1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trường phổ thông dân tộc THCS ngọc chiến huyện mường la tỉnh sơn la

94 402 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 660 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1.1.1. Các nghiên cứu trên thế giới Trước thực trạng xuống cấp về đạo đức, lối sống, tội phạm và bạo lực trong một bộ phận học sinh, thì giáo dục đạo đức cho học sinh là vấn đề hết sức cần thiết và cấp bách. Vấn đề đạo đức, giáo dục đạo đức cho học sinh đã được nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu. Với tư cách là một bộ phận của tri thức triết học, những tư tưởng đạo đức học đã xuất hiện hơn 26 thế kỷ trước trong triết học của Trung Quốc, Ấn Độ, Hi Lạp cổ đại. Danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng Latin là Mos (moris) – lề lối, thói quen, thường xem như đồng nghĩa với đạo đức; trong gốc của Hi lạp thì Eethicos nghĩa là thói quen, tập tục. Hai danh từ đó chứng tỏ, khi nói đến đạo đức là nói đến thói quen, tập tục và biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người với người trong giao tiếp với nhau hàng ngày. Sau này người ta thường phân biệt hai khái niệm, moral là đạo đức, còn Eethicos là đạo đức học. Cũng trong thời kỳ này, nhà triết học Socrate (469 – 399 TCN) cho rằng cái gốc của đạo đức là tính thiện, bản tính con người vốn thiện, nếu tính thiện ấy được lan tỏa thì con người sẽ được hạnh phúc. Ở phương Đông các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc lại bắt nguồn từ cách hiểu về đạo và đức của họ. Đạo là một trong những phạm trù quan trọng nhất của triết học Trung Quốc cổ đại. Đạo có nghĩa là con đường, đường đi. Về sau, khái niệm đạo được vận dụng trong triết học để chỉ con đường tự nhiên. Đạo còn có nghĩa là con đường sống của con người trong xã hội. Từ thời này, Khổng Tử (551 – 479 TCN) là nhà hiền triết nổi tiếng của Trung Quốc. Ông đã xây dựng được học thuyết “Nhân – Lễ – Chính danh”. Trong đó, chứ “Nhân” là thương người, người nào thật lòng thương người khác thì có thể làm trọn bổn phận của mình trong xã hội. Trong “Luận ngữ”, Khổng Tử thường dùng chữ “Nhân”, không những để chỉ một đức tính riêng mà còn chỉ chung cho mọi đức tính. Người có nhân, đồng nghĩa với người có mọi đức tính. Như vậy, “Nhân” được coi như một yếu tố hạt nhân, là đạo đức cơ bản của con người. Đứng trên lập trường coi trọng đạo đức, ông có câu nói mà vẫn còn nổi tiếng cho đến tận ngày nay: “Tiên học lễ, hậu học văn”.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam đang ở trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh

tế - xã hội và hội nhập quốc tế Việt Nam đã gia nhập WTO ngày 15.11.2006 (trở thành thành viên chính thức ngày 11.01.2007), tức là đã trực tiếp tham gia tích cực vào quá trình toàn cầu hóa Điều đó có ý nghĩa là vấn đề toàn cầu hóa và những yêu cầu của nền kinh tế thị trường, kinh tế tri thức cũng trực tiếp tác động đến xã hội của Việt Nam Tuy nhiên, sự phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế cũng có những mặt trái của nó như tệ nạn xã hội gia tăng, các tiêu cực xã hội thâm nhập vào trường học (thương mại hóa hoạt động giáo dục, bạo lực học đường có xu hướng gia tăng,…) Hội nhập quốc tế để tận dụng, phát huy các nguồn lực từ bên ngoài (thành tựu khoa học - công nghệ, vốn, thị trường tiêu thụ ), nhưng đồng thời phải phát huy tối đa nội lực bên trong để phát triển đất nước trên cơ sở bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa và giá trị tốt đẹp của dân tộc, con người Việt Nam

Nghị quyết hội nghị lần thứ VIII, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI

(Nghị quyết số 29 - NQ/TW) về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã xác định mục tiêu

của đổi mới giáo dục là tạo chuyển biến căn bản mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ tổ quốc

và nhu cầu học tập của nhân dân Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả Như vậy, việc giáo dục phải bảo đảm phát triển toàn diện con người, tức là đảm bảo cho con người

Trang 2

phát triển cả đức và tài, trong đó vấn đề giáo dục đạo đức được đặt lên hàng đầu bởi đạo đức là “cái gốc”của con người.

Để thực hiện được mục tiêu giáo dục toàn diện, cả “đức” và “tài”, bên cạnh việc nâng cao chất lượng giáo dục các môn khoa học, các nhà trường cần tăng cường giáo dục đạo đức cho học sinh Thực tế hiện nay một bộ phận học sinh (trong đó có học sinh THCS) vẫn chưa đáp ứng được các chuẩn mực đạo đức của xã hội (mắc tệ nạn xã hội, có hành vi vi phạm pháp luật ) làm xấu đi bộ mặt văn hóa - đạo đức của dân tộc Vì vậy, vấn đề giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ đang trở thành mối quan tâm của toàn xã hội và đặt ra cho những người làm công tác giáo dục nhiệm vụ nặng nề là phải giáo dục thế hệ tương lai của đất nước những phẩm chất đạo đức đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới Giáo dục có vai trò hết sức quan trọng trong hình thành nhân cách của học sinh, những chủ nhân tương lai của đất nước như Hồ Chủ tịch đã từng nói:

“Hiền dữ phải đâu là tính sẵnPhần nhiều do giáo dục mà nên”

Trường PTDTBT - THCS Ngọc Chiến thuộc xã vùng 3 (xã đặc biệt khó khăn) của huyện Mường La, tỉnh Sơn La, 100% dân số là đồng bào dân tộc (Thái, H’mông, Laha) Điều kiện kinh tế, mặt bằng dân trí thấp, các hủ tục văn hóa lạc hậu còn nặng nề đã tác động đến việc hình thành các phẩm chất đạo đức tốt đẹp của học sinh Chính vì vậy, trong việc thực hiện nhiệm vụ dạy và học, Trường PTDTBT - THCS Ngọc Chiến đã rất quan tâm đến công tác giáo dục đạo đức cho học sinh và thu được kết quả nhất định, tuy nhiên vì nhiều nguyên nhân mà công tác giáo dục đạo đức vẫn chưa thu được kết quả như mong muốn

Xuất phát từ thực tế và những lý do nêu trên, tác giả lựa chọn vấn đề “Quản lý

Trang 3

giáo dục đạo đức cho học sinh Trường PTDTBT - THCS Ngọc Chiến - Huyện Mường La - Tỉnh Sơn La” làm đề tài nghiên cứu của luận văn tốt nghiệp.

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về quản lí giáo dục đạo đức cho học sinh và thực trạng công tác giáo dục đạo đức cho học sinh Trường PTDTBT - THCS Ngọc Chiến, đề xuất một số biện pháp quản lí giáo dục đạo đức thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh của nhà trường

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh THCS

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh Trường PTDTBT - THCS Ngọc Chiến

4 Giả thuyết khoa học

Công tác quản lí giáo dục đạo đức cho học sinh Trường PTDTBT - THCS Ngọc Chiến đã đạt được một số kết quả nhất định, song vẫn còn những vấn đề hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng được mục tiêu đào đạo Nếu có những biện pháp quản lí phù hợp với đặc điểm của nhà trường và quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh THCS thì sẽ nâng cao được chất lượng và hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh Trường PTDTBT - THCS Ngọc Chiến

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh THCS

Trang 4

5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh Trường PTDTBT - THCS Ngọc Chiến.

5.3 Đề xuất biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh Trường PTDTBT - THCS Ngọc Chiến và khảo nghiệm các biện pháp đã đề xuất

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

- Nghiên cứu biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh Trường PTDTBT- THCS Ngọc Chiến thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

- Tiến hành khảo sát 200 học sinh và 30 cán bộ giáo viên trong toàn trường PTDTBT- THCS Ngọc Chiến

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Phân tích, tổng hợp và hệ thống những vấn đề lý luận có liên quan đến nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài qua sách, báo, nghị quyết của Đảng và tài liệu tham khảo

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Quan sát một số hoạt động giáo dục đạo đức và quản lí hoạt động giáo dục đạo đức của Trường PTDTBT - THCS Ngọc Chiến

- Điều tra bằng phiếu hỏi đối với:

+ Học sinh trong toàn trường PTDTBT - THCS Ngọc Chiến

+ 30 Cán bộ, giáo viên của nhà trường

- Phỏng vấn một số cán bộ, giáo viên của trường PTDTBT - THCS Ngọc Chiến

7.3 Phương Pháp chuyên gia

Lấy ý kiến một số cán bộ, giáo viên có kinh nghiệm trong giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà trường và một số chuyên gia giáo dục về các biện

Trang 5

pháp quản lí nhằm nâng cao chât lượng giáo dục đạo đức cho học sinh Trường PTDTBT - THCS Ngọc Chiến.

7.4 Sử dụng một số phương pháp bổ trợ khác

Phương pháp tổng kết kinh nghiệm về quản lí giáo dục đạo đức cho học sinh, phương pháp toán thống kê để xử lí các số liệu, kết quả khảo sát thực nghiệm và khảo nghiệm

8 Cấu trúc đề tài

- Luận văn gồm có 3 phần:

+ Phần mở đầu

+ Phần nội dung nghiên cứu:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh THCS Chương 2: Thực trạng quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh Trường PTDTBT - THCS Ngọc Chiến

Chương 3: Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh Trường PTDTBT - THCS Ngọc Chiến

+ Phần kết luận và khuyến nghị

Trang 6

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Trước thực trạng xuống cấp về đạo đức, lối sống, tội phạm và bạo lực trong một bộ phận học sinh, thì giáo dục đạo đức cho học sinh là vấn đề hết sức cần thiết và cấp bách Vấn đề đạo đức, giáo dục đạo đức cho học sinh đã được nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu

Với tư cách là một bộ phận của tri thức triết học, những tư tưởng đạo đức học đã xuất hiện hơn 26 thế kỷ trước trong triết học của Trung Quốc, Ấn Độ, Hi Lạp cổ đại Danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng Latin là Mos (moris) – lề lối, thói quen, thường xem như đồng nghĩa với đạo đức; trong gốc của Hi lạp thì Eethicos nghĩa là thói quen, tập tục Hai danh từ đó chứng tỏ, khi nói đến đạo đức là nói đến thói quen, tập tục và biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người với người trong giao tiếp với nhau hàng ngày Sau này người ta thường phân biệt hai khái niệm, moral là đạo đức, còn Eethicos là đạo đức học Cũng trong thời kỳ này, nhà triết học Socrate (469 – 399 TCN) cho rằng cái gốc của đạo đức là tính thiện, bản tính con người vốn thiện, nếu tính thiện ấy được lan tỏa thì con người

sẽ được hạnh phúc

Ở phương Đông các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc lại bắt nguồn từ cách hiểu về đạo và đức của họ Đạo là một trong những phạm trù quan trọng nhất của triết học Trung Quốc cổ đại Đạo có nghĩa là con đường, đường

đi Về sau, khái niệm đạo được vận dụng trong triết học để chỉ con đường tự nhiên Đạo còn có nghĩa là con đường sống của con người trong xã hội Từ thời

Trang 7

này, Khổng Tử (551 – 479 TCN) là nhà hiền triết nổi tiếng của Trung Quốc Ông

đã xây dựng được học thuyết “Nhân – Lễ – Chính danh” Trong đó, chứ “Nhân”

là thương người, người nào thật lòng thương người khác thì có thể làm trọn bổn phận của mình trong xã hội Trong “Luận ngữ”, Khổng Tử thường dùng chữ

“Nhân”, không những để chỉ một đức tính riêng mà còn chỉ chung cho mọi đức tính Người có nhân, đồng nghĩa với người có mọi đức tính Như vậy, “Nhân” được coi như một yếu tố hạt nhân, là đạo đức cơ bản của con người Đứng trên lập trường coi trọng đạo đức, ông có câu nói mà vẫn còn nổi tiếng cho đến tận ngày nay: “Tiên học lễ, hậu học văn”

Thế kỷ XVII, J.A.Komenxky – Nhà giáo dục vĩ đại đã có nhiều đóng góp cho công tác giáo dục đạo đức qua tác phẩm sư phạm “Khoa sư phạm vĩ đại” Ông đã đề ra nhiều biện pháp cụ thể trong giáo dục, làm cơ sở cho nền giáo dục hiện đại sau này

Đến thế kỷ XX, một số nhà giáo dục nổi tiếng của Xô viết cũng có nhiều nghiên cứu về giáo dục đạo đức của học sinh như A.X Macarenco (1888 – 1939) Ông kiên trì đường lối giáo dục lao động qua “trại cải tạo trẻ em phạm pháp” Ông đã tổng kết nhiều kinh nghiệm giáo dục của mình qua các tác phẩm như: Bài ca sư phạm, Những ngọn cờ trên tháp, cuốn sách của những người làm cha mẹ…

Ngoài ra còn một số tác giả cũng nghiên cứu về vấn đề này như: N.A Lyalin, A G Kavaliôp, L I Bôgiôvictrong cuốn Cơ sở tâm lí học của đức dục

đã nêu lên những “Những vấn đề tâm lý học trong công tác giáo dục đạo đức cho thanh thiếu niên” Hay như Xukhomlinxki - nhà sư phạm nổi tiếng của Liên Xô cũng đã có nhiều nghiên cứu, đặc biệt là về phương pháp giáo dục đạo đức cho thanh thiếu niên…

Trang 8

1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam

Ở Việt Nam, ngay từ xưa giá trị về đạo đức luôn được nhân dân ta coi trọng Với tư cách sự đúc kết những kinh nghiệm ứng xử, cách hướng dẫn hành

vi xử thế cho mọi người, các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc luôn tồn tại trong các câu ca dao, tục ngữ, các bài gia huấn, hay các tấm gương đạo đức của

những danh nhân, các anh hùng lịch sử Có thể thấy câu ca dao “Cây xanh thì lá cũng xanh/Cha mẹ hiền lành để đức cho con” thể hiện việc cha mẹ cần phải là

tấm gương trong việc giáo dục đạo đức cho con cái Thông qua các tấm gương của những người đi trước,… mà mỗi người coi đó như một bài học để hoàn thiện nhân cách Ông cha ta đã có câu tục ngữ “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn” để hướng con cháu rèn luyện về nhân cách Nó không những chỉ giúp ta một phương châm đúng đắn trong việc nhìn nhận, đánh giá, chọn lọc ở đời mà còn giúp ta một phương châm trong cách đối nhân xử thế Con người không nên dựa dẫm vào cái hình thức bề ngoài vay mượn, không phải của mình để vênh vang tự phụ với mọi người rồi không chịu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức Đừng vì quá chú trọng hình thức bên ngoài, trang điểm mặt mày, chưng diện quần áo mà quên đi cái chân giá trị của con người là đạo đức, trí tuệ và tài năng Bài học mà ông cha dạy ta thật là đúng đắn và sâu sắc

Sinh thời Bác đã dạy: “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức

mà không có tài thì làm việc gì cũng khó” Câu nói của Bác đã khẳng định giá trị

cơ bản của một con người là tài và đức Tài chính là tài năng, là kiến thức, là hiểu biết, là kĩ năng, là kinh nghiệm sống để con người có thể hoàn thành công việc của mình một cách tốt nhất, đặc biệt là trong những hoàn cảnh khó khăn, những tình huống phức tạp Còn Đức chính là đạo đức, là tư cách tác phong, là lòng nhiệt tình, là trách nhiệm, là những khát vọng chân, thiện, mĩ mà con người

Trang 9

cần phải hướng tới Người có đức biết tôn trọng và bảo vệ chân lí, dám đấu tranh với sai lầm, sẵn sàng hi sinh quyền lợi cá nhân cho quyền lợi của tập thể Tài và đức là những phạm trù khác nhau nhưng gắn bó chặt chẽ không thể tách rời Có tài mà không có đức là người vô dụng, bởi vì tài năng đó không được sử dụng để phục vụ nhân dân mà chỉ để mưu cầu lợi ích cho cá nhân thì cũng trở thành vô ích Người ta không thể sống một mình, càng không thể tách rời gia đình, bạn bè, giai cấp, dân tộc và đồng loại Rõ ràng để làm nên giá trị của con người phải bao gồm cả tài và đức Đức và tài bổ sung, hỗ trợ cho nhau để con người trở thành toàn diện Nhưng trong ý kiến của Hồ Chủ tịch, rõ ràng vị trí của đức được coi là hàng đầu, là yếu tố quyết định Chính vì thế, thiếu đức con người trở thành vô dụng, thiếu tài người ta làm việc gì cũng khó Và theo Người “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” là những phẩm chất đạo đức quan trọng cần được giáo dục cho mọi người.

Chính vì tầm quan trọng của giáo dục đạo đức mà cho đến nay đã có nhiều

đề tài khoa học nghiên cứu về vấn đề này như: “Chuẩn mực và giải pháp hình thành đạo đức con người Việt Nam thời kì Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa” do tác giả Hà Nhật Thăng và các cộng sự thực hiện năm 2000; “Giá trị đạo đức truyền thống cho học sinh THPT qua hoạt động giáo dục và ngoài giờ lên lớp”

do tác giả Lưu Thu Thủy làm chủ nhiệm; “Tìm hiểu về giáo dục đạo đức học sinh của một vài nước trên thế giới” chủ nhiệm đề tài Nguyễn Dục Quang (năm 2010)…

Ngoài ra còn có các luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ nghiên cứu vấn đề giáo dục đạo đức như: “Giáo dục lòng nhân nghĩa cho HS THPT trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Nguyễn Xuân Thanh (2009) thực hiện; “Sử dụng trò chơi dân gian nhằm giáo dục đạo đức cho HS tiểu học miền núi Đông Bắc” của tác

Trang 10

giả Hà Thị Kim Linh (2012)… Các công trình nghiên cứu về giáo dục đạo đức của các nhà khoa học nói trên đã được nhiều nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục vận dụng vào hoạt động giáo dục đạo đức và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên nhiều cấp học trong các cơ sở giáo dục Tuy nhiên, vấn

đề quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh Trường PTDTBT - THCS Ngọc Chiến - Huyện Mường La - Tỉnh Sơn La chưa được quan tâm nghiên cứu

Do đó, mục đích của đề tài luận văn là trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh, đưa ra một số biện pháp trong công tác quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh Trường PTDTBT - THCS Ngọc Chiến, huyện Mường La, tỉnh Sơn La thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Đạo đức

Trong đời sống xã hội, đòi hỏi mỗi chúng ta phải ý thức được ý nghĩa, mục đích hoạt động của mình trong quá khứ, hiện tại và tương lai Những hoạt động đó bao giờ cũng có sự chi phối của những quan hệ giữa cá nhân và cá nhân,

cá nhân và xã hội Những mối quan hệ đó qui định giới hạn nhất định nhằm đảm bảo lợi ích của cộng đồng và xã hội Những qui định này tự giác tạo thành động lực cho phát triển xã hội Đó là các qui tắc, chuẩn mực hoàn toàn tự giác trong hành động của mỗi cá nhân trong tất cả các quan hệ xã hội Nói cách khác, đó chính là đạo đức của con người trong xã hội

Theo từ điển triết học: Đạo đức là sản phẩm của quá trình lịch sử, xã hội thể hiện qua sự nhận thức và quyền tự do của con người.[32;291]

Theo Trần Hậu Khiêm: Đạo đức là tổng hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình vì lợi

Trang 11

ích xã hội, hạnh phúc của con người trong mối quan hệ giữa con người và con người, giữa cá nhân và tập thể hay toàn xã hội.[20;3]

Một định nghĩa khác: Đạo đức là phẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng theo những tiêu chuẩn đạo đức mà có

Dưới góc độ xã hội đạo đức có thể định nghĩa theo các khía cạnh sau:

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp các qui tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội nhờ nó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích và hạnh phúc của con người, với tiến bộ xã hội trong quan hệ cá nhân - cá nhân và quan hệ cá nhân - xã hội

Đạo đức là toàn bộ những qui tắc, chuẩn mực nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người với nhau trong quan hệ xã hội và quan hệ với tự nhiên

Đạo đức là hệ thống các qui tắc, chuẩn mực biểu hiện sự tự giác trong quan hệ con người với con người, con người với cộng đồng xã hội, với tự nhiên

Trang 12

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quytắc, chuẩn mực xã hội nhằm thực hiện chức năng điều chỉnh hành vi của con người trong mọi lĩnh vực xã hội Chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội.

Trong cuộc sống thực tế của chúng ta có những trường hợp pháp luật không trừng phạt nhưng lại bịđạo đức lên án Thang bậc đánh giá của pháp luật theo khuôn từ thấp đến cao theo những luật đặt ra sẵn từ trước còn thang bậc đánh giá đạo đức rộng hơn rất nhiều Có thể nói: “Pháp luật là đạo đức tối thiểu, đạo đức là pháp luật tối đa”

Ngày nay, Đảng và Nhà nước ta luôn đề cao vấn đề tư tuởng, đạo đức,giá trị đạo đức trong xã hội ta hiện nay, là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa truyềnthống đạo đức tốt đẹp của dân tộc với xu thế tiến bộ của thời đại Nguồn gốccủa mọi giá trị đạo đức là sự sáng tạo, cần cù trong lao động, có ý nghĩa chỉ đạotrong sự giáo dục và tự giáo dục đạo đức của con người Tình yêu quê hương đất nước gắn chặt với thựchiện nghĩa vụ của công dân, sống và làm việc theo pháp luật, đấu tranh không mệt mỏi vì hoà bình, có tính cộng đồng và tinh thần quốc tế là giá trị đạođức cao của con người Việt Nam ngày nay Giá trị đạo đức XHCN thể hiện ở tinh thầnnhân đạo XHCN; thực hiện nếp sống văn minh, ý thức bảo vệ môi trường, bảovệ thiên nhiên…

1.2.2 Giáo dục đạo đức

Giáo dục đạo đức là quá trình tác động của chủ thể giáo dục tới đối tượng giáo dục để hình thành cho họ ý thức đạo đức, tình cảm, niềm tin đạo đức; và quan trọng hơn cả là hình thành cho họ hành vi và thói quen đạo đức Giáo dục đạo đức về bản chất là quá trình biến hệ thông chuẩn mực, giá trị đạo đức xã hội

Trang 13

thành đòi hỏi bên trong, thành tình cảm, niềm tin, nhu cầu, hành vi và thói quen đạo đức của đối tượng giáo dục.

Giáo dục đạo đức có mối quan hệ chặt chẽ với giáo dục tư tưởng chính trị

Từ đó là cơ sở hình thành thế giới quan Mác - Lênin và định hướng chính trị theo quan điểm, đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam cho ý thức và hành động đạo đức.Giáo dục đạo đức còn gắn bó chặt chẽ với việc giáo dục pháp luật Giáo dục pháp luật giúp cho người học nắm được chuẩn mực của pháp luật, các quyền lợi

và nghĩa vụ của người công dân Việt Nam Luật pháp bản thân nó cũng đã bao hàm những yếu tố đạo đức Thực hiện pháp luật một cách tự giácgóp phần vào cuộc sống bình yên của xã hội chính là thể hiện những phẩm chấtđạo đức chân chính

Quá trình giáo dục đạo đức giúp cho mỗi cá nhân nhận thức đúng các giátrị đạo đức, biết hành động theo lẽ phải, công bằng và nhân đạo, biết sống

vìmọi người, vì gia đình, vì sự tiến bộ và sự phồn vinh của đất nước Trong

đómục tiêu quan trọng nhất của giáo dục đạo đức là hình thành được những thóiquen hành vi đạo đức Như vậy giáo dục đạo đức là một nhiệm vụ bao trùm

và xuyên suốt toànbộ hoạt động của gia đình, nhà truờng và xã hội để hình thành

và phát triểnnhân cách Giáo dục đạo đức trở thành mối quan tâm của toàn xã hội, là vấn đềcủa mọi vấn đề trong chiến lược giáo dục và đào tạo vì sự phát triển con ngườivà phát triển xã hội

Trang 14

- Góc độ điều khiển học: QL là lái, điều khiển, điều chỉnh.

- Cách tiếp cận hệ thống: QL là sự tác động của chủ thể QL đến khách thể

QL (hay đối tượng QL) nhằm tổ chức, phối hợp hoạt động của con người trong các quá trình sản xuất - xã hội để đạt được mục đích đã định

* Quan điểm của các tác giả nước ngoài về quản lý:

C.Mác đã lột tả bản chất của quản lý là nhằm thiết lập sự phối hợp giữa những công việc cá nhân và thực hiện những chức năng chung, nảy sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, khác với sự vận động riêng lẻ của nó Trong bộ Tư bản, C.Mác đã viết: “Bất kỳ lao động nào có tính xã hội và chung trực tiếp, được thực hiện với quy mô tương đối lớn đều ít nhiều cần tới sự QL Một người chơi vĩ cầm riêng lẻ tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần người chỉ huy” [8;480]

Như vậy, theo C.Mác: quản lý là loại lao động để điều khiển mọi quá trình lao động phát triển xã hội.

Follett đưa ra một định nghĩa khá nổi tiếng về quản lý là: “nghệ thuật hoàn thành công việc thông qua người khác” Một định nghĩa được chấp nhận rộng rãi khác là: “QL là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên trong tổ chức và sử dụng mọi nguồn lực sẵn có của tổ chức để đạt được những mục tiêu của tổ chức” [9; 2]

Theo Henry Fayol: “Quản lý nghĩa là dự kiến, tổ chức, lãnh đạo, phối hợp và kiểm tra” [9;103]

Harld Koontz thì cho rằng: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục tiêu của nhóm Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người

Trang 15

có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [9;12]

F.W Taylor, nhà kinh tế học người Anh cho rằng: “Quản lý là biết chính xác điều muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất, rẻ nhất” [9;12]

Như vậy, các tác giả nước ngoài định nghĩa về khái niệm QL có khác

nhau, song có thể nhận thấy một số điểm chung là: QL là biết được điều bạn muốn người khác làm, sao cho đem lại hiệu quả nhất và thúc đẩy sự tiến bộ.

* Quan điểm của các tác giả trong nước về quản lý:

Quản lý là một từ Hán Việt được ghép bởi từ “quản” và “lý” “Quản” là quá trình coi sóc, gìn giữ, duy trì ở trạng thái ổn định “Lý” nghĩa là chỉnh đốn, sửa sang, sắp xếp, đổi mới, đưa vào hệ thống phát triển Vì vậy “Quản lý” tức là bảo quản, duy trì, đổi mới, phát triển sự vật ở trạng thái ổn định trong bối cảnh biến động

Theo Từ điển Giáo dục học: QL là hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL (người QL) đến khách thể QL (người bị QL) trong một tổ chức, nhằm làm cho một tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức

Các nhà nghiên cứu từ các góc độ tiếp cận khác nhau đã đưa ra các khái niệm khác nhau:

“Quản lý là hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt các mục đích của nhóm Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất Với tư

Trang 16

cách thực hành thì cách quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học” [25;29]

Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt thì cho rằng: “Quản lý là quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định” [25;225]

Theo Nguyễn Ngọc Quang thì: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được mục tiêu dự kiến” [28;24]

Hà Sĩ Hồ cho rằng: “Quản lý là quá trình tác động có định hướng, có tổ chức, lựa chọn trong số các tác động có thể dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng nhằm giữ vững cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định” [21;21]

Tác giả Trần Kiểm nêu khái niệm quản lý như sau: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, phối hợp các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt được mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [23;15]

Tóm lại, mặc dù được diễn đạt dưới nhiều góc độ khác nhau nhưng các quan điểm về QL đã nêu đều thể hiện được nội dung: “QL là những tác động của chủ thể QL trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [23;15]

Trang 17

1.2.4 Quản lý giáo dục

Giáo dục là một dạng hoạt động đặc biệt của con người, xuất hiện từ khi con người được sinh ra Bởi trong quá trình lao động, con người tích lũy kinh nghiệm và truyền cho thế hệ sau Ban đầu là tự phát sau dần trở thành tự giác, có

ý thức, có mục đích và có chương trình Giáo dục có vị trí, vai trò rất to lớn trong đời sống xã hội con người, vì vậy quản lý giáo dục là vấn đề mà các quốc gia trên thế giới đều rất quan tâm, chú trọng

Quản lý giáo dục là một khoa học quản lý chuyên ngành được nghiên cứu trên nền tảng của khoa học nói chung đồng thời cũng là một bộ phận của khoa học giáo dục Cũng giống như khái niệm quản lý, khái niệm quản lý giáo dục cũng có nhiều cách hiểu và được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau

Tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức bằng cách vận dụng các quy luật khách quan của nhà quản lý giáo dục tác động đến toàn bộ hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ thống đạt được mục tiêu của nó” [9]

Trong cuốn Giáo dục học tác giả Phạm Viết Vượng đã viết: “Mục đích cuối cùng của quản lý giáo dục là tổ chức giáo dục có hiệu quả để đào tạo ra lớp thanh niên thông minh, sáng tạo, năng động, tự chủ biết sống và biết phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân và xã hội” [34; 206]

Theo giáo sư Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là tổ chức các hoạt động dạy - học thực hiện được các tính chất của nhà trường Việt Nam xã hội chủ nghĩa mới, quản lý được giáo dục tức là cụ thể hóa đường lối giáo dục của Đảng

và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, của đất nước” [16; 9]

Tác giả Nguyễn Gia Quý cho rằng: “QLGD là tác động có ý thức của chủ

Trang 18

thể QL đến khách thể QL, nhằm đưa hoạt động GD tới mục tiêu đã định, trên cơ

sở nhận thức và vận dụng đúng những quy luật khách quan của hệ thống” [30; 2]

Nhà trường là đối tượng cuối cùng và cơ bản nhất của quản lý giáo dục, trong đó đội ngũ GV và HS là đối tượng quản lý quan trọng nhất

Qua các định nghĩa trên chúng ta có thể rút ra những kết luận: QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản

lý đến tập thể GV và HS, đến những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường làm cho quá trình này hoạt động để đạt những mục tiêu dự định, nhằm điều hành phối hợp các lực lượng xã hội thúc đẩy mạnh mẽ công tác giáo dục thế

hệ trẻ, theo yêu cầu phát triển xã hội Trong QLGD, quan hệ cơ bản là quan hệ giữa người quản lý với người dạy và người học, ngoài ra còn các mối quan hệ khác như quan hệ giữa các cấp bậc khác, giữa GV với HS, giữa nhân viên phục

vụ với công việc liên quan đến hoạt động giảng dạy và học tập, giữa GV - HS và CSVC phục vụ cho giáo dục

Ngày nay, theo quan điểm học tập thường xuyên, học tập suốt đười, giáo dục không còn giới hạn cho thế hệ trẻ mà là giáo dục cho mọi người nên quản lý giáo dục còn được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân nhằm thực hiện mục tiêu: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài

1.2.5 Quản lý giáo dục đạo đức

Quản lý giáo dục đạo đức: là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm hình thành những phẩm chất đạo đức của học sinh, đảm bảo quá trình giáo dục đạo đức đúng hướng, phù hợp với những chuẩn mực, quy tắc đạo đức được xã hội thừa nhận

Trang 19

Về bản chất, quản lý hoạt động giáo dục đạo đức là quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý lên các thành tố tham gia vào quá trình hoạt động nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục đạo đức (nhằm hình thành niềm tin, lý tưởng, động cơ thái độ, tình cảm, hành vi và thói quen Đó là những nét tính cách của nhân cách, ứng xử đúng đắn trong xã hội).

Quản lý GD đạo đức cho HS còn là quá trình huy động các lực lượng giáo dục, các điều kiện, các phương tiện giáo dục, phối hợp các môi trường giáo dục, giúp HS có tri thức đạo đức, tình cảm đạo đức và hình thành hành vi đạo đức phù hợp với yêu cầu của xã hội

1.3 Vị trí, vai trò của hoạt động ngoài giờ lên lớp đối với việc giáo dục đạo đức cho học sinh THCS

1.3.1 Vị trí của hoạt động GDNGLL ở trường THCS

Như chúng ta đã biết, trong nhà trường THCS có rất nhiều các loại hình hoạt động khác nhau và mọi hoạt động đều có vai trò riêng, thế mạnh riêng

Hoạt động dạy học chủ yếu là truyền thụ tri thức về tự nhiên, về xã hội, về

tư duy, các kĩ năng, kĩ sảo tương ứng, thông qua đó để giáo dục nhân cách học sinh Tuy nhiên, hoạt động dạy học không thể thay thế chức năng của các hoạt động khác Thậm chí hoạt động dạy học cũng có những hạn chế, đòi hỏi phải có các hoạt động khác bổ sung, hỗ trợ Một số hạn chế cơ bản của hoạt động dạy học như: thiếu sự mềm dẻo và linh hoạt về nội dung, chương trình, thời gian, địa điểm nội dung, chương trình thường ít thay đổi vì thế khả năng cập nhật với sự thay đổi của thực tiễn chậm Sự tương tác, giao tiếp giữa giáo viên và học sinh, giữa học sinh với nhau trong dạy học thường khô cứng, khuôn mẫu và có thể nhàm chán do tính đơn điệu của nó Dạy học thường chỉ tiến hành trong phạm vi không gian của lớp học, tạo cảm giác chật hẹp, gò bó

Trang 20

Khắc phục những hạn chế trên, hoạt động GDNGLL sẽ rất đa dạng, mềm dẻo và linh hoạt, các hoạt động hết sức phong phú, có thể thỏa mãn nhu cầu của mọi cá nhân học sinh, nhất là nhu cầu vui chơi, giải trí, nhu cầu giao tiếp, kết bạn.

Hoạt động GDNGLL là điều kiện để kiểm soát thời gian và hành vi của học sinh, làm cho quá trình giáo dục có tính liên tục

Hoạt động GDNGLL có vị trí rất quan trọng trong quá trình giáo dục, là điều kiện giáo dục toàn diện nhân cách học sinh Dưới góc độ chỉ đạo, Hoạt động GDNGLL là một trong ba kế hoạch đào tạo (Kế hoạch dạy học, kế hoạch GDNGLL và kế hoạch hướng nghiệp dạy nghề) của trường THCS nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục nhân văn, khoa học và kĩ thuật

1.3.2 Vai trò của hoạt động ngoài giờ lên lớp đối với việc giáo dục đạo đức cho học sinh THCS

Do vị trí quan trọng của hoạt động GDNGLL, xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lí của học sinh THCS, hoạt động GDNGLL được xác định có vai trò to lớn trong quá trình giáo dục học sinh góp phần củng cố kết quả dạy học trên lớp, bổ sung các kiến thức, kỹ năng và hình thành thái độ cần thiết để đảm bảo thực hiện

có hiệu quả mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh

Cùng với hoạt động dạy học, hoạt động GDNGLL tạo ra sự cân đối hài hòa các hoạt động trong nhà trường nhằm tạo ra quá trình sư phạm toàn diện, thống nhất hướng vào việc thực hiện mục tiêu cấp học

Hoạt động GDNGLL là điều kiện để củng cố và phát triển các mối quan

hệ giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với nhau và giữa học sinh với cộng đồng xã hội, trên cơ sở đó phát triển các mối quan hệ xã hội, cơ sở và nền tảng của sự phát triển nhân cách cá nhân

Trang 21

Hoạt động GDNGLL còn có vai trò thu hút và phát huy tiềm năng, thế mạnh của các lực lượng giáo dục gia đình và xã hội để nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục.

Hoạt động GDNGLL được tổ chức hết sức đa dạng và phong phú, gắn liền với thực tế về lao động, khoa học, thẩm mĩ, thể dục, văn hóa, xã hội, vui chơi giải trí, trên cơ sở đó để phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh

1.4 Nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh THCS thông qua HĐGDNGLL

1.4.1 Mục tiêu giáo dục đạo đức cho học sinh THCS thông qua HĐGDNGLL

1.4.1.1 Mục tiêu về kiến thức

Không giống các môn học khác, giáo dục đạo đức thông qua HĐGDNGLL ở THCS là một môn học đặc thù nên nó không có hệ thống kiến thức xác định mà phản ánh tri thức của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Chính vì vậy, giáo dục đạo đức thông qua HĐGDNGLL chính là dịp, là cơ hội để học sinh củng cố, ôn lại kiến thức đã học nhằm giúp các em khắc sâu hơn kiến thức đã học mà bản thân những giờ học trên lớp không

đủ điều kiện để trang bị toàn bộ những tri thức, kỹ năng, thái độ có liên quan đến môn học Do vậy, giáo dục đạo đức thông qua HĐGDNGLL sẽ cung cấp làm phong phú tri thức nhất là những tri thức gắn với thực tiễn, có tính cụ thể và thiết thực Ngoài ra, thông qua HĐGDNGLL giáo viên giúp học sinh định hướng chính trị xã hội, có hiểu biết nhất định về truyền thống yêu nước, giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc… Đồng thời nâng cao nhận thức cho học sinh về các vấn đề mà nhân loại đang quan tâm: hòa bình, bảo vệ môi trường, sự gia tăng dân số, bệnh hiểm nghèo…

Trang 22

1.4.1.2 Mục tiêu về kĩ năng

Mục tiêu của giáo dục đạo đức thông qua HĐGDNGLL ở THCS là rèn luyện thêm các thói quen hành vi đạo đức cho học sinh, định hướng những giá trị tốt đẹp, những chuẩn mực xã hội… để từ đó trang bị và hình thành cho học sinh những chuẩn mực xã hội, làm cơ sở để hình thành cho các em các kỹ năng sống cần thiết trong cộng đồng xã hội, trong bối cảnh hội nhập và "thế giới phẳng" ngày nay như: kỹ năng giao tiếp, ứng xử; kỹ năng hợp tác, làm việc nhóm; kỹ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề… Qua đó biết cách ứng xử có trách nhiệm với mọi người xung quanh (thầy cô, bạn bè, anh chị em trong gia đình…), với xã hội và môi trường tự nhiên

1.4.1.3 Mục tiêu về thái độ

Thái độ tích cực của học sinh đối với giáo dục đạo đức thông qua HĐGDNGLL biểu thị ở hứng thú, niềm say mê tìm tòi sáng tạo các nội dung và hình thức hoạt động thích hợp HĐGDNGLL bồi dưỡng hứng thú cho học sinh, những tình cảm đạo đức trong sáng (tình cảm thầy trò, tình cảm bạn bè, tình yêu quê hương đất nước, tinh thần đoàn kết hữu nghị…) qua đó giúp các em biết trân trọng cái tốt, cái đẹp, biết ghét cái xấu, cái lỗi thời không phù hợp Thông qua HĐGDNGLL còn bồi dưỡng cho học sinh lối sống phù hợp với các chuẩn mực đạo đức, pháp luật, phát huy bản sắc và truyền thống tốt đẹp của quê hương, đất nước Qua hoạt động, phát triển tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh

và học sinh hoạt động vì lợi ích của lớp, của trường vì sự trưởng thành và tiến bộ của bản thân HĐGDNGLL phát triển tinh thần đoàn kết hữu nghị, sự hợp tác gắn bó và trách nhiệm với nhau trong cuộc sống hằng ngày Đây cũng là đòi hỏi bức xúc trong giai đoạn cách mạng mới cần hình thành năng lực hợp tác và hữu nghị cho con người

Trang 23

1.4.2 Nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh THCS thông qua HĐGDNGLL

Chương trình giáo dục đạo đức thông qua HĐGDNGLL là một phần rất quan trọng trong kế hoạch giáo dục của trường THCS được thể hiện thành một chương trình cụ thể Nội dung giáo dục đạo đức thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là sự tổng hợp nội dung của nhiều loại hình khác nhau Những loại hình hoạt động được lựa chọn để đưa vào chương trình HĐGDNGLL có liên quan đến các mặt giáo dục như: giáo dục đạo đức, giáo dục trí tuệ, giáo dục thẩm

mĩ, giáo dục thể chất, giáo dục lao động và các nội dung giáo dục pháp luật, giáo dục môi trường, giáo dục hòa bình…

Căn cứ vào Quyết định số 16/2006/QĐ-BGD&ĐT trong đó quy định về chương trình giáo dục phổ thông Cụ thể: nội dung GDNGLL được thực hiện 3 tiết/tuần Trong đó bao gồm: sinh hoạt dưới cờ 1 tiết/tuần; sinh hoạt cuối tuần 1 tiết/tuân; sinh hoạt theo chủ đề 1 tiết/tuần Chương trình GDNGLL ở THCS bao gồm một số chủ đề sau:

- Giáo dục truyền thống

- Giáo dục ý thức học tập

- Giáo dục ý thức tình cảm với Tổ quốc, với Đảng cộng sản Việt Nam, với Bác Hồ, với Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, với Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh,

- Giáo dục tình bạn, tình yêu và gia đình

- Giáo dục hòa bình, hữu nghị và hợp tác

- Hè vui, khỏe và bổ ích

 Các loại hình hoạt động

Trang 24

Căn cứ vào các chủ đề trên, đồng thời đối chiếu với thực tiễn hoạt động của học sinh hiện nay; nội dung HĐGDNGLL rất đa dạng và phong phú có thể

được thực hiện qua các loại hình hoạt động sau đây:

* Hoạt động chính trị xã hội: đó là những nội dung giáo dục đạo đức

thông qua hoạt động chính trị xã hội có liên quan đến những dịp kỉ niệm những ngày lễ lớn của dân tộc, các mốc thời gian có liên quan đến nhân loại, các sự kiện chính trị, xã hội trong nước và quốc tế đang được quan tâm, các hoạt động tìm hiểu truyền thống của nhà trường, của địa phương, của dân tộc, các hoạt động nhân đạo, đền ơn đáp nghĩa, các hoạt động từ thiện… Những hoạt động này vừa có tác dụng giáo dục ý thức đối với dân tộc, đối với quê hương, vừa có ý nghĩa gắn học sinh với đời sống xã hội giúp các em có thêm hiểu biết về tình hình chính trị xã hội của đất nước và quốc tế

* Hoạt động văn hóa nghệ thuật: Nội dung giáo dục đạo đức thông qua

hoạt động văn hóa nghệ thuật hướng vào việc giáo dục ý thức cho học sinh có những hiểu biết, những tình cảm chân thành đối với con người, với tổ quốc, với thiên nhiên và với chính mình Hoạt động văn hóa nghệ thuật giáo dục HS biết cách cảm xúc với nghệ thuật, với cái hay, cái đẹp của con người, của cuộc sống, của tự nhiên, tạo nên ở các em những tình cảm thẩm mỹ; giúp HS có những hiểu biết, những tình cảm chân thành đối với con người, với tổ quốc, với thiên nhiên

và với chính mình Có nhiều hình thức hoạt động văn hóa nghệ thuật như thơ ca, múa hát, kịch ngắn, kể chuyện được thể hiện dưới các hình thức khác nhau; cuộc thi vẻ đẹp HS tuổi thiếu niên từng khối lớp hoặc trường; thi khéo tay như thi thêu, cắm hoa, nấu ăn, may vá hoặc trưng bày những bài văn hay, những cách giải độc đáo, những dụng cụ học tập tự làm; xem phim, xem biểu diễn nghệ thuật; tham gia du lịch; CLB chuyên đề

Trang 25

* Hoạt động thể dục, thể thao: Hoạt động giáo dục đạo đức thông qua thể

dục thể thao diễn ra dưới nhiều hình thức: thể dục chống mệt mỏi, các hình thức nghỉ ngơi tích cực (thể dục nhịp điệu, đá cầu, nhảy dây, các trò chơi tập thể…) các đội bóng đá mini, cờ vua, điền kinh Hội khỏe Phủ Đổng, ngày hội thể thao toàn trường Thông qua các hoạt động thể dục thể thao có thể rèn luyện cho các

em thể lực, tăng cường sức khoẻ, hình thành nhiều phẩm chất tốt như: ý thức tổ chức kỷ luật, ý chí vượt khó, tinh thần đồng đội, tính kiên trì, lòng dũng cảm, tình đoàn kết, lòng tự trọng tinh thần đoàn kết, tinh thần thượng võ…

* Hoạt động lao động, khoa học, kĩ thuật, hướng nghiệp: Đây là một loại

hình hoạt động có trong chương trình HĐGD NGLL Nội dung của loại hình hoạt động này nhằm đáp ứng những hứng thú và niềm say mê tìm tòi cái mới trong học tập, ứng dụng kiến thức của học sinh vào trong thực tế Đó là các hoạt động của các CLB tìm hiểu về xã hội, khoa học theo các chuyên đề (toán, lý, hoá, sinh ); sưu tầm, tìm hiểu về các danh nhân, nhà bác học, những tấm gương ham học, say mê phát minh sáng chế, nghe nói chuyện về các ngành nghề trong

xã hội, các thành tựu khoa học kỹ thuật, thi làm đồ dùng học tập, dụng cụ trực quan, tham quan các cơ sở sản xuất – các công trình khoa học, xem triển lãm về thành tựu kinh tế, kỹ thuật Thông qua loại hình này có thể rèn luyện cho các em đạo đức nghề nghiệp của các ngành nghề, để bước đầu trang bị cho các em những hiểu biết về đạo đức nghề nghiệp sau này…

* Hoạt động vui chơi giải trí: Nội dung giáo dục đạo đức thông qua vui

chơi giả trí phải cụ thể dễ thực hiện và có tác dụng kích thích sự hưng phấn của học sinh, làm giảm sự căng thẳng mệt mỏi của các em Vui chơi giải chí có nhiều hình thức như: thi đấu trí tuệ, thi đấu thể thao, thi ứng xử, chơi trò chơi… Các

Trang 26

hình thức vui chơi này cũng là điều kiện tốt để giáo dục cho các em các giá trị như: khiêm tốn, tôn trọng, hòa bình…

* Hoạt động lao động công ích: Có nhiều hình thức lao động công ích

như: tham gia trực nhật vệ sinh trường, lớp; trồng cây, chăm sóc vườn hoa cây cảnh, làm đẹp cho trường cho quê hương mình; tham gia lao động công cộng của nhà trường, của địa phương; lao động giúp đỡ các cơ sở sản xuất kết nghĩa… các loại hình này phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của học sinh THCS Chúng được đan xen đưa và các chủ điểm giáo dục của các tháng trong năm học Thông qua những hoạt động như vậy có thể giúp các em biết yêu laođộng, biết quý trọng những thành quả lao động của người khác, thực hiện sống tiết kiệm…

Cấu trúc chương trình HĐGDNGLL

Chương trình HĐGDNGLL của trường THCS có hai phần: phần bắt buộc

và phần tự chọn

* Phần bắt buộc: yều cầu mọi trường và mọi học sinh phải tham gia vì đây

là nội dung góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện nhân cách thế hệ trẻ Phần bắt buộc được xây dựng theo các chủ điểm giáo dục Mỗi chủ điểm giáo dục thường gắn với một ngày kỉ niệm lịch sử trong tháng, với nhiệm vụ trọng tâm của từng thời điểm giáo dục trong năm Theo nguyên tắc phát triển các hình thức hoạt động từ đơn giản ở các lớp đầu cấp phức tạp dần ở các lớp cuối cấp, phần bắt buộc đưa ra các hoạt động tương đối khả thi theo từng chủ điểm cho mỗi khối lớp Phần bắt buộc được thể hiện suốt 12 tháng nhằm khép kín không gian, thời gian rèn luyện của học sinh, tạo ra quá trình chăm sóc giáo dục liên tục, có hệ thống của toàn xã hội

* Phần tự chọn: là những hoạt động không bắt buộc, tùy theo điều kiện

của từng trường, từng địa phương và khả năng, sở thích của học sinh mà lựa

Trang 27

chọn nội dung cho phù hợp Phần tự chọn không được xây dựng thành chương trình khung, mà chỉ gợi ý một số nội dung và hình thức hoạt động cụ thể Ví dụ: sinh hoạt câu lạc bộ theo chủ đề, giao lưu văn hóa giữa các nhóm, các lớp hoặc địa phương, vui chơi giải trí với nhiều loại trò chơi khác nhau, sinh hoạt văn nghệ, tổ chức các hoạt động thể dục thể thao, tham gia các hoạt động xãhội với nội dung về giáo dục phòng chống HIV/AIDS, giáo dục pháp luật, giáo dục an toàn giao thông, giáo dục dân số môi trường, các hoạt động tuyên truyền cổ vũ phong trào địa phương…

1.4.3 Những con đường chủ yếu để thực hiện GD đạo đức thông qua HĐGDNGLL

Do những yêu cầu thực tiễn, đặc biệt đối với lứa tuổi học sinh THCS cần tập trung vào hai con đường chủ yếu (đã được qui định và dành nhiều thời gian cho kế hoạch dạy học) để thực hiện loại hoạt động này là: Hoạt động GDNGLL thông qua tiết sinh hoạt dưới cờ đầu tuần, sinh hoạt lớp và hoạt động cao điểm trong tháng

* Tiết sinh hoạt dưới cờ đầu tuần: Tiết sinh hoạt dưới cờ đầu tuần là một

dạng giáo dục đạo đức thông qua HĐGDNGLL có tính chất tổng hợp, nhằm giáo dục cho học sinh lòng yêu quê hương đất nước; khắc sâu ý thức phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân; xác định được trách nhiệm của mình là học tập vì Tổ quốc; định hướng những yêu cầu trọng tâm của nhà trường trong từng thời điểm, gây nên khí thế mới thúc đẩy học sinh say mê rèn luyện; mở rộng mối liên hệ giữa các tập thể lớp, tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, khắc phục xu hướng hẹp hòi, cục bộ trong đời sống tập thể hàng ngày ở nhà trường Tiết sinh hoạt dưới cờ được tổ chức theo quy mô toàn trường với sự tham gia điều khiển của giáo viên

và học sinh Nội dung hoạt động của tiết sinh hoạt dưới cờ đầu tuần gắn liền với

Trang 28

nội dung hoạt động của chủ điểm giáo dục tháng Đó là các nội dung hoạt động như: báo các kết quả thi đua, rèn luyện các tập thể và cá nhân trong trường; phát động thi đua theo một chủ đề nhất định; tổ chức hoạt động văn nghệ, vui chơi giải trí; nghe nói chuyện chuyên đề; giao lưu giữa các tập thể lớp; tổ chức các lễ

kỉ niệm

* Tiết sinh hoạt lớp cuối tuần Tiết sinh hoạt cuối tuần là một dạng giáo

dục đạo đức thông qua hoạt động NGLL, là một hình thứctổ chức giáo dục tự quản cho HS và là một trong những biện pháp cơ bản góp phần xây dựng tập thể học sinh đoàn kết Đây cũng là dịp để học sinh làm quen với nhiều loại hình hoạt động khác nhau, giúp các em phát triển các kĩ năng cơ bản và cần thiết của người học sinh THCS Tiết sinh hoạt cuối tuần do học sinh cùng nhau tự tổ chức dưới

sự giúp đỡ, cố vấn của giáo chủ nhiệm Nội dung của tiết sinh hoạt lớp cuối tuần gắn với nội dung hoạt động của chủ điểm giáo dục tháng, phù hợp với nhu cầu

và hứng thú của học sinh

* Ngày hoạt động cao điểm trong tháng: Mỗi chủ điểm giáo dục có một

ngày hoạt động cao điểm, đó là ngày kỉ niệm lịch sử trong tháng Đây là dịp để học sinh thể hiện kết quả hoạt động của một tháng và được coi là ngày hội của các em Trong ngày hoạt động cao điểm, học sinhcó thể tham gia với nhiều vai trò khác nhau Ngày hoạt động cao điểm giúp học sinh có cơ hội mở rộng quan

hệ giao tiếp vớ bạn bè, với thầy cô giáo, với mọi người, với cộng đồng, với môi trường tự nhiên Do đó nó có tác dụng bồi dưỡng cho học sinh thái độ và tình cảm trong sáng, rèn luyện các kỹ năng giao tiếp và các kỹ năng cơ bản khác Ngày hoạt động cao điểm có thể tổ chức theo đơn vị lớp, theo khối, qui mô toàn trường

Trang 29

1.5 Quản lí giáo dục đạo đức thông qua HĐGDNGLL

1.5.1 Vai trò của hiệu trưởng trong việc quản lý GD đạo đức thông qua HĐGNLL

Trong việc tổ chức, chỉ đạo hoạt động giáo dục đạo đức thông qua HĐGDNGLL thì người hiệu trưởng có vai trò vô cùng quan trọng, phải đảm bảo chỉ đạo, phối hợp nhịp nhàng hoạt động của các bộ phận, huy động các bộ phận tham gia hoạt động giáo dục để đảm bảo hiệu quả cao Do đó, hiệu trưởng phải nắm vững mục tiêu, nội dung chương trình, hình thức và phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục đạo đức thông qua HĐGDNGLL của từng khối lớp ở trường THCS; đặc điểm của chương trình, tính đồng tâm của chương trình v.v để tuyên truyền sao cho học sinh nắm vững phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động GDNGLL, đồng thời triển khai đến giáo viên, Đoàn thanh niên nhằm thực hiện

có hiệu quả mục tiêu, nội dung, chương trình hoạt động GDNGLL ở trường THCS Mặt khác, người hiệu trưởng phải nắm vững được phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động để triển khai tới Đoàn thanh niên, GV nhằm đạt được hiệu quả tốt nhất về mục tiêu, nội dung chương trình hoạt động GDNGLL Cụ thể, vai trò ấy được thể hiện như sau:

* Giám sát, điều hành hoạt động của Bí thư Đoàn TNCSHCM.

- Thông qua kế hoạch cá nhân

- Thông qua báo cáo hoạt động thường kỳ, từng phần hoặc qua kết quả của một hoạt động cụ thể sau khi đã được tiến hành đánh giá hoạt động đó

- Thông qua các thông tin phản hồi và nhiều nguồn thông tin khác nhau

- Trực tiếp tham dự vào các hoạt động

* Giám sát, điều hành công tác của giáo viên chủ nhiệm.

Trang 30

* Phối hợp với các tổ chức đoàn thể trong và ngoài nhà trường một cách hợp lí: Với Hội đồng GD, Đoàn Thanh niên, Đội thiếu niên, Công đoàn và các tổ

chức lực lượng GD khác của địa phương, ngoài nhà trường

1.5.2 Nội dung quản lý giáo dục đạo đức thông qua hoạt động NGLL

1.5.2.1 Lập kế hoạch tổ chức HĐGDNGLL theo từng chủ điểm hàng tuần, hàng

tháng, hàng quý hoặc ngày hoạt động cao điểm trong tháng

Kế hoạch, đó là sự thống kê những công việc cụ thể cho một thời gian nhất định: một tuần, tháng, học kỳ, năm học, dịp hè Việc xây dựng kế hoạch quản lý HĐGD NGLL là khâu quan trọng nhất, được thực hiện trước tiên cho công tác quản lý Khi xây dựng kế hoạch, hiệu trưởng cần dựa vào các chỉ thị nhiệm vụ năm học, văn bản hướng dẫn, phân phối chương trình v.v…và căn cứ vào tình hình thực tế của nhà trường Trong kế hoạch phải thể hiện rõ mục tiêu, thời gian thực hiện, người phụ trách, lực lượng tham gia, địa điểm, các điều kiện đảm bảo cho việc thực hiện kế hoạch Kế hoạch HĐGD NGLL là trình tự những nội dung hoạt động, các hình thức tổ chức hoạt động được bố trí sắp xếp theo thứ

tự thời gian của năm học Trong kế hoạch cần chọn lọc các hoạt động phù hợp, xác định chủ điểm cho từng thời gian Phải có kế hoạch và lịch hoạt động cho toàn trường và từng khối lớp, cho từng thời kỳ, tiến tới ổn định thành nề nếp thường xuyên, liên tục Cán bộ quản lý các trường học cũng cần hướng dẫn người trực tiếp thực hiện HĐGD NGLL lập kế hoạch cá nhân, định hướng cho các hoạt động của tuần, tháng Từ kế hoạch cá nhân, triển khai kế hoạch cụ thể cho từng hoạt động (kế hoạch bài giảng), mục đích yêu cầu tăng dần, phù hợp theo từng khối lớp

- Kế hoạch hàng ngày: Duy trì nề nếp học tập, sinh hoạt, lao động với tinh thần học hỏi chia sẻ, xây dựng văn hóa nhà trường

Trang 31

- Kế hoạch tuần: Chào cờ, sinh hoạt: Nghe thời sự về tình hình kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội của đất nước, của địa phương, tổ chức hoạt động thể thao, sinh hoạt của cán bộ lớp, sơ kết công tác tuần về thực hiện các nội dung của các chủ điểm trước đó.

- Kế hoạch tháng: Sinh hoạt theo chủ đề của từng tháng, gắn với những dịp kỷ niệm hoặc những ngày lễ lớn, quan trọng của đất nước VD: tháng 11 với chủ đề “Tôn sư trọng đạo”; tháng 5: “Đóa hoa dâng Bác”…

- Kế hoạch học kỳ, năm học có tích hợp nội dung:

+ Chăm sóc di tích lịch sử;

+ Tổ chức các hoạt động xây dựng địa phương;

+ Xây dựng văn hóa nhà trường, truyền thống nhà trường…

1.5.2.2 Tổ chức hoạt động giáo dục đạo đức thông qua HĐGDNGLL

Tổ chức hoạt động giáo dục đạo đức thông qua HĐGDNGLL phải phù hợp với đặc điểm, điều kiện của của nhà trường, của địa phương, đáp ứng được những yêu cầu của thực tiễn đặt ra Vì vậy, phương thức tổ chức hoạt động phải rất linh hoạt, cần điều chỉnh và thay đổi nội dung và hình thức hoạt động sao cho thích hợp được với học sinh, với giáo viên và phù hợp với điều kiện cho phép Phải đa dạng hóa các hình thức hoạt động GDNGLL, khắc phục tính đơn điệu, lặp đi lặp lại một vài hình thức đã quá quen thuộc với học sinh và gây ra sự nhàm chán, tẻ nhạt đối với các em Công tác tổ chức giáo dục đạo đức thông qua HĐGDNGLL bao gồm:

- Thành lập ban chỉ đạo tổ chức hoạt động Trong đó gồm có:

+ Hiệu trưởng

+ Phó Hiệu trưởng

+ Chủ tịch công đoàn, đoàn thanh niên, giáo viên chủ nhiệm

Trang 32

Nhiệm vụ của Ban chỉ đạo:

• Ban chỉ đạo HĐGDNGLL có nhiệm vụ giúp hiệu trưởng xây dựng chương trình, kế hoạch hoạt động hàng năm và chỉ đạo thực hiện chương trình,

• Giúp hiệu trưởng kiểm tra, đánh giá các hoạt động

- Tổ chức các lực lượng theo dõi, giám sát các hoạt động xen kẽ trong chương trình học tập trên lớp: theo cơ chế trực tuần, trực nhật; cơ chế giám thị,

cơ chế tự quản của các tổ chức học sinh; theo hệ thống chủ nhiệm lớp và các giáo viên chuyên trách; đội cờ đỏ, bảo vệ trường; lập bảng theo dõi thi đua

- Xây dựng cơ chế phối hợp với chính quyền, Đoàn thanh niên ở địa phương để thực hiện nội dung giáo dục đạo đức cho HS và tạo mối quan hệ gắn kết với địa phương và huy động tiềm lực của địa phương trong công tác tổ chức giáo dục đạo đức thông qua HĐGDNGLL

- Phối hợp với Đoàn thanh niên ở địa phương, chính quyền, các tổ chức xã hội thực hiện chăm sóc các di tích lịchsử, các công trình công cộng, xây dựng môi trường sư phạm nhà trường xanh, sạch đẹp

1.5.2.3 Chỉ đạo hoạt động giáo dục đạo đức thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

- Chỉ đạo tổ chức các hoạt động hàng ngày của các khối lớp về việc thực hiện nề nếp dạy học, giáo dục, phát huy truyền thống nhà trường, xây dựng và giữ gìn môi trường xanh sạch đẹp

Trang 33

- Chỉ đạo các khối lớp hoạt động theo chủ điểm, chủ đề hoạt động có tích hợp nội dung xây dựng trường học thân thiện thực hiện chủ điểm hoạt động trong các tháng của năm học và thời gian hè Các trường lựa chọn mỗi tháng thực hiện 1 đến 2 hoạt động đảm bảo các chủ điểm hoạt động với 2 tiết/ tháng

Có thể lồng ghép một số nội dung giáo dục đạo đức thông qua HĐGDNGLL như:

+ Giáo dục về quyền trẻ em;

+ Giáo dục phòng chống HIV/AIDDS, ma túy và các tệ nạn xã hội;

+ Giáo dục môi trường;

+ Giáo dục trật tự an toàn giao thông;

+ Những hoạt động hưởng ứng phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”

+ Những hoạt động giáo dục phục vụ nhiệm vụ chính trị xã hội của địa phương, đất nước

1.5.2.4 Kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch, tổ chức giáo dục đạo đức thông qua HĐGDNGLL

Trong hoạt động quản lý, kiểm tra là một chức năng rất quan trọng, giúp chủ thể quản lý có thông tin phản hồi từ đối tượng quản lý, nắm được diễn tiến công việc trong tổ chức, từ đó có những tác động quản lý thích hợp Việc kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch và kết quả giáo dục đạo đức thông qua HĐGD NGLL phải thường xuyên hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng Việc kiểm tra đánh giá phải dựa trên chương trình, kế hoạch đã định, phải có tiêu chí, chuẩn mực cụ thể cho từng loại hoạt động, có thể định tính, định lượng được hoặc được

sự thừa nhận của tập thể, của xã hội trong những điều kiện cụ thể Đồng thời công tác kiểm tra, đánh giá phải tiến hành kết hợp với sơ kết, tổng kết thi đua và

Trang 34

rút bài học kinh nghiệm để các hoạt động giáo dục đạo đức sau được tốt hơn, hiệu quả hơn, học sinh hứng thú tham gia hơn Nếu có điều kiện, nên tổ chức rút kinh nghiệm sau mỗi hoạt động, kể cả hoạt động của lớp và hoạt động của toàn trường để những lần tiếp theo tổ chức tốt hơn, thành công hơn.

- Kiểm tra thường xuyên hàng ngày, hàng giờ về việc thực hiện nề nếp, nội dung HĐGDNGLL và nội dung của phong trào xây dựng trường học thân thiện

- Kiểm tra số lượng và chất lượng HĐGDNGLL và số lượng, chất lượng thực hiện nội dung phong trào xây dựng trường học thân thiện

- Kiểm tra, đánh giá tiến hành kết hợp với sơ kết, tổng kết thi đua và rút ra bài học kinh nghiệm

1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí giáo dục đạo đức cho học sinh THCS thông qua HĐGDNGLL

Nhận thức của đội ngũ GV và CBQL, phụ huynh học sinh về công tác giáo dục đạo đức HS

Sự nhận thức đầy đủ và đúng đắn của CBQL, GV và phụ huynh học sinh

về ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác giáo dục đạo đức cho HS là vô cùng quan trọng và cấp thiết Đây chính là bước đầu tiên, thường xuyên và liên tục trong suốt quá trình quản lý, tổ chức các hoạt động giáo dục đạo đức trong nhà trường Nếu không tạo được sự nhất trí cao, đồng thuận thực sự thì khó tránh khỏi những tác động trái chiều, sự bất hợp tác, thậm chí còn là sự cản trở đến công tác giáo dục đạo đức cho HS

Phẩm chất và năng lực của đội ngũ CBQL và giáo viên

Đội ngũ CBQL trong đó có Hiệu trưởng nhà trường đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho HS Người Hiệu

Trang 35

trưởng có phẩm chất chính trị vững vàng, tác phong sư phạm mẫu mực, đạo đức trong sáng, có lối sống trung thực, có tấm lòng yêu thương HS sẽ được tập thể sư phạm yêu quý, được nhân dân và học sinh tin tưởng, kính trọng.

Phẩm chất năng lực của đội ngũ giáo viên có ý nghĩa quan trọng trong thực hiện mục tiêu, nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh, đồng thời là “tấm gương sáng” về đạo đức, tác phong cho học sinh noi theo

Sự phối hợp của nhà trường – gia đình và xã hội

Nguyên lý giáo dục, mục tiêu giáo dục và các giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục cũng chính là việc kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và

xã hội Gia đình là cái nôi quan trọng đầu tiên, giáo dục gia đình tốt thì đứa trẻ

có điều kiện tiếp nhận tốt sự tác động của các lực lượng giáo dục khác Gia đình

có truyền thống là gia đình ý thức rất cao trong việc giữ gìn và phát huy truyền thống của gia đình, dòng họ… Giáo dục trong nhà trường là giáo dục có định hướng, có phương pháp khoa học, có định hướng rõ rệt Xã hội lại tiếp tục xây dựng các chuẩn mực đạo đức, các quy phạm pháp luật… Cứ như vậy, đứa trẻ càng được sự chăm sóc, giáo dục chặt chẽ của cả gia đình, nhà trường và xã hội thì lớn lên sẽ trở thành những người có lòng tự trọng, có ý thức tự rèn luyện, tự giáo dục bản thân theo những chuẩn mực đạo đức mà xã hội đã đặt ra

Môi trường xã hội

Môi trường sống, trong đó có môi trường tự nhiên và môi trường xã hội có tác động không nhỏ đến việc giáo dục đạo đức và quản lý giáo dục đạo đức cho

HS Do đó, trong trường học, Hiệu trưởng cần quan tâm xây dựng cảnh quan sư phạm, xây dựng các mối quan hệ lành mạnh, đảm bảo tính nhân văn từ môi trường tự nhiên đến môi trường xã hội Từ đó tạo điều kiện thuận lợi trong việc

Trang 36

hình thành và phát triển nhân cách của HS theo những chuẩn mực mà xã hội hướng tới.

Các cơ chế, chính sách quản lý giáo dục các cấp

Cơ chế chính sách quản lý giáo dục các cấp có ảnh hưởng rất lớn đến giáo dục đạo đức HS và kết quả quản lý giáo dục đạo đức HS Chính vì vậy, cơ chế, chính sách đối với hoạt động giáo dục đạo đức cho HS phải đầy đủ, hợp lý, phải tạo điều kiện về mặt pháp lý, nhân sự, tài chính cho việc tổ chức các hoạt động toàn diện tại trường học Trong nhà trường, hiệu trưởng cũng cần xác định cơ cấu tổ chức, chế độ hoạt động, chính sách cụ thể, minh bạch trong công tác giáo dục đạo đức và quản lý giáo dục đạo đức…

Trang 37

Tiểu kết chương 1

Giáo dục đạo đức là nhiệm vụ quan trọng, xuyên suốt toàn bộ hoạt động giáo dục trong nhà trường, gia đình và xã hội để hình thành và phát triển nhân cách cho HS Do đó, giáo dục đạo đức phải trở thành mối quan tâm thường xuyên của toàn xã hội, là vấn đề trọng yếu trong chiến lược giáo dục đào tạo, vì

sự phát triển của con người và xã hội

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quytắc, chuẩn mực xã hội nhằm thực hiện chức năng điều chỉnh hành vi của con người trong mọi lĩnh vực xã hội Chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội

Giáo dục có vai trò hết sức quan trọng trong hình thành nhân cách và phẩm chất đạo đức của con người Quản lý giáo dục đạo đức là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm hình thành những phẩm chất đạo đức của học sinh, đảm bảo quá trình giáo dục đạo đức đúng hướng, phù hợp với những chuẩn mực, quy tắc đạo đức được xã hội thừa nhận HĐNGLL là hình thức tổ chức dạy học có hiệu quả tốt trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà trường

Nội dung quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh THCS thông qua HĐGDNGLL bao gồm: Lập kế hoạch tổ chức HĐGDNGLL theo từng chủ điểm hàng tuần, hàng tháng, hàng quý hoặc ngày hoạt động cao điểm trong tháng; Tổ chức hoạt động giáo dục đạo đức thông qua HĐGDNGLL; Chỉ đạo hoạt động giáo dục đạo đức thông qua HĐGDNGLL; Kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch tổ chức giáo dục đạo đức thông qua HĐGDNGLL

Trang 38

Từ cơ sở lý luận khoa học đã nghiên cứu và trình bày trên đây sẽ là tiền đề dẫn dắt, soi rọi cho việc tìm hiểu thực trạng công tác quản lý giáo dục đạo đức trong chương 2.

Trang 39

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƯỜNG PTDTBT - THCS NGỌC CHIẾN

2.1 Giới thiệu khái quát về vị trí địa lí, kinh tế xã hội nơi trường đóng

2.1.1 Điều kiện kinh tế xã hội

Xã Ngọc Chiến là xã vùng III của huyện Mường La, tỉnh Sơn La cách trung tâm huyện 34 km, có tổng diện tích tự nhiên 21.733ha Phía Bắc giáp xã Nậm Khắt huyện Mù Cang Chải Tỉnh Yên Bái, phía Nam giáp với xã Hua Trai huyện

Mường La, Phía Đông giáp với xã Chiềng Muôn, Chiềng Ân huyện Mường La, phía Tây giáp với xã Nặm Păm huyện Mường La

Toàn xã có 33 bản với 04 dân tộc anh em sinh sống; có 2.096 hộ dân cư, 10.288 nhân khẩu sống tập trung theo đơn vị bản Trên địa bàn dân tộc Thái chiếm đa số, còn số ít là dân tộc Mông, La Ha và dân tộc Kinh

Kinh tế của huyện Mường La nói chung và xã Ngọc Chiến nói riêng tiếp tục có những bước phát triển mới, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt Tốc độ phát triển kinh tế, thu nhập bình quân trên người tăng; cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực

Huyện thường xuyên quan tâm chỉ đạo, triển khai công tác khuyến nông, hướng dẫn nhân dân áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chuyển đổi cơ cấu giống, mùa vụ và tăng cường thâm canh cây trồng

Là 1 trong 62 huyện nghèo của cả nước, Mường La đã nhận được sự quan tâm đầu tư, hỗ trợ của Trung ương, của tỉnh thông qua các chương trình dự án 30a, 134, 155, 1382, 661, giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số vùng đặc biệt khó khăn Những năm qua, các dự án này đã phát huy tác dụng, đời sống của

Trang 40

đồng bào dân tộc xã Ngọc Chiến, huyện Mường La đã phát triển hơn, ngày càng

có nhiều hộ làm ăn kinh tế giỏi, bà con đã biết vận dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, trình độ dân trí được nâng lên rõ rệt

2.1.3 Sơ lược một vài nét về trường PTDTBT - THCS Ngọc Chiến

Năm 2006 trường Phổ thông cở sở Ngọc Chiến được tách ra làm 2 trường THCS Ngọc Chiến và trường Tiểu học Ngọc Chiến, đây là bước ngoặt và là mốc quan trọng của trường THCS Ngọc Chiến Do đặc điểm của trường là trường vùng đặc biệt khó khăn, việc đi lại không thuận tiện: đèo, dốc, qua suối dân cư sống không tập trung, có bản xa nhất cách trường 18km vì vậy mà học sinh ở những bản xa phải ở lại trường để sinh hoạt và học tập Với tình hình như vậy năm 2011 trường được chính thức đổi tên là Trường PTDTBT - THCS Ngọc Chiến Mô hình này còn khá là mới lạ vì:

+ Đối với giáo viên số tiết trên tuần là 17 giảm 2 tiết so với quy định về tiết dạy cho giáo viên THCS Ngoài ra mỗi tháng còn được phụ cấp thêm 0.3 tính theo lương cơ bản

+ Đối với học sinh thì các em được chia làm 2 đối tượng: Đối tượng bán trú và đối tượng không được bán trú Với học sinh bán trú được hưởng theo chế

độ 85 (Quyết định số 85/2010/QĐ-TTg ngày 21 tháng 12 năm 2010) thì mỗi tháng các em được hưởng chế độ là 0.5 trong đó 0.1 tiền nhà ở và 0.4 tiền ăn (tính theo lương cơ bản) ngoài ra các em còn được 15kg gạo/tháng Năm học

2014 - 2015 số học sinh bán trú của trường là 458/636 học sinh toàn trường Trong số học sinh bán trú này thì có 123 em sinh hoạt và học tập tại nhà trường Đối với những em này thì nhà trường bố trí các em ỏ tại những phòng học bán trú được xây dựng kiên cố và được nấu ăn Buổi tối các em có 2h tự học trên lớp học

Ngày đăng: 22/05/2016, 01:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Quốc Bảo (1999), Một số số khái niệm về quản lí giáo dục, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số số khái niệm về quản lí giáo dục
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
2. Đặng Quốc Bảo – Nguyễn Đắc Hưng (2004), Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai vấn đề và giải pháp, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai vấn đề và giải pháp
Tác giả: Đặng Quốc Bảo – Nguyễn Đắc Hưng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
3. Vũ Hữu Bình (2007), Cẩm nang dạy và học Toán trung học cơ sở , Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang dạy và học Toán trung học cơ sở
Tác giả: Vũ Hữu Bình
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
4. Nguyễn Thanh Bình (Chủ biên) và nhiều tác giả (2001), Những vấn đề cấp bách trong giáo dục con ở lứa tuổi thiếu niên trong gia đình thành phố hiện nay, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cấp bách trong giáo dục con ở lứa tuổi thiếu niên trong gia đình thành phố hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình (Chủ biên) và nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2001
5. Bộ GD&ĐT (2002), Chương trình Trung học cơ sở. Ban hành kèm theo quyết định số 03/2002/QĐ-BGDĐT ngày 24/01/2002 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình Trung học cơ sở
Tác giả: Bộ GD&ĐT
Năm: 2002
6. Bộ GD&ĐT (2006), Chương trình giáo dục phổ thông. Ban hành kèm theo quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05/05/2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình giáo dục phổ thông
Tác giả: Bộ GD&ĐT
Năm: 2006
7. Bộ GD&ĐT (2007), Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học
Tác giả: Bộ GD&ĐT
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
8. Bộ GD&ĐT (2008), Tài liệu quản lý giáo dục trung học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu quản lý giáo dục trung học
Tác giả: Bộ GD&ĐT
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
9. Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2010), Đại cương khoa học quản lí, NXB Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương khoa học quản lí
Tác giả: Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia
Năm: 2010
10. Nguyễn Quốc Chí- Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Quản lý đội ngũ. Dự án Đào tạo giáo viên THCS. No1718 VIE (SF) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý đội ngũ. Dự án Đào tạo giáo viên THCS
11. Nguyễn Đức Chính (2008), Bài giảng chất lượng và kiểm định chất lượng trong giáo dục, trường ĐHGD-ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng chất lượng và kiểm định chất lượng trong giáo dục
Tác giả: Nguyễn Đức Chính
Năm: 2008
12. Ngô Thu Dung (2008), Giáo trình lý luận dạy học, trường ĐHGD-ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận dạy học
Tác giả: Ngô Thu Dung
Năm: 2008
13. Vũ Cao Đàm (2009), Giáo trình phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
14. Vũ Dũng (2009), Giáo trình Tâm lý học quản lý, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tâm lý học quản lý
Tác giả: Vũ Dũng
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2009
15. Phạm Minh Hạc (2010), Một số vấn đề giáo dục Việt Nam đầu thế kỉ XXI,NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề giáo dục Việt Nam đầu thế kỉ XXI
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
16. Phạm Minh Hạc (1986), Một số vấn đề về quản lý giáo dục và khoa học giáo dục, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về quản lý giáo dục và khoa học giáo dục
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1986
17. Bùi Hiền (Chủ biên) (2002), Từ điển Giáo dục học, NXB Bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Giáo dục học
Tác giả: Bùi Hiền (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Bách khoa
Năm: 2002
18. Đặng Vũ Hoạt (1999),Hoạt động giáo dục ngòai giờ lên lớp ở trường trung học cơ sở, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động" g
Tác giả: Đặng Vũ Hoạt
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
19. Đặng Thành Hưng (2005), Tương tác hoạt động thầy - trò trên lớp học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tương tác hoạt động thầy - trò trên lớp học
Tác giả: Đặng Thành Hưng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
20. Trần Hậu Khiêm (1997) , Giáo trình đạo đức học, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình đạo đức học
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Xếp loại hạnh kiểm học sinh trường Trường PTDTBT - THCS - Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trường phổ thông dân tộc    THCS ngọc chiến   huyện mường la   tỉnh sơn la
Bảng 2.1. Xếp loại hạnh kiểm học sinh trường Trường PTDTBT - THCS (Trang 42)
Bảng 2.2. Đánh giá mức độ thực hiện các ND giáo dục đạo đức thông qua - Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trường phổ thông dân tộc    THCS ngọc chiến   huyện mường la   tỉnh sơn la
Bảng 2.2. Đánh giá mức độ thực hiện các ND giáo dục đạo đức thông qua (Trang 44)
Bảng 2.3. Các loại hình GDĐĐ thông qua HĐGDNGLL ở trường - Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trường phổ thông dân tộc    THCS ngọc chiến   huyện mường la   tỉnh sơn la
Bảng 2.3. Các loại hình GDĐĐ thông qua HĐGDNGLL ở trường (Trang 46)
Bảng 2.4. Nhận thức về vai trò của hoạt động ngoài giờ lên lớp đối với  việc giáo dục đạo đức cho học sinh Trường PTDTBT - THCS Ngọc Chiến Đối tượng khảo - Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trường phổ thông dân tộc    THCS ngọc chiến   huyện mường la   tỉnh sơn la
Bảng 2.4. Nhận thức về vai trò của hoạt động ngoài giờ lên lớp đối với việc giáo dục đạo đức cho học sinh Trường PTDTBT - THCS Ngọc Chiến Đối tượng khảo (Trang 48)
Bảng 2.5. Thực trạng lập kế hoạch GDĐĐ thông qua HĐGDNGLL cho - Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trường phổ thông dân tộc    THCS ngọc chiến   huyện mường la   tỉnh sơn la
Bảng 2.5. Thực trạng lập kế hoạch GDĐĐ thông qua HĐGDNGLL cho (Trang 50)
Bảng 2.6. Thực trạng tổ chức GDĐĐ thông qua HĐGDNGLL cho học - Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trường phổ thông dân tộc    THCS ngọc chiến   huyện mường la   tỉnh sơn la
Bảng 2.6. Thực trạng tổ chức GDĐĐ thông qua HĐGDNGLL cho học (Trang 52)
Bảng 2.7. Thực trạng chỉ đạo GDĐĐ thông qua HĐGDNGLL cho học sinh - Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trường phổ thông dân tộc    THCS ngọc chiến   huyện mường la   tỉnh sơn la
Bảng 2.7. Thực trạng chỉ đạo GDĐĐ thông qua HĐGDNGLL cho học sinh (Trang 54)
Bảng 2.8. Thực trạng kiểm tra, đánh giá GDĐĐ thông qua HĐGDNGLL - Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trường phổ thông dân tộc    THCS ngọc chiến   huyện mường la   tỉnh sơn la
Bảng 2.8. Thực trạng kiểm tra, đánh giá GDĐĐ thông qua HĐGDNGLL (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w