tư cho giáo dục, đào tạo Có thể nói, giáo dục, đào tạo là công cụ chủ yếu để nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài và phát triển nguồn nhân lực Bởi vì “không có một sự
Trang 33tiến bộ nào, sự thành đạt nào có thể tách khỏi sự tiến bộ và thành đạt trong lĩnh vực giáo dục của quốc gia đó Và những quốc gia nào coi nhẹ giáo dục hoặc không đủ tri thức và khả năng cần thiết tiến hành sự nghiệp giáo dục một cách hiệu quả thì số phận quốc gia đó xem như đã an bài và điều đó còn tồi tệ hơn cả sự phá sản” [76, tr 153] Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII về giáo dục, đào tạo cũng chỉ rõ: “giáo dục là quốc sách hàng đầu”
Thứ hai, giá trị văn hóa truyền thống, bản sắc dân tộc, những mối quan
hệ xã hội và gia đình có ảnh hưởng rất lớn đến nhân cách và hành vi ứng xử của con người trong cuộc sống Đặc biệt là văn hóa truyền thống có tác động sâu sắc đến nhân cách của các thành viên trong xã hội, nó điều chỉnh hành vi của con người và mối quan hệ của con người với xã hội Nghị quyết Hội nghị trung ương Đảng lần thứ 5, khóa VIII đã nêu: “Con người Việt Nam là sự kết tinh của nền văn hóa Việt Nam Vì vậy, quá trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam cũng chính là quá trình thực hiện chiến lược con người” [15, tr 11]
Thứ ba, yếu tố sức khỏe và dinh dưỡng ảnh hưởng không nhỏ tới chất
lượng dân số và chất lượng nguồn nhân lực Bản thân sức khỏe và dinh dưỡng không chỉ là tiền đề và điều kiện để hình thành, phát triển trí tuệ, tài năng, đạo đức… của con người, mà còn là phương tiện để “vật chất hóa” sức mạnh của trí tuệ, đạo đức, năng lực… trong quá trình hoạt động thực tiễn Vì vậy, sức khỏe và dinh dưỡng được cải thiện sẽ góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và hiện thực hóa nó trong phát triển kinh tế - xã hội Đây là điều quan trọng đòi hỏi phải quan tâm cải thiện về sức khỏe và dinh dưỡng nguồn nhân lực một cách toàn diện, nhất là với những quốc gia
có điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn như Việt Nam Ngoài ra tỷ lệ sinh cao cũng có ảnh hưởng nhất định đến chất lượng nguồn nhân lực Nếu một quốc gia có tỷ lệ sinh quá cao sẽ làm cho quy mô dân số tăng và điều này sẽ làm giảm chất lượng dân số và chất lượng nguồn nhân lực Bởi vì, số dân
Trang 34quá lớn trong khi các nguồn lực khác có hạn sẽ không đáp ứng được các nhu cầu bảo đảm đời sống cả về vật chất và tinh thần, dẫn đến hiệu quả tiêu cực
về mặt xã hội như: nạn nghèo đói, thất nghiệp, thất học, ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, bệnh tật, ma túy, mại dâm và các loại tội phạm nảy sinh
Quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử cụ thể và quan điểm phát triển của phép biện chứng duy vật yêu cầu phải xem xét cả mặt số lượng và chất lượng của nguồn nhân lực trong mối liên hệ, tác động lẫn nhau giữa chúng Đồng thời, phải phân tích vị trí, vai trò, tác dụng của những yếu tố quy định và làm nên chất lượng nguồn nhân lực (thể lực, trí tuệ, đạo đức, năng lực, thẩm mỹ…) trong mối tương quan tác động, thúc đẩy nhau cùng phát triển
Về cơ cấu nguồn lực con người, được thể hiện trên các phương diện
khác nhau như: cơ cấu trình độ đào tạo, cơ cấu về độ tuổi, cơ cấu về nghề nghiệp, cơ cấu phân bố nguồn lực con người ở các lĩnh vực kinh tế - xã hội khác nhau… Cơ cấu nguồn lực con người của một quốc gia nói chung được quyết định bởi cơ cấu giáo dục, đào tạo và cơ cấu kinh tế - xã hội, trong đó nếu cơ cấu giáo dục, đào tạo thích ứng với cơ cấu kinh tế - xã hội thì tạo ra
cơ cấu nguồn lực con người hợp lý Trong trường hợp này, cơ cấu nguồn lực con người tạo ra sức mạnh to lớn thúc đẩy xã hội phát triển
Ngày nay, trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, nhiều quốc gia trên thế giới đặc biệt coi trọng phát triển nguồn lực con người Phát triển nguồn lực con người phải chú ý ở mặt chất, mặt lượng và hiệu quả sử dụng nguồn lực con người với chất và lượng đó Những bài học kinh nghiệm về
sự thành công của các nước tiên tiến trên thế giới là minh chứng về vai trò quyết định của nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển của các quốc gia, dân tộc
Trang 35Ở nước ta, tài nguyên thiên nhiên không nhiều, lại thường xuyên bị thiên tai hoành hành, nguồn vốn hạn hẹp, trình độ khoa học và công nghệ còn lạc hậu, trình độ quản lý yếu kém, do vậy nguồn lực con người là nguồn lực nội sinh quan trọng nhất Song nguồn lực nội sinh này phải được bồi dưỡng, phát triển, sử dụng đúng, có hiệu quả mới phát huy được hết tiềm năng vô tận của nó Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã chứng minh rằng, nguồn lực con người là nhân tố quyết định mọi thắng lợi Chính con người đã và đang tạo nên những điều kỳ diệu, những thành tựu, những bước nhảy vọt trong việc chinh phục tự nhiên để phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ cho nhu cầu ngày càng cao của cuộc sống con người Tập trung đầu
tư cho sự phát triển của con người là con đường ngắn nhất, đúng đắn nhất để hướng đến mục tiêu giải phóng con người toàn diện
Xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nguồn lực con người và những bài học được rút ra trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc cũng như lịch sử hình thành và phát triển của các nền văn minh nhân loại, Đảng ta khẳng định: con người là nguồn lực quý báu nhất, có vai trò quyết định đối với sự phát triển của đất nước, nhất là khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp:
“Chúng ta cần hiểu sâu sắc những giá trị lớn lao và ý nghĩa quyết định của nhân tố con người, chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn của cải vật chất và văn hóa, mọi nền văn minh của mọi quốc gia” [14, tr 5] Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, Đảng ta xác định: “Cần khai thác và sử dụng nhiều nguồn lực khác nhau, trong đó nguồn lực con người là quý báu nhất, có vai trò quyết định” [15, tr 11] Văn kiện Nghị quyết Đại hội lần thứ
X của Đảng nhấn mạnh: Phát huy nội lực trước hết là phát huy nguồn lực con người, nguồn lực của toàn dân tộc, khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên và sử dụng tốt nhất các nguồn lực của Nhà nước Văn
Trang 36kiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng cũng chỉ rõ:
“ Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ, văn hóa đầu đàn; đội ngũ doanh nhân và lao động lành nghề” [19, tr 216] Xã hội muốn phát triển nhanh và bền vững phải quan tâm đào tạo nguồn lực con người có chất lượng cao Mới đây trong buổi làm việc với cán bộ chủ chốt của Bộ Khoa học và Công nghệ về chuẩn bị Đề án “Phát triển khoa học công nghệ phục
vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” trình Hội nghị Trung ương 6, Khóa XI, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu kết luận như sau: “các nhà khoa học là đại diện cho các bậc hiền tài, nguyên khí của quốc gia… Cần đổi mới công tác quản lý, phát huy nguồn nhân lực, khuyến khích, trọng dụng người tài, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển khoa học, công nghệ” [4, tr 2] Nghị quyết Trung ương 6 khóa XI, nghị quyết về định hướng chiến lược phát triển giáo dục; đào tạo; khoa học và công nghệ cũng chỉ rõ: “Đầu tư cho nhân lực khoa học và công nghệ là đầu
tư cho phát triển bền vững, trực tiếp nâng tầm trí tuệ và sức mạnh của dân tộc Đảng và Nhà nước có chính sách phát triển, phát huy và trọng dụng đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ” [20, tr 78]
Từ những định hướng trên, trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta
đã đưa ra nhiều chủ trương và giải pháp tích cực nhằm phát huy tối đa nguồn lực con người Việt Nam, trong đó đặc biệt quan tâm đến việc chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, chú trọng đào tạo nguồn nhân lực
có chất lượng cao, phát huy cao nhất quyền con người, quyền làm chủ của nhân dân, tạo điều kiện để mọi người dân được phát huy khả năng của mình, đóng góp công sức xây dựng đất nước Báo cáo của chương trình phát triển của Liên hiệp quốc (UNDP) về tiêu chí phát triển con người (HDI) trong những năm qua cho thấy HDI của Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng
Trang 37kể, nói lên thành tựu to lớn và quan trọng của đường lối đổi mới, của việc xây dựng và phát huy nguồn lực con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, (Xem Biểu đồ 1 và 2)
Biểu đồ 1 Thứ tự xếp hạng HDI của Việt Nam trong tổng số các nước
Biểu đồ 2 Chỉ số HDI của Việt Nam từ 1995 đến 2007
Nguồn: Báo cáo phát triển của UNDP công bố hằng năm
Trang 38Con người có trí tuệ cao, có năng lực, trình độ chuyên môn kỹ thuật giỏi, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức
là động lực của sự nghiệp xây dựng xã hội mới, đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội Phát triển con người là mục tiêu cuối cùng, là đỉnh cao nhất trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia, đồng thời là động lực quyết định sự phát triển xã hội Tầm quan trọng của nguồn lực con người không bao giờ suy giảm và mất đi giá trị nhân văn, ngay cả khi xã hội phát triển cao, đã đạt đến trình độ hiện đại với tiềm lực phong phú, dồi dào về vật chất, thì “vốn người” vẫn không hề mất đi vai trò quyết định trong tiến trình lịch
sử Tuy nhiên, trong khi nhấn mạnh vai trò của nguồn lực con người, chúng
ta không bao giờ được tuyệt đối hóa nó, không đặt nguồn lực con người ở bên ngoài những điều kiện lịch sử - hiện thực, không tách rời nguồn lực con người khỏi mối liên hệ hữu cơ với các nguồn lực khác Nguồn lực con người, đặc biệt là nguồn lực chất xám chỉ có thể phát huy vai trò, sức mạnh trong thực tế, khi dựa trên cơ sở của những nguồn lực khác, lấy đó làm điều kiện, tiền đề cho mọi hoạt động và phát triển của con người trong thực tiễn Ngoài những nội dung trên, nguồn lực con người nói riêng và nguồn
lực phát triển xã hội nói chung còn cần phải được xem xét ở hiệu quả sử dụng nguồn lực ấy Hay nói cách khác, xem xét nguồn lực con người một
cách toàn diện, đúng đắn, cần phải xem xét ở cả trạng thái tĩnh, trạng thái khả năng lẫn trạng thái động, trạng thái hiện thực Bởi như C Mác đã nói:
“Một cái máy không dùng vào quá trình lao động là một cái máy vô ích… Sắt thì han gỉ, gỗ thì bị mục… Lao động sống phải nắm lấy những vật đó, cải tử hoàn sinh cho chúng… Được nung nấu trong ngọn lửa của lao động, được lao động đồng hóa đi như là cơ thể của nó…” [45, tr 274] Hơn thế nữa, con người được đào tạo cơ bản nhưng không được sử dụng hợp lý sẽ làm cho năng lực bị trì trệ; con người đến tuổi lao động, đặc biệt là có trình
độ chuyên môn kỹ thuật tốt nhưng không tham gia lao động sản xuất sẽ lãng
Trang 39phí sức sản xuất, không góp phần phát triển kinh tế - xã hội, thậm chí còn làm tổn hại đến kinh tế - xã hội; tư liệu sản xuất, nguồn vốn, công nghệ nếu không có bàn tay và khối óc của con người tác động vào sẽ không thể làm ra của cải, vật chất cho xã hội Như vậy tất cả các tiêu chuẩn về nguồn lực con người mới chỉ ở dạng khả năng chưa trở thành hiện thực Cũng bàn về vấn
đề này C Mác nói: “Dù hình thái xã hội của sản xuất như thế nào chăng nữa thì người lao động và tư liệu sản xuất bao giờ cũng vẫn là những nhân tố của sản xuất Nhưng chừng nào còn bị tách rời nhau, thì cả hai cũng vẫn chỉ là những nhân tố trong trạng thái khả năng thôi” [45, tr 274-275] Vì thế xem xét nội hàm khái niệm nguồn lực con người một cách toàn diện, thực tiễn nhất, cần phải xem xét cả trên góc độ về số lượng, chất lượng, cơ cấu, đồng thời phải xem xét ở cả góc độ về hiệu quả sử dụng nguồn lực con người trong sự phát triển kinh tế - xã hội của một địa phương, một quốc gia trong một thời điểm lịch sử nhất định Vì thế trong thư gửi P.V Annencốp, C Mác đã viết: “lực lượng sản xuất là kết quả của năng lực thực tiễn của con người” [42, tr 539] Điều đó nói lên tầm quan trọng và vai trò của nguồn lực con người đối với sự phát triển của xã hội
Quan điểm về phát triển nguồn nhân lực: Lịch sử phát triển sản xuất
của loài người là lịch sử phát triển của các nền kinh tế nối tiếp nhau: kinh tế săn bắt và hái lượm, kinh tế nông nghiệp, kinh tế công nghiệp và tri thức Trong các nền kinh tế săn bắt và hái lượm, kinh tế nông nghiệp, vấn đề phát triển nguồn nhân lực chưa được con người đặt ra một cách trực tiếp Bởi lẽ,
ở thời đó lực lượng sản xuất còn thấp kém nên sản xuất gần như hoàn toàn
phụ thuộc vào các lực lượng tự nhiên
Cuối thế kỷ XVIII, bắt đầu cuộc cách mạng công nghiệp và cùng với
nó ra đời những hệ thống sản xuất hiện đại; đồng thời xuất hiện những nhóm người lao động cùng hoàn thành một sản phẩm hoặc có liên quan với nhau Việc xuất hiện nhiều công nghệ mới tạo nên mối quan hệ chặt chẽ trong
Trang 40công việc, nhưng đồng thời cũng làm xuất hiện xu hướng không một người lao động nào có đủ năng lực đáp ứng nhu cầu của các giai đoạn chuyển giao công nghệ mới Lúc này đào tạo trở thành nhu cầu bức thiết trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Nói cách khác, vấn đề phát triển nguồn nhân lực được đặt ra như một yêu cầu tất yếu và bức thiết trong nền kinh tế công nghiệp và phát triển mạnh mẽ trong nền kinh tế tri thức, nơi mà trí tuệ chi phối hầu hết quá trình sản xuất và giá trị sản phẩm Khái niệm “phát triển nguồn nhân lực” (phát triển nguồn lực con người hay phát triển tài nguyên con người) được hình thành và phát triển như một khái niệm khoa học từ thập niên 70 của thế kỷ XX dựa trên quan niệm mới về vị trí, vai trò và giá trị con người trong sự phát triển xã hội
Tuy nhiên, cho đến nay, cách hiểu về phát triển nguồn nhân lực cũng còn khác nhau trong các sách báo khoa học và thông tin đại chúng Cụ thể
là, theo quan điểm con người là nguồn vốn - vốn con người, thì phát triển nguồn nhân lực là phát triển nguồn vốn nhân lực; tức là phát triển các yếu tố học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng, kinh nghiệm, sức khỏe… Bởi lẽ, những yếu tố này có vai trò quyết định năng suất lao động của cá nhân, là điều kiện quan trọng giúp các cá nhân vươn lên, thoát cảnh nghèo đói và tăng thu nhập
Các nhà nghiên cứu của UNDP cho rằng, phát triển nguồn nhân lực chịu sự tác động, chi phối của năm nhân tố: Giáo dục và đào tạo, sức khỏe
và dinh dưỡng, môi trường, việc làm và sự giải phóng con người Trong quá trình tác động đến sự phát triển nguồn nhân lực, những nhân tố này luôn gắn
bó, phụ thuộc và hỗ trợ lẫn nhau; trong đó, giáo dục và đào tạo là nhân tố nền tảng, là cơ sở của các nhân tố khác Những nhân tố sức khỏe và dinh dưỡng, môi trường, việc làm và giải phóng con người là thiết yếu để duy trì
và đáp ứng sự phát triển bền vững của nguồn nhân lực