1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảng bộ huyện thái thụy (tỉnh thái bình) lãnh đạo kinh tế nông nghiệp từ năm 2000 đến năm 2010

111 364 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 2,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; Nguyễn Tuấn Thành 2009, Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo phát triển nông nghiệp, nông thôn trong những năm 1997 – 2006,

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

TÔ THÚY HẰNG

ĐẢNG BỘ HUYỆN THÁI THỤY (TỈNH THÁI BÌNH)

LÃNH ĐẠO KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

TÔ THÚY HẰNG

ĐẢNG BỘ HUYỆN THÁI THỤY (TỈNH THÁI BÌNH)

LÃNH ĐẠO KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

Trang 3

Lời cam đoan

Luận văn “Đảng bộ huyện Thái Thụy (tỉnh Thái Bình) lãnh đạo kinh

tế nông nghiệp từ năm 2000 đến năm 2010” là công trình nghiên cứu của

riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS Lê Thị Quỳnh Nga

Các số liệu và tài liệu tôi sử dụng trong luận văn là hoàn toàn trung thực

Hà Nội, ngày 10 tháng 04 năm 2015

Tác giả luận văn

Tô Thúy Hằng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn, ngoài sự cố gắng, nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo hết sức nhiệt tình của các thầy cô giáo, bạn bè trong khoa Lịch sử, đặc biệt là TS Lê Thị Quỳnh Nga Nhân đây, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô và các bạn Đồng thời xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến các bác, các cô, chú phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Thái Thụy, Huyện ủy Thái Thụy, trung tâm chính trị huyện Thái Thụy, văn phòng tư liệu khoa Lịch sử, Trung tâm Thư viện Quốc gia – Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện giúp tôi sưu tầm tài liệu trong quá trình thực hiện đề tài Mặc dù đã có sự đầu tư nghiên cứu và làm việc trên cơ

sở tư liệu có độ tin cậy cao, song trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp, chỉ bảo của quý thầy cô! Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 10 tháng 04 năm 2015

Tác giả luận văn

Tô Thúy Hằng

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1 HUYỆN THÁI THỤY VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TRƯỚC NĂM 2000 7

1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Thái Thụy 7 1.2 Thực trạng kinh tế nông nghiệp huyện Thái Thụy trước năm

2000 15 1.2.1 Vài nét về chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp 15 1.2.2 Thực trạng kinh tế nông nghiệp của huyện Thái Thụy trước năm 2000 20 Tiểu kết 24

Chương 2 QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TRONG NHỮNG NĂM 2000 – 2010 25

2.1 Lãnh đạo kinh tế nông nghiệp từ năm 2000 đến năm 2005 25 2.1.1 Chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng bộ tỉnh Thái Bình 25 2.1.2 Chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ huyện Thái Thụy tại Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XII (2000) 31 2.1.3 Quá trình chỉ đạo thực hiện 35 2.2 Đảng bộ huyện Thái Thụy lãnh đạo đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp giai đoạn 2006 – 2010 43 2.2.1 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng bộ tỉnh Thái Bình về phát triển kinh tế nông nghiệp 43 2.2.2 Chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ huyện Thái Thụy tại Đại hội Đảng bộ lần thứ XIII (2005) 49 2.2.3 Quá trình chỉ đạo thực hiện 52 Tiểu kết 63

Trang 6

Chương 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ NHỮNG KINH NGHIỆM LỊCH SỬ 65

3.1 Một vài nhận xét về sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện 65

3.1.1 Đảng bộ huyện đã nhận thức đầy đủ về phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng CNH-HĐH 65

3.1.2 Đảng bộ huyện lãnh đạo thực hiện tốt công tác chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa và từng bước tiếp cận với thị trường 69

3.1.3 Quá trình chỉ đạo bám sát thực tiễn, sáng tạo nhiều giải pháp phù hợp thúc đẩy sự phát triển kinh tế nông nghiệp địa phương 71

3.1.4 Một số hạn chế trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ huyện Thái Thụy 74

3.2 Một số kinh nghiệm lịch sử 77

Tiểu kết 80

KẾT LUẬN 81

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

PHỤ LỤC 92

Trang 7

QUY ƯỚC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Bước sang thế kỷ XXI, xu hướng quốc tế hóa, toàn cầu hóa diễn ra mạnh

mẽ trên toàn thế giới Đây là cơ hội đồng thời cũng là thách thức lớn đối với Việt Nam Trước yêu cầu mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định, muốn đưa kinh tế nước ta tiến lên theo hướng sản xuất hàng hóa, hội nhập kinh tế quốc tế thì phải tiến hành CNH-HĐH đất nước Căn cứ thực tiễn của đất nước, Đảng cũng chỉ rõ muốn tiến hành thắng lợi sự nghiệp CNH-HĐH thì phải thực hiện thắng lợi công cuộc CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn, coi đây là

“nhiệm vụ then chốt, cực kỳ quan trọng cả trước mắt và lâu dài”

Hòa mình vào sự phát triển chung của đất nước, Huyện Thái Thụy – một huyện thuần nông nghiệp của tỉnh Thái Bình, vừa mang trong mình những đặc điểm chung của ngành kinh tế nông nghiệp đất nước, vừa có những đặc điểm riêng đặc trưng cho vùng quê lúa Bắc Bộ Để phát triển kinh tế nông nghiệp của Huyện, Đảng bộ Huyện Thái Thụy đã quán triệt và vận dụng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước vào công tác lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện Quá trình vận dụng, thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng về CNH-HĐH nông nghiệp tại địa phương là một vấn đề cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn lớn Nhất là thời gian từ sau khi thực hiện nội dung CNH-HĐH nông nghiệp đã được đề ra từ Đại hội Đảng lần thứ VIII Việc nghiên cứu kinh tế nông nghiệp Huyện Thái Thụy phần nào làm rõ quá trình nhận thức, vận dụng chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển kinh tế nông nghiệp ở địa phương

Với ý nghĩa đó, tôi chọn vấn đề: “Đảng bộ huyện Thái Thụy (tỉnh Thái Bình) lãnh đạo kinh tế nông nghiệp từ năm 2000 đến năm 2010” làm đề tài

cho Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Kinh tế nông nghiệp luôn thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu liên quan đến kinh tế nông

Trang 9

nghiệp Để đạt được mục tiêu của mình các tác giả đã nghiên cứu, tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau Qua quá trình tìm hiểu, khảo cứu, tôi chia thành hai nhóm sau:

Nhóm 1: Các công trình, bài viết về nông nghiệp, kinh tế nông nghiệp, tiêu biểu như:

Nguyễn Văn Khánh (2001), Biến đổi cơ cấu ruộng đất và nông nghiệp

ở vùng Châu thổ sông Hồng trong thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia,

Hà Nội; Lê Quang Phi (2004), Đẩy mạnh CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn trong thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Hồng Vinh (1998), CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn: một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Xuân Thảo (2004), Góp phần phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Đặng Kim Sơn (2001), CNH từ nông nghiệp: lý luận, thực tiễn và triển vọng

ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội; Tập thể tác giả: Nguyễn Văn Nam, Nguyễn Viết Thông, Đặng Quốc Tuyến, Nguyễn Ngô Hải (2002), CNH – HĐH, nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội; Lê Mạnh Hùng (1998), thực trạng CNH – HĐH nông thôn Việt Nam, Nxb Thống

kê Hà Nội Các công trình này đã cho thấy được tầm quan trọng của kinh tế nông nghiệp trong quá trình phát triển đất nước và nhấn mạnh CNH-HĐH trong nông nghiệp là nhu cầu tất yếu và là nhân tố quyết định đến sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế

Nhóm 2: Các công trình nghiên cứu, bài viết về sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng bộ các cấp, sự quản lý của Nhà nước về sự phát triển của kinh tế nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp:

Đặng Kim Oanh (2011), Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp (1996-2006), Luận án TS Lịch sử Đảng, Trường ĐHKHXH&NV; Đào Thị Vân (2004), Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH giai đoạn 1997-2003,

Trang 10

Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; Nguyễn

Tuấn Thành (2009), Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo phát triển nông nghiệp, nông thôn trong những năm 1997 – 2006, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử

Đảng, Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận Chính trị; Bùi Quang

Thọ (2010), Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo thực hiện CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn từ năm 1995 – 2005, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử Đảng, Học

viện Chính trị - hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh; Nguyễn Thị Năm (2009),

Qúa trình thực hiện đường lối CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn của Đảng ở tỉnh Hà Tây (1996 – 2000), Luận văn Thạc sĩ Lịch sử Đảng, Trường

Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội), Hà Nội;

Tống Văn Chung (2011), Những nhân tố kinh tế xã hội tác động đến sự chuyển cư của cư dân nông thôn trong quá trình CNH, HĐH, Luận án Tiến sĩ

Xã hội học, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia

Hà Nội), Hà Nội…

Những luận văn, luận án trên đã nêu lên được sự lãnh đạo của Đảng đối với việc phát triển kinh tế nông nghiệp ở các địa phương như: Thái Bình, Hà Tây (cũ), Hưng Yên…nhưng chưa có công trình nào đề cập đến sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Thái Thụy (Thái Bình) đối với việc phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2000 đến năm 2010

Mặc dù vậy nhưng tất cả những công trình nghiên cứu trên là nguồn tài liệu tham khảo vô cùng quý báu để phục vụ cho tôi nghiên cứu đề tài

Cho đến nay, công trình viết về tình hình phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Thái Thụy không nhiều, có một số công trình nghiên cứu dưới góc độ

lịch sử như: Lịch sử Đảng bộ huyện Thái Thụy (1927-2005), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội năm 2005; Nguyễn Thị Hằng (2005), Đảng bộ huyện Thái Thụy lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp thời kỳ 1996-2004, Khóa luận

tốt nghiệp Lịch sử Đảng, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội;… Tuy nhiên, các công trình này chỉ đề cập một cách tổng quát về tình

Trang 11

hình phát triển kinh tế nông nghiệp mà chưa đi sâu vào nghiên cứu, phân tích

cụ thể, chi tiết và có hệ thống về sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Thái Thụy phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện từ năm 2000 đến năm 2010

Trên cơ sở tham khảo các công trình nghiên cứu, tôi đã bước đầu hiểu được những chủ trương của Đảng, biết được vai trò của kinh tế nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân cũng như thấy được sự vận dụng các chủ trương

đó của Đảng bộ huyện Thái Thụy trong vấn đề phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện từ năm 2000 đến năm 2010

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

- Làm sáng tỏ sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Thái Thụy trong việc thực hiện phát triển kinh tế nông nghiệp, quá trình nhận thức nghị quyết của Đảng vận dụng vào điều kiện cụ thể của địa phương và đưa ra những chủ trương, đường lối, tổ chức thực hiện theo chủ trương của TW Đảng, Đảng bộ tỉnh Thái Bình

- Đánh giá những thành tựu, hạn chế trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ huyện Đồng thời rút ra một số nhận xét và những bài học kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo sản xuất nông nghiệp từ năm 2001 đến năm 2010

3.2 Nhiệm vụ

- Tập hợp và hệ thống hóa lại các nguồn tư liệu liên quan đến đề tài

- Mô tả một cách khách quan, toàn diện chủ trương, biện pháp và quá trình chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ huyện Thái Thụy trong thời gian từ những năm 2000 đến năm 2010

- Rút ra những nhận xét, đánh giá về thành tựu cũng như hạn chế trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ huyện Thái Thụy trong những năm từ 2000 đến năm 2010 Đồng thời rút ra những kinh nghiệm để phát triển kinh tế nông nghiệp trong những thời kỳ sau

Trang 12

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ huyện Thái Thụy về việc phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện từ năm 2000 đến năm 2010

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về mặt nội dung: Luận văn đi sâu nghiên cứu vai trò của Đảng bộ

huyện Thái Thụy trong quá trình vận dụng sáng tạo chủ trương phát triển ngành kinh tế nông nghiệp vào tình hình cụ thể của địa phương

Trên cơ sở đó, nêu lên những thành tựu đã đạt được, những hạn chế còn gặp phải và bước đầu rút ra những kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng

bộ huyện trong quá trình chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp

Về thời gian: Luận văn nghiên cứu từ năm 2000 đến năm 2010 Sỡ dĩ,

tôi lấy mốc thời gian trên là vì: Năm 2000 là Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XII đã đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XI và đề ra phương hướng “… đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH, bảo đảm tốc độ tăng trưởng gấp 1,5 lần nhiệm kỳ vừa qua”, còn năm 2010 là năm diễn ra Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVI, đai hội đánh giá tình hình và đề ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển KT-XH trong 5 năm tiếp theo

Về không gian: Luận văn tiến hành nghiên cứu trên địa bàn huyện

Thái Thụy

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tư liệu

Nguồn tư liệu phục vụ cho việc nghiên cứu bao gồm:

+ Các văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng, các Nghị quyết của Hội nghị TW Chỉ thị của Bộ chính trị, các văn bản pháp luật của nhà nước có liên quan đến kinh tế nông nghiệp

+ Các Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Bình, các quyết định của UNND tỉnh

Trang 13

+ Nghị quyết cấp ủy, thường trực UBND, báo cáo, đề án sản xuất, số liệu thống kê của Huyện ủy, phòng NN &PTNT huyện Thái Thụy, niên giám thống kê huyện từ năm 2000 đến năm 2010

+ Một số bài viết về kinh tế nông nghiệp tỉnh Thái Bình, huyện Thái Thụy

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành Luận văn, tác giả đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau: Phương pháp nghiên cứu lịch sử; phương pháp phân tích, đối chiếu, so sánh, tổng hợp, thống kê, lập bảng biểu, khảo sát thực tế kết hợp với phương pháp logic để làm sáng tỏ vấn đề có tính chất quy luật trong

sự vận động và phát triển của quá trình nhận thức của Đảng bộ huyện nhằm tìm ra mối quan hệ giữa các sự kiện liên quan đến sự lãnh đạo của Đảng bộ, các hoạt động của quần chúng nhân dân, mối quan hệ nhân quả, rút ra những kinh nghiệm lịch sử

6 Đóng góp của luận văn

Thông qua quá trình nghiên cứu, luận văn góp phần làm sáng tỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, đặc biệt là Đảng bộ cơ sở trong phát triển kinh tế nông nghiệp Từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm nâng cao hơn nữa vai trò của Đảng bộ Thái Thụy đối với nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế địa phương

Luận văn sẽ là nguồn tài liệu tham khảo khi nghiên cứu về lịch sử Đảng

bộ địa phương

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được bố cục làm 3 chương:

Chương 1: Huyện Thái Thụy và một số vấn đề về kinh tế nông nghiệp trước năm 2000

Chương 2: Quá trình lãnh đạo kinh tế nông nghiệp trong những năm 2000 – 2010

Chương 3: Một số nhận xét và những kinh nghiệm lịch sử

Trang 14

Chương 1 HUYỆN THÁI THỤY VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN

KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TRƯỚC NĂM 2000

1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Thái Thụy

Điều kiện tự nhiên

Thái Thụy, một huyện ven biển của tỉnh Thái Bình, Thái Thụy không chỉ biết đến bởi những đặc sản của vùng biển mà còn được nhắc đến với 2 từ

thân thuộc “quê lúa” Trong chiến tranh, huyện Thái Thụy đã làm tốt vai trò

của hậu phương lớn, chi viện cho chiến trường miền Nam Đạt thành tích cao trong sản xuất nông nghiệp không những trong thời chiến, mà thời bình, huyện Thái Thụy còn tiếp tục phát huy truyền thống quê lúa, đạt nhiều thành tựu trong ngành sản xuất này

Thái Thụy là huyện đồng bằng ven biển nằm ở vị trí Đông Bắc tỉnh Thái Bình, có tọa độ địa lý từ 20027’ độ vĩ Bắc, 106025’-106050’ độ kinh đông Phía Đông giáp biển Đông, phía Nam và Đông Nam giáp huyện Tiền Hải, phía Tây Nam giáp huyện Kiến Xương, phía Tây giáp huyện Đông Hưng (Thái Bình), phía Tây Bắc giáp huyện Quỳnh Phụ Về phía Bắc, Thái Thụy giáp với các huyện của thành phố Hải Phòng là: huyện Vĩnh Bảo ở phía chính Bắc (ranh giới là sông Hóa), huyện Tiên Lãng ở phía Đông Bắc (ranh giới là

đoạn cửa Thái Bình của sông Thái Bình) Phía Nam huyện có sông Trà Lý

chảy men theo ranh giới với huyện Tiền Hải, đổ ra cửa Trà Lý Chính giữa

huyện có con sông Diêm Hộ chảy qua theo hướng Tây - Đông, đổ ra cửa Diêm Hộ, chia huyện thành hai nửa gần tương đương về diện tích

Diện tích tự nhiên của huyện là 256,83km², bao gồm 47 xã và 1 thị trấn Trung tâm của huyện là thị trấn Diêm Điền, Huyện có cảng Diêm Điền mở ra biển Đông, hướng về miền Nam Trung Quốc và các nước Đông Nam Á

Trang 15

Với vị trí địa lý thuận lợi, hệ thống giao thông thủy bộ phát triển tạo điều kiện cho huyện giao lưu, thông thương, trao đổi hàng hóa, thông tin kỹ thuật, tiếp thu thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, có khả năng thu hút

Trang 16

vốn đầu tư của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho sự phát triển kinh tế xã hội, phát triển nền kinh tế đa dạng và có sự kết hợp lẫn nhau

Nằm trong vùng đồng bằng châu thổ được bồi đắp bởi phù sa của 2 con sông lớn là sông: Thái Bình và Trà Lý, địa hình Thái Thụy có xu thế cao dần về phía biển Giữa lưu vực có vùng trũng tập trung là Thái Hồng – Đồng 80 và rải rác những vùng đất bám hai bên sông Sinh, sông Phong Lẫm, sông Bà Đa (cao

độ 0,3-0,5m) Trên dải đất dọc 27km bờ biển có vùng cao điển hình: Thụy Trường, Thụy Xuân, Thụy Hải, Thái Thượng, Thái Hòa, Thái Đô, Mỹ Lộc đặc biệt là vùng Bích Du, Sơn Thọ (cao độ 1,5-2m) đây là những vùng đất cát pha bạc màu, dinh dưỡng kém, độ chua mặn cao Những vùng còn lại có địa hình tương đối bằng phẳng (cao độ 1-1,2m) rất thuận lợi cho canh tác nông nghiệp

Đất ở đây chủ yếu là đất phù sa màu mỡ, phân bố trên địa hình khá bằng phẳng, thích hợp với việc trồng lúa nước, cây hoa màu, cây công nghiệp, cho năng suất cao, có khả năng thâm canh, tăng vụ Huyện có diện tích đất tự nhiên rộng song lại có đặc điểm đất đai rất phức tạp và khó khăn hơn các huyện nội đồng Đất chua mặn nhiều, có thể chia ra thành 3 miền khác nhau: khoảng 40% diện tích đất vùng ngọt, 35% diện tích đất vùng đệm, 25% diện tích đất phèn mặn Địa hình đất đai cao trũng khác nhau có độ chênh lệch lớn, nên công tác thủy lợi tưới tiêu khó khăn Sự khác biệt về chất đất của huyện, không những là khó khăn, thử thách lớn đối với sản xuất nông nghiệp mà trái lại, huyện đã biến những khó khăn đó thành động lực, phát triển ngành nông nghiệp đa dạng với nhiều lĩnh vực, cây trồng, con vật nuôi mà không chỉ đơn thuần là sản xuất lúa Do vậy công tác khai phá và cải tạo vùng đất này để phục vụ sản xuất nông nghiệp luôn là một yêu cầu cấp thiết, vô cùng quan trọng tới sự phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện

Với kiểu khí hậu đặc trưng của vùng nhiệt đới ven biền Bắc bộ, chịu ảnh hưởng của gió mùa Nhiệt độ Trung bình trong năm từ 22 – 240C, có 2

mùa rõ rệt: mùa nóng (tháng 4- tháng 10) nhiệt độ trung bình 260C, mùa lạnh

(tháng 11 – đến tháng 4 năm sau), nhiệt độ trung bình 210C

Trang 17

Giờ nắng trung bình 1500 – 1800 giờ, tổng nhiệt lượng cả năm khoảng

1600 – 1800 KCL/cm3/năm Độ ẩm trung bình 86-87%

Lượng mưa trung bình 1788mm/năm, số ngày mưa trung bình 150

ngày/năm Lượng mưa tập trung chủ yếu vào mùa hè (tháng 5- tháng 10), chiếm 80% lượng mưa cả năm; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, trong đó tháng 2 và tháng 3 là thời kỳ mưa phùn ẩm ướt

Gió thịnh hành ở đây là gió Đông Nam thổi từ tháng 4 đến tháng 9,

mang theo không khí nóng, ẩm; gió Bắc thổi từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau mang theo không khí lạnh

Mùa đông, hiện tượng sương mù, sương muối, thời tiết thất thường gây tác hại xấu tới sản xuất nông nghiệp của huyện

Tuy nhiên, hàng năm phải chịu ảnh hưởng từ 4 - 6 trận bão và áp thấp nhiệt đới

Nhìn chung, sự phân hóa khí hậu theo mùa đã tạo cho huyện có một nền sản xuất nông nghiệp phong phú, đa dạng về cây trồng, vật nuôi và mùa

vụ, tạo điều kiện cho cây trồng, con vật nuôi phát triển tốt

Bên cạnh đó, huyện còn có hệ thống sông ngòi chằng chịt với 3 con sông chính là: Sông Hóa, sông Diêm Hộ và sông Trà Lý Sông Hoá chảy qua phía Bắc của huyện, là ranh giới tự nhiên giữa huyện Thái Thụy và huyện Vĩnh Bảo - Hải Phòng đổ ra biển Ở cửa Thái Bình Sông Diêm Hộ chảy từ Tây sang Đông chia huyện thành 2 khu: Khu bắc và khu Nam, đổ ra biển ở cửa Diêm Điền Sông Trà Lý là chi lưu của sông Hồng, chạy qua phần phía Nam huyện, phân định ranh giới giữa huyện Thái Thụy với huyện Tiền Hải và Kiến Xương, đổ ra biển ở cửa Trà Lý Ngoài ra huyện còn có các con sông nhỏ như sông Hoàng Nguyên, sông chợ Cổng, sông Cái, sông Sinh… và hệ thống kênh mương thủy lợi dày đặc

Các hệ thống sông này có nước chảy quanh năm, rất thuận lợi cho nguồn nước tưới và thau chua rửa mặn cho các cánh đồng trong huyện, tiêu nước trong mùa mưa, tạo thuận lợi phát triển nông nghiệp Mặt khác, lượng

Trang 18

phù sa đổ ra biển hàng năm ở cửa sông tạo ra bãi bồi rộng lớn ven biển là thế mạnh cho phát triển nông-lâm-ngư nghiệp Diện tích mặt nước ở ao, hồ, sông

là nơi nuôi trồng thủy hải sản

Như vậy, có thể nói Thái Thụy là huyện có điều kiện tự nhiên khá điển hình và thuận lợi cho việc phát triển kinh tế nông nghiệp Tuy nhiên do có sự phân hóa về khí hậu và chế độ thủy văn theo mùa đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống và sản xuất kinh tế nông nghiệp của nhân dân địa phương Mùa

hè lượng mưa lớn, mực nước các sông lên cao trong khi các cửa sông đổ ra biển có độ dốc nhỏ, nước tiêu chậm, gây úng lụt cục bộ ở một số diện tích canh tác ở ngoài đê Ảnh hưởng của nhiều trận bão trong năm gây thiệt hại đến đời sống, sản xuất Mùa đông, lượng mưa ít, mực nước sông thấp, nước mặn theo thủy triều xâm lấn vào sâu trong nội địa gây ra tình trạng nhiễm mặn, khó khăn cho việc canh tác, sản xuất nông nghiệp Do đó, Đảng bộ và các cấp lãnh đạo trong huyện cần có những chủ trương, chính sách và có những biện pháp cụ thể, hữu hiệu để khai thác tốt các điều kiện tự nhiên phục

vụ đời sống sản xuất của nhân dân

Bên cạnh những tiềm năng về điều kiện tự nhiên, Thái Thụy còn là huyện có nguồn tài nguyên phong phú của vùng biển như:

Thái Thụy có 1.552,3 ha rừng ngập mặn, tập trung ở các xã ven biển, rừng ở đây chủ yếu là rừng phi lao có tác dụng lớn trong phòng hộ đê biển, điều hoà khí hậu, thuận lợi cho việc lắng đọng phù sa và có giá trị lớn về cảnh quan môi trường, bảo tồn hệ sinh thái ngập nước ven biển Đây là nơi thích hợp cho việc nuôi ong, nuôi trồng thủy hải sản và cũng là nơi có ý nghĩa quan trọng về mặt quốc phòng, an ninh

Không những thế, với đường bờ biển dài 27km và hàng chục nghìn km2lãnh hải, có 3 cửa sông lớn hàng năm đổ ra biển một lượng phù sa lớn Vùng biển Thái Thụy có một tiềm năng hải sản phong phú Theo số liệu điều tra của Viện nghiên cứu Hải sản 1, trong vùng biển Thái Thụy có ít nhất 46 loài cá có giá trị kinh tế cao, 10 loài tôm, 5 loài mực, vv Bãi biển ven cửa sông lớn, vùng nước lợ trong đê có nhiều loài hải sản có giá trị kinh tế cao như: tôm, cua,

Trang 19

cá, rong câu, đang được quan tâm phát triển Tài nguyên biển có ý nghĩa rất lớn trong việc phát triển kinh tế xã hội của huyện vì vậy cần có chính sách đầu

tư, sử dụng, khai thác hợp lý và có hiệu quả nguồn tài nguyên này

Ngoài ra, ở huyện còn có mỏ dầu khí, hiện đang được thăm dò và khai thác tại xã Thụy Xuân, Thụy Trường; huyện cũng đang đầu tư xây dựng nhà máy nhiệt điện lớn nhất miền bắc đó là nhà máy nhiệt điện Mỹ Lộc (đặt tại xã

Mỹ Lộc), xây dựng cảng Trà lý để mở rộng giao lưu và buôn bán Bên cạnh

đó huyện còn có khu rừng sinh thái ngập mặn ven biển ở xã Thái Đô – Thái Thượng đây được coi là khu dự trữ sinh quyển thế giới là điều kiện vô cùng thuận lợi để huyện phát triển ngành du lịch

Là huyện có nhiều điều kiện thuận lợi về điều kiên tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, đây là ưu đãi, đồng thời cũng là thế mạnh để huyện phát triển nền kinh tế nói chung và phát triển kinh tế nông nghiệp nói riêng, tuy vậy cũng có không ít khó khăn và thách thức đòi hỏi huyện cần có những chủ trương, biện pháp thích hợp để phát huy tối đa mọi nguồn lực phát triển kinh

tế của huyện

Điều kiện kinh tế - xã hội

Thái Thụy – một địa danh lịch sử đã có từ lâu đời, gắn liền với lịch sử của đất nước, để có tên gọi Thái Thụy ngày hôm nay là cả một quá trình thay đổi về tên tuổi và địa giới hành chính qua các triều đại trong lịch sử Từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công do yêu cầu xây dựng địa bàn hành chính cho phù hợp với sự chỉ đạo chung của nhà nước, từ năm 1946 đến trước năm 1969, huyện đã nhiều lần thay đổi về địa giới Đến cuối năm 1969 huyện Thái Thụy đã ra đời trên cơ sở sự sáp nhập hai huyện Thái Ninh và Thụy Anh

Thái Thụy là miền đất giàu truyền thống yêu nước, trong 2 cuộc kháng chiến vĩ đại, Thái Thụy là hậu phương lớn, chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến với khẩu hiệu “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”… Là quê hương anh hùng cách mạng như Nguyễn Đức Cảnh, Tạ Quốc Luật, Bùi Quang Thận, Nguyễn Bá Lại… Nơi đây còn được biết đến

Trang 20

với truyền thống học hành khoa bảng đáng tự hào như: Phạm Công Thế (Phúc Khê – Thái Phúc ngày nay) là người khai khoa đầu tiên, đỗ tiến sĩ khoa Đinh Mùi đời Lê Dụ Tông; 2 anh em họ Quách (Phúc Khê – Thái Phúc) được xếp vào hạng 2 trong 18 người phò tá có công lao tài đức thời Lê Sơ…

Dân số và nguồn nhân lực

Thái Thụy là huyện đồng bằng ven biển cư dân sống tập trung trong huyện ngày một đông Theo kết quả điều tra năm 2010, dân số trên toàn huyện Thái Thụy có 274.054 người Mật độ trung bình là 1065 người/km2 Số

hộ trên địa bàn là 73.206 hộ Tỷ lệ sinh những năm gần đây bình quân 1,23%

Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên là 0,65% Số người trong độ tuổi lao động khoảng 125.000 người, trong đó lao động nông – lâm – ngư nghiệp chiếm trên 70% dân số của huyện [23; 1] Với nguồn lao động dồi dào, dân số trẻ, đây là những lợi thế lớn về nguồn nhân lực cho phát triển của huyện

Người dân Thái Thụy cần cù, chịu khó có kinh nghiệm trong thâm canh, tăng vụ lại năng động, sáng tạo, có khả năng tiếp thu và mạnh dạn áp dụng KH-KT vào sản xuất nông nghiệp Đây là điều kiện thuận lợi để huyện phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng CNH-HĐH Tuy nhiên, nguồn lao động còn nhiều hạn chế, chủ yếu là lao động phổ thông, trình độ thấp, phân công lao động giữa các ngành, các địa phương không hợp lý; mặt khác do tính chất thời vụ trong sản xuất nông nghiệp nên tình trạng thiếu việc làm là một sức ép lớn Do vậy trong tương lai, để đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn thì việc đào tạo, nâng cao chất lượng lao động, phân bố lại lao động là điều cần thiết

Là huyện “đất chật người đông” cũng là một sức ép lớn đới với sản xuất

nông nghiệp, diện tích đất theo đầu người thấp Các ngành kinh tế khác còn kém phát triển, quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh dẫn đến đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp, gây khó khăn trong giải quyết việc làm, do nhu cầu về việc làm của người lao động ngày càng tăng dẫn đến lao động đi làm việc tự do ở các tỉnh ngày càng nhiều Do vậy, vấn đề đặt ra làm thế nào để tăng năng suất, sản

Trang 21

lượng lương thực, giải quyết việc làm cho người lao động là điều cấp thiết, đòi hỏi Đảng bộ huyện phải có chủ trương, giải pháp đúng đắn, phù hợp để lãnh đạo phát triển kinh tế cũng như kinh tế ngành nông nghiệp của huyện ngày càng phát triển

Hệ thống thủy lợi là công tác rất quan trọng trong quá trình sản xuất, cải tạo đất đai của huyện Đến nay huyện đã có hệ thống kênh mương khá hoàn chỉnh, chủ động tiêu nước cho hơn 25.000 ha đất tự nhiên, tưới tiêu chủ động cho hơn 19.000 ha đất canh tác, thau chua rửa mặn cho 4000 ha Sông trục chính của huyện là 150km, kênh cấp I: 374km, kênh cấp II: 456km, kênh cấp III; 808 km; toàn huyện có 228 trạm bơm, kênh tưới tổng chiều dài 612,516 km, đã kiên cố được 98,430 km Sông dẫn nội đồng có tổng chiều dài

là 678 km; cầu giao thông nội đồng, tổng số cầu là 508 cái; cống nội đồng có tổng số là 1.011 cái; đường giao thông nội đồng có tổng chiều dài là 740 km,

đã cứng hóa được 70 km

Hệ thống thông tin liên lạc tương đối hoàn chỉnh, từng bước được nâng cấp Hệ thống các đài phát thanh huyện, xã, thôn đảm bảo cung cấp đầy đủ

Trang 22

những thông tin về tình hình, diễn biến của sản xuất nông nghiệp đến với nhân dân Mạng lưới điện được hoàn chỉnh, cung cấp điện sinh hoạt, điện cho sản xuất đến tất cả các xã, thôn, xóm trong huyện…

Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất ngày càng hoàn thiện là một điều kiện

vô cùng thuận lợi để huyện tập trung phát triển kinh tế nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng

Như vậy, tiềm năng và thế mạnh để huyện phát triển sản xuất nông nghiệp là rất lớn Đó là tiền đề quan trọng để huyện chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH-HĐH nhưng cũng gây ra những khó khăn, trở ngại, ảnh hưởng tới sản xuất Do vậy vấn đề đặt ra là huyện phải có những chủ trương, biện pháp phù hợp với tình hình của huyện để lãnh đạo phát kinh tế nông nghiệp theo hướng CNH-HĐH, gắn với nền kinh tế thị trường, đưa huyện trở thành huyện “gương mẫu về mọi mặt”

1.2 Thực trạng kinh tế nông nghiệp huyện Thái Thụy trước năm 2000

1.2.1 Vài nét về chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp

* Chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng Cộng sản Việt Nam

Đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, nước ta lâm vào cuộc khủng hoảng

KT-XH trầm trọng Tháng 12/1986, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã được triệu tập, Đại hội đã chỉ ra những sai lầm, thiếu sót và đưa ra đường lối đổi mới toàn diện nền kinh tế, trong đó có kinh tế nông nghiệp Với những chủ trương mới trong sản xuất nông nghiệp vào đầu năm 1988, Quốc hội thông

qua Luật đất đai, đánh dấu một bước phát triển mới trong sản xuất nông

nghiệp: Nhà nước đã giao quyền sử dụng đất ổn định, lâu dài cho các hộ xã viên, cho phép các hộ xã viên có thể chuyển nhượng sang bán thành quả lao động và kết quả đầu tư trên mảnh đất đã giao khoán; nghiêm cấm việc mua bán ruộng đất trái phép

Trang 23

Ngày 5/4/1988, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 10 “về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp” với nội dung sắp xếp và tổ chức hoạt động sản xuất nông nghiệp, củng cố và mở rộng quan hệ sản xuất CNXH, sử dụng đúng đắn các thành phần kinh tế Chỉ thị này đã đánh dấu bước ngoặt cho sự phát triển kinh tế nông nghiệp

Vào tháng 6/1991, Đại hội đại biểu toàn quốc được triệu tập Trong Đại hội, Đảng chủ trương tiếp tục xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, tiếp tục đổi mới kinh tế và khẳng định vai trò của ban quản trị HTX trong việc quản lý, điều hành sản xuất và tổ chức dịch vụ Tháng 6/1993, Hội nghị lần 5 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII), đã ra Nghị

quyết về “Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế xã hội nông thôn” Trung

ương đã đánh giá thực trạng nông nghiệp nước ta, xác định mục tiêu, quan điểm đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn nước ta từ năm 1993 đến năm 2000 Trên cơ sở đó, đề ra phương hướng và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội nông thôn dựa trên những quan điểm chủ yếu là: Đổi mới cơ

cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng coi trọng đúng mức sản xuất lương thực,

tăng nhanh sản lượng, năng suất, nâng cao chất lượng sản xuất và chế biến lương thực Tăng tỷ trọng chăn nuôi trong giá trị sản phẩm nông nghiệp Thâm canh mở rộng diện tích một số cây công nghiệp, mở rộng phát triển cây

ăn quả và xây dựng thủy sản thành ngành kinh tế mũi nhọn,… Thực hiện chính sách giao quyền tự chủ ruộng đất cho nông dân

Tháng 6-1996, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII đã họp và đánh giá khái quát những thành tựu của 10 năm đổi mới: “…thế và lực của đất nước đã có sự biến đổi rõ rệt về chất Nước ta đã thoát khỏi cuộc khủng hoàng KT-XH nghiêm trọng và kéo dài hơn 15 năm, tuy còn một số mặt chưa vững chắc xong đã tạo tiền đề cần thiết để chuyển sang thời kỳ phát triển mới: đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước” [39; 12]

Đại hội VIII cũng đề ra nội dung cơ bản của CNH – HĐH trong những năm còn lại của thập kỷ 90 là: “Đặc biệt coi trọng CNH – HĐH nông nghiệp

và nông thôn, phát triển toàn diện nông – lâm – ngư nghiệp gắn với công

Trang 24

nghiệp chế biến nông – lâm – thủy sản; phát triển hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu” [39; 86] Đại hội cũng chỉ rõ: Phát triển toàn diện nông – lâm – ngư nghiệp, hình thành các vùng tập trung chuyên canh, có cơ cấu hợp lý về cây trồng, vật nuôi, có sản phẩm hàng hóa nhiều về số lượng, tốt về chất lượng, đảm bảo an toàn về lương thực trong xã hội, đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp chế biến và của thị trường trong và ngoài nước Đảng đã đưa ra

phương hướng phát triển kinh tế nông nghiệp của 5 năm 1996 - 2000 là “phát triển nông nghiệp toàn diện hướng vào bảo đảm an toàn lương thực quốc gia trong mọi tình huống… Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn có hiệu quả Trên cơ sở bảo đảm vững chắc nhu cầu lương thực, chủ yếu

là lúa, mở rộng diện tích trồng cây công nghiệp, cây ăn quả tăng nhanh đàn gia súc, gia cầm, phát triển kinh tế biển,…., tăng nhanh sản lượng hàng hóa gắn với công nghiệp chế biến và xuất khẩu, mở rộng thị trường nông thôn, tăng thu nhập của nông dân Đẩy mạnh việc xây dựng, nâng cấp kết cấu hạ tầng KT-XH” [39; 174-175]

Ngày 17/10/1998, Hội nghị TW 6 (lần 1) khóa VIII đã họp bàn về:

Nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 1999 và vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn Hội nghị đã khẳng định: “Tập trung cao hơn nữa sức cho nhiệm vụ phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng CNH – HĐH, làm cơ sở chắc cho sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội trong mọi tình huống, ưu tiên phát triển phục vụ nông nghiệp, điều chỉnh cơ cấu, đổi mới cơ chế các ngành nông nghiệp nhằm tháo gỡ khó khăn, tăng nhanh khả năng cạnh tranh của sản phẩm” [42; 4]

Ngày 10/11/1998, Bộ Chính trị khóa VIII đã ra Nghị quyết số

06-NQ/TW “Về một số vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn” Nghị quyết

đã nêu rõ quan điểm của Đảng về phát triển nông thôn trong giai đoạn mới là: Coi trọng thực hiện CNH – HĐH trong phát triển nông nghiệp, đưa nông nghiệp và kinh tế nông thôn lên sản xuất lớn là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng trước mắt và lâu dài, là cơ sở để ổn định tình hình kinh tế, chính trị xã hội,

Trang 25

củng cố liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức, đẩy mạnh CNH – HĐH đất nước theo định hướng XHCN

Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, gắn phát triển nông nghiệp với công nghiệp chế biến, gắn sản xuất với thị trường để hình thành sự liên kết nông – công nghiệp – dịch vụ và thị trường ngay trên địa bàn nông thôn và trên phạm vi cả nước; gắn phát triển nông nghiệp với xây dựng nông thôn mới; gắn công nghiệp hóa với thực hiện dân chủ hóa và nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực ở nông thôn

Phát huy lợi thế của từng vùng và cả nước, áp dụng nhanh các tiến bộ khoa học công nghệ để phát triển nông nghiệp hàng hóa đa dạng, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu nông sản thực phẩm và nguyên liệu công nghiệp, hướng mạnh về xuất khẩu” [43; 2-3] Nghị quyết cũng nêu rõ: phát triển nông nghiệp với nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế HTX dần dần trở thành nền tảng Tiếp tục phát triển hình thức kinh tế HTX, các loại hình HTX, từng bước xây dựng HTX nông nghiệp

Ngày 15/6/2000, Chính phủ ban hành Nghị quyết 09/2000/NQ-CP “về một số chủ trương và chính sách về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp” nhằm phát huy lợi thế to lớn của nền nông nghiệp nước ta

về tiềm năng thiên nhiên, truyền thống làm nông nghiệp từ lâu đời và thực hiện mục tiêu xây dựng một nền nông nghiệp mạnh, phát triển bền vững, áp dụng công nghệ mới, từng bước HĐH, vươn lên trở thành một nền nông nghiệp với những ngành sản xuất hàng hóa lớn Nghị quyết đã thể hiện sự đổi mới tư duy theo hướng sản xuất hàng hóa, lấy hiệu quả làm mục tiêu, khác hẳn với tư duy

tự túc lương thực bằng mọi giá, kể cả cấm chuyển đất lúa sang trồng các loại cây khác hoặc chạy theo năng suất cao, sản lượng nhiều mà không quan tâm đến chất lượng, giá cả nông sản và sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế

* Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Thái Bình

Quán triệt chủ trương của TW Đảng, với mong muốn sớm đưa Thái Bình thoát khỏi khủng hoảng Nghị quyết Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII (10/1986)

Trang 26

đã đưa ra 4 nội dung, chương trình KT-XH cho 5 năm 1986-1900: LTTP, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, dân số và lao động Tỉnh ủy đã ra Nghị quyết

số 10 (1/9/1988): “Tiếp tục đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế trong nông nghiệp” nhằm thúc đẩy kinh tế nông nghiệp phát triển

Theo tinh thần Nghị quyết của TW Đảng, Đảng bộ tỉnh Thái Bình đã ra Nghị quyết Đảng bộ tỉnh lần XIV (10/1991), đề ra những chủ trương, phương hướng, xác định rõ mục tiêu, đề ra những giải pháp để thực hiện phát triển kinh tế nông nghiệp trong những năm 1991 – 1995, Đại hội đã xác định:

“…Tập trung sức phát triển nhanh nền kinh tế hàng hóa, trọng tâm là sản xuất nông nghiệp…” [44; 16]

Xác định sản xuất nông nghiệp là trọng tâm, Đảng bộ tỉnh đã đề ra phương hướng cơ bản của sản xuất nông nghiệp trong tỉnh trong 5 năm

(1991-1995): “Tiếp tục coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu; tập trung sức chuyển sang sản xuất hàng hóa, lấy nhu cầu thị trường, hiệu quả kinh tế - xã hội làm tiêu chuẩn và căn cứ để bố trí cây trồng, vật nuôi, nhằm đạt giá trị cao nhất trên một đơn vị diện tích Phấn đấu thực hiện 3 nhiệm vụ chủ yếu: đảm bảo ổn định các nhu cầu về lương thực, thực phẩm cho nhân dân trong tỉnh; hoàn thành các nghĩa vụ với nhà nước; đáp ứng nguyên liệu cho công nghiệp, tiểu, thủ công nghiệp địa phương, tăng nhanh khối lượng hàng hóa nông sản, thực phẩm xuất khẩu, trên cơ sở đó giải quyết đồng bộ vấn đề nông dân và nông thôn” [44; 17] Để thực hiện thành công phương hướng đặt ra

Tỉnh ủy đã ra Thông báo số 07 “Về hoàn thành giao ruộng đất”; Nghị quyết

số 06 “về chuyển dịch cơ cấu kinh tế”; Nghị quyết số 05 “về xóa đói giảm nghèo” Chủ trương của Đảng bộ tỉnh đặt ra đã được triển khai thực hiện đến tất cả các địa phương trong toàn tỉnh và đã đạt được nhiều thành tựu khích lệ

Tháng 4/1996, Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Thái Bình lần thứ XV đã được triệu tập Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của TW và của Đảng bộ, Tỉnh ủy

đã tập trung lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH-HĐH: “Tiếp tục phát triển nông, lâm, ngư nghiệp toàn diện,

Trang 27

chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa, từng bước CNH nông nghiệp và kinh tế nông thôn” [45; 18]

Những chủ trương của TW Đảng và Tỉnh ủy Thái Bình về phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn trên đây đã tạo điều kiện cho các địa phương

có hướng đi trong sản xuất nông nghiệp, yên tâm đầu tư phát triển sản xuất hàng hóa Đây là cơ sở quan trọng để Đảng bộ huyện Thái Thụy vận dụng vào thực tiễn phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện, nhằm phát huy tiềm năng của huyện thuần nông, đồng thời khắc phục những yếu kém trong sản xuất nông nghiệp

1.2.2 Thực trạng kinh tế nông nghiệp của huyện Thái Thụy trước năm 2000

Chủ trương của Đảng bộ huyện Thái Thụy về phát triển kinh tế nông nghiệp

Tháng 8/1996 Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XI đã họp và đánh giá khái quát tình hình sản xuất nông nghiệp trong 5 năm 1991-1995: “Sản xuất nông nghiệp phát triển với tốc độ tăng nhanh toàn diện cả trồng trọt

và chăn nuôi, cả chỉ tiêu sản lượng và giá trị sản lượng Do tập trung thâm canh và chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng lấy giá trị sản lượng và hiệu quả kinh tế làm mục tiêu Bước đầu phá thế độc canh cây lúa, đa dạng hóa sản phẩm và từng bước hình thành vùng sản xuất hàng hóa ở nông thôn” [10; 1] Đây chính là cơ sở để tiếp tục đẩy mạnh CNH-HĐH nông nghiệp trong 5 năm tiếp theo

Trong Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Bình lần thứ XV, Đảng bộ huyện Thái Thụy đã đưa ra chủ trương, giải pháp phát triển kinh tế nông nghiệp trong 5 năm 1996-2000

Đại hội đã xác định phương hướng, mục tiêu trong 5 năm 1996-2000

đó là: “Tập trung sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp, các ngành, phát huy sức mạnh các thành phần kinh tế nhằm khai thác triệt để và theo chiều sâu các nguồn lực, tiềm năng của huyện nhà Hướng tập trung là tiếp tục chuyển đổi

Trang 28

cơ cấu kinh tế nông thôn, nông nghiệp để đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, chống tụt hậu về kinh tế, tạo điều kiện giải quyết tốt những vấn đề cấp bách” [10; 17]

Đảng bộ huyện đã chỉ rõ mục tiêu phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện trong 5 năm (1996-2000) là: “Nông nghiệp đạt 620 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng hàng năm 7,5%, chiếm tỷ trọng 50%; năng suất lúa ổn định 10-11 tấn/ha Sản lượng lương thực quy thóc 160-165 ngàn tấn Bình quân lương thực đầu người trên 530 kg/người/năm [10; 17] Những mục tiêu này là cần thiết, phù hợp với thực tiễn, khả năng của huyện Để đạt được mục tiêu đã đề

ra, Đảng bộ huyện đã đưa ra những nhiệm vụ và giải pháp cụ thể để phát triển kinh tế nông nghiệp huyện nhà trong 5 năm (1996-2000)

Thực hiện Nghị quyết của Đảng bộ huyện lần thứ XI, kinh tế nông nghiệp đạt kết quả như sau:

Giai đoạn 1991 - 1995

Tính đến năm 1995, tổng giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 456 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng hàng năm từ 8-14% Giá trị sản lượng/ha canh tác đạt 20 triệu đồng Bình quân giá trị sản lượng nông nghiệp/ khẩu đạt 1,6 triệu đồng [10; 2] Các chỉ tiêu đều đạt và vượt mức Đại hội X đề ra

Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng đã tạo ra các vùng chuyên canh cho khối lượng sản phẩm lớn Toàn huyện đã chuyển 148 ha vùng úng, trũng cấy lúa bấp bênh sang trồng lúa và thả cá, cho thu nhập cao gấp 2-4 lần so với cấy lúa Vùng cát cao đã từng bước thu hẹp diện tích cấy lúa kém hiệu quả sang trồng cây lương thực, cây thực phẩm có thu nhập tăng 1,4 lần Khu vực đất mặn cấy lúa kém hiệu quả đã chuyển được 138 ha sang trồng cói, nuôi hải sản đạt năng xuất cao hơn Cơ cấu vụ đông từng bước thay đổi, huyện đã mạnh dạn đưa vào sản xuất một số loại cây có giá trị xuất khẩu cao như dưa chuột, sa lát…

Cải tạo được 1.050 ha vườn tạp, chiếm 75% diện tích, trồng mới hàng chục vạn cây hòe, cây mây, cây ăn quả Sản lượng hòe thu được đạt 200 tấn, gấp 2 lần năm 1990

Trang 29

Ngành chăn nuôi có bước phát triển mới, tỷ trọng giá trị sản lượng chiếm 23,9% Nhiều vật nuôi mới có giá trị cao được đưa vào sản xuất như:

Bò lai sin, vịt siêu trứng, lợn hướng lạc, con đặc sản… Năm 1995, tổng đàn lợn đạt 79.000 con, sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 70.000 tấn/ năm; tổng đàn trâu bò 10.011 con (tăng 1.039 con so với năm 1990); đàn gia cầm 75.800 con trong đó đàn vịt đẻ có 46.000 con (tăng 28.000 con so với năm 1990), sản lượng trứng trên 6 triệu quả

Phong trào nuôi cá nước ngọt có chuyển biến rõ nét với 1.150 ha ao/tổng 1.269 ha ao hiện có được đưa vào nuôi thả cá Sản lượng cá hàng năm đạt 1.300 tấn, gấp hơn 2 lần so với năm 1990

Giai đoạn 1996 - 2000

Tiếp tục kế thừa và phát huy sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện, nền kinh

tế tiếp tục tăng trưởng nhanh và tương đối toàn diện, sản xuất kinh tế nông nghiệp phát triển đồng đều cả trồng trọt và chăn nuôi Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp năm 2000 đạt 590 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân là 5,88%; giá trị sản lượng/ha canh tác đạt 26,4 triệu đồng (tăng 6,4 triệu đồng

so với năm 1995) Giá trị sản lượng của các ngành trong sản xuất nông nghiệp đều tăng Cụ thể đến năm 2000, ngành trồng trọt đạt 389 tỷ đồng, tăng 15,8%; chăn nuôi đạt 180 tỷ, tăng 64,8%; dịch vụ đạt 21,7 tỷ, tăng gấp đôi năm 1995

Cơ cấu kinh tế nông nghiệp đã có sự chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng ngành trồng trọt, tăng dần tỷ trọng ngành chăn nuôi và dịch vụ

Trong ngành trồng trọt, mặc dù từ năm 1996-2000 gặp nhiều khó khăn về thời tiết song sản xuất liên tục được mùa Sản lượng lương thực quy thóc bình quân hàng năm đạt 161.500 tấn, trong đó sản lượng lúa bình quân đạt 153.662,6 tấn Bình quân lương thực đầu người đạt 600 kg, tăng 90 kg; năng suất lúa trung bình đạt 111,8 tạ/ha, tăng 18,84 tạ/ha so với giai đoạn 1991-1995

Sản xuất cây màu, cây công nghiệp, cây ăn quả,….cũng có sự chuyển dịch theo cơ chế thị trường Năm 2000, tổng diện tích cây màu đạt 6.140 ha Các cây màu truyền thống vẫn cho hiệu quả kinh tế cao, các cây xuất khẩu như salát, dưa chuột, dưa gang, củ cải, ngô,… được chú trọng phát triển, tăng về

Trang 30

diện tích và sản lượng Tỷ trọng giá trị sản xuất cây màu chiếm 28 % tổng giá trị sản xuất ngành trồng trọt, tăng 8% so với năm 1995, trong huyện đã hình thành rõ vùng chuyên canh, chuyên trồng cây xuất khẩu, sản lượng rau quả xuất khẩu bình quân hàng năm đạt 8-10 tấn, góp phần tăng thu nhập, giải quyết việc làm cho nhân dân, nâng cao chất lượng đời sống đặc biệt phá thế độc canh cây lúa Cùng với đó là các phong trào cải tạo vườn tạp để trồng các loại cây có năng suất và cho giá trị kinh tế cao như cây hòe – cho sản lượng hàng năm từ 600-800 tấn, nhiều hộ gia đình thu hoạch đạt 30-40 triệu đồng/1ha/năm

Ngành chăn nuôi có nhiều chuyển biến tích cực, Nhiều giồng vật nuôi

có chất lượng cao được phát triển rộng rãi trong toàn huyện, hình thành nên vùng chăn nuôi với quy mô lớn, chăn nuôi đã trở thành một nghề sản xuất chính trong nền kinh tế hộ gia đình Năm 2000, giá trị chăn nuôi đạt 201 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 34 % giá trị sản xuất nông nghiệp

Như vậy, nền kinh tế nông nghiệp của huyện trước năm 2000 phát triển tương đối toàn diện, cả về trồng trọt và chăn nuôi Tuy vậy, trong quá trình lãnh đạo kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ huyện vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, khuyết điểm Cụ thể như sau:

Vấn đề CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn chưa được Đảng triển khai

cụ thể đến từng địa phương, nhiều vấn đề chỉ được chỉ đạo trên phương diện

lý thuyết, áp dụng máy móc, dập khuôn, những chủ trương Đảng bộ huyện đưa ra chưa thực sự có hiệu quả trong việc phát huy các thế mạnh, tiềm năng kinh tế nông nghiệp của huyện Do vậy, một số địa phương trong huyện còn

bỡ ngỡ, gặp nhiều khó khăn trong quá trình sản xuất, những địa phương có nhiều tiềm năng để phát triển các cây vụ đông với quy mô lớn như Thái Học, Thái Thuần chưa được phát hiện và quan tâm đúng mức, nhiều địa phương

có diện tích nội đồng, vùng úng trũng phù hợp cho nuôi trồng thủy sản như các xã Thụy Hải, Thụy Xuân, Thụy Trường, Thái Thượng, Thái Đô chưa được quan tâm đầu tư, lãng phí các nguồn tài nguyên do vậy kết quả phát triển kinh tế nông nghiệp còn thấp

Trang 31

Công tác quy hoạch các vùng sản xuất hàng hóa tập trung chưa được Đảng bộ huyện, các cấp các ngành đầu tư đúng mức nhiều mô hình chỉ mang tính sản xuất nhỏ, phân tán, tự phát, hiệu quả kinh tế thấp, sản xuất chưa gắn với công nghiệp chế biến và thị trường tiêu thụ Người nông dân sản xuất nhưng không có đầu ra cho sản phẩm

KH-KT, công nghệ ứng dụng trong sản xuất còn hạn chế, cơ giới hóa nông nghiệp chưa cao, năng suất và chất lượng sản phẩm thấp, giá thành cao, khả năng cạnh tranh thấp Các mô hình sở hữu tư nhân, hộ gia đình còn thấp,

mô hình sở hữu nhà nước vẫn là cơ bản Chính vì vậy, không khuyến khích được tính tự chủ trong nhân dân, dễ nảy sinh tính ỷ lại trong sản xuất

Như vậy, việc phát hiện được những tồn tại, yếu kém trong sự lãnh đạo của Đảng sẽ là những bài học vô cùng quý giá để Đảng bộ huyện lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp trong thế kỷ mới

Tiểu kết

Thái Thụy là mảnh đất thuộc vùng ven biển châu thổ Bắc Bộ, đây là vùng đất có nhiều tiềm năng và thế mạnh Được thiên nhiên ưu đãi về mọi mặt để phát triển nền kinh tế, đặc biệt là phát triển kinh tế nông nghiệp toàn diện, đa dạng, phong phú về cây trồng, con vật nuôi Người dân Thái Thụy cần cù, chịu khó trong lao động, với truyền thống thâm canh, tăng vụ, giàu kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp, không những thế, cư dân ở đây còn

là những người có tinh thần ham học hỏi, sáng tạo, luôn muốn tìm tòi, khai phá và chinh phục những đỉnh cao trên mặt trận sản xuất nông nghiệp

Nhìn chung, kinh tế nông nghiệp huyện Thái Thụy trước năm 2000 đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Tuy nhiên một số chỉ tiêu, lĩnh vực kinh

tế ngành phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, kết quả sản xuất chưa cao Đây là những vấn đề đòi hỏi Đảng bộ huyện, các cấp, các ngành phải có sự quan tâm, đề ra những chủ trương, phương hướng, biện pháp cụ thể, phù hợp

để khắc phục những yếu kém Vấn đề này đã được Đảng bộ huyện quán triệt kịp thời, giải quyết có hiệu quả trong những năm 2000 – 2010

Trang 32

Chương 2 QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

TRONG NHỮNG NĂM 2000 – 2010

2.1 Lãnh đạo kinh tế nông nghiệp từ năm 2000 đến năm 2005

2.1.1 Chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng bộ tỉnh Thái Bình

* Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam

Bước sang thế kỷ mới – thế kỷ XXI, xu hướng quốc tế hóa, toàn cầu hóa diễn ra vô cùng mạnh mẽ, tạo điều kiện thuận lợi cho nước ta hội nhập nền kinh tế thế giới, tuy nhiên cũng đặt nước ta đứng trước vô vàn những khó khăn, thử thách và nguy cơ tụt hậu nền kinh tế

Trong tình hình mới Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX diễn ra từ ngày 19/4/2001 đến ngày 22/4/2001 tại Hà Nội Trên tinh thần kế tục đường lối đổi mới của Đại hội VI, kiên định những quan điểm theo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH của Đại hội VII, Đại hội Đảng toàn quốc đã đi sâu tổng kết những thành tựu đạt được của 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII, 15 năm đổi mới, rút ra những bài học kinh nghiệm sâu sắc, từ đó phát triển toàn diện đường lối, định ra chiến lược phát triển kinh tế đất nước trong hai thập kỷ đầu thế kỉ XXI Đại hội đã đưa ra đường lối

và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, trong đó nhấn mạnh “phát triển kinh

tế, CNH – HĐH là nhiệm vụ trọng tâm” [40; 25]

Đại hội cũng chỉ rõ: “Tăng cường chỉ đạo và huy động các nguồn lực cần thiết để đẩy nhanh CNH-HĐH nông nghiệp và nông thôn Tiếp tục phát triển và đưa nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp lên một trình độ mới bằng ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ sinh học; đẩy mạnh thủy lợi hóa, cơ giới hóa, điện khí hóa, quy hoạch sử dụng đất hợp lý; đổi mới cơ cấu cây trồng, vật nuôi; tăng giá trị thu được trên đơn vị diện tích, giải quyết tốt vấn đề tiêu thụ nông sản hàng hóa Đầu tư nhiều hơn cho phát

Trang 33

triển kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội ở nông thôn Phát triển công nghiệp, dịch

vụ, các ngành nghề đa dạng, chú trọng công nghiệp chế biến, cơ khí phục vụ nông nghiệp, các làng nghề; chuyển đổi một bộ phận quan trọng lao động nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ, tạo nhiều việc làm mới, nâng cao chất lượng, cải thiện đời sống nông dân và dân cư ở nông thôn” [40; 92-93]

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (4/2001) cũng nhấn mạnh: Đẩy nhanh CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn theo hướng hình thành nền nông nghiệp hàng hóa lớn phù hợp với nhu cầu thị trường và điều kiện sinh thái từng vùng Đại hội đưa ra định hướng phát triển nông nghiệp ở từng vùng, trong đó, định hướng phát triển cho vùng đồng bằng sông Hồng: “Phát triển nông nghiệp hàng hóa đa dạng Cùng với lương thực đưa vụ đông thành một thế mạnh, hình thành các loại vùng chuyên canh rau, cây ăn quả, thịt, hoa; mở rộng nuôi trồng thủy sản Phát triển công nghiệp chế biến và cơ khí phục vụ nông nghiệp” [40; 182]

Theo tinh thần của Đại hội, phương hướng kinh tế nông nghiệp trong

thời gian tới sẽ là: “chuyển đổi nhanh cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn; xây dựng các vùng sản xuất hàng hóa chuyên canh phù hợp với tiềm năng và lợi thế về khí hậu, đất đai và lao động của từng vùng, từng địa phương Ứng dụng nhanh khoa học công nghệ vào sản xuất nhất là ứng dụng công nghệ sinh học, gắn nông nghiệp với công nghiệp chế biến; gắn sản xuất với thị trường tiêu thụ; hình thành liên kết công – nông nghiệp – dịch vụ ngay trên địa bàn nông thôn” [40; 276]

Tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn, ngày 18/3/2002, tại Hội nghị lần thứ 5 BCHTW Đảng khóa IX đã đưa ra Nghị

quyết số 15-NQ/TW về “Đẩy nhanh CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 – 2010” Nghị quyết đã đưa ra những nhận thức rõ nét về vai trò

và vị trí của CNH nông nghiệp, nông thôn, đưa ra những chủ trương, chính sách nhằm đẩy mạnh phát triển CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn Nghị quyết cũng nêu lên mục tiêu tổng quát và lâu dài của CNH – HĐH nông

Trang 34

nghiệp, nông thôn là xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, hiệu quả và bền vững, có năng suất cao, chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu

Hội nghị Trung ương 5 khóa IX còn ban hành Nghị quyết số 13-NQ/TW

về “Tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể” Nghị

quyết thống nhất nhận thức: phát triển kinh tế tập thể trong nông nghiệp, nông thôn phải dựa trên cơ sở đảm bảo quyền tự chủ của kinh tế trạng trại, hỗ trợ đắc lực cho kinh tế hộ, kinh tế trang trại phát triển Đây là đổi mới căn bản trong nhận thức của Đảng về kinh tế tập thể trong nông nghiệp, nông thôn

Ngày 24/5/2003, Bộ Chính trị ra chỉ thị số 63-CT/TW “về đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ phục vụ CNH-HĐH nông nghiệp và nông thôn” đưa ra những giải pháp đẩy mạnh ứng dụng KH-KT nhanh chóng và rộng rãi vào sản xuất nông nghiệp hiệu quả hơn

Đến đầu năm 2004, Hội nghị lần thứ IX Ban Chấp hành Trung ương

khóa IX, bổ sung một số biện pháp cụ thể: “chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh

tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng tạo ra các vùng sản xuất hàng hóa tập trung chuyên canh, thâm canh, có năng suất, chất lượng cao, áp dụng tiến bộ

và khoa học công nghệ mới nhất là công nghệ sinh học, gắn với chế biến, tiêu thụ; phát triển mạnh các doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ nhỏ và vừa”

* Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Thái Bình

Quán triệt sâu sắc những chủ trương của TW Đảng về phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng CNH-HĐH, Đảng bộ tỉnh Thái Bình đã vận dụng và triển khai phát triển kinh tế nông nghiêp trong phạm vi toàn tỉnh

Đầu năm 2001, Đảng bộ tỉnh Thái Bình đã họp và ra Nghị quyết Đảng

bộ tỉnh lần thứ XVI, đưa ra phương hướng phát triển kinh tế nông nghiệp của tỉnh trong 5 năm (2001-2005) Mục tiêu phấn đấu của tỉnh đến năm 2005 là: Giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 4.659 tỷ đồng, nhịp độ tăng trưởng bình quân 3,5%/năm trở nên; tỷ trọng giá trị sản xuất các ngành trong cơ cấu nông nghiệp: trồng trọt 64%, chăn nuôi 30,8%, dịch vụ 4,8%; giữ vững sản lượng

Trang 35

lương thực trên 1 triệu tấn/năm, giá trị sản xuất/ha canh tác đạt 35 triệu đồng trở lên [46; 46-47]

Nhằm thực hiện Nghị quyết Đai hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, Tỉnh ủy Thái Bình ra Nghị quyết số 04-NQ/TƯ “Về chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi

trong nông nghiệp giai đoạn 2001-2005” Nghị quyết đã khẳng định và chỉ rõ: “ sản xuất nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế trọng yếu của tỉnh Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi là giải pháp cơ bản để phát triển nông nghiệp toàn diện và bền vững, là con đường tất yếu để công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, đồng thời phát huy mạnh mẽ được tiềm năng nhân tố con người, góp phần ổn định vững chắc tình hình nông thôn” [5; 3]

Để thực hiện Nghị quyết có hiệu quả, Tỉnh ủy đã đưa ra các giải pháp sau: Tập trung tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục làm chuyển biến sâu sắc nhận thức của các cấp, các ngành và người sản xuất về yêu cầu cấp bách phải chuyển đổi mạnh mẽ cơ cấu cây trồng, vật nuôi để chuyển sản xuất nông nghiệp sang sản xuất hàng hóa, thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, nâng cao thu nhập và đời sống nhân dân

Tiến hành quy hoạch, quy vùng chuyển đổi các loại cây trồng, vật nuôi, bảo đảm tính đồng bộ giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ; tạo vùng sản xuất hàng hóa tập trung bao gồm: vùng chăn nuôi, vùng cây công nghiệp, cây ăn quả, cây dược liệu, vùng chuyên màu, vùng lúa giống, lúa chất lượng cao, vùng nuôi trồng thủy, hải sản

Tích cực tìm kiếm mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản, thực phẩm, tìm kiếm, khảo nghiệm đưa vào sản xuất đại trà các loại cây, con có giá trị kinh tế cao, có thị trường tiêu thụ và phù hợp với điều kiện tự nhiên Củng cố quan hệ sản xuất trong nông nghiệp và nông thôn Ban hành và triển khai thực hiện một số cơ chế chính sách: giao quyền sử dụng đất cho nông dân, dồn điền đổi thửa, hỗ trợ kinh phí

Thực hiện tốt những giải pháp trên, nền kinh tế nông nghiệp của huyện nhất định sẽ thu được thắng lợi lớn, đạt kết quả cao Để tạo tiềm lực, điều kiện

Trang 36

cho việc phát triển kinh tế nông nghiệp, Tỉnh ủy Thái Bình đã có những chủ

trương, chính sách mới về việc dồn điền, đổi thửa đất trong nông nghiệp

nhằm tạo điều kiện cho nhân dân yên tâm, mạnh dạn, tích cực đầu tư, chuyển đổi trong sản xuất nông nghiệp Tháng 2/2002, Tỉnh ủy Thái Bình đã ra Nghị

quyết số 07 “Về việc dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp”

Đây không phải là lần đầu tiên Thái Bình thực hiện công tác giao đất nông nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã có nhiều nghị quyết, quyết định về quản lý và giao đất ổn định, lâu dài cho nông dân Năm 2002, Tỉnh ủy

ra Nghị quyết số 07, tiếp tục thực hiện tiến tới hoàn thiện việc giao đất,

chuyển đổi đất nông nghiệp cho nhân dân canh tác Công tác dồn điền, đổi thửa được BCH Đảng bộ tỉnh xác định: “Thực hiện dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp từ nhiều thửa nhỏ thành thửa lớn là nguyện vọng tha thiết, bức xúc của nông dân, là yêu cầu cấp bách của việc đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp là việc làm có vị trí quan trọng, và ý nghĩa to lớn, mang lại lợi ích chung cho xã hội, cho từng hộ nông dân.” [6; 3]

Xác định được vị trí và tầm quan trọng của công tác dồn điền, đổi thửa trong nông nghiệp, BCH Đảng bộ tỉnh đã xác định nhiệm vụ và đề ra những giải pháp để thực hiện tốt công tác giao đất đến từng hộ gia đình, tiến tới đạt

được mục tiêu: “Tạo được những vùng sản xuất hàng hóa tập trung, thuận lợi cho hộ nông dân trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, phát triển sản xuất, kinh doanh trước mắt cũng như lâu dài để không ngừng tăng giá thu nhập trên đơn vị diện tích canh tác, tạo ra các tiền đề để thúc đẩy nhanh quá trình tập trung hóa ruộng đất ở nông thôn Toàn tỉnh thực hiện xong việc dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp trong năm 2002” [6; 4]

Chủ trương về dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp được đề ra năm 2002

là vô cùng cần thiết và có ý nghĩa lớn đối với phát triển kinh tế nông nghiệp,

Trang 37

giải quyết được nhiều bất cập trong quá trình thực hiện công tác giao đất nông nghiệp trước năm 2002 như giao đất nhỏ lẻ, manh mún, nhiều hộ gia đình được chia ruộng lẻ tẻ, phân tán, ruộng nhỏ, nhiều bờ; có hộ gia đình chất lượng ruộng xấu, không thích hợp với việc trồng cây lương thực mà chưa được chuyển đổi để làm kinh tế, nuôi trồng cây, con phù hợp , làm cho nhân dân không mạnh dạn đầu tư, áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất làm giảm đi năng suất và hiệu quả sản xuất nông nghiệp

Với tinh thần của Nghị quyết 07, việc giao đất nông nghiệp đã được nhân dân hưởng ứng, khuyến khích nông dân phát huy quyền tự chủ, tích cực đầu tư tiền vốn, công sức, kinh nghiệm, ứng dụng khoa học kỹ thuật phát triển sản xuất, kinh doanh tích ứng với cơ chế thị trường Sản xuất nông nghiệp ở tỉnh ta đã phát triển mạnh hơn, cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn đang chuyển dịch tích cực; xuất hiện nhiều gương điển hình, nhiều mô hình trang trại, gia trại sản xuất kinh doanh có hiệu quả, bộ mặt nông thôn có bước thay đổi đáng kể, đời sống nông dân được nâng lên rõ rệt

Để tạo bước đột phá trong kinh tế nông nghiệp, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân Tỉnh ủy đã ra Nghị quyết số 08-NQ/TƯ “Về xây dựng cánh đồng đạt giá trị sản xuất 50 triệu đồng trở lên/ha/năm giai đoạn 2003-2010” Việc ra nghị quyết 08 trong thời gian này là hoàn toàn phù hợp, nhằm phát triển hiệu quả hơn nữa công tác dồn điền đổi thửa đã được đề ra vào năm 2002 Nghị quyết đã đề ra mục tiêu phấn đấu:

Năm 2003, mỗi huyện, thị xã có 20% số xã trở lên xây dựng được ít nhất một “cánh đồng 50 triệu đồng”

Năm 2004, mỗi xã xây dựng được ít nhất một “cánh đồng 50 triệu đồng” Năm 2005, mỗi thôn xây dựng được ít nhất một “cánh đồng 50 triệu đồng” Năm 2010, mỗi thôn, xã, huyện, thị xã có 40% diện tích canh tác đạt giá trị sản xuất 50 triệu đồng trở lên/ha/năm [7; 2]

Trang 38

Đảng bộ tỉnh nhấn mạnh đây là “cuộc cách mạng cả về nhận thức và hành động trong sản xuất nông nghiệp” do vậy, phải tập trung sự lãnh đạo,

chỉ đạo của các cấp, các ngành từ tỉnh đến cơ sở để thực hiện thắng lợi chủ trương đã đề ra

Nhằm đẩy mạnh hơn nữa quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng CNH-HĐH, tạo bước chuyển biến mới và sâu rộng trên mặt trận nông nghiệp, đưa chăn nuôi lên trở thành ngành sản xuất chính, trở thành mũi đột phá phát triển nông nghiệp toàn diện, bền vững Tỉnh ủy ra Nghị quyết số 12-NQ/TƯ “Về đẩy mạnh phát triển chăn nuôi giai đoạn 2004-2010” Theo chủ trương được đưa ra trong Nghị quyết, phương hướng phát triển chăn nuôi là: “đẩy mạnh chăn nuôi lợn và gia cầm, phát triển chăn nuôi trang trại, gia trại, quy hoạch vùng chăn nuôi tập trung.” [8; 3]

Như vậy, những Nghị quyết của Tỉnh ủy đề ra để phát triển một ngành nông nghiệp hiện đại theo hướng CNH-HĐH là hoàn toàn phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, đáp ứng được yêu cầu thực tiễn của địa phương

2.1.2 Chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ huyện Thái Thụy tại Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XII (2000)

Trên cơ sở nhận định tình hình của huyện trong thời kỳ mới, tháng

11-2000, Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XII đã đánh giá tình hình phát triển kinh

tế trong 5 năm (1996-2000) và đã đề ra phương hướng, mục tiêu phát triển

kinh tế, kinh tế nông nghiệp của huyện

Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ huyện đã vạch ra phương hướng phát triển KT-XH của huyện trong 5 năm 2000-2005 là: “Giữ vững ổn định chính trị, tập trung mọi nguồn lực, tận dụng thời cơ khai thác triệt để mọi tiềm năng, lợi thế kinh tế, phát huy nội lực, đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh

tế theo hướng CNH-HĐH, bảo đảm tốc độ tăng trưởng gấp 1,5 lần nhiệm kỳ vừa qua” [11; 13]

Trong đó Đại hội đã xác định rõ phương hướng phát triển kinh tế của huyện là đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo giành

Trang 39

những thắng lợi vượt bậc so với những năm trước Trong đó, sự chuyển biến trong sản xuất kinh tế nông nghiệp theo hướng CNH-HĐH là vấn đề mà đại hội đặc biệt quan tâm Do vậy, Đại hội đã đặt ra mục tiêu và xây dựng các giải pháp để thực hiện vấn đề này

Nghị quyết xác định mục tiêu tổng quát phát triển kinh tế nông nghiệp là: “Kinh tế nông nghiệp đạt 900 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng 8,8%, chiếm tỷ trọng 46%”, “… Năng suất lúa ổn định 12 tấn/ha Sản lượng lương thực quy thóc 147 ngàn tấn, bình quân lương thực năm 470 kg/người Tỷ trọng chăn nuôi chiếm 35% giá trị sản xuất nông nghiệp Giá trị sản xuất trên 1 ha canh tác đạt 36,5 triệu đồng/năm”, “hình thành các khu vực sản xuất hàng hóa tập trung, chuyên canh trong nông nghiệp – ngư nghiệp” [11; 14]

Để thực hiện đúng phương hướng và mục tiêu đã đề ra, Đảng bộ huyện cũng xác định những nhiệm vụ cơ bản cho ngành sản xuất nông nghiệp cụ thể như sau:

Nhiệm vụ chung của phát triển kinh tế nông nghiệp trong 5 năm tới:

“Tạo thế đột phá trong chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, bảo đảm an toàn lương thực, có số lượng đáng kể lương thực hàng hóa; tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm các cây trồng ngoài lúa và chăn nuôi trong tổng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp Hình thành các vùng sản xuất chuyên canh có khối lượng sản phẩm hàng hóa” [11; 14]

Trong đó, nhiệm vụ cụ thể của các ngành sản xuất trong nông nghiệp

đã được Đảng bộ tỉnh đề ra như sau:

+ Về trồng trọt:

Phấn đấu đạt giá trị sản lượng trên 1 ha canh tác là 36,55 triệu đồng, tỷ trọng giá trị sản xuất các cây trồng ngoài lúa chiếm 51% giá trị ngành trồng trọt, giữ ổn định sản lượng lương thực 147 ngàn tấn/năm

Đối với cây lúa: Bảo đảm diện tích gieo trồng lúa hàng năm là 23.820

ha, sản lượng thóc 136.300 tấn, năng suất lúa ổn định 12 tấn/ha Trong đó bố trí cấy 6.000 ha lúa chất lượng cao để phục vụ xuất khẩu và làm lúa hàng hóa

Trang 40

Đối với cây màu: tăng cường liên doanh, kiên kết, phấn đấu đến năm 2005

có 1.500 – 2.000 ha trồng cây ăn quả và cây xuất khẩu để có 35.000 – 40.000 tấn sản phẩm phục vụ chế biến, tiếp tục duy trì và mở rộng cây truyền thống khác Đối với cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả: tiếp tục chương trình cải tạo vườn tạp bảo đảm 100% số vườn được cải tạo để trồng hòe, mây và các cây ăn quả thích hợp Giá trị thu nhập/ha vườn đạt 40 triệu đồng/năm [11; 14-15]

+ Đối với trồng trọt

Căn cứ vào vùng sinh thái và chân đất, huyện và các xã phải: “Làm tốt việc quy hoạch, quy vùng sản xuất hợp lý tạo ra các vùng chuyên canh cây trồng tập trung Tiếp tục đổi mới cơ cấu giống, cơ cấu mùa vụ, thực hiện đồng

bộ các biện pháp kỹ thuật thâm canh, áp dụng nhanh tiến độ kỹ thuật vào sản xuất, làm tốt công tác bảo vệ thực vật và đẩy mạnh việc huấn luyện kỹ thuật vào sản xuất cho các hộ nông dân Tập trung đầu tư, nâng cấp hệ thống thủy lợi đảm bảo chủ động tưới tiêu cho lúa và vùng chuyên màu, trong đó đặc biệt chú ý đẩy nhanh chương trình cứng hóa kênh mương và xây dựng các công trình thủy lợi đầu mối.” [11; 15]

+ Đối với chăn nuôi

Trước hết phải tập trung chỉ đạo hình thành cho được mạng lưới các hộ chăn nuôi tập trung theo hướng trang trại, có quy mô lớn, sản phẩm hàng hóa nhiều Phấn đầu toàn huyện có 1.500 – 2.000 hộ nuôi lợn với quy mô lớn 50 –

100 con lợn 1 lứa, 500 – 800 hộ nuôi vịt, gà có quy mô 300 – 500 con/đàn,

Ngày đăng: 22/05/2016, 00:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Thái Thụy (2005), Lịch sử Đảng bộ huyện Thái Thụy (1927-2005), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Thái Thụy (1927-2005)
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ huyện Thái Thụy
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
2. Ban tư tưởng, Văn hóa Trung ương, Bộ NN &PTNN (2002), Con đường công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn Việt Nam
Tác giả: Ban tư tưởng, Văn hóa Trung ương, Bộ NN &PTNN
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
3. Trần Việt Dũng (2009), Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnh đạo phát triển nông nghiệp từ năm 1997 đến 2009, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử Đảng, Trường Đại học KHXH&NV (ĐHQG Hà Nội), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnh đạo phát triển nông nghiệp từ năm 1997 đến 2009
Tác giả: Trần Việt Dũng
Nhà XB: Trường Đại học KHXH&NV (ĐHQG Hà Nội)
Năm: 2009
4. Đảng bộ tỉnh Thái Bình (2000), Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI. Lưu tại phòng văn thư Huyện ủy Thái Thụy Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Thái Bình
Năm: 2000
5. Đảng bộ tỉnh Thái Bình (2001), “Nghị quyết của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trong nông nghiệp”. Lưu tại phòng văn thư Huyện ủy Thái Thụy Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trong nông nghiệp
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Thái Bình
Năm: 2001
6. Đảng bộ tỉnh Thái Bình (2002), “Nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về việc dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp”. Lưu tại phòng văn thư Huyện ủy Thái Thụy Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về việc dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Thái Bình
Năm: 2002
7. Đảng bộ tỉnh Thái Bình (2003), “Nghị quyết của Ban thường vụ Tỉnh ủy về xây dựng cánh đồng đạt giá trị sản xuất 50 triệu/ha/năm giai đoạn 2003 – 2010”. Lưu tại phòng văn thư Huyện ủy Thái Thụy Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết của Ban thường vụ Tỉnh ủy về xây dựng cánh đồng đạt giá trị sản xuất 50 triệu/ha/năm giai đoạn 2003 – 2010
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Thái Bình
Năm: 2003
8. Đảng bộ tỉnh Thái Bình (2004), “Nghị quyết của Ban thường vụ Tỉnh ủy về đẩy mạnh phát triển chăn nuôi giai đoạn 2004-2010”. Lưu tại phòng văn thư Huyện ủy Thái Thụy Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết của Ban thường vụ Tỉnh ủy về đẩy mạnh phát triển chăn nuôi giai đoạn 2004-2010
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Thái Bình
Năm: 2004
9. Đảng bộ tỉnh Thái Bình, Huyện ủy Thái Thụy (1991), “Báo cáo của Ban chấp hành Đảng bộ huyện Thái Thụy tại Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ X”. Lưu tại phòng văn thư Huyện ủy Thái Thụy Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo của Ban chấp hành Đảng bộ huyện Thái Thụy tại Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ X
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Thái Bình, Huyện ủy Thái Thụy
Năm: 1991
10. Đảng bộ tỉnh Thái Bình, Huyện ủy Thái Thụy (1996), “Báo cáo của Ban chấp hành Đảng bộ huyện Thái Thụy tại Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XI”. Lưu tại phòng văn thư Huyện ủy Thái Thụy Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo của Ban chấp hành Đảng bộ huyện Thái Thụy tại Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XI
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Thái Bình, Huyện ủy Thái Thụy
Năm: 1996
11. Đảng bộ tỉnh Thái Bình, Huyện ủy Thái Thụy (2000), “Báo cáo của Ban chấp hành Đảng bộ huyện Thái Thụy tại Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XII”. Lưu tại phòng văn thư Huyện ủy Thái Thụy Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo của Ban chấp hành Đảng bộ huyện Thái Thụy tại Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XII
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Thái Bình, Huyện ủy Thái Thụy
Năm: 2000
12. Đảng bộ tỉnh Thái Bình, Huyện ủy Thái Thụy (2005), “Báo cáo của Ban chấp hành Đảng bộ huyện Thái Thụy tại Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XIII”. Lưu tại phòng văn thư Huyện ủy Thái Thụy Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo của Ban chấp hành Đảng bộ huyện Thái Thụy tại Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XIII
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Thái Bình, Huyện ủy Thái Thụy
Nhà XB: Huyện ủy Thái Thụy
Năm: 2005
13. Đảng bộ tỉnh Thái Bình, Huyện ủy Thái Thụy (2010), “Báo cáo của Ban chấp hành Đảng bộ huyện Thái Thụy tại Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XIV”. Lưu tại phòng văn thư Huyện ủy Thái Thụy Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo của Ban chấp hành Đảng bộ huyện Thái Thụy tại Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XIV
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Thái Bình, Huyện ủy Thái Thụy
Năm: 2010
14. Đảng bộ tỉnh Thái Bình, Huyện ủy Thái Thụy (2001), “Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2001. Phương hướng nhiệm vụ năm 2002”. Lưu tại phòng văn thư Huyện ủy Thái Thụy Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2001. Phương hướng nhiệm vụ năm 2002
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Thái Bình, Huyện ủy Thái Thụy
Năm: 2001
15. Đảng bộ tỉnh Thái Bình, Huyện ủy Thái Thụy (2002), “Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2002 phương hướng nhiệm vụ năm 2003”. Lưu tại phòng văn thư Huyện ủy Thái Thụy Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2002 phương hướng nhiệm vụ năm 2003
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Thái Bình, Huyện ủy Thái Thụy
Năm: 2002
16. Đảng bộ tỉnh Thái Bình, Huyện ủy Thái Thụy (2003), “Báo cáo tình hình, kết quả lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ năm 2003. Phương hướng nhiệm vụ năm 2004”. Lưu tại phòng văn thư Huyện ủy Thái Thụy Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình, kết quả lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ năm 2003. Phương hướng nhiệm vụ năm 2004
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Thái Bình, Huyện ủy Thái Thụy
Năm: 2003
17. Đảng bộ tỉnh Thái Bình, Huyện ủy Thái Thụy (2004), “Báo cáo Công tác lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ năm 2004. Phương hướng nhiệm vụ năm 2005”. Lưu tại phòng văn thư Huyện ủy Thái Thụy Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Công tác lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ năm 2004. Phương hướng nhiệm vụ năm 2005
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Thái Bình, Huyện ủy Thái Thụy
Năm: 2004
18. Đảng bộ tỉnh Thái Bình, Huyện ủy Thái Thụy (2005), “Báo cáo công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ năm 2005. Phương hướng nhiệm vụ năm 2006”. Lưu tại phòng văn thư Huyện ủy Thái Thụy Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ năm 2005. Phương hướng nhiệm vụ năm 2006
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Thái Bình, Huyện ủy Thái Thụy
Năm: 2005
19. Đảng bộ tỉnh Thái Bình, Huyện ủy Thái Thụy (2006), “Báo cáo Một số kết quả chủ yếu phát triển KT-XH của huyện 2000-2005 và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XIII và Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII nhiệm kỳ 2005-2010”. Lưu tại phòng văn thư Huyện ủy Thái Thụy Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Một số kết quả chủ yếu phát triển KT-XH của huyện 2000-2005 và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XIII và Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII nhiệm kỳ 2005-2010
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Thái Bình, Huyện ủy Thái Thụy
Nhà XB: Lưu tại phòng văn thư Huyện ủy Thái Thụy
Năm: 2006
20. Đảng bộ tỉnh Thái Bình, Huyện ủy Thái Thụy (2006), “Báo cáo công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ năm 2006. Phương hướng nhiệm vụ năm 2007”. Lưu tại phòng văn thư Huyện ủy Thái Thụy Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ năm 2006. Phương hướng nhiệm vụ năm 2007
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Thái Bình, Huyện ủy Thái Thụy
Nhà XB: Huyện ủy Thái Thụy
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Diện tích cây vụ đông từ năm 2007 – 2010 (đơn vị: hecta) - Đảng bộ huyện thái thụy (tỉnh thái bình) lãnh đạo kinh tế nông nghiệp từ năm 2000 đến năm 2010
Bảng 2.1 Diện tích cây vụ đông từ năm 2007 – 2010 (đơn vị: hecta) (Trang 61)
Bảng 2.2: Số lượng trang trại chăn nuôi giai đoạn 2005 – 2010 - Đảng bộ huyện thái thụy (tỉnh thái bình) lãnh đạo kinh tế nông nghiệp từ năm 2000 đến năm 2010
Bảng 2.2 Số lượng trang trại chăn nuôi giai đoạn 2005 – 2010 (Trang 64)
Bảng 1: Diện tích chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản nước lợ - Đảng bộ huyện thái thụy (tỉnh thái bình) lãnh đạo kinh tế nông nghiệp từ năm 2000 đến năm 2010
Bảng 1 Diện tích chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản nước lợ (Trang 106)
Bảng 2: Diện tích chuyển sang chăn nuôi tập trung - Đảng bộ huyện thái thụy (tỉnh thái bình) lãnh đạo kinh tế nông nghiệp từ năm 2000 đến năm 2010
Bảng 2 Diện tích chuyển sang chăn nuôi tập trung (Trang 106)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm