1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảng lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp chống mỹ, cứu nước (1954 1975)

274 678 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 274
Dung lượng 1,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chủ trương, chính sách xây dựng, củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc của Đảng trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước là sự vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LÊ THỊ HÒA

ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT

DÂN TỘC TRONG SỰ NGHIỆP CHỐNG MỸ,

CỨU NƯỚC (1954-1975)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2010

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LÊ THỊ HÒA

ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT

DÂN TỘC TRONG SỰ NGHIỆP CHỐNG MỸ,

CỨU NƯỚC (1954-1975)

Chuyên ngành : Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 PGS LÊ MẬU HÃN

2 PGS.TS VŨ QUANG HIỂN

HÀ NỘI - 2010

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

TỪ NĂM 1954 ĐẾN NĂM 1965 13 1.1 Xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc củng cố, phát triển miền Bắc; đấu tranh chống Mỹ và chính quyền tay sai ở miền Nam (1954 – 1960) 13

1.1.1 Khái quát quá trình xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng trước năm 1954 13

1.1.2 Xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc củng cố, phát triển miền Bắc; đấu tranh chống Mỹ và chính quyền tay sai ở miền Nam (1954 – 1960) 25

1.2 Tiếp tục củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, xây dựng miền Bắc và đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ ở miền Nam (1960 – 1965) 57

1.2.1 Củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, xây dựng miền Bắc vững mạnh toàn diện

2.1.1 Chủ trương mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc chống Mỹ, cứu nước… 90

2.1.2 Chỉ đạo mở rộng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ……… 98

2.2 Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” (1969-1975)………120

Trang 4

2.2.1 Tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc đánh bại một bước quan trọng chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” của đế quốc Mỹ (1969-1973)……….120 2.2.2 Phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc giải phóng hoàn toàn miền Nam (1973 - 1975)……….144

Chương 3 NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM ……… 156 3.1 Nhận xét chung……… 156

3.1.1 Chủ trương, chính sách xây dựng, củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc của Đảng trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước là sự vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; sự kế thừa, phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc; đồng thời là sự phát triển lên tầm cao mới những kinh nghiệm đại đoàn kết trong Cách mạng tháng Tám và kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược

……… 156 3.1.2 Đánh giá chính xác tình hình thế giới và trong nước, đặc biệt là tình hình cách mạng hai miền Nam - Bắc làm cơ sở cho việc hoạch định đường lối, chủ trương xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc………160 3.1.3 Quá trình xây dựng và phát huy thắng lợi sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng là một trong những nhân tố quyết định, đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ………165 3.1.4 Những hạn chế trong quá trình chỉ đạo xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc

……….178

3.2 Những kinh nghiệm chủ yếu……….182

3.2.1 Xác định đúng yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng cả nước và của cách mạng mỗi miền, để đề ra chủ trương xây dựng, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc

………182 3.2.2 Xác định những điểm tương đồng làm cơ sở đoàn kết, tập hợp lực lượng dưới nhiều hình thức phong phú, đa dạng………187

Trang 5

3.2.3 Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa đoàn kết dân tộc, đoàn kết ba nước Đông Dương và đoàn kết quốc tế ……… 191

3.2.4 Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng trong suốt quá trình xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất – hạt nhân của khối đại đoàn kết dân tộc……….195

KẾT LUẬN 203

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 220

PHỤ LỤC

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

“Dân ta có lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta

Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó

khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” [135; tr 171] Thật vậy,

trong trường kỳ lịch sử của dân tộc, mỗi lần đất nước lâm nguy trước nạn ngoại xâm là một lần nổi bật lên sự đoàn kết vĩ đại của nhân dân ta Sự đoàn kết đó là nguồn gốc của sức mạnh vô địch, giúp cho nhân dân Việt Nam chiến thắng được mọi kẻ thù hung ác, đồng thời nó cũng là những phẩm chất tốt đẹp đã tạo nên cốt cách của con người Việt Nam Từ năm 1930 đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sức mạnh đoàn kết của dân tộc Việt Nam tiếp tục được kế thừa và phát huy tác dụng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, giành độc lập dân tộc và trong công cuộc xây dựng CNXH, bảo vệ Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Có được những thành tựu lớn lao đó là do Đảng ta luôn coi tập hợp lực lượng, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc là một vấn đề chiến lược - một trong những nhân tố quyết định cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam

Trong thời đại ngày nay, cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học -

kỹ thuật, của kinh tế thế giới, của toàn cầu hoá… trên thế giới cũng đang diễn ra những biến động vô cùng phức tạp Để hội nhập và phát triển, bên cạnh những cơ hội, đất nước ta còn gặp vô vàn những thách thức, đặc biệt sau sự kiện tan rã của Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu, những biến động chính trị ở các khu vực khác nhau trên thế giới Hiện nay, vấn đề tập hợp lực lượng, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc vững mạnh trở thành một vấn đề nóng bỏng Chính vì vậy, Đảng luôn nêu cao sự cần thiết và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tổng kết thực tiễn, rút ra những bài học kinh nghiệm, trong đó có bài học về xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, nhằm ngăn chặn sự phá hoại từ nhiều phía của các thế lực chống phá Việt Nam, phục vụ cho công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc Với ý nghĩa đó, nên chúng tôi đã chọn đề tài cho luận án tiến sĩ Lịch sử,

Trang 7

chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam của mình là: “Đảng lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975)”

2 Tình hình nghiên cứu vấn đề

Về đề tài này, mặc dù chưa có một công trình chuyên luận, nhưng đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan gián tiếp, hoặc trực tiếp, được công bố với nhiều góc độ và phạm vi nghiên cứu khác nhau Có thể chia thành những nhóm tài

liệu như sau:

Các công trình nghiên cứu trong nước

Sách chuyên khảo, tham khảo

- Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; thắng lợi và bài học (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996); Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-

1975 - Thắng lợi và bài học (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000); Cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới của Mỹ ở Việt Nam (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử

quân sự, Hà Nội, 1991); Miền Nam giữ vững thành đồng của Trần Văn Giàu (gồm

5 tập, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội ấn hành trong các năm 1964, 1966, 1970,

1978); Cách mạng ruộng đất ở miền Nam Việt Nam của Lâm Quang Huyên (Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1985); Mười tám năm chống Mỹ cứu nước thắng lợi (Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1974); Sức mạnh Việt Nam (Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1976) ; Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997); Đại thắng mùa xuân 1975 - Nguyên nhân và bài học (Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995); Việt Nam những chặng đường lịch sử

(1954-1975), (1975-2005) (Nxb Giáo dục, Thành phố Chí Minh, 2005); Lương

Viết Sang: Đảng lãnh đạo đấu tranh tại Hội nghị Paris về Việt Nam (1968-1973),

(Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005) …

Những công trình này đi sâu nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước một cách tổng thể, tập trung vào những nội dung căn bản nhất của cuộc kháng chiến (xây dựng hậu phương miền Bắc; diễn biến đấu tranh quân sự trên chiến trường miền Nam; đấu tranh ngoại giao; nguyên nhân thắng lợi…) Vấn đề xây dựng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc được nghiên cứu ở

Trang 8

chừng mực nhất định, tiếp cận dưới góc độ là một trong những nguyên nhân chủ yếu cho thắng lợi của cuộc kháng chiến Vấn đề tổ chức, vận động, tập hợp các lực lượng khác nhau, xây dựng nền tảng của khối đại đoàn kết dân tộc vẫn là khoảng trống trong mảng công trình này

- Chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh do PGS Phùng Hữu Phú chủ biên (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995); Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết

với vấn đề phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ mới của Học

Viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004); Tư

tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và Mặt trận dân tộc thống nhất (Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996); Sức mạnh dân tộc của cách mạng Việt Nam

dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh của PGS Lê Mậu Hãn (Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội 2001)…

Các công trình này viết về tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh qua các giai đoạn cách mạng Các tác giả tập trung làm rõ khái niệm “đại đoàn kết toàn dân tộc”, “đại đoàn kết dân tộc”, “đại đoàn kết toàn dân”, “đoàn kết các dân tộc thiểu số”, “đoàn

kết các tôn giáo” theo tư tưởng Hồ Chí Minh Trong cuốn Tư tưởng Hồ Chí Minh

về đại đoàn kết với vấn đề phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời

kỳ mới, có bài “Đại đoàn kết toàn dân tộc theo tư tưởng Bác Hồ và sự thực hiện

của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới”, của tác giả Lê Văn Châu

Tác giả bàn về tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc của Hồ Chí Minh và làm rõ khái

niệm “đại đoàn kết toàn dân tộc” theo tư tưởng Hồ Chí Minh với nội dung cốt lõi:

“Đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam tức là trước hết đoàn kết đại đa số nhân dân

ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác” Trong bài “Tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh với vấn đề phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ mới”, tác giả Nguyễn Khánh Bật cho rằng: “Hồ Chí Minh nhiều lần sử dụng cụm từ “đại đoàn kết toàn dân tộc” hoặc “đoàn kết toàn dân tộc” Người nói về “đại đoàn kết”, “đại đoàn kết toàn dân”, “đoàn kết toàn dân”, “đoàn kết dân tộc”, “toàn dân tộc ta đoàn kết”, đặt chúng trong mối quan hệ với nhau”; “trong Hồ Chí Minh toàn tập không có từ đoàn kết toàn dân tộc, nhưng

Trang 9

Người nhiều lần sử dụng từ “toàn dân tộc” với ý nghĩa đoàn kết dân tộc” Nguyễn Khánh Bật kết luận: Theo Hồ Chí Minh, “đoàn kết dân tộc” có ý nghĩa tương tự như đoàn kết toàn dân” Một cách khái quát hơn, tác giả Cao Duy Hạ trong bài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp cách mạng của nước ta” cho rằng, “đại đoàn kết toàn dân tộc” theo tư tưởng Hồ Chí Minh, trước hết, phải đoàn kết nhất trí trong Đảng về đường lối, chủ trương, chính sách và tổ chức thực hiện; trên cơ sở đó đoàn kết chặt chẽ các tầng lớp nhân dân, đoàn kết tốt các đảng phái, các đoàn thể, các nhân sĩ, đoàn kết các dân tộc anh em, đoàn kết chặt chẽ giữa đồng bào lương và đồng bào các tôn giáo Trong bài “Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với mở rộng hội nhập quốc tế dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh”, tác giả Triệu Quang Tiến và Nguyễn Thắng Lợi khẳng định: Chiến lươ ̣c đa ̣i đoàn kết Hồ Chí Minh bao gồm nhiều cấp đô ̣, đoàn kết trong Đảng, đoàn kết toàn dân tô ̣c và đoàn kết quốc tế mà nô ̣i dung chủ yếu là đoàn kết dân tô ̣c,

là lấy dân làm gốc, lấy lợi ích của toàn dân tộc làm trọng; đại đoàn kết dân tộc là sức mạnh nội sinh làm cơ sở để phát huy sức mạnh đoàn kết quốc tế Làm rõ những nội dung cơ bản trong tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh là các tác giả Nông Quốc Chấn (“Đại đoàn kết dân tộc – một vấn đề lớn trong tư tưởng Hồ Chí Minh”), Nguyễn Viết Vượng (“Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh là một nhân tố cơ bản đảm bảo thắng lợi của cách mạng Việt Nam”) Các tác giả

đồng nhất quan điểm: Thứ nhất, đại đoàn kết dân tộc là đoàn kết mọi người, mọi

dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam vì lợi ích chung của dân tộc; đoàn kết trên cơ sở không phân biệt quá khứ và ý thức hệ, cởi mở, thương yêu đùm bọc,

tin cậy lẫn nhau; thứ hai, hạt nhân của khối đại đoàn kết dân tộc là MTDTTN; thứ

ba, để khối đại đoàn kết dân tộc không ngừng củng cố, mở rộng, thì Đảng Cộng

sản Việt Nam phải giữ vững vai trò lãnh đạo Cuốn Sức mạnh dân tộc của cách

mạng Việt Nam dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh của PGS Lê Mậu Hãn (Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001), tập hợp một số chuyên luận khoa học của tác

giả đã được công bố trên các sách, báo, trong đó có bài viết “Bí quyết thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước” khẳng định bí quyết thành công của

cuộc kháng chiến thần thánh mà dân tộc tiến hành là đã tập hợp được mọi lực

Trang 10

lượng, xây dựng được khối đại đoàn kết dân tộc vững mạnh Do chế định bởi phạm

vi và đối tượng nghiên cứu, nên về đường lối đại đoàn kết dân tộc của Đảng, cũng như quá trình xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong cuộc kháng chiến chống

Mỹ, cứu nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong các công trình trên vẫn là vấn đề còn để ngỏ

- Sư ́ c mạnh chiến thắng của cuôc kháng chiến chống Mỹ , cứu nước (Nxb

Khoa ho ̣c Xã hô ̣i , Hà Nội, 1985); Lược sử Mặt trận dân tộc thống nhất Viê ̣t Nam

(Nxb Sự thâ ̣t Hà Nô ̣i , 1991); Lịch sử Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam (Nxb

Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, 2007, gồm 3 tâ ̣p)…

Đây là các công trình nghiên cứu v ề MTDTTN, trình bày lịch sử ra đời và hoạt động của MTDTTN Việt Nam với nhiều hình thức và tên gọi qua từng giai đoạn cách mạng Ở những mức độ khác nhau, các tác giả đã làm rõ vị trí, vai trò và hoạt động của MTDTTN trong tiến trình các mạng Việt Nam, trong đó, chú trọng làm sáng tỏ vấn đề xây dựng MTDTTN, phát huy sức mạnh đoàn kết dân tộc trong

sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) Tiêu biểu là cuốn Sức mạnh chiến

thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội,

1985), tập hợp bài viết của nhiều tác giả, trong đó có những bài về MTDTTN, làm

rõ quá trình ra đời, những đóng góp cơ bản của Mặt trận cho thắng lợi cuối cùng của dân tộc; trên cơ sở đó rút ra những bài học kinh nghiệm về xây dựng và tổ chức hoạt động của Mặt trận với tư cách là hạt nhân của khối đại đoàn kết dân tộc

Cuốn sách Chung một bóng cờ của tập thể tác giả, do Tổng bí thư Nguyễn Văn

Linh chỉ đạo biên soạn, đã phản ánh khá hệ thống đường lối đoàn kết dân tộc của Đảng, quá trình thực hiện đường lối, trong đó đặc biệt nhấn mạnh vai trò của MTDTGPMNVN đối với sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà Trong công trình này, nổi bật là bài “Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam – một giai đoạn hợp thành lịch sử dân tộc Việt Nam” của luật sư Nguyễn Hữu Thọ Khi khái quát sự ra đời, hoạt động của MTDTGPMNVN, tác giả cũng đồng thời nhấn mạnh vai trò của Mặt trận trong quá trình tập hợp lực lượng trong nước và quốc tế, nhằm tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, tạo ra sức mạnh tổng hợp, đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, đưa sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước đến thành công Tác giả

Trang 11

khẳng định: “Ngọn cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam được chiến sĩ và nhân dân miền Nam trân trọng như biểu tượng của chính ngọn cờ Tổ quốc Việt Nam duy nhất, dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam,

không thể nào khác được” Cuốn Mặt trận dân tộc giải phóng,Chính phủ Cách

mạng lâm thời tại Hội nghị Paris về Việt Nam của tập thể tác giả (Nguyễn Thị

Bình chủ biên), phác họa lại bức tranh sống động về cuộc đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris, trong đó khẳng định vai trò to lớn của MTDTGPMNVN, CPCMLTCHMNVN tại bàn đàm phán, trong đấu tranh báo chí và trong quá trình tranh thủ dư luận thế giới ủng hộ Việt Nam đánh Mỹ Cũng cần nhận thấy rằng, ở các công trình nêu trên, những thành công cơ bản trong hoạt động của các loại hình Mặt trận qua từng thời kỳ lịch sử được các tác giả thể hiện khá rõ nét, còn những hạn chế trong quá trình xây dựng MTDTTN, các tác giả còn né tránh, hầu như không đề cập tới, hoặc có đề cập, thì còn r ất mờ nhạt

- Lực lượng chính trị thứ ba và các thành phần chống đối Thiệu , (Việt Nam Thông tấn xã phát hành 1975); Phong trào đô thị và lực lượng chính trị

thứ ba với đàm phán Paris, TS Ngô Bá Thành (kỷ yếu hội thảo khoa học quốc

gia “Ngoại giao Việt Nam với cuộc đàm phán Paris”, tháng 1/2003)…

Những công trình nêu trên nghiên cứu về Lực lượng thứ ba trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Với bài “Phong trào đô thị và Lực lượng chính trị thứ ba với đàm phán Paris”, Luật sư Ngô Bá thành đã phác họa lại diễn biến thực tế của cuộc đấu tranh “chống Mỹ, cứu nước trong lòng địch”, trong đó, lực lượng thứ ba đã có những đóng góp quan trọng trên mặt trận chính trị ở các đô thị miền Nam và tại Hội nghị Paris Tuy nhiên, dù Lực lượng thứ ba có một vai trò không nhỏ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, song cho đến nay, quả thật, những công trình nghiên cứu chuyên sâu về

đề tài này còn khá ít Đây vẫn là một khoảng bỏ ngỏ trong nghiên cứu về xây dựng, tập hợp lực lượng của khối đại đoàn kết dân tộc

Luận án và các đề tài nghiên cứu liên quan

Nguyễn Xuân Tú: Đảng chỉ đạo giành thắng lợi từng bước trong cuộc

kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thời kỳ 1965-1975 (Luận án tiến sĩ Lịch sử, Học

Trang 12

viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2001); Khuất Thị Hoa Quá trình

thực hiện chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954), (Luận án tiến sĩ Lịch sử, Học viện Chính trị Quốc gia

Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2001); Bùi thị Thu Hà: Đảng bộ An Giang vận động tín đồ

Hòa Hảo tham gia kháng chiến chống Mỹ, nước nước (1954-1975), (Luận văn thạc

sĩ khoa học Lịch sử, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1997)…

Những công trình được liệt kê chủ yếu nghiên cứu về sự lãnh đạo Đảng ở những phương diện khác nhau trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu chính yếu của mình, các tác giả, tuy chưa đi sâu, song đã

đề cập đến chủ trương và quá trình thực hiện xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc của Đảng ở những góc độ khác nhau Các tác giả đều khẳng định rằng, các tổ chức Mặt trận với tư cách là hạt nhân của khối đại đoàn kết dân tộc, đã đóng góp đáng

kể trong quá trình tập hợp lực lượng, thêm bạn, bớt thù, làm tăng thêm sức mạnh của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

Bài báo và tạp chí

- “Chữ “Đồng” trong quan điểm Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân” của

Phạm Ngọc Quang (Tạp chí Cộng sản số tháng 7/2001); “Tìm hiểu về đoàn kết Lương

giáo và tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng trong tư tưởng Hồ Chí Minh” của Vũ Văn Hậu

(Tạp chí Dân vận số tháng 7/2001); “Theo ngọn cờ đoàn kết của Hồ Chí Minh” của Mạch Quang Thắng (Nghiên cứu Lý luận số 7/2000); “Tấm lòng khoan dung độ lượng của Bác Hồ đối với những người lạc lối, lầm đường” của Song Thành (Tạp chí Lịch sử

Đảng số 7/2001); “Đi tìm nét tương đồng, điểm quy tụ của toàn dân tộc trong tư tưởng

đại đoàn kết Hồ Chí Minh” của Bùi Đình Phong (Tạp chí Dân vận số 5/2002); “Nguyên

tắc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh” của Lê Đại Nghĩa

(Tạp chí Dân vận, số 3/2006)…

Những bài viết nêu trên chủ yếu làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc, nguyên tắc, sách lược đoàn kết tôn giáo, đoàn kết mọi lực lượng dân tộc, xây dựng, mở rộng các loại hình Mặt trận, làm cho Mặt trận thực sự quy tụ được cả dân tộc Trong phần vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào quá trình xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, các tác giả cũng khái quát những thành tựu của

Trang 13

quá trình xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Đường lối đoàn kết dân tộc của Đảng, quá trình thực hiện đường lối được khai thác một cách tổng quát, chưa nghiên cứu sâu và chi tiết

- “Từ chương trình mười điểm đến Cương lĩnh chính trị của Mặt trận dân tộc giải

phóng miền Nam” của tác giả Bùi Đình Thanh (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử tháng

11/1968, số 116); “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Mặt trận dân tộc thống nhất, xây dựng khối đoàn kết toàn dân – những kinh nghiệm lịch sử” của tác giả Trần Văn Đăng

(Tạp chí Nghiên cứu lý luận, số 2/2002); “Hồ Chí Minh hoàn thiện về đường lối chính trị

và tổ chức cho sự ra đời của Mặt trận dân tộc thống nhất ở Việt Nam” của PGS Lê Mậu

Hãn (Tạp chí nghiên cứu Lịch sử, số 2/1992); “Xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất theo tư tưởng Hồ Chí Minh” của Trần Hậu, (Tạp chí Lịch sử Đảng số tháng 7/2001); “Hồ

Chí Minh với vấn đề thực hiện đại đoàn kết dân tộc trong các tổ chức Mặt trận” của Vũ

Văn Châu (Nghiên cứu Lý luận, số 5/1999); “Đại đoàn kết dân tộc - cuội nguồn sức mạnh của chúng ta” của Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt, (Báo Tuổi trẻ ngày

31/5/2005)…

Trong nhóm tác phẩm này, các tác giả trình bày chủ trương, chính sách đoàn kết của Đảng trong MTDTTN qua các giai đoạn lịch sử; trên cơ sở đó, phản ánh thực tiễn sinh động của quá trình thực hiện chiến lược đại đoàn kết của Đảng; tuy nhiên, về cơ bản, các tác giả chỉ khai thác những nội dung đó trên phạm vi riêng biệt từng miền Nam, Bắc Xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam nói chung còn khá sơ sài

Các công trình của các nhà nghiên cứu nước ngoài

Đây là nguồn tài liệu hoặc bằng tiếng nước ngoài, hoặc đã được dịch ra tiếng Việt, bao gồm những công trình nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới như Mỹ, Nhật Bản, Nga Có thể chỉ ra một số tác phẩm tiêu biểu:

Cuộc chiến tranh dài ngày nhất nước Mỹ của G.C Herring (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998); Việt Nam, The Ten Thousand Day War (Việt Nam, cuộc

chiến tranh mười ngàn ngày) của Micheal Maclear, Nxb, Sự thật Hà Nội, 1990;

Shingo Shibata: Những bài học của chiến tranh Việt Nam (Viện thông tin khoa học

xã hội dịch và phát hành, Hà Nội, 1976); Lyndon Baines Johnson: Về cuộc chiến

Trang 14

tranh xâm lược miền Nam và chiến tranh phá hoại miền Bắc nước ta (Bản dịch

của Việt Nam Thông tấn xã phát hành 1972)

Những công trình nghiên cứu trên chủ yếu là mô tả về cuộc chiến tranh của Mỹ

ở Việt Nam Vấn đề đoàn kết dân tộc Việt Nam được đề cập như một nguyên nhân thành công của Việt Nam, hoặc thất bại của phía Mỹ trong cuộc chiến tranh Trong

cuốn Giải phẫu một cuộc chiến tranh của G.Côncô (Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội,

1991), tác giả nhấn mạnh rằng, sở dĩ nhân dân Việt Nam đã chiến đấu và chiến thắng đế quốc Mỹ là bởi Đảng Cộng sản Việt Nam đã đoàn kết được toàn dân tộc Việt Nam, đồng thời đoàn kết được đông đảo các lực lượng tiến bộ trên thế giới đồng tình ủng hộ cho cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ Sau 20 năm cuộc chiến tranh Việt Nam kết

thúc, R Mc.Namara, Nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đã công bố hồi ký Nhìn lại

quá khứ - Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà

Nội, 1995), phân tích 11 nguyên nhân cơ bản dẫn đến thất bại của Mỹ ở Việt Nam và cho rằng, việc “đánh giá thấp sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc thúc đẩy một dân tộc đấu tranh và hy sinh cho lý tưởng và các giá trị của nó” của phía Mỹ là một trong những nguyên nhân thất bại quan trọng

Tổng quát lại, khi khảo cứu các công trình nêu trên, có thể rút ra những kết luận sau:

Thứ nhất, thành quả của những công trình nghiên cứu trên đây, ở những

mức độ khác nhau đã soi rọi và là cơ sở, để tác giả luận án có thể đi sâu nghiên cứu

về vấn đề xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975)

Thứ hai, trong những công trình nghiên cứu trên, chưa có một công trình

nào nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống về vấn đề Đảng lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thời kỳ

1954 - 1975

Thứ ba, quá trình lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong sự

nghiệp chống Mỹ, cứu nước cần phải tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống, dựa trên việc khai thác thêm những tư liệu mới

Trang 15

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là hệ thống đường lối, chủ trương của Đảng với quá trình xây dựng, củng cố, mở rộng và tổ chức mọi lực lượng trong MTTQVN, MTDTGPMNVN…nhằm xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, tập hợp rộng rãi lực lượng trong nước và quốc tế cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước; quá trình chỉ đạo của Đảng trong việc thực thi, đường lối, chủ trương đó

Phạm vi nghiên cứu

Những điều kiện lịch sử chủ quan, khách quan… đặt ra các yêu cầu nhiệm vụ chính trị phải tập hợp lực lượng, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975); đường lối, chủ trương xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc của Đảng và sự chỉ đạo của Đảng đối với quá trình xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

- Làm sáng tỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với quá trình xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)

Nhiệm vụ nghiên cứu

Với mục đích nghiên cứu và nguồn tư liệu như trên, luận án có nhiệm vụ kế thừa kết quả của những người đi trước, thu thập, xử lý tư liệu mới nhằm:

- Hệ thống hoá, khái quát hoá những tư liệu đã có, bổ sung những tư liệu mới, góp phần khôi phục một cách khách quan quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước qua hai giai đoạn 1954 - 1965 ;

1965 – 1975

- Đi sâu phân tích đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng với quá trình tập hợp lực lượng, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 -1975)

- Bước đầu đưa ra những đánh giá, nhận xét một cách khoa học về thành tựu, hạn chế trong quá trình lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc của Đảng, từ đó rút ra những kinh nghiệm chủ yếu, phục vụ sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc

Trang 16

5 Cơ sở lý luận, các nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận

Cơ sở lý luận để thực hiện đề tài là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của quần chúng nhân dân, về dân tộc và giai cấp, về tập hợp lực lượng, xây dựng khối đoàn kết dân tộc trong MTDTTN

Các nguồn tài liệu

- Các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin và Hồ Chí Minh về đại

đoàn kết dân tộc, về mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và giai cấp, dân tộc và thời đại là cơ sở lý luận của luận án

- Các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị, thông tư, sắc lệnh…của Đảng; thư, điện, bài phát biểu… của các lãnh đạo Đảng và nhà nước về đại đoàn kết dân tộc, về xây dựng MTDTTN, hiện đang được lưu giữ tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia, Cục lưu trữ - Văn phòng Trung ương Đảng… là những tài liệu gốc của luận án

- Các công trình nghiên cứu khoa học, các bài báo, sách có liên quan do các

cơ quan nghiên cứu uy tín đã công bố như Viện Lịch sử Đảng, Viện Lịch sử quân

sự, Viện Sử học… là nguồn tư liệu quan trọng

- Các tư liệu, sách báo về lịch sử Việt Nam, lịch sử MTDTTN, lịch sử quân

sự Việt Nam, lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, lịch sử quan hệ quốc tế…

là nguồn tài liệu bổ trợ dùng để làm sáng tỏ các khía cạnh khác nhau của vấn đề nghiên cứu

- Những công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu nước ngoài (chủ yếu

là đã được được dịch sang tiếng Việt) đã được khai thác, nhưng ở một mức độ nhất định (do những khó khăn chủ quan và khách quan của tác giả)

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp lịch sử, phương pháp logic, lịch sử - logic Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp khác như phân tích, tổng hợp, hệ thống…

6 Đóng góp của luận án

Trên cơ sở tập hợp, hệ thống hoá, bổ sung, xử lý nguồn tư liệu một cách khoa học, luận án có những đóng góp sau:

Trang 17

- Trình bày có hệ thống đường lối, chủ trương của Đảng về tập hợp lực lượng, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

- Làm rõ quá trình ra đời, phát triển của đường lối đoàn kết và tổ chức mọi lực lượng trong MTTQVN, MTDTGPMNVN và Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hoà bình Việt Nam…

- Nêu lên những đánh giá, nhận xét có cơ sở khoa học về thành tựu, hạn chế

và rút ra một số kinh nghiệm chủ yếu về tập hợp lực lượng xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc

- Luận án có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu hoặc phục vụ công tác giảng dạy cho những môn học có liên quan

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án gồm ba chương và 6 tiết:

Chương 1: Đảng lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc từ năm 1954

Trang 18

Chương 1 ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

TỪ NĂM 1954 ĐẾN NĂM 1965 1.1 Xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc củng cố, phát triển miền Bắc; đấu tranh chống Mỹ và chính quyền tay sai ở miền Nam (1954 – 1960)

1.1.1 Khái quát quá trình xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng trước năm 1954

Cuối thế kỷ XIX, sau khi cơ bản kết thúc quá trình vũ trang xâm lược, thực dân Pháp đã thực hiện chính sách thống trị và khai thác thuộc địa trên đất nước ta Hậu quả của chính sách thống trị đó làm cho Việt Nam có những chuyển biến sâu sắc về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội Việt Nam từ một xã hội phong kiến thuần tuý đã biến thành xã hội thuộc địa1

Trong lòng xã hộị đó tồn tại nhiều mâu thuẫn đan xen nhau, song mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và tay sai phản động Để giải quyết mâu thuẫn đó, các phong trào đấu tranh theo khuynh hướng phong kiến và tư sản diến ra liên tục, sôi nổi nhưng đều thất bại Trước bối cảnh khủng hoảng đường lối cứu nước, Nguyễn

Ái Quốc, một thanh niên yêu nước mang trong mình những giá trị văn hóa, tư tưởng cốt lõi của ý chí độc lập và khát vọng tự do đã ra đi tìm đường cứu nước (1911), đến với chủ nghĩa Mác - Lênin (1920) và truyền bá chủ nghĩa Mác- Lênin vào Việt Nam, chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (2/1930)

Ngay khi Đảng ra đời, Cương lĩnh chính trị đầu tiên đã đề ra đường lối chiến lược cho cách mạng Việt Nam là đánh đuổi thực dân Pháp giành độc lập tự do cho dân tộc Để thực hiện thành công nhiệm vụ đó, Đảng chủ trương xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, nhằm tập hợp đông đảo lực lượng để thực hiện thành công mục tiêu của Đảng đề ra Vì vậy, Cương lĩnh khẳng định: Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản, Đảng phải đoàn kết tập hợp cho được đại bộ phận giai cấp công nhân và đại đa số dân cày, dựa vững vào

1 Mă ̣c dù thực dân Pháp còn duy trì mô ̣t phần tính chất phong kiến, song khi đã thành thuô ̣c đi ̣a thì tất cả các

mă ̣t chính tri ̣, kinh tế, văn hóa, xã hội và giai cấp ở Việt Nam đều đặt trong quỹ đạo chuyển động của xã hội đó.

Trang 19

hạng dân cày nghèo Bên cạnh việc xác định hai giai cấp công nhân và nông dân là lực lượng nòng cốt của khối đại đoàn kết dân tộc, Đảng đã nêu rõ “phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, Thanh niên, Tân Việt v.v để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp Còn đối với bọn phú nông, trung tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập Bộ phận nào đã

ra mặt phản cách mạng (Đảng Lập hiến, v.v.) thì phải đánh đổ” [40; tr 4] Trong khi thực hiện chủ trương đoàn kết dân tộc, Cương lĩnh cũng nhấn mạnh: “Phải đồng tuyên truyền

và thực hành liên lạc với bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp thế giới, nhất là vô sản giai cấp Pháp” [40; tr 4], nhằm đánh đổ thực dân Pháp xâm lược Như vâ ̣y, ngay từ trong Cương lĩnh chính tri ̣ đầu tiên, Đảng đã có chủ trương đoàn kết các giai cấp, các tổ chức chính trị, các cá nhân yêu nước, nhằm phát huy sức mạnh truyền thống yêu nước, huy

đô ̣ng mo ̣i nhân tố dân tô ̣c, chĩa mũi nhọn vào kẻ thù chung là đế quốc và phong kiến, giành độc lập, tự do cho dân tô ̣c

Chủ trương đại đoàn kết dân tô ̣c của Đảng đã làm dấy lên lên một cao trào cách mạng chưa từng có mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh Cao trào cách ma ̣ng diễn ra trên quy mô lớn, thu hút sự tham gia của nhiều tầng lớp nhân dân, các dân tộc đa số, thiểu số Tuy nhiên khi phong trào cách ma ̣ng lên tới đỉnh cao, xuất hiê ̣n khuynh hướng “tả”, nhấn mạnh đấu tranh giai cấp, “do đó thiếu mô ̣t tổ chức thâ ̣t quảng đa ̣i quần chúng, hấp thụ các tầng lớp trí thức dân tô ̣c, tư sản dân tô ̣c, họ là tầng lớp trên hay ở vào tầng lớp giữa cũng

vâ ̣y, và cho tới cả những người đi ̣a chủ, có đầu óc oán ghét đế quốc Pháp, mong muốn

đô ̣c lâ ̣p quốc gia, để đưa tất cả những tầng lớp và cá nhân đó vào trong hàng ngũ chống

lơ ̣i của cách ma ̣ng giải phóng dân tô ̣c Chỉ thị khẳng đi ̣nh: “Giai cấp vô sản lãnh

đa ̣o cuô ̣c các ma ̣ng tư sản dân quyền ở Đông Dương mà không tổ chức được toàn dân la ̣i thành mô ̣t lực lượng thâ ̣t rô ̣ng , thâ ̣t kín thì cuô ̣c cách ma ̣ng cũng khó thành

Trang 20

công” [40; tr 227] Chỉ thị phê phán những nhận thức sai lầm trong Đảng là đã tách rời vấn đề dân tô ̣c và giai cấp, nhâ ̣n thức không đúng về đoàn kết dân tộc , về

vai trò của Hội phản đế đồng minh trong cách ma ̣ng ở thuô ̣c đi ̣a

Tuy nô ̣i dung bản chỉ thị này phù hợp với tư tưởng đại đoàn kết được nêu trong Cương lĩnh chính tri ̣ đầu tiên của Đảng , song quan điểm và chủ trương đúng đắn về mối quan hê ̣ giữa dân tô ̣c và giai cấp , về đa ̣i đoàn kết dân tô ̣c vẫn chưa trở thành tư tưởng chủ đạo của BCHTƯĐ lúc đó , Hô ̣i phản đế đồng minh Đông Dương chưa đươ ̣c thành lâ ̣p trong thực tế, song chủ trương đó cho thấy ngay từ khi

Đảng ra đời đã chú tro ̣ng đến viê ̣c xây dựng khối đại đoàn kết dân tô ̣c trong MTDTTN Chủ trương đúng đắn đó của Đảng trong các giai đoa ̣n cách ma ̣ng sau này, đã được hiê ̣n thực hóa với các tên gọi khác nhau cho công cuộc giải phóng dân tộc

Trong những năm 1936 – 1939, chủ nghĩa phát xít xuất hiện , nguy có mô ̣t cuô ̣c chiến tranh thế giới đang đến gần Ở Đông Dương, thực dân Pháp tăng cường đàn áp, bóc lột và bóp ngẹt các quyền tự do dân chủ Trước tình hình đó , tháng 7/1936, Hội nghi ̣ Trung ương Đ ảng nhận định : hai nhiê ̣m vu ̣ chiến lươ ̣c của cách mạng Việt Nam là chống đế quốc và phong kiến là đúng đắn và không thay đổi Tuy nhiên, muc tiêu trực tiếp trước mắt của cách ma ̣ng Đông Dương lúc này là đấu tranh chống bo ̣n phản đô ̣ng thuô ̣c đi ̣a đòi tự do , dân chủ, cơm áo, hòa bình Để thực hiê ̣n mu ̣c tiêu đó, Đảng chủ trương thành lâ ̣p Mă ̣t trâ ̣n nhân dân phản đế Đông Dương (năm 1938 đổi thành Mă ̣t trâ ̣n dân chủ Đông Dương ) Mă ̣t trâ ̣n bao gồm các giai cấp, các đảng phái, các dân tộc, các đoàn thể chính trị và các tôn giáo , tín ngưỡng khác nhau đoàn kết đấu tranh đòi những quyền dân chủ, dân sinh

Mă ̣t trâ ̣n dân chủ thực chất là mô ̣t hình thức của mă ̣t trâ ̣n phản đế rô ̣ng rãi đấu tranh cho mu ̣c tiêu trước mắt là dân sinh, dân chủ, là một “giải pháp” đúng đắn

để chuẩn bị điều kiện cho cuộc vận động giải phóng dân tộc

Tháng 9/1939, cuộc Chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ, phát xít Nhật xâm lược Đông Dương (1940), Nhật – Pháp câu kết với nhau thống trị nhân dân Đông Dương, đẩy nhân dân các dân tộc Đông Dương rơi vào tình cảnh “một cổ hai tròng”, mâu thuẫn dân tộc ngày càng sâu sắc, đòi hỏi cần phải giải quyết Vì vậy, Hội nghị lần thứ 8 của

Trang 21

BCHTƯĐ (5/1941) do Hồ Chí Minh chủ trì khẳng định: “Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được” [42; tr 113] Hội nghị quyết định thay đổi chiến lược, nêu cao ngọn cờ giải phóng dân tộc Để hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc, Đảng chỉ rõ:

“Phải tập trung cho được lực lượng cách mạng toàn cõi Đông Dương, không phân biệt thợ thuyền, dân cày, phú nông, địa chủ, tư sản bản xứ, ai có lòng yêu nước thương nòi sẽ cùng nhau thống nhất mặt trận, thu góp toàn lực đem tất cả

ra giành quyền độc lập, tự do cho dân tộc, đánh tan giặc Pháp – Nhật xâm chiếm nước ta Sự liên minh tất cả lực lượng của các giai cấp, đảng phái, các nhóm cách mạng cứu nước, các tôn giáo, các dân tộc kháng Nhật, đó là công việc cốt yếu của Đảng ta” [42; tr 112-113]

Về vấn đề MTDTTN, Hội nghị vạch rõ sách lược của Đảng ta là: “Phải vận dụng một phương pháp hiệu triệu hết sức thống thiết, làm sao đánh thức được tinh thần dân tộc xưa nay trong nhân dân (hơn hết là dân tộc Việt Nam)” [42; tr 122]

Thực hiện chủ trương của Đảng, ngày 19/5/1941 Mặt trận Việt Minh chính thức được thành lập Nêu cao ngọn cờ đại đoàn kết dân tộc, Tuyên ngôn của Mặt trận Việt Minh khẳng định: “Việt Minh chủ trương liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, trai gái, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị, đặng cùng nhau mưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn” Và “coi quyền lợi dân tộc cao hơn hết thảy, Việt Minh sẵn sàng giơ tay đón tiếp những cá nhân hay đoàn thể, không

cú theo chủ nghĩa quốc tế hay quốc gia, miễn thành thực muốn đánh đuổi Nhật, Pháp để dựng lên một nước Việt Nam tự do và độc lập” [42; tr 461,470] Chương trình cứu nước của Mặt trận Việt Minh cốt thực hiện hai điều mà toàn thể đồng bào Việt Nam đang mong muốn:

1 Làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập;

2 Làm cho nhân dân Việt Nam được hưởng sung sướng, tự do

Chương trình cứu nước của Mặt trận Việt Minh sau đúc kết thành 10 chính sách lớn được Đại hội quốc dân Tân Trào thông qua và trở thành chính sách cơ bản của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà sau này Đánh giá về Mặt trận Việt Minh và Chương trình

Trang 22

cứu nước của Mặt trận, Hồ Chí Minh viết: “Cái tên Việt Nam độc lập đồng minh rất rõ rệt, thiết thực và hợp với nguyện vọng toàn dân Thêm vào đó, chương trình giản đơn, thiết thực mà đầy đủ của Mặt trận gồm có 10 điểm như bài ca tuyên truyền đã kể:

Có mười chính sách bày ra,

Một là ích quốc, hai là lợi dân” [135; tr 158]

Chương trình cứu nước của Mặt trận Việt Minh là cơ sở quan trọng để Đảng đoàn kết, tập hợp mọi lực lượng dân tộc Trên cơ sở chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng về mặt trận, Việt Minh đã nhanh chóng phát triển rộng rãi khắp trong cả nước Các đoàn thể Cứu quốc phát triển rộng lớn trong công nhân, nông dân, thợ thủ công, thanh niên, học sinh, sinh viên, rồi đến công chức, tiểu thương, tiểu chủ Không ít những nhà tư sản, địa chủ yêu nước đã có cảm tình, ủng hộ và tham gia hoạt động Mặt trận Việt Minh Nhiều nhà tu hành cũng tham gia Mặt trận và nhiều nhà chùa đã trở thành cơ sở hoạt động bí mật của Đảng, của Mặt trận Trong hàng ngũ binh lính địch có những binh sĩ yêu nước đã bí mật tham gia tổ chức Cứu quốc, hoặc có quan hệ với Mặt trận Mặt trận Việt Minh không chỉ phát triển rộng rãi trong cả nước mà còn có nhiều cơ sở trong Việt kiều ở nước ngoài, như Hội giải phóng Việt Nam ở Vân Nam, tập hợp những Việt kiều yêu nước, không phân biệt xu hướng chính trị, tín ngưỡng nhằm đánh Nhật, đuổi Pháp, đòi Việt Nam độc lập Hội giải phóng Việt Nam được coi là một bộ phận của Mặt trận Việt Minh

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, thông qua Mặt trận Việt Minh, phong trào đấu tranh của công nhân, nông dân, học sinh tiểu thương phát triển rộng rãi Trong khi đó, tình hình thế giới cũng có sự chuyển biến tích cực Chiến thắng Xtalingrát và chiến thắng Cuốcxcơ

đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới

Trước sự chuyển biến của thời cuộc, tháng 2/1943, Ban Thường vụ trung ương Đảng họp ở Võng La (Đông Anh, Hà Nội) để bàn về việc mở rộng MTDTTN và xúc tiến chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang Hội nghị nhận định: Hiện nay ở Đông Dương thiếu một phong trào cách mạng quốc gia tư sản và phong trào thanh niên học sinh Do đó, cuộc cách mạng ở Đông Dương vẫn hẹp hòi, có tính cách công nông hơn là tính cách toàn dân tộc Hội nghị đề ra chủ trương mở rộng hơn nữa Mặt trận Việt Minh, liên minh với tất cả các đảng phái, các nhóm yêu nước ở trong và ngoài nước chưa gia nhập Mặt

Trang 23

trận Việt Minh, đẩy mạnh công tác vận động công nhân, nông dân, binh lính, thanh niên phụ nữ, tư sản, địa chủ yêu nước, các dân tộc thiểu số, Hoa kiều, lập ra Hội Văn hoá cứu quốc ở thành phố nhằm đoàn kết các văn nghệ sĩ, trí thức tham gia cách mạng

Từ sau Hội nghị Thường vụ Trung ương Đảng năm 1943, Mặt trận Việt Minh không ngừng lớn mạnh, khối đại đoàn toàn dân được củng cố và tăng cường, tập hợp được mọi lực lượng dân tộc Cùng với đoàn kết công nhân, nông dân, Mặt trận Việt Minh còn ra sức đoàn kết, tập hợp các tầng lớp khác Năm 1943, Hội Văn hoá cứu quốc Việt Nam được thành lập đã tập hợp được đông đảo văn nghệ sĩ, trí thức yêu nước tham gia công cuộc đấu tranh giành chính quyền Với sự giúp đỡ tích cực của Đảng Cộng sản, những trí thức yêu nước đã thành lập Đảng Dân chủ Việt Nam (6/1944), một thành viên tích cực của Mặt trận Việt Minh Đảng Dân chủ Việt Nam ra đời đã “thu hút những thanh niên trí thức và công chức Việt Nam, và làm mau tan rã hàng ngũ bọn Đại Việt thân Nhật” [135; tr 158] Sự ra đời của Đảng Dân chủ Việt Nam cũng như việc thành lập Hội Văn hoá cứu quốc đã “góp phần phá âm mưu chia rẽ, lối kéo trí thức của Pháp – Nhật và tay sai, giúp trí thức chọn đường cứu quốc, đem trí tuệ và tài năng của mình phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc” [21; tr 205]

Có thể nói, chủ trương đoàn kết của Mặt trận Việt Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã góp phần quan trọng vào việc chuẩn bị lực lượng cách mạng và chuyển cách mạng sang thời kỳ mới Thời kỳ Tổng khởi nghĩa giành chính quyền

Đầu năm 1945, Chiến tranh thế giới thứ II bước vào giai đoạn kết thúc Ở Đông Dương, ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp và Pháp đã đầu hàng nhanh chóng Ngày

12/3/1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và

hành động của chúng ta” Chỉ thị xác định kẻ thù chính, kẻ thù cụ thể trước mắt của nhân

dân Đông Dương sau cuộc đảo chính là phát xít Nhật Cùng với việc xác định kẻ thù chính, Chỉ thị cũng nhấn mạnh phải mở rộng cơ sở của Mặt trận Việt Minh, nhằm đoàn kết, tập hợp mợi lực lượng nhân dân vào cao trào kháng Nhật cứu nước Trong lúc này, việc mở rộng MTDTTN, thực hiện chính sách đại đoàn kết, phân hoá hàng ngũ kẻ thù, tranh thủ mọi lực lượng có thể tranh thủ càng trở nên cấp thiết Ngày 12/4/1945, Mặt trận

Việt Minh ra lời kêu gọi Mấy lời tâm huyết ngỏ cùng các vị quan chức ái quốc Việt Nam

và Mấy lời tâm huyết ngỏ cùng các vị huynh thứ ái quốc Những văn kiện này đẩy nhanh

Trang 24

quá trình phân hoá và tranh thủ một bộ phận quan lại ngụy quyền vào lúc cách mạng bùng nổ

Với mục đích đoàn kết, tập hợp mọi lực lượng dân tộc vào sự nghiệp đấu tranh giành chính quyền, Hội nghị toàn quốc của Đảng Cộng sản Đông Dương đã nhấn mạnh đến việc phải đẩy mạnh công tác vận động quần chúng công nhân, nông dân, binh lính, thanh niên, phụ nữ, tư sản, địa chủ, công chức, đồng bào theo đạo, các đảng phái Nghị quyết cũng nhấn mạnh đến việc thi hành 10 chính sách lớn của Mặt trận Việt Minh, coi đó là những mục tiêu cơ bản và trước mắt của toàn Đảng, toàn dân

Đầu năm 1945, cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc, thắng lợi nghiêng về phe đồng minh Cao trào kháng Nhật cứu nước phát triển mạnh mẽ, rộng lớn chưa từng thấy, đã thúc đẩy tình thế cách mạng chín muồi Lúc này, đa số lực lượng trung gian đã ngả về phía cách mạng Rất nhiều người làm việc trong bộ máy chính quyền tay sai của địch hoang mang, dao động, có những người giữ thái độ trung lập, hoặc có cảm tình, ủng hộ Mặt trận; một số quan lại, kể cả một vài vị quan cao cấp cũng bí mật liên hệ với Mặt trận Khi thời cơ đến, Hồ Chí Minh kêu gọi: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc đã đến Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” [132; tr 554] Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Mặt trận Việt Minh đã phát động toàn thể nhân dân vùng lên khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước đưa Cách mạng tháng Tám giành thắng lợi Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám là thắng lợi của đường lối tập hợp lực lượng, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc trong MTDTTN của Đảng, trong đó Mặt trận Việt Minh là một sáng tạo lớn của Đảng

Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, nước VNDCCH ra đời, bên cạnh những thuận lợi, nhà nước non trẻ phải đối mặt với vô vàn những khó khăn Chưa bao giờ trên đất nước ta lại có nhiều thù trong, giặc ngoài đến vậy Hơn 20 vạn quân Tưởng vào miền Bắc; 2,5 vạn quân Anh, Ấn vào miền Nam với danh nghĩa là quân “Đồng minh” để giải giáp quân đội Nhật, nhưng thực chất là để tiêu diệt Đảng, phá tan Việt Minh và lật đổ chính quyền cách mạng Bên cạnh đó, các tổ chức phản động, tay sai đế quốc, các lực lượng chống Cộng, chống Việt Minh như Việt Nam Quốc dân Đảng do Vũ Hồng Khanh cầm đầu, Việt Nam Cách mạng

Trang 25

Đồng minh hội do Nguyễn Hải Thần làm Hội trưởng… nổi lên chống phá cách mạng nước ta, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc Bên cạnh đó, những khó khăn

về kinh tế, tài chính, văn hóa – xã hội đã đặt chính quyền cách mạng non trẻ ở thế

“ngàn cân treo sợi tóc”

Trong bối cảnh đó, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Cách mạng Đông Dương vẫn là cách mạng giải phóng dân tộc - “Dân tộc trên hết”, “Tổ quốc trên hết” Để thực hiện nhiệm vụ đó, Đảng sớm xác định phải củng cố và mở rộng hơn nữa khối đại đoàn kết dân tộc, tạo nên sự đồng lòng, nhất trí cao độ, nhằm đưa đất nước ta thoát khỏi tình thế hiểm nghèo, bảo vệ vững chắc thành quả của Cách mạng tháng Tám

Để mở rộng hơn nữa khối đại đoàn kết dân tộc phục vụ công cuộc kháng chiến, kiến quốc, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương: “Lập mặt trận dân tộc thống nhất chống thực dân Pháp xâm lược Mở rộng mặt trận Việt Minh cho nó

bao gồm mọi tầng lớp nhân dân” [43; tr 26] Thực hiện chủ trương đó, tháng

5/1946, Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Mặt trận Liên Việt) được thành lập tại Hà Nội Hội đã nhất trí cử cụ Huỳnh Thúc Kháng là Hội trưởng, Chủ tịch Hồ Chí Minh là Hội trưởng danh dự Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam ra đời với mục đích thu hút những người có tinh thần yêu nước và tồn tại bên cạnh Mặt trận Việt Minh Bản Tuyên ngôn, Cương lĩnh và điều lệ của Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam xác định mục đích: Đoàn kết tất cả các đảng phái yêu nước và đồng bào yêu nước vô đảng phái, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, xu hướng chính trị, chủng tộc để làm cho nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, phú cường Tuyên ngôn nhấn mạnh:

Trong giờ phút lịch sử tồn vong của quốc gia dân tộc, những mâu thuẫn giữa các xu thế chính trị, các tôn giáo, các giai cấp, những sự chia rẽ vô

lý giữa các dân tộc đều phải được dàn xếp, xoá bỏ và nhường bước cho

sự đại đoàn kết rộng rãi, thành thực, vững chắc Sự ra đời của Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam có ý nghĩa hết sức quan trọng, làm cho “cuộc

đại đoàn kết ngày nay sẽ mang lại tự do chắc chắn cho dân tộc [43; tr 71]

Trang 26

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, hệ thống tổ chức của các đoàn thể quần chúng cũng được kiện toàn dần tới cấp cơ sở Các tổ chức trong Mặt trận Việt Minh và Liên Việt được mở rộng và tăng cường trong những điều kiện mới, sôi động và rộng rãi hơn Các tổ chức đoàn thể mới ra đời như Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam (7/1946), Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam (10/1946), Đảng Xã hội Việt Nam (7/1946)… đã làm cho khối đại đoàn kết dân tộc có thêm sức mạnh mới Đây là bước phát triển quan trọng trong chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Đảng Khối đại đoàn kết toàn dân được tăng cường, làm hậu thuẫn cho công cuộc “kháng chiến, kiến quốc”, đưa nhà nước cách mạng non trẻ vượt qua khó khăn, thử thách

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Mặt trận Việt Minh, Liên Việt tuyên truyền, tổ chức, phát động các đoàn thể cứu quốc, các giai cấp, tầng lớp, các đảng phái, dân tộc, tôn giáo, các cá nhân… có tinh thần yêu nước tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng Công việc đầu tiên sau cách mạng thành công là xây dựng nền móng chế độ mới (xây dựng, củng cố chính quyền dân chủ nhân dân từ Trung ương đến cơ sở) đã nhận sự ủng hộ của đông đảo nhân dân Cuộc tổng Tuyển cử (6/1/1946) đã bầu ra 333 đại biểu quốc hội Quốc hội khoá I quy tụ các các giai tầng, các đảng phái khác nhau hoặc không đảng phái, trong đó có nhiều người là những những nhân sĩ trí thức nổi tếng,

có người là tư sản, là chức sắc tôn giáo, là đại biểu các dân tộc ít người… trên toàn quốc

Các phong trào “Tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm”, “Nhường cơm xẻ áo”, “Bình dân học vụ”, “Chống giặc dốt”, “Tuần lễ vàng”, “Quỹ độc lập”, xây dựng đời sống mới, chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng chiến lâu dài… do Đảng và Mặt trận Việt Minh, Liên Việt phát động thu hút được đông đảo mọi tầng lớp nhân dân trong cả nước, cả Việt kiều ở Lào, Xiêm, Pháp tham gia sôi nổi và đạt được kết quả to lớn, góp phần khắc phục được giặc đói, giặc dốt

Trong bối cảnh thù trong, giặc ngoài câu kết với nhau nhằm lật đổ nhà nước non ttrẻ, thủ tiêu thành quả cách mạng, để loại bớt kẻ thù, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, Đảng kiên trì nguyên tắc “thêm bạn, bớt thù” Đối với Tưởng, Đảng chủ trương hoà hoãn với sách lược “Hoa - Việt thân thiện”, để tập trung mũi nhọn vào kẻ thù chính là thực dân Pháp xâm lược Đối với Pháp ta chủ trương hoà hoãn trên cơ sở độc lập về chính trị, nhân nhượng về kinh tế và giải quyết mọi

Trang 27

xung đột bằng con đường hoà bình Nhưng thực dân Pháp ngoan cố hòng dùng vũ lực áp đặt ách đô hộ lên đất nước ta một lần nữa

Có thể nói, nước VNDCCH sau Cách mạng tháng Tám gặp muôn vàn khó khăn, nhưng với chủ trương đúng đắn của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, khối đại đoàn kết dân tộc không ngừng được củng cố, tăng cường, tạo ra sức mạnh to lớn chống được giặc đói, giặc dốt, loại bớt được kẻ thù dân tộc, giữ vững được chính quyền cách mạng và chuẩn bị cho một cuộc kháng chiến lâu dài

Việt Nam muốn hòa bình để xây dựng đất nước nên với Pháp ta đã nhân nhượng khi ký Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946, Tạm ước 14/9/1946… nhưng càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới với dã tâm muốn cướp nước ta một lần nữa Vì vậy, dân tộc Việt Nam quyết “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” [133; tr 480] và đã phải tiến hành cuộc kháng chiến trong toàn quốc Để đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp, Đảng đã đề ra đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh Trong đường lối đó, khối đại đoàn kết toàn dân trong MTDTTN là một nhân tố quan trọng đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi

Thực hiện đường lối kháng chiến của Đảng, Mặt trận Việt Minh và Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam đã triển khai một loạt công tác tư tưởng, tổ chức, quân

sự, dân vận, kinh tế… động viên toàn thể nhân dân ta tham gia vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Công tác dân vận và hoạt động của Mặt trận Việt Minh, Liên Việt được đẩy mạnh, nhằm động viên tinh thần đoàn kết, yêu nước, đóng góp cho cuộc kháng chiến Bên cạnh việc củng cố, phát triển các hình thức, tổ chức đoàn kết các tầng lớp quần chúng cơ bản, việc tăng cường đoàn kết các tôn giáo, các dân tộc thiểu số, các nhân sĩ, trí thức tầng lớp trên có vai trò rất quan trọng Tổ chức của Mặt trận Việt Minh trong vùng địch chiếm đóng, đặc biệt

là ở các đô thị đã có nhiều hình thức tập hợp nhân dân, phối hợp với lực lượng vũ trang, tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu; đồng thời móc nối, giữ liên lạc với các nhân sĩ, trí thức, các nhà tư sản, quan lại có tinh thần yêu nước, ủng hộ kháng chiến Ngoài ra, Đảng cũng chú trọng cố và phát huy vai trò của Đảng Dân chủ

Trang 28

Việt Nam, Đảng Xã hội Việt Nam, tập hợp được đông đảo nhân sĩ trí thức tham gia trường kỳ kháng chiến để tranh lấy thống nhất và độc lập cho Tổ quốc

Để chống lại các cuộc tấn công của địch, Mặt trận Liên Việt hô hào, động viên toàn dân tham gia cản địch, bộ đội thi đua lập công; giúp các thân sĩ, phú hào tham gia kháng chiến (ủng hộ Chính phủ, giúp đỡ bộ đội, vũ trang dân quân, tổ chức làng chiến đấu, tăng gia sản xuất…); giúp đỡ đồng bào tản cư, tuyên truyền kháng chiến ở vùng địch chiếm đóng; phối hợp tổ chức đấu tranh công khai và bí mật; phát triển tổ chức ở các vùng công giáo và các dân tộc…

Với những chủ trương, chính sách cụ thể, Đảng đã tập hợp được đông đảo lực lượng trong Mặt trận Việt Minh, Liên Việt, tăng cường được thực lực mọi mặt cho cuộc kháng chiến, đưa cuộc kháng chiến tiến lên giành được những thắng lợi bước đầu quan trọng như Việt Bắc thu đông 1947, Biên giới 1950…đánh bại chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh của thực dân Pháp

Khi cuộc kháng chiến bước vào giai đoạn mới, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (2/1951) nhấn mạnh: Trước yêu cầu, đòi hỏi mới của cuộc kháng chiến, vấn đề củng cố khối đại đoàn kết dân tộc có tầm quan trọng đặc biệt Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Phải ra sức giải thích, tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến” [135; tr 172] Đại hội chủ trương thống nhất Mặt trận Việt Minh và Liên Việt, nhằm củng cố, mở rộng hơn nữa khối đại đoàn kết toàn dân để chiến thắng kẻ thù Từ ngày 3 đến 7/3/1951, tại xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang, Đại hội thống nhất Việt Minh – Liên Việt diễn ra trọng thể và thành công rực rỡ Đây là một bước phát triển mới của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược

Để củng cố khối đoàn kết ba nước trên bán đảo Đông Dương, ngày 11/3/1951, Hội nghị liên minh ba nước Đông Dương gồm đại biểu của Mặt trận Liên Việt do Chủ tịch Tôn Đức Thắng làm trưởng đoàn, Mặt trận Lào Itsala do Hoàng thân Chủ tịch Xuphanuvông làm trưởng đoàn, Mặt trận Khơme Issark do Chủ tịch Sơn Ngọc Minh làm trưởng đoàn Hội nghị đánh giá cao những thắng lợi

Trang 29

của nhân dân ba nước, khẳng định ý nghĩa quan trọng của sự đoàn kết hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa ba dân tộc Hội nghị quyết định thành lập Ủy ban Liên minh nhân dân Việt – Miên – Lào gồm đại biểu của Mặt trận ba nước, nhằm tăng cường đoàn kết và phát huy sức mạnh của khối đoàn kết ba dân tộc anh em, tiêu diệt thực dân Pháp và đánh bại bọn can thiệp Mỹ, giành độc lập thật sự cho ba dân tộc, góp phần bảo vệ hòa bình thế giới

Bên cạnh việc củng cố, mở rộng khối đại đoàn kết trong nước, đoàn kết ba nước Đông Dương, Đảng khẳng định phải tăng cường đoàn kết, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân thế giới, đặc biệt là nhân dân tiến bộ Pháp, tạo ra sức mạnh to lớn đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp

Ngay sau Cách mạng tháng Tám, nhất là khi cuộc kháng chiến bùng nổ, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm mọi cách để liên hệ với bên ngoài (qua Thái Lan, Miến Điện,

Ấn Độ), tranh thủ sự ủng hộ quốc tế Ngày 1/10/1949, nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa ra đời Ngày 18/1/1950, Trung Quốc chính thức công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với ta Đầu năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm Liên Xô và Trung Quốc, nhằm tranh thủ sự ủng hộ của nước bạn đối với cuộc kháng chiến của ta Tháng 9/1950, chiến thắng Biên giới đã nối liền cuộc kháng chiến của ta với hậu phương của cách mạng thế giới Liên

Xô và các nước Đông Âu lần lượt công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với CPVNDCCH Từ năm 1950, cuộc kháng chiến của nhân dân ta đã nhận được sự đồng tình, ủng hộ ngày càng lớn của các lực lượng tiến bộ trên thế giới, của các nước XHCN anh

em, đặc biệt là Liên Xô và Trung Quốc

Như vậy, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, với chủ trường, đường lối đúng đắn của Đảng, khối đại đoàn kết dân tộc không ngừng được củng cố và tăng cường, tạo ra sức mạnh to lớn đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp

và can thiệp Mỹ Chiến thắng Điện Biên Phủ đã kết thúc 9 năm kháng chiến trường kỳ, gian khổ nhưng vô cùng oanh liệt của nhân dân ta, giải phóng hoàn toàn miền Bắc, lập lại hoà bình ở Đông Dương Thắng lợi đó là kết quả tổng hợp của nhiều nhân tố, nhưng trước hết đó là kết quả và biểu hiện cao độ sức mạnh vĩ đại của khối đại đoàn kết dân tộc trong MTDTTN do Đảng lãnh đạo

Trang 30

Thực tiễn quá trình tập hợp lực lượng xây dựng MTDTTN, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, tạo ra sức mạnh dân tộc đưa Cách mạng tháng Tám đến thành công, kháng chiến chống Pháp đến thắng lợi, Đảng rút ra một số bài học kinh nghiệm chủ yếu như: xác định đúng kẻ thù; giương cao ngọn cờ độc lập, tự do; giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa nhiệm vụ dân tộc và dân chủ; thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc với cách hình thức tập hợp lực lượng phong phú, linh hoạt…

1.1.2 Xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc củng cố, phát triển miền Bắc; đấu tranh chống Mỹ và chính quyền tay sai ở miền Nam (1954 – 1960)

Bối cảnh lịch sử

Sau Chiến tranh thế giới thứ II, đặc biệt là những năm đầu của thập kỷ 50 (thế kỷ XX), hệ thống CNXH được thành lập, nối liền từ châu Âu sang châu Á và ngày càng lớn mạnh, trở thành hệ thống thế giới Mặc dù phải gánh chịu hậu quả nặng nề sau thế chiến II, nhưng Liên Xô và các nước Đông Âu đã nhanh chóng xây dựng lại đất nước, khôi phục và phát triển nề kinh tế quốc dân với tốc độ khá nhanh “Về công nghiệp, phe xã hội chủ nghĩa chiếm hơn một phần ba tổng sản lượng công nghiệp trên toàn thế giới Về nông nghiệp, sản lượng lương thực của phe xã hội chủ nghĩa đã chiếm trên 48% tổng sản lượng lương thực trên toàn thế giới” [50; tr 614] Về khoa học kỹ thuật, quân sự và quốc phòng, hệ thống CNXH

có những bước tiến vượt bậc Năm 1949, Liên Xô đã chế tạo thành công bom nguyên tử, khiến ưu thế độc quyền bom nguyên tử của Mỹ bị phá vỡ Ngay trong năm đó, Liên Xô đã ra tuyên bố cấm sử dụng vũ khí nguyên tử một cách vô điều kiện Năm 1954, Liên Xô xây dựng nhà máy điện nguyên tử đầu tiên trên thế giới

và quyết định sử dụng năng lượng nguyên tử vào mục đích hoà bình Các nước Đông Âu và Trung Quốc sau khi giành được độc lập, cũng nhanh chóng hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, đưa đất nước đi theo con đường CNXH

Sự lớn mạnh của Liên Xô, Trung Quốc và các nước khác trong hệ thống XHCN là nhân tố thúc đẩy sự phát triển của cách mạng thế giới, trở thành chỗ dựa cho cách mạng Việt Nam

Song vào những năm cuối thập kỷ 50 của thế kỷ XX, giữa các nước trong hệ thống các nước XHCN xuất hiện những bất đồng nghiêm trọng về nhiều vấn đề khác nhau, nhất là về quan điểm chính trị, về vị thế và ảnh hưởng quốc tế, về lợi

Trang 31

ích dân tộc thể hiện qua mâu thuẫn giữa Liên Xô và Trung Quốc Khối đoàn kết của hệ thống XHCN bắt đầu rạn nứt, dẫn đến sự phân liệt trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế Lợi dụng tình thế này, các thế lực phản động, đứng đầu

là Mỹ tìm cách phản kích lại các lực lượng cách mạng tiến bộ, khoét sâu mâu thuẫn, chia rẽ để làm suy yếu hệ thống XHCN và giảm thiểu sự đồng tình, ủng hộ của Liên Xô và Trung Quốc cho cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam Nhân tố này đã gây ra không ít khó khăn cho sự nghiệp kháng chiến chống

Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam nói chung, cho việc xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc của ĐCSVN nói riêng

Sau năm 1945, thắng lợi của các lực lượng chống phát xít đã mở ra thời kỳ mới trong sự nghiệp giải phóng của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc, nhất là những nước trong khu vực châu Á, châu Phi, châu Mỹ latinh Ở những mức độ khác nhau, các nước này đã và đang đứng lên giành độc lập, tự do như Triều Tiên, Việt Nam, Inđônêsia, Philippin Miến Điện Đặc biệt, sự ra đời của nước CHND Trung Hoa đã “tạo nên sự thay đổi mới trong cán cân lực lượng trên vũ đài quốc tế” [78; tr 230] Sự gia nhập của Trung Hoa vào hệ thống CNXH đã làm cho so sánh lực lượng trở nên có lợi cho cách mạng, đồng thời tấn công trực diện vào hệ thống CNĐQ do Mỹ đứng đầu Bên cạnh đó, thắng lợi của cách mạng Việt Nam làm cho cuộc đấu tranh của các dân tộc Đông Dương như được tiếp thêm sức mạnh Sự đoàn kết gắn bó giữa ba nước Đông Dương Việt Nam

- Lào - Campuchia càng thêm chặt chẽ, nhằm đối phó với những âm mưu, thủ đoạn xâm lược kiểu mới của đế quốc Mỹ Từ nửa cuối những năm 50 (thế kỷ XX), phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc phát triển mạnh ở châu Phi, châu Mỹ Latinh, làm tan rã từng mảng hệ thống thuộc địa, đưa nhiều quốc gia bước vào thời kỳ độc lập về chính trị, thoát khỏi tình trạng lệ thuộc về kinh tế Tháng 4/1955, tại Băng-đung (Inđônêxia), 29 nước Á-

Phi đã họp và ra Bản tuyên bố gồm 10 nguyên tắc hoà bình, trung lập Đó là một đóng

góp quan trọng vào phong trào chống chủ nghĩa thực dân, củng cố nền độc lập của các nước Á-Phi và bảo vệ hoà bình thế giới Sau Hội nghị Băngđung, phong trào giải phóng dân tộc phát triển như vũ bão Năm 1956, ở châu Phi, 3 nước Bắc Phi - Tuynidi, Marốc,

Xu đăng giành độc lập Tháng 3/1957, nước Cộng hoà Gana ra đời, mở đầu thời kỳ vùng dậy của các nước Tây Phi Đến năm 1960, đã có 17 nước châu Phi tuyên bố độc lập và

Trang 32

năm 1960 đi vào lịch sử với tên gọi “Năm châu Phi” Bằng việc công nhận nền độc lập của hàng loạt các nước Á, Phi, Mỹ latinh, các nước đế quốc phương Tây bắt buộc phải thừa nhận sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên toàn thế giới Nhìn chung, thời kỳ này cách mạng thế giới đang ở thế tiến công Đó là nhân tố quốc tế hết sức thuận lợi đối với sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam

Tuy nhiên, một số nước khi giành được độc lập lại có những khuynh hướng chính trị - xã hội khác, thậm chí nhiều nước, giới cầm quyền vẫn tiếp tục đi theo con đường cai trị của thực dân phương Tây, không ủng hộ Việt Nam chống Mỹ Trước thực tiễn đó, ĐCSVN vừa ủng hộ chính sách hoà bình trung lập để tập hợp lực lượng tiến bộ thế giới, vừa phải lôi kéo, vận động, tranh thủ các lực lượng khác nhau cho cuộc đấu tranh của dân tộc mình Chính sách tăng cường đoàn kết với các nước Á - Phi đấu tranh

vì độc lập dân tộc của Đảng đã tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của nhiều nước, dẫn đến sự ủng hộ quốc tế rộng lớn đối với sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta

Từ sau thế chiến thứ II, Mỹ là nước có tiềm lực kinh tế và quân sự mạnh nhất thế giới

tư bản Với ưu thế về vũ khí hạt nhân, Mỹ có tham vọng bá chủ toàn cầu Ngày 6/4/1946, Tổng thống Truman tuyên bố: “Ngày nay, Hoa Kỳ là quốc gia mạnh, nghĩa là với một sức mạnh như thế, chúng ta có nghĩa vụ nắm quyền lãnh đạo thế giới” [154; tr 119] Để thực hiện tham vọng, Mỹ thực thi “Học thuyết Truman”, “Kế hoạch Macsan”, phát động và đẩy mạnh Chiến tranh lạnh, hòng bao vây Liên Xô, các nước dân chủ nhân dân, giành giật các thuộc địa và áp đặt các nước đế quốc khác trong quỹ đạo của Mỹ

Đương đầu với một kẻ thù hùng mạnh như vậy, ngoài việc tập hợp lực lượng trong nước, Đảng đề ra đường lối đối ngoại, đoàn kết quốc tế, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ và giúp đỡ quốc tế, trước hết là các nước XHCN, đặc biệt Liên Xô, Trung Quốc, hai nước láng giềng Lào, Campuchia, đồng thời đoàn kết với nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới, kể cả nhân dân Mỹ

Với chiến thắng lịch sử của chiến dịch điện Biên Phủ, nhân dân ta đã giành được thắng lợi quyết định trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, đưa đến việc ký kết Hiệp định Giơnevơ Chính phủ Pháp và các nước tham dự Hội nghị cam kết tôn trọng độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào, Campuchia Hòa bình được lập lại ở Đông Dương

Trang 33

Hiệp định Giơnevơ được ký kết, đất nước tạm chia làm hai miền Miền Bắc, sau 9 năm kháng chiến trường kỳ, được giải phóng Nhân dân miền Bắc sống trong hoà bình, được hưởng những thành quả do cách mạng đem lại Nhân dân miền Bắc phấn khởi, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, của Hồ Chủ tịch Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân có sự thống nhất cao về ý chí, hành động, quyết tâm xây dựng miền Bắc Dưới sự lãnh đạo của Đảng, khối đại đoàn kết dân tộc ngày càng được củng cố, tăng cường và phát huy cao độ trong thời kỳ lịch sử mới của dân tộc Nhân tố này trở thành cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh để xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh

Bên cạnh những điều kiện thuận lợi, nhân dân ta cũng gặp vô vàn những khó khăn Nền kinh tế miền Bắc vốn là một nền kinh tế nghèo nàn lạc, hậu lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề Nông nghiệp, ngành kinh tế chủ yếu của miền Bắc bị thiệt hại nghiêm trọng: 1.430.000 ha đất bị bỏ hoang, 8 công trình thuỷ nông lớn

và nhiều công trình thuỷ nông vừa và nhỏ bị phá huỷ Phần lớn ruộng đất chỉ làm một vụ, năng suất rất thấp Kỹ thuật sản xuất thô sơ, thiên tai liên tiếp Nông thôn

xơ xác, tiêu điều vì địch càn quét, đốt phá Hoà bình lập lại, nhưng nạn đói vẫn liên tiếp xảy ra Tháng 9/1954, miền Bắc có nửa triệu người chết đói Nền công nghiệp nhỏ, yếu lại bị thiệt hại nặng nề, phần lớn các xí nghiệp ngừng hoạt động, nguyên liệu nhiên liệu thiếu trầm trọng Giao thông vận tải, mạch máu của nền kinh tế quốc dân bị phá huỷ nặng nề Hàng nghìn km đường sắt bị tàn phá Thương nghiệp đình đốn, các hoạt động đầu cơ, nâng giá, lũng đoạn thị trường diễn ra phổ biến Sản xuất ngưng trệ, lưu thông, phân phối khó khăn, hàng hoá khan hiếm nghiêm trọng Hàng vạn người thất nghiệp Giáo dục, y tế nghèo nàn, lạc hậu, nhiều bệnh dịch như sốt rét, lao phổi hoành hành phổ biến Tệ nạn xã hội tràn lan

Trước khi rút khỏi miền Bắc, thực dân Pháp và tay sai ra sức phá hoại về mọi mặt Chúng lợi dụng tôn giáo để đầu độc quần chúng, chống phá cách mạng và chính sách gây hiềm khích dân tộc của chúng để lại những hậu quả nặng nề cho xã hội miền Bắc Một bộ phận địa chủ, tư sản miền Bắc vẫn hoạt động ngấm ngầm chống phá cách mạng Địa chủ kháng chiến và tư sản dân tộc còn nhiều lo lắng về chủ trương, chính sách của Đảng

Trang 34

Những khó khăn sau ngày giải phóng, cùng với việc bị kẻ địch tuyên truyền, xuyên tạc đường lối chính sách, của Đảng, Nhà nước làm cho quần chúng hoang mạng, lo lắng

Trong quá trình chuyển quân tập kết của hai miền, đế quốc Mỹ và bọn tay sai ra sức phá hoại khối đoàn kết dân tộc ở miền Bắc Chúng cài bọn gián điệp vào các tổ chức tôn giáo, trong các dân tộc, nhằm chia rẽ nhân dân với Đảng và chính quyền cách mạng, gây bạo loạn chống lại chế độ mới Đặc biệt, chúng mở chiến dịch dụ dỗ, cưỡng ép đồng bào miền Bắc di cư vào Nam Ở Quảng Bình, Quảng Trị, chúng đốt hàng nghìn nóc nhà để buộc đồng bào phải ra đi Chúng công khai lập các trại tập trung dân ở Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình, Thanh Hoá gây những vụ bạo loạn ở Phát Diệm (Ninh Bình), Ba Làng (Thanh Hoá), Quỳnh Lưu (Nghệ An) Đó là những mưu đồ của đế quốc Mỹ hòng gây dư luận xấu về chế dộ xã hội mới ở miền Bắc, hòng hạ uy tín của Đảng, Chính phủ, làm cho miền Bắc bất ổn định, lòng dân ly tán, nội bộ lục đục; tạo chỗ dựa xã hội cho chính quyền Ngô Đình Diệm ở miền Nam

Ở miền Nam, đế quốc Mỹ từng bước thay thế Pháp can thiê ̣p và áp đă ̣t ách thống tri ̣ vào miền Nam Việt Nam, Lào và Campuchia Mục tiêu chiến lược của Mỹ ở Việt Nam là:

Tiêu diệt bằng được phong trào yêu nước của nhân dân ta, thôn tính miền Nam Việt Nam, chia cắt lâu dài đất nước ta, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ, lập phòng tuyến ngăn chặn chủ nghĩa

xã hội lan xuống Đông Nam Á, đồng thời lấy miền Nam Việt Nam làm căn cứ

để tiến công miền Bắc, tiền đồn của hệ thống chủ nghĩa xã hội thế giới ở Đông Nam châu Á, hòng đè bẹp và đẩy lùi chủ nghĩa xã hội ở vùng này, bao vây và

uy hiếp các nước xã hội chủ nghĩa khác [68; tr 15]

Nhằm thực hiện hiện mục tiêu trên, Mỹ đã đưa Ngô Đình Diệm – một viên quan trong triều Nguyễn, lại là tín đồ Thiên Chúa giáo, chống cộng khét tiếng, được đào tạo ở

Mỹ về cầm đầu bộ máy Chính quyền Sài Gòn Đế quốc Mỹ ra sức xây dựng và củng cố Chính quyền Ngô Đình Diệm bằng biện pháp tăng cường cố vấn và viện trợ Mỹ, đặt Việt Nam dưới quyền bảo trợ của khối SEATO, đàn áp phong trào cách mạng

Để tạo dựng một bộ mặt “độc lập” giả hiệu cho Ngô Đình Diệm, Mỹ - Diệm từng bước loại bỏ ảnh hưởng của Pháp và Chính quyền Bảo Đại; dùng lực lượng quân sự

Trang 35

để tiêu diệt lực lượng giáo phái đối lập và các lực lượng thân Pháp Tháng 3/1955, sau khi củng cố được quyền lực, Ngô Đình Diệm chủ trương tiêu diệt các giáo phái thân Pháp để loại trừ khả năng chống đối, xoá bỏ mọi quyền lợi ở các địa phương của Pháp, thống nhất quân đội dưới quyền mình Trước áp lực của Mỹ – Diệm, “Mặt trận thống nhất toàn lực quốc gia” bị phân hoá, nhóm Cao Đài liên minh Trịnh Minh Thế quay về hàng Diệm Sau đó, bằng các chiến dịch “Hoàng Diệu”, “Đinh Tiên Hoàng”, Mỹ – Diệm

đã tấn công vào các phái Bình Xuyên, Hoà Hảo Khi Diệm tấn công Bình Xuyên và Hoà Hảo, phái Cao Đài chủ trương án binh bất động để chờ thời Tháng 10/1955, Mỹ - Diệm dùng thủ đoạn chia rẽ nội bộ phái này để phá bỏ bộ máy hành chính của Cao Đài, uy hiếp Toà thánh Tây Ninh và đến tháng 6/1956, đại bộ phận lực lượng Cao Đài bị tiêu diệt và

ra đầu hàng Diệm

Sau khi đè bẹp xong các lực lượng đối lập, Mỹ - Diệm tiến hành xây dựng một chế độ độc tài phát xít thân Mỹ, khoác áo “độc lập”, “dân chủ”, “hợp hiến” giả hiệu Ngày 17/7/1955, Diệm tuyên bố không có hiệp thương tổng tuyển cử Ngày 23/10/1955, Diệm tổ chức cuộc “trưng cầu dân ý” dưới lưỡi lê của quân đội để phế truất Bảo Đại và

tự xưng Tổng thống Việt Nam Cộng hoà

Từ khi lên nắm quyền, bộ máy chính quyền, quân đội Sài Gòn đã trở thành công

cụ tay sai đắc lực thi hành chính sách thực dân mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam Chúng vừa dụ dỗ, lừa bịp, vừa đàn áp, khủng bố với nhiều thủ đoạn thâm độc, dã man

Mỹ – Diệm ráo riết thực thi chính sách “tố cộng, diệt cộng” đàn áp phong trào quần chúng, trả thù những người kháng chiến cũ, tiêu diệt cơ sở cách mạng ở miền Nam, tiêu diệt Đảng Cộng sản, tước đoạt những quyền lợi mà Đảng ta mang lại cho quần chúng, qua đó xây dựng, củng cố chính quyền ấp, xã, tạo lập một cơ sở xã hội hạ tầng cho chế

độ thực dân mới

Từ cuối năm 1954, Chính quyền Diệm đã tổ chức các chiến dịch “tố cộng” trên diện rộng Mỹ - Diệm tiến hành nhiều cuộc tàn sát đẫm máu ở Ngân Sơn, Chí Thạnh (Phú Yên), Chợ Được (Quảng Nam), Kim Đôi (Thừa Thiên), Mỏ Cày (Bến Tre)… Chỉ trong vòng hai năm (1955 - 1956), chúng đã bắt bớ giam cầm, sát hại hàng chục vạn cán bộ, đảng viên

Trang 36

Từ sau hiệp định Giơnevơ, tình hình miền Nam đã có những thay đổi lớn nhất là về tương quan lực lượng giữa ta và địch Thực hiện hiệp định đình chiến,

đa số cán bộ, quân đội, thương binh, công nhân kỹ thuật tập kết ra Bắc, số ở lại đổi vùng và chuyển vào hoạt động bí mật Trong khi đó, kẻ thù có đủ sức mạnh về kinh tế và quân sự, nắm trong tay cả bộ máy ngụy quân, ngụy quyền lớn mạnh Chúng thẳng tay đàn áp, khủng bố các phong trào đấu tranh của nhân dân, tàn sát cán bộ, đảng viên, ráo riết đánh phá các cơ sở cách mạng, gây cho ta nhiều tổn thất nặng nề Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân để tập hợp lực lượng rộng rãi trong hoàn cảnh đó vừa là yêu cầu, nhiệm vụ cấp thiết, vừa vô cùng khó khăn, gian khổ

Như vậy, sau Hiệp định Giơnevơ, tình hình quốc tế và trong nước vừa có thuận lợi vừa có những khó khăn, phức tạp Đặc điểm lớn nhất, chi phối toàn bộ yêu cầu và nhiệm vụ của cách mạng cả nước là đất nước ta tạm thời bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị - xã hội khác nhau Sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước chưa hoàn thành Đặc điểm này không chỉ chi phối đường lối chiến lược, phương pháp cách mạng cả nước nói chung, mà còn ảnh hưởng, tác động mạnh mẽ đến đường lối, chủ trương xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, tập hợp lực lượng trong nước và quốc tế, đưa sự nghiệp giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, hoàn thành thống nhất nước nhà đến thành công

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ra đời đoàn kết toàn dân củng cố và phát triển miền Bắc thành cơ sở cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà

Trên cơ sở những điều kiện khách quan và chủ quan, tháng 9-1954, Bộ Chính trị đã phân tích những đặc điểm của cuộc đấu tranh trong giai đoạn mới và nêu lên nhiệm vụ chung của Đảng ta là: Đoàn kết và lãnh đạo nhân dân đấu tranh thực hiện Hiệp định đình chiến, đề phòng và khắc phục mọi âm mưu phá hoại Hiệp định đình chiến để củng cố hoà bình, ra sức hoàn thành cải cách ruộng đất, phục hồi và nâng cao sản xuất, tăng cường quân đội nhân dân để củng cố miền Bắc, giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh chính trị của nhân dân miền Nam, đặng củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ trong toàn quốc

Để thực hiện nhiệm cách mạng lớn lao đó, Bộ Chính trị chỉ rõ một trong những nhiệm vụ quan trọng là củng cố sự lãnh đạo của Đảng đối với mặt trận, ra

Trang 37

sức tranh thủ sự ủng hộ của công nhân, nông dân, trí thức cách mạng; không ngừng tranh thủ mọi lực lượng có thể hợp tác với ta; tranh thủ sự cộng tác của giai cấp tư sản, các nhân sĩ dân chủ và thân sĩ yêu nước; tăng cường công tác trong vùng dân tộc thiểu số; thu hút được các tầng lớp xã hội, các đảng phái đứng về phía ta, cô lập bọn phản động thân Mỹ, bán nước Về chính sách đối với tôn giáo,

Bộ Chính trị khẳng định: Chính sách tôn giáo đúng hay không sẽ quan hệ rất lớn đến việc đoàn kết đông đảo giáo dân Chính sách của chúng ta là: Tự do tín ngưỡng, không can thiệp vào hoạt động của tôn giáo; chú ý ổn định giáo dân, tranh thủ đa số tín đồ

Thực hiện chủ trương của Đảng, Mặt trận Liên Việt đã vận động các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là công nhân đấu tranh chống địch di chuyển, cướp phá tài sản ở Hà Nội, Hải Phòng và nhiều thành phố, thị xã Nhờ đó, mọi hoạt động của

Hà Nội cũng như nhiều thị xã khác sớm trở lại bình thường Bên cạnh đó, cuộc đấu tranh đòi địch phải trao trả tù binh, thi hành đúng Hiệp định Giơnevơ diễn ra không kém phần gay go và phức tạp, vì đối phương âm mưu di chuyển họ vào Nam và thủ tiêu những người mà chúng cho là nguy hiểm Trước hình đó, ta bí mật cử cán bộ hướng dẫn những người bị giam giữ làm đơn tố cáo với Ủy ban Quốc tế, đồng thời, vận động hàng ngàn công nhân, nông dân biểu tình, bao vây những nơi địch giam giữ người, đòi phải thả và ngừng ngay những các cuộc di chuyển Cuộc đấu tranh đã giành được sự ủng hộ của binh lính Pháp, khiến địch phải thả các tù nhân

Từ sau Hiệp định Giơnevơ, ở miền Bắc, do hậu quả của chiến tranh và thiên tai hết sức nặng nề, nạn đói bắt đầu lan rộng, Mặt trận Liên Việt đã và các tổ chức đoàn thể phối hợp với chính quyền vận động nhân dân tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau bằng nhiều hình thức cho vay, cho mượn để vượt qua nạn đói; vận động các gia đình địa chủ, phú nông ủng hộ thóc gạo, cứu đói Được sự động viên của Mặt trận Liên Việt, một số gia đình địa chủ đã tự nguyện mở kho cứu tế người đói Phong trào cứu đói đã thu hút được đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia

Để chống lại âm mưu, thủ đoạn cưỡng ép di cư của địch, Mặt trận Liên Việt

và các tổ chức đoàn thể phối hợp với bộ đội và các ngành, các cấp tuyên truyền

Trang 38

giải thích cho đồng bào hiểu rõ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; vạch trần những luận điệu xảo trá của địch, giúp cho nhiều người yên tâm ở lại miền Bắc

Lúc này, để đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, Đảng chủ trương củng

cố, mở rộng hơn nữa Mặt trận Dân tộc thống nhất, nhằm đoàn kết “bất kỳ người nào, bất kỳ nhóm nào, nếu họ tán thành hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, thì chúng ta cũng sẵn sàng thật thà đoàn kết với họ” [136; tr 429]

Hội nghị BCHTƯĐ lần thứ 8 (8/1955) đã phân tích tình hình thế giới và trong nước, đề ra nhiệm vụ trước mắt:

Ra sức tập hợp lực lượng của toàn dân thành một mặt trận rộng rãi có một cương lĩnh chung thích hợp để đấu tranh chống đế quốc Mỹ và bè

lũ tay sai của chúng, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập, dân chủ và bằng phương pháp hoà bình; đồng thời đấu tranh để củng cố hoà bình, ngăn ngừa chiến tranh trở lại ở Đông Dương [45; tr 571-572]

Để hoàn thành nhiệm vụ đó, phải “mở rộng và củng cố mặt trận dân tộc thống nhất trong toàn quốc, tập hợp mọi lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình, từ Bắc đến Nam, tranh thủ bất cứ người nào ta có thể tranh thủ, trung lập bất cứ người nào ta có thể trung lập” [45; tr 573] Như vậy, xuất phát từ thực tiễn lúc này chúng ta phải thực hiện và chấp h ành những điều khoản đã ký kết trong Hiê ̣p đi ̣nh Giơnevơ nên mu ̣c tiêu quan tro ̣ng nh ất và tư tưởng nhất quán của Đảng là muốn củng cố hoà bình và thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ Để hoàn thành nhiê ̣m vu ̣ đó , Đảng phải đoàn kết rộng rãi các tầng lớp, các đảng

phái, các dân tộc, các tôn giáo chung quanh một bản Cương lĩnh chính trị tập trung

được mọi ý chí, tập hợp được mọi lực lượng Do vậy, MTDTTN cần có một bản cương lĩnh chung phù hợp với tình hình thực tế của hai miền, làm cơ sở tập hợp mọi lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình trong cả nước, đấu tranh chống đế quốc Mỹ

và tay sai

Thực hiện chủ trương của Đảng, từ ngày 5 đến ngày 10-9-1955, tại Hà Nội đã diễn ra Đại hội MTDTTN toàn quốc Tham dự Đại hội có 360 đại biểu, thay mặt các

Trang 39

tầng lớp nhân dân, các chính đảng, các đoàn thể, các dân tộc, các tôn giáo, các hội nghề nghiệp, đại biểu lực lượng vũ trang và kiều bào ở nước ngoài Đại hội quyết định thành lập MTTQVN, “là mặt trận của tất cả những người Việt Nam yêu nước, không phân biệt tôn giáo, chủng tộc, xu hướng chính trị, thành phần xã hội miễn là tán thành hoà bình, thống nhất, độc lập và dân chủ” [123; tr 30]

Đại hội thông qua Tuyên ngôn, Cương lĩnh, Điều lệ và Quyết nghị của Đại hội MTDTTN Việt Nam Cương lĩnh của MTTQVN bao gồm 10 điểm, đề cập đến quyền lợi của các tầng lớp nhân dân, kể cả tầng lớp trên khi thống nhất nước nhà Cương lĩnh nhấn mạnh: Đồng bào toàn quốc, không phân biệt dân tộc, trai gái, nghề nghiệp, giàu nghèo, thành phần xã hội, tín ngưỡng tôn giáo, không phân biệt trước đây đã đứng về phe nào, hãy đoàn kết chặt chẽ để thực hiện sự nghiệp thiêng liêng là xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh

Tại phiên bế mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá cao về ý nghĩa của Cương lĩnh đối với việc xây dựng và phát huy sức ma ̣nh khối đại đoàn kết dân tộc Người khẳng định: “Cương lĩnh này là một Cương lĩnh đại đoàn kết; mục đích của nó là đấu tranh cho hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước Ai cũng nhân thấy rằng, Cương lĩnh của Mặt trận rất vững chắc, rất rộng rãi và rất thiết thực” [137; tr 66]; “Mặt trận đã xây dựng một Cương lĩnh đúng đắn Thế là rất tốt cho cuộc đấu tranh sau này Nhưng đó chỉ

là bước đầu trên con đường đi đến thắng lợi hoàn toàn Từ nay, chúng ta cần phải ra sức đấu tranh để làm cho Cương lĩnh được thực hiện Cuộc đấu tranh này sẽ rất phức tạp, gay

go Chúng ta phải bền gan, quyết chí” [137; tr 67]

Đại hội đã bầu ra UBTƯMTTQVN gồm 81 đại biểu thuộc đủ các chính đảng, đoàn thể nhân dân, tôn giáo, dân tộc Chủ tịch Hồ Chí Minh, người xây dựng và lãnh đạo khối đại đoàn kết toàn dân được bầu làm Chủ tịch danh dự của Mặt trận Hội nghị lần thứ nhất UBTƯMTTQVN (12-9-1955) đã bầu ra Đoàn Chủ tịch gồm 14 đồng chí và Ban Thư ký gồm 7 đồng chí Đồng chí Tôn Đức Thắng được bầu làm Chủ tịch Đoàn Chủ tịch UBTƯMTTQVN

Sự ra đời của MTTQVN và việc công bố bản Cương lĩnh trong hoàn cảnh đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền là một sự kiện chính trị trọng đại và là một thắng lợi lịch sử của nhân dân cả nước Dưới sự lãnh đạo của Đảng,

Trang 40

MTTQVN đã trở thành ngọn cờ công khai đoàn kết, tập hợp nhân dân cả nước và nhân dân tiến bộ trên thế giới, chĩa mũi nhọn, cô lập đế quốc Mỹ, bè lũ tay sai; tạo niềm tin cho đồng bào cả nước tiếp tục tiến lên hoàn thành cuộc CMDTDCND ở miền Nam, tiến tới hoà bình, thống nhất Tổ quốc Sau một thời gian, hơn 30 đảng phái chính trị, đoàn thể và nhiều tổ chức, cá nhân gia nhập Mặt trận, làm cho MTTQVN trở thành tổ chức chính trị rộng lớn và có vị trí quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của toàn dân

Vừa mới ra đời, dưới sự lãnh đạo của Đảng, MTTQVN đã xây dựng, củng

cố và phát triển hệ thống tổ chức của mình (các Ủy ban Mặt trận) từ Trung ương xuống tận cấp xã Ủy ban Mặt trận các cấp tích cực vận động nhân dân thực hiện nhiệm vụ: “Ra sức củng cố miền Bắc, đồng thời giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu

tranh của nhân dân miền Nam” [45; tr 576], vì “miền Bắc là nền tảng, là gốc rễ

lực lượng đấu tranh của nhân dân ta Nền có vững, nhà mới chắc Gốc có mạnh, cây mới chắc” [137; tr 67] Trong sự nghiệp củng cố miền Bắc, Đảng khẳng định lực lượng đoàn kết và đấu tranh của toàn dân là lực lượng quyết định mọi thắng lợi, xác định tăng cường lãnh đạo nhằm củng cố và phát triển khối đại đoàn kết toàn dân Chủ trương của Đảng là phát huy thắng lợi của Đại hội MTDTTNVN (9/1955), thắt chặt hơn nữa sự đoàn kết thống nhất trong toàn dân, phát huy sức mạnh của toàn dân khắc phục mọi khó khăn, kiên quyết xây dựng miền Bắc vững mạnh làm cơ sở cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà

Để củng cố miền Bắc, BCHTƯĐ chỉ rõ: “Trước hết cần cải cách ruộng đất

Vì có đẩy mạnh cải cách ruộng đất, mới đoàn kết được đại đa số nhân dân, củng cố được khối liên minh công nông, củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng; mới có thể khôi phục kinh tế một cách nhanh chóng và có thêm điều kiện tăng cường quân đội nhân dân, củng cố quốc phòng” [43; tr 210] Thực hiện chủ trương của Đảng, từ tháng 10/1954 đến tháng 7/1956, trên phạm vi toàn miền Bắc, Đảng chỉ đạo thực hiện 5 đợt cải cách ruộng đất và 6 đợt giảm tô Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Mặt trận và các đoàn thể thực hiện công tác dân vận nhằm tuyên truyền, vận động đông đảo nhân dân tham gia vào cải cách ruộng đất Vì vậy, cuộc vận động cải cải cách ruộng đất kết hợp với chỉnh đốn tổ chức đã đem lại kết quả to lớn: Trên toàn miền

Ngày đăng: 22/05/2016, 00:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w