Nhà nước ta đã và đang tập trung các nguồn lực triển khai đồng bộ, thống nhất và hiệu quả các giải pháp, chính sách xoá đói giảm nghèo phải trở thành chương trình mục tiêu quốc gia phù h
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3 Chương 1: QUAN NIỆM VỀ XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO VÀ ĐẶC ĐIỂM
TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA HUYỆN NGA SƠN (TỈNH
THANH HÓA) 13 1.1 Quan niệm về đói nghèo và chủ trương của Đảng về xóa đói, giảm nghèo 13
1.1.1 Quan niệm về đói nghèo 13 1.1.2 Chủ trương của Đảng về xóa đói, giảm nghèo 18
1.2 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Nga Sơn (tỉnh Thanh Hóa) 28
1.2.1 Tình hình kinh tế - xã hội huyện Nga Sơn (tỉnh Thanh Hóa) trước năm 2000 28 1.2.2 Một số đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Nga Sơn (tỉnh Thanh Hóa) từ năm 2000 đến năm 2010 34
Chương 2: CHỦ TRƯƠNG VÀ QUÁ TRÌNH CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN NGA SƠN (TỈNH THANH HÓA) THỰC HIỆN XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2010 40 2.1 Chủ trương và quá trình chỉ đạo của Đảng bộ huyện Nga Sơn (tỉnh Thanh Hóa) thực hiện xóa đói, giảm nghèo giai đoạn (2000-2005) 40
2.1.1 Chủ trương của Đảng bộ huyện Nga Sơn về xóa đói, giảm nghèo giai đoạn (2000-2005) 40 2.1.2 Quá trình chỉ đạo của Đảng bộ huyện Nga Sơn thực hiện xóa đói, giảm nghèo giai đoạn (2000-2005) 42
2.2 Chủ trương và quá trình chỉ đạo của Đảng bộ huyện Nga Sơn (tỉnh Thanh Hóa) thực hiện xóa đói, giảm nghèo giai đoạn (2006-2010) 50
Trang 42.2.1 Chủ trương của tỉnh Thanh Hóa và Đảng bộ huyện Nga Sơn về
xóa đói, giảm nghèo giai đoạn (2006-2010) 50
2.2.2 Quá trình chỉ đạo của Đảng bộ huyện Nga Sơn thực hiện xóa đói, giảm nghèo giai đoạn (2006-2010) 55
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ KINH NGHIỆM CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN NGA SƠN (TỈNH THANH HÓA) LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2010 70
3.1 Thành tựu và hạn chế 70
3.1.1 Thành tựu 70
3.1.2 Hạn chế và nguyên nhân 78
3.2 Kinh nghiệm 81
KẾT LUẬN 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC 102
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử của xã hội loài người, đặc biệt từ khi có giai cấp đến nay, vấn đề phân biệt giàu - nghèo đã xuất hiện và đang tồn tại như một thách thức lớn đối với sự phát triển và bền vững của từng quốc gia, từng khu vực và toàn
bộ nền văn minh hiện đại Đói nghèo và chống đói nghèo luôn luôn là mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia trên thế giới, bởi vì giàu mạnh gắn liền với sự hưng thịnh của một quốc gia Đói nghèo thường gây ra xung đột chính trị, xung đột giai cấp, dẫn đến bất ổn định về xã hội, chính trị Mọi dân tộc tuy
có thể khác nhau về khuynh hướng chính trị, nhưng đều có một mục tiêu là làm thế nào để quốc gia mình, dân tộc mình giàu có
Có thể nói, đói nghèo là một vấn đề mang tính toàn cầu, nó đã diễn ra trên khắp các châu lục với những mức độ khác nhau Đặc biệt là ở các nước lạc hậu, chậm phát triển, nghèo đói đang là một vấn đề nhức nhối, một thách thức đối với sự phát triển, hay tụt hậu của một quốc gia Vào những năm cuối của thế kỷ XX, trên thế giới vẫn còn hơn 1,3 tỉ người sống dưới mức nghèo khổ, trong đó khoảng 800 triệu người sống ở các quốc gia thuộc khu vực châu
Á - Thái Bình Dương Đây là một thách thức lớn đối với sự phát triển của các nước trên thế giới
Việt Nam là một trong những nước nghèo trên thế giới, với gần 80% dân cư sống ở khu vực nông thôn và 70% lực lượng lao động làm trong lĩnh vực nông nghiệp Do sự phát triển chậm của lực lượng sản xuất, sự lạc hậu về kinh tế và trình độ phân công lao động xã hội kém, dẫn tới năng suất lao động
xã hội và mức tăng trưởng xã hội thấp Với chủ trương phát triển một nền kinh tế thị truờng theo định hướng XHCN có sự điều tiết của Nhà Nước thì đây vừa là một nhiệm vụ chiến lược của công cuộc phát triển kinh tế xã hội,
Trang 6bằng, dân chủ, văn minh" Muốn đạt được mục tiêu này thì trước hết phải xoá
bỏ đói nghèo và lạc hậu Đây là một trách nhiệm hết sức nặng nề của Đảng và Nhà Nước ta, bởi Nhà Nước không chỉ bảo đảm nhu cầu tối thiểu cho dân mà còn xóa bỏ tận gốc các nguyên nhân gây ra đói nghèo trong dân cư Nhà nước
ta đã và đang tập trung các nguồn lực triển khai đồng bộ, thống nhất và hiệu quả các giải pháp, chính sách xoá đói giảm nghèo phải trở thành chương trình mục tiêu quốc gia phù hợp với định hướng phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nhằm hỗ trợ trực tiếp các xã nghèo, hộ nghèo các điều kiện cần thiết để phát triển sản xuất, tăng thu nhập, ổn định đời sống, tự vươn lên thoát khỏi đói nghèo Vì vậy mà Đại hội VIII của Đảng đã xác định xóa đói giảm nghèo
là một trong những chương trình phát triển kinh tế xã hội vừa cấp bách trước mắt, vừa cơ bản lâu dài Thực hiện chủ trương đường lối của Đảng và Nhà Nước về phát triển kinh tế xã hội, xóa đói giảm nghèo thì cho đến nay tất cả các tỉnh, thành trong cả nước đã xây dựng chương trình xóa đói giảm nghèo phù hợp với điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội của từng địa phương, từng khu vực nhằm XĐGN và lạc hậu góp phần tích cực vào công cuộc cải cách nền kinh tế
Quá trình thực hiện chương trình quốc gia về xóa đói giảm nghèo ở nước ta thời gian qua đã đạt được một số thành tựu nhất định như số hộ nghèo theo chuẩn cũ giảm cả tuyệt đối và tương đối, số hộ nghèo vươn lên làm giàu ngày một nhiều hơn Việt Nam được Ngân hàng Thế giới đánh giá là nước có thành tích vượt trội trong xóa đói giảm nghèo Tuy nhiên, kết quả xóa đói giảm nghèo ở nước ta thời gian qua chưa vững chắc, số hộ nghèo theo chuẩn mới còn cao Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam nhận định: Thành tựu xóa đói giảm nghèo chưa thật vững chắc Số hộ nghèo và tái nghèo ở một số vùng còn lớn, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới còn cao Đời sống nhân dân vùng sâu, vùng xa, vùng thường bị thiên tai còn gặp
Trang 7nhiều khó khăn, nhiều vùng dân tộc thiểu số có tỷ lệ hộ nghèo cao hơn so với bình quân cả nước Thực trạng đó đòi hỏi nước ta cần nỗ lực hơn nữa trong tìm tòi giải pháp hiệu quả để tiếp tục tổ chức thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo ở tầm cao hơn
Nga Sơn là một huyện nằm ở phía Đông bắc tỉnh Thanh Hóa, cách thành phố Thanh Hóa khoảng 42km, gồm 26 xã và một thị trấn với diện tích
tự nhiên là 150 km2, có dân số trên 15 vạn người (trong đó khoảng trên 3 vạn người theo đạo Thiên Chúa Giáo) Hiện nay Nga Sơn vẫn là một huyện nghèo, có diện tích rộng, người đông, dân cư phân bố không đều, trình độ dân trí hạn chế, kết cấu hạ tầng thấp kém, kinh tế phát triển chưa đồng đều giữa các vùng Thu nhập bình quân đầu người còn thấp, tỷ lệ hộ đói nghèo của huyện còn cao
Trong những năm qua huyện Nga Sơn đã tích cực thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo và thu được một số kết quả đáng kể, tính bình quân
cả giai đoạn 2000 - 2005 thì mỗi năm giảm hơn 1% hộ nghèo Tuy nhiên kết quả giảm nghèo chưa vững chắc, nguy cơ tái nghèo cao Còn những hạn chế
đó là do việc thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo ở các địa bàn không đều, nhận thức ý nghĩa tầm quan trọng của chương trình xóa đói giảm nghèo của các cấp lãnh đạo và người dân còn chưa đầy đủ Thực tế đó đã đặt cho huyện Nga Sơn nhiệm vụ tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao chất lượng thực hiện chương trình xóa đói, giảm nghèo trong thời gian tới
Mặt khác, tác giả chọn đề tài nhằm rút ra những kinh nghiệm, ưu, hạn chế để áp dụng cho xóa đói giảm nghèo ở các huyện và các địa bàn khác trong toàn quốc Góp phần nghiên cứu lịch sử địa phương, nghiên cứu Lịch sử Đảng của huyện Nga Sơn lãnh đao nhân dân trong huyện thực hiện chủ trương của Đảng, trong công tác xã hội, xây dựng cuộc sống mới Đồng thời,
đề tài còn làm sáng tỏ truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau của nông dân
Trang 8Việt Nam nói chung và huyện Nga Sơn nói riêng trong công cuộc xây dựng cuộc sống mới Qua đó giáo dục đức tính giúp đỡ nhau cho các thế hệ hiện tại, đặc biệt là thế hệ trẻ ngày nay Ngoài ra, nghiên cứu đề tài còn cho thêm bài học về bảo vệ phát triển nông nghiệp, sử dung đất đai có hiệu quả và bài học về cách mạng xanh trong nông nghiệp
Vì những lý do đó, để góp phần nâng cao nhận thức về xóa đói giảm
nghèo với hành động “lá lành đùm lá rách”, tác giả đã chọn đề tài "Đảng bộ
huyện Nga Sơn (tỉnh Thanh Hóa) lãnh đạo thực hiện xóa đói giảm nghèo từ năm 2000 đến năm 2010" làm đề tài luận văn nghiên cứu chuyên ngành Lịch
sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu
Có rất nhiều công trình nghiên cứu về xoá đói giảm nghèo ở cả trong nước và ngoài nước, cả về góc độ xã hội và kinh tế Tác phẩm của Dương Phú
Hiệp, Vũ Văn Hoà (2004): Phân hoá giàu nghèo ở một số quốc gia Châu Á -
Thái Bình Dương, Nxb Khoa học Xã Hội, Hà Nội Ở Việt Nam, thứ nhất là
các công trình của các tổ chức xóa đói giảm nghèo Báo cáo phát triển của
Việt Nam (2000): Tấn công nghèo đói, Báo cáo chung của nhóm công tác
chuyên gia Chính phủ - Nhà tài trợ - Tổ chức phi Chính phủ, Hội nghị nhóm
tư vấn các nhà tài trợ Việt Nam, 14-15/12-1999 Báo cáo đã tổng kết kinh nghiệm xoá đói giảm nghèo của các tổ chức phi Chính Phủ - Nhà tài trợ ở Việt Nam Công trình của Liên hiệp Hội khoa học Kỹ thuật ở Việt Nam
(2001): Xoá đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số, phương pháp tiếp cận,
nói lên những phương pháp công tác, đặc biệt là công tác xóa đói giảm nghèo
ở vùng dân tộc ít người miền núi Ngân hàng thế giới cũng có công trình: Đói
nghèo và bất bình đẳng ở Việt Nam Tác phẩm đã phân tích thực trạng nghèo
đói ở Việt Nam và đó là một trong những nguyên nhân dẫn tới bất bình đẳng nhiều mặt của người nghèo
Trang 9Những công trình về kinh tế xã hội và tác động của những lĩnh vực này
đối với công việc xóa đói giảm nghèo Nguyễn Văn Thường (2004): Một số
vấn đề kinh tế xã hội Việt Nam thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội, nêu lên sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam gắn liền với xoá đói giảm nghèo
Cùng một chủ đề như vậy còn có tác phẩm của Ngô Quang Minh (1999): Tác
động của kinh tế Nhà nước góp phần xóa đói giảm nghèo trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Trần Thị
Hằng (2001): Vấn đề giảm nghèo trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
hiện nay, Nxb Thống kê, Hà Nội
Những công trình nghiên cứu nguyên nhân đói nghèo ở nước ta và đưa
ra những giải pháp xóa đói giảm nghèo Nguyễn Đình Huấn (8-1999): Suy
giảm năng lực nội sinh ở nông thôn nước ta, nguyên nhân và giải pháp, Tạp
chí Nghiên cứu kinh tế; Nguyễn Thị Hằng (1997): Vấn đề xóa đói giảm nghèo
ở nông thôn nước ta hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Thị
Hằng, Trần Đình Hoan, Bùi Trọng Thanh (1997): Vấn đề xóa đói giảm nghèo
ở nông thôn nước ta hiện nay, NXb Lao Động - Xã Hội, Hà Nội; Lê Xuân
Bá, Chu Tiến Quang, Lê Xuân Đỉnh: Nghèo đói và xóa đói giảm nghèo ở Việt
Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội; Hà Quế Lâm (2002): Xóa đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nước ta hiện nay - Thực trạng và giải pháp, NXb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội
Xóa đói giảm nghèo cũng là những đề tài học vị Tiến sĩ, Thạc sĩ Trần
Đình Đàn (2002): Những giải pháp kinh tế - xã hội chủ yếu nhằm xóa đói
giảm nghèo ở Hà Tĩnh, Luận án TS kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ
Chí Minh, Hà Nội; Trần Thị Hằng (2000): Vấn đề giảm nghèo trong nền kinh
tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, Luận án TS Kinh tế, Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội; Hoàng Thị Hiền (2005): Xóa đói giảm nghèo
với đồng bào dân tộc ít nguời tỉnh Hoà Bình - Thực trạng và giải pháp, Luận
Trang 10văn thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội;
Nguyễn Hoàng Lý (2005): Xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Gia Lai - Thực trạng
và giải pháp, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học Viện Chính trị Quốc gia, Hà Nội;
Nguyễn Thị Hải (2000): Những giải pháp chủ yếu về quản lý nhằm xóa đói
giảm nghèo ở nông thôn Phú Thọ hiện nay, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội; Thái Văn Hoạt (2007): Giải pháp
xóa đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Quảng Trị trong giai đoạn hiện nay,
Luận văn thạc sĩ kinh doanh và quản lý, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh, Hà Nội; Đỗ Thế Hạnh (2000): Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm
xóa đói giảm nghèo ở vùng định canh định cư Thanh Hoá, Luận văn thạc sĩ
kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội
Xóa đói giảm nghèo cũng là những đề tài khoa học các cấp độ Nhà
nước, cấp Bộ và cấp cơ sở Đề tài “Phát triển bền vững nông thôn vùng Bắc -
Trung bộ (bao gồm các tỉnh từ Thanh Hoá đến Thừa Thiên Huế) xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm, bảo vệ nguồn tài nguyên đất” do TS Trần Ngọc
Ngoạn làm chủ nhiệm Đề tài đã xem xét đánh giá thực trạng tình hình nông thôn Bắc - Trung bộ Việt Nam dưới góc độ thực hiện các mục tiêu bền vững và các mục tiêu thiên niên kỷ mà Việt Nam đã cam kết trên các lĩnh vực như xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, bảo vệ nguồn tài nguyên và đa dạng sinh học Đề tài phát triển kinh tế với vịêc xóa đói giảm nghèo ở huyện Như Thanh, Thanh Hoá của Phạm Thế Dũng Công trình đã đề cập đến xóa đói giảm nghèo kết hợp với phát triển kinh tế trên phạm vi huyện Như Thanh, Thanh Hoá
Có những công trình đề cập đến chính sách của Đảng và Nhà nước
nhưng liên quan đến xóa đói giảm nghèo Nguyễn Thị Hằng (2001): Bàn về
mục tiêu, nhiệm vụ và những biện pháp lớn của công tác di dân xây dựng kinh
tế mới đến năm 2000, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội; Lê Huy Ngọ (2001): Phát triển nông nghiệp, nông thôn miền núi trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
Trang 11đại hoá, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội; Ngôn Nghiệp (2004): Công tác tuyên truyền ở vùng dân tộc và miền núi trong tình hình mới, Nxb Văn hoá Dân
tộc, Hà Nội; Lê Hải Đường (2004): Đổi mới phương thức chuyển giao khoa
học và công nghệ vào vùng dân tộc và miền núi, Nxb Văn hoá Dân tộc, Hà
Nội; Hoàng xuân Thuận (2004): Quản lý Nhà nước về khoa học công nghệ ở
vùng dân tộc miền núi, Nxb Văn hoá Dân tộc, Hà Nội
Nhìn chung các công trình nghiên cứu đã đề cập đến nhiều khía cạnh của vấn đề xóa đói, giảm nghèo Thực trạng nghèo đói trên thế giới và Việt Nam cũng như nguyên nhân của nghèo đói, sự nghiệp xóa đói giảm nghèo trên toàn quốc, ở cấp tỉnh và một số huyện, kinh nghiệm xóa đói giảm nghèo thành công cũng như chưa thành công Đây là những tư liệu khoa học quý sẽ được tiếp thu có chọn lọc trong quá trình viết luận văn của tác giả
Song về xóa đói giảm nghèo ở huyện Nga Sơn thì chưa có một công trình nào nghiên cứu Vì vậy đề tài của tác giả là hoàn toàn mới
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Nghiên cứu làm rõ những chính sách, chủ trương, đường lối của Đảng
bộ huyện Nga Sơn; trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp và những kinh nghiệm
cơ bản nhằm thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo của huyện trong giai đoạn hiện nay
3.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích nêu trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ cụ thể sau đây:
Thứ nhất, trình bày một số những quan niệm về nghèo đói một cách có
hệ thống và phân tích sự cần thiết khách quan phải thực hiện việc xóa đói giảm nghèo, đồng thời nêu ra một số kinh nghiệm của một số nước trong khu vực về giải quyết vấn đề đói nghèo
Trang 12Thứ hai, làm rõ những chủ trương, chính sách và việc thực hiện xóa
đói giảm nghèo của Đảng bộ huyện Nga Sơn
Thứ ba, rút ra những kinh nghiệm cơ bản để giải quyết vấn đề xóa đói
giảm nghèo của huyện trong giai đoạn hiện nay
4 Đối tượng, giới hạn phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu quá trình Đảng bộ huyện Nga Sơn lãnh đạo thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo, tập trung vào chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng bộ huyện Nga Sơn (tỉnh Thanh Hóa) từ năm 2000 đến năm 2010
4.2 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện Nga Sơn thực hiện xóa đói giảm nghèo
- Về không gian: Huyện Nga Sơn (tỉnh Thanh Hóa)
- Về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu quá trình Đảng bộ huyện Nga Sơn lãnh đạo thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo từ năm 2000 đến năm 2010
5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận, thực tiễn
- Cơ sở lý luận của luận văn:
Hệ thống những quan điểm, tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về XĐGN
Các Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI, VII, VIII, IX,
X, XI; những tác phẩm của các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam có liên quan đến luận văn có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận và phương pháp luận đối với những vấn đề được đề cập trong luận văn
Trang 13Khi viết luận văn, tác giả chú ý sử dụng, tham khảo một số công trình nghiên cứu, bài viết của các nhà khoa học ở trong nước; số liệu thống kê, điều tra xã hội học của các cơ quan nghiên cứu, tổng hợp, lưu trữ Những vấn đề
có liên quan đến luận văn mà các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu, các công trình khoa học đi trước đã nêu ra được xem như là những chỉ dẫn, gợi ý khoa học có ý nghĩa phương pháp luận cho tác giả luận văn
- Cơ sở thực tiễn của luận văn:
Trên cơ sở phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tác giả luận văn trực tiếp khảo sát, điều tra xã hội học, nghiên cứu thực tiễn những chính sách xóa đói giảm nghèo của huyện Nga Sơn hiện nay Tác giả luận văn chú ý nghiên cứu thực tiễn xóa đói giảm nghèo qua một số tài liệu tổng hợp của các cơ quan nghiên cứu Trên cơ sở
đó, người viết luận văn cố gắng phân tích, khái quát nhằm rút ra những kết luận khoa học, phát hiện những vấn đề có tính quy luật, những nhân tố khách quan và chủ quan chủ yếu tác động đến chính sách xóa đói giảm nghèo của huyện Nga Sơn từ năm 2000 đến năm 2010
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dưới góc độ kinh tế từ đó ảnh hưởng đến tình hình chính trị, xã hội Những phương pháp nghiên cứu của triết học, kinh
tế chính trị Mác - Lênin, khoa học lịch sử và xã hội học, được vận dụng tổng hợp để tìm ra con đường, phương pháp tiếp cận, giải quyết các vấn đề đặt ra trong luận văn Tác giả luận văn đặc biệt chú ý vận dụng các phương pháp: kết hợp lôgic và lịch sử, so sánh, phân tích, tổng hợp, nguyên tắc thống nhất giữa kinh tế và chính trị - xã hội, cái riêng và cái chung, trong đó phương pháp lịch sử - lôgic là phương pháp chủ yếu
6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Trang 14Một là, góp phần làm rõ những chủ trương, chính sách của Đảng bộ
huyện Nga Sơn về xóa đói giảm nghèo
Hai là, đưa ra một số giải pháp và những kinh nghiệm cơ bản để giải
quyết vấn đề xóa đói giảm nghèo của huyện trong giai đoạn hiện nay
Ba là, góp phần cung cấp thêm nguồn tài liệu về quá trình Đảng bộ
huyện Nga Sơn lãnh đạo thực hiện công tác xóa đói, giảm nghèo nói riêng, tư liệu lịch sử về huyện Nga Sơn nói chung và làm cơ sở giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ trong quá trình xây dựng huyện Nga Sơn hiện nay
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương, 6 tiết:
Chương 1: Quan niệm về xóa đói, giảm nghèo và đặc điểm địa lý, kinh
tế xã hội của huyện Nga Sơn (tỉnh Thanh Hóa)
Chương 2: Chủ trương và chỉ đạo của Đảng bộ huyện Nga Sơn (tỉnh
Thanh Hóa) thực hiện xóa đói, giảm nghèo từ năm 2000 đến năm 2010
Chương 3: Kết quả và kinh nghiệm của Đảng bộ huyện Nga Sơn (tỉnh
Thanh Hóa) lãnh đạo thực hiện xóa đói, giảm nghèo từ năm 2000 đến năm 2010
Trang 151.1.1 Quan niệm về đói nghèo
Đói nghèo là vấn đề xã hội mang tính toàn cầu Cho đến nay, đói nghèo vẫn là nỗi ám ảnh đối với các quốc gia trên thế giới Loài người chúng ta đã chứng kiến những thảm họa của các cuộc chiến tranh tàn sát, thiên tai, dịch bệnh và những hậu quả do nạn đói gây ra vô cùng khủng khiếp Nó cướp đi nhiều sinh mạng, làm cho hàng triệu người không được hưởng thụ những thành quả của nền văn minh tiến bộ mà còn gây ra hậu quả nghiêm trọng về kinh tế xã hội đối với sự phát triển, tàn phá môi trường sinh thái
Vấn đề đói nghèo nếu không được giải quyết thì không một mục tiêu nào của thế giới cũng như quốc gia đặt ra như tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống, ổn định hòa bình, công bằng, bình đẳng, bảo đảm các quyền con người được thực hiện Rõ ràng, vấn đề xóa đói, giảm nghèo trở thành vấn đề toàn cầu phải được quan tâm, chú ý và giải quyết
Khái niệm đói nghèo có thể tách ra, phân tích và nhận dạng giữa đói
và nghèo:
Đói là một khái niệm thường được nhận diện ở 2 dạng: thiếu đói và đói gay gắt Thiếu đói là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới tối thiểu, chỉ đủ khả năng đảm bảo mức lương thực bữa đói, bữa no và có những khi phải đứt bữa từ một, hai hoặc ba tháng Đói gay gắt là tình trạng của một
bộ phận dân cư có mức sống tối thiểu, đói ăn, đứt bữa, đang phải sống trong một tình trạng hết sức khó khăn Chúng ta thấy khái niệm này vẫn thuần túy
Trang 16là đói ăn thuộc phạm trù kinh tế - xã hội Nó khác với đói thông tin, đói hưởng thụ văn hóa
Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có những điều kiện thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu và cơ bản nhất trong cuộc sống và có mức thu nhập thấp hơn mức sống của cộng đồng xét trên mọi phương diện: ăn, mặc, ở,
vệ sinh, giáo dục, y tế và nhiều nhu cầu khác Theo cách hiểu khác: Nghèo là một bộ phận dân cư có mức sống dưới ngưỡng quy định của sự nghèo Nhưng ngưỡng nghèo còn phụ thuộc vào đặc điểm cụ thể của từng địa phương, từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội cụ thể của từng địa phương hay từng quốc gia
Nghèo chia thành nhiều mức khác nhau: nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối, nghèo có nhu cầu tối thiểu Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân
cư thuộc diện nghèo không có khả năng thỏa mãn nhu cầu tối thiểu của cuộc sống như ăn, mặc, ở, đi lại… Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân
cư thuộc diện nghèo có mức sống dưới mức sống trung bình của cộng đồng
và địa phương đang xét Nghèo có nhu cầu tối thiểu là tình trạng một bộ phận dân cư có những đảm bảo tối thiểu để duy trì cuộc sống như đủ ăn, đủ mặc,
đủ ở và một số sinh hoạt hàng ngày nhưng ở mức tối thiểu
Trên đây là những khái niệm chung nhất, phương pháp đánh giá, nhận diện nét chủ yếu, phổ biến về nghèo đói Trọng tâm của vấn đề là nhu cầu của con người Tuy vậy, trong khái niệm chưa thể hiện rõ chuẩn mực đánh giá về mặt định lượng, chưa tính đến sự khác biệt, chênh lệch giữa các vùng lãnh thổ, quốc gia, các điều kiện cụ thể Sự phát triển của sản xuất, tăng trưởng kinh tế làm tăng thêm nhu cầu của đời sống con người, tạo ra những biến đổi của xã hội Do đó, khái niệm về “nghèo” và “đói nghèo” cũng biến động theo
nó Thực tế cho thấy các chỉ số xác định đói nghèo thường được gắn liền với
Trang 17điều kiện kinh tế - xã hội Hiện tượng đói nghèo có tính lịch sử và đang có sự biến động trong sự vận động chung của đất nước
Ở nước ta, việc xác định chuẩn nghèo luôn thay đổi theo từng thời kỳ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan được Chính phủ giao trách nhiệm nghiên cứu và xem xét chuẩn mực nghèo đói của cả nước qua từng thời kỳ Chuẩn mực nghèo đói là một khái niệm động phụ thuộc vào phương pháp tiếp cận, điều kiện kinh tế và thời gian Từ đó xác lập được chuẩn mực đói nghèo
Năm 1996 chuẩn mực đói được đánh giá như sau:
Bảng 1: Chuẩn mực đói nghèo năm 1996
(Nguồn: Bộ lao động – thương binh xã hội năm 1996)
Chuẩn mực đói nghèo năm 1997 được đánh giá tại quy định số 1751/LĐTBXH ngày 20/5/1997 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội như sau:
Hộ đói: là hộ có mức thu nhập bình quân một người trong hộ một tháng quy ra gạo dưới 13 kg, tương đương với 45.000 đồng/người/tháng (tính cho mọi vùng)
Hộ nghèo: là những hộ có mức thu nhập bình quân quy ra gạo: vùng nông thôn, miền núi, hải đảo dưới 15kg/người/tháng (tương đương với
Trang 18700.000 đồng); vùng nông thôn đồng bằng, trung du dưới 20kg/người/tháng; vùng thành thị dưới 25kg/người/tháng (tương đương với 90.000 đồng) Chuẩn mực này áp dụng đến hết năm 2000
Từ ngày 1/1/2001 nước ta áp dụng chuẩn nghèo mới theo quyết định số 1143/2000 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định:
Vùng nông thôn miền núi và hải đảo: Hộ nghèo là những hộ có thu nhập bình quân dưới 80.000 đồng/người/tháng; 960.000 đồng/người/năm
Vùng nông thôn đồng bằng: hộ nghèo là những hộ có mức thu nhập dưới 100.000 đồng/người/ tháng; 1.200.000 đồng/người/năm
Vùng thành thị: hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân dưới 150.000 đồng/người/tháng; 1.800.000 đồng/người/năm
Chuẩn mực nghèo đói năm 2003 được đánh giá như sau:
Hộ đói: ở nông thôn là những hộ có thu nhập bình quân dưới 8kg gạo/người/tháng; ở thành thị là những hộ có thu nhập bình quân dưới 13kg gạo/người/tháng
Hộ nghèo: ở nông thôn là những hộ có mức thu nhập bình quân dưới 13kg gạo/người/tháng; ở thành thị là những hộ có mức thu nhập dưới 18kg gạo/người/tháng
Theo quyết định số 170/2005/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ, thì chuẩn nghèo mới được áp dụng cho giai đoạn 2006 - 2010 được xác định như sau:
Trang 19trong đó thu nhập theo đầu người trên tháng (được tính bằng VNĐ hoặc tương đương kg gạo) là chỉ tiêu hàng đầu
Bảng 2: Chuẩn nghèo của Việt Nam qua các giai đoạn
Giai đoạn
Thu nhập theo đầu người/tháng Nông thôn, miền núi,
hải đảo Nông thôn đồng bằng Thành phố
2000 - 2005 < 80.000đ ~ < 20.000 kg gạo < 100.000đ ~ < 20 kg gạo < 15.000đ ~ < 35kg gạo
(Nguồn: Tạp chí khoa học, số 2, năm 2007)
Như vậy, chuẩn nghèo đói luôn thay đổi biến động, phụ thuộc vào phương pháp, cách tiếp cận, điều kiện kinh tế - xã hội và thời gian
Đói nghèo là hậu quả của nhiều nguyên nhân, nhưng những nguyên nhân chính gây ra đói nghèo có thể phân theo 3 nhóm:
Nhóm nguyên nhân do điều kiện kinh tế - xã hội: khí hậu khắc nghiệt, thiên tai, bão lụt, hạn hán, đất đai cằn cỗi, địa hình phức tạp, giao thông khó khăn, kinh tế chậm phát triển, hậu quả chiến tranh để lại
Nguyên nhân chủ quan của người nghèo: thiếu kiến thức làm ăn, thiếu vốn, đông con, thiếu lao động, không có việc làm, mắc các tệ nạn xã hội hay lười lao động
Nhóm nguyên nhân thuộc về cơ chế chính sách: thiếu hoặc không đồng
bộ về chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các khu vực khó khăn; chính sách khuyến khích sản xuất; vốn tín dụng, hướng dẫn cách làm ăn, khuyến nông - lâm - ngư nghiệp, chính sách trong giáo dục, đào tạo, y tế…
Đói nghèo là hiện tượng kinh tế xã hội, nó ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của cả cộng đồng xã hội, phổ biến ở mọi quốc gia nhưng không thể giải quyết triệt để vấn đề này trong một thời gian ngắn và trên quy mô toàn xã hội
Vì vậy, vấn đề xóa đói giảm nghèo chỉ có thể giải quyết dần từng bước và là
Trang 201.1.2 Chủ trương của Đảng về xóa đói, giảm nghèo
Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xóa đói giảm nghèo
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi vào lịch sử như một lãnh tụ tối cao của Đảng và của dân tộc, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào giải phóng dân tộc, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, người bạn của các dân tộc bị áp bức và nhân loại của thế kỷ
XX Lịch sử dân tộc và lịch sử nhân loại sẽ mãi mãi ghi nhớ tên tuổi chói lọi
Hồ Chí Minh - “Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa” thế giới
Những di sản của Người sẽ sống mãi với thời gian, với cuộc đấu tranh cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, cho quyền được sống và được hưởng tự do, hạnh phúc của các dân tộc, của mỗi con người
Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lê nin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam Do đó, tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh đối với con người, đặc biệt là những người nghèo khổ xuất phát từ quan điểm Mác xít về con người và giải phóng con người Chủ tịch Hồ Chí Minh khi còn là thiếu niên đã sớm hiểu biết và rất đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào Lúc bấy giờ, Người đã có chí đuổi thực dân Pháp, giải phóng dân tộc Với tình yêu thương đồng bào phải chịu cảnh nước mất, nhà tan, Người đã ra đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc Trong hành trang
ra đi tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh, yêu nước và thương dân là hai yếu
tố quan trọng nhất Người đã từng khẳng định rằng: Lòng yêu nước của tôi với nhân dân và nhân loại không bao giờ thay đổi Đó chính là sự đồng cảm của những con người cùng cảnh ngộ, những người dân mất nước, nô lệ lầm than
Chăm lo đời sống của nhân dân chính là chăm lo đến lợi ích của họ Hồ Chí Minh trong tư tưởng cũng như trong hành động, luôn xuất phát từ nhu cầu, lợi ích của người lao động Khi cách mạng mới thành công, tại phiên họp ngày 3/9/1945 của Hội đồng Chính phủ, Hồ Chí Minh đã đề ra 6 nhiệm vụ
Trang 21cấp bách, trong đó có nhiệm vụ chống nạn đói Điều này thể hiện bản chất của Chính quyền cách mạng và tình yêu thương của Bác đối với những người
nghèo khổ Người đã kêu gọi đồng bào cả nước “Sẻ cơm nhường áo”: “Hỡi
đồng bào yêu quý Từ tháng giêng đến tháng bảy năm nay, ở Bắc bộ nước ta
đã có 2 triệu người chết đói Kế đó lại bị nước lũ, nạn đói càng tăng lên, nhân dân càng khốn khổ Lúc chúng ta nâng bát cơm lên mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng” [67, tr 31] Trong bài phát biểu tại cuộc
họp đầu tiên của Ủy ban nghiên cứu kế hoạch kiến quốc (thành lập ngày
31/12/1945), Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “…Chúng ta giành được tự do, độc
lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ Chúng ta phải thực hiện ngay:
1 Làm cho dân đủ ăn
2 Làm cho dân đủ mặc
3 Làm cho dân có chỗ ở
4 Làm cho dân được học hành
Cái mục đích chúng ta đi đến là bốn điều đó Đi đến để dân nước ta xứng đáng với tự do, độc lập và giúp sức cho tự do độc lập” [67, tr 152] Bác
còn ra lời kêu gọi mọi người giúp đỡ người nghèo:“Tôi xin đề nghị với đồng
bào cả nước và tôi xin thực hiện trước: Cứ mười ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ăn ba bữa Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo” [67,
tr 31] Bằng tình yêu thương đối với những người nghèo khổ, Người đã gương mẫu thực hành tiết kiệm để cứu đói Nhờ vậy mà phong trào “sẻ cơm nhường áo” đã thu hút đông đảo nhân dân cả nước tham gia
Chính sách độc ác của phát xít Nhật và thực dân Pháp như: ép thu thóc, bắt nhổ lúa trồng đay đã làm cho hơn 2 triệu đồng bào Bắc bộ bị chết đói vào cuối năm 1944 đầu năm 1945, kế đó lại bị lụt, bị hạn, lại bị bọn thực dân Pháp
Trang 22gây chiến tranh ở Nam Bộ làm cho việc đem gạo từ Nam ra Bắc gặp rất nhiều khó khăn Nạn đói cũng hết sức nguy hiểm Muốn chống giặc đói cũng phải
huy động và tổ chức tất cả lực lượng của đồng bào toàn quốc: “ Nạn đói đã
đến rồi Nếu chúng ta không lập tức tìm hết mọi cách để chống nó, thì trong vài tháng nữa, nạn đói sẽ đè lên đầu dân ta” [67, tr 93] Người đã đề ra một
số cách chống đói như: cấm nấu rượu, vùng này san sẻ thức ăn cho vùng khác, ra sức tăng gia trồng trọt các loại cây ngắn ngày Nói tóm lại, bất cứ cách gì, hễ làm gì cho dân ta đỡ đói lúc này và ngăn ngừa nạn đói mùa sau
chúng ta đều phải làm cả Theo Người: “Công việc chống đói cũng như công
việc to lớn khác, phải kiên quyết, phải phấn đấu, phải sẵn sàng hi sinh, phải đoàn kết nhất trí Ví dụ: cấm nấu rượu gạo, cấm bánh ngọt trong mấy tháng thì những người có nghề đó chắc phải thiệt thòi Nhưng các đồng bào đó cũng sẵn lòng hy sinh lợi ích của mình để cứu cho đồng bào khỏi nạn đói Chắc không ai thấy đồng bào chết đói mà nỡ lòng no ấm một mình”[67, tr 94]
Người cho rằng: “Chống nạn đói cũng như chống một cuộc ngoại xâm,
ta nhất định thành công vì đồng bào ta ai cũng sẵn lòng hăng hái Nhưng các bạn phụ trách các địa phương phải biết cách tuyên truyền, biết cách giải thích cho ai nấy đều hiểu rõ, đều thực hành Các bạn phải có sáng kiến để tìm
ra cách làm được việc mà không mất lòng dân Nhất là đối với chữ Cần, chữ Kiệm, chữ Hy sinh, chữ Công bằng thì các bạn phải thực hành trước; phải làm gương cho dân chúng noi theo”[67, tr 94]
Trong “Lời kêu gọi nhân dịp phát động phong trào sản xuất và tiết
kiệm” (3/1952), Hồ Chủ tịch đã nói: “Lâu nay, chúng ta đòi hỏi nhân dân đóng góp Từ đây, chúng ta phải ra sức hướng dẫn và giúp đỡ nhân dân hơn nữa trong việc sản xuất và tiết kiệm, cải thiện đời sống nhân dân, để làm cho dân giàu, nước mạnh Có như thế nhân dân mới càng thấy Chính phủ hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân” [69, tr 441] Như vậy, xuất phát từ bản chất của chế
Trang 23độ ta và nhạy cảm trước nhu cầu cấp thiết của nhân dân, Người đã đưa ra nhiều chính sách và giúp đỡ nhân dân hơn nữa trong sản xuất và tiết kiệm
Bài nói chuyện tại Hội nghị sản xuất cứu đói (13/6/1955), Người đã
nói: “Tục ngữ có câu: “Dân dĩ thực vi thiên” nghĩa là dân lấy ăn làm trời,
nếu không có ăn là không có trời Lại có câu: “Có thực mới vực được đạo” nghĩa là không có ăn thì chẳng làm được việc gì cả Vì vậy, chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân Nếu dân đói là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân rét là Đảng và Chính phủ
có lỗi, nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”[70, tr 572] Bác luôn là người quan tâm, chăm lo cho dân
từ “miếng cơm manh áo” Người hiểu rõ những nhu cầu thiết yếu của họ Từ
đó đã thu phục lòng dân và tập hợp sức mạnh của quần chúng nhân dân đoàn
kết đấu tranh xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc “Vì vậy cán bộ Đảng và Chính
quyền từ trên xuống dưới, đều phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân Phải lãnh đạo tổ chức, giáo dục nhân dân tăng gia sản xuất và tiết kiệm Dân đủ ăn đủ mặc thì những chính sách của Đảng và Chính phủ đưa ra sẽ dễ dàng thực hiện Nếu dân đói, rét, dốt, bệnh thì chính sách của ta dù có hay mấy cũng không thực hiện được” [70, tr 572] Cho nên: “Phải biết giáo dục, lãnh đạo, giúp đỡ nhân dân tham gia sản xuất và tiết kiệm Phải tiết kiệm là
vì nếu được bữa nào xào bữa ấy thì sẽ thiếu vốn Nếu cán bộ khéo léo lãnh đạo và thiết thực giúp đỡ đồng bào và đồng bào cố gắng tăng gia sản xuất và tiết kiệm thì dân sẽ no ấm, mọi việc trôi chảy, thuế khóa dễ thu, tài chính dồi dào, dân no thì nước giàu” [70, tr 572] Người đã chỉ ra cách làm cụ thể để
tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm nhằm chăm lo đến đời sống của nhân
dân: “Vì nước ta là một nước nông nghiệp, mọi việc đều dựa vào nông
nghiệp…cho nên chính sách tăng gia sản xuất và tiết kiệm là chính sách căn bản của chúng ta Tăng gia sản xuất và tiết kiệm để nâng cao đời sống của
Trang 24nhân dân, khôi phục kinh tế, mở mang văn hóa và đề phòng đói, chống đói”
[70, tr 572-573]
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh
là nhà lãnh đạo kiệt xuất, nhà tư tưởng vĩ đại, một tấm gương trong sáng về đạo đức, lối sống Tấm gương tiêu biểu về tính nhất quán quyết tâm thực hiện xóa đói giảm nghèo, không những chỉ riêng trong nước mà mong muốn của Người là xóa đói khổ cho tất cả mọi người trên thế gian Trước lúc đi xa Người vẫn không thôi canh cánh bên lòng mối quan tâm đến con người và
căn dặn: “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn
hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân” [71, tr 498]
“Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới” [71, tr 500]
Tư tưởng của Hồ Chí Minh về chống đói nghèo đã được Đảng ta phát triển thành đường lối chiến lược toàn diện về tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo với mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xóa đói giảm nghèo
Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã quyết tâm, kiên định theo con đường chủ nghĩa xã hội, xây dựng một chế độ xã hội mới vì con người Phấn đấu vì mục tiêu cao cả dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Không chỉ chú trọng đúng mức đến vấn đề xóa đói giảm nghèo trong xã hội, với nhãn quan chính trị nhạy bén và với trách nhiệm cao cả trước nhân dân, Đảng đã đưa ra chương trình mục tiêu quốc gia “xóa đói giảm nghèo” Trên cơ sở đó, Nhà nước đã có
14 chương trình cấp quốc gia và dự án đang được thực thi có nội dung gắn với xóa đói giảm nghèo
Trang 25Xóa đói giảm nghèo vừa là nhiệm vụ lâu dài, vừa là nhiệm vụ trọng tâm trước mắt Trước đổi mới, với cơ chế quản lý tập trung, quan liêu bao
cấp, mặc dù thu nhập và đời sống của các tầng lớp dân cư phần nào được cải thiện, nhưng vẫn có hơn 70% dân số nghèo Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986), chúng ta đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, chuyển từ bao cấp sang phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế nước ta bắt đầu có bước phát triển, đem lại sự phát triển năng động trong sản xuất kinh doanh, dịch vụ và lĩnh vực khác của đời sống xã hội Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường nảy sinh những mặt tiêu cực cần chú ý giải quyết như sự phân hóa giàu nghèo gây nên bất bình đẳng trong xã hội, cho nên xóa đói giảm nghèo là nội dung và nhiệm vụ cần thực hiện để đảm bảo công bằng xã hội Thực tiễn cho thấy có nhiều nguyên nhân nảy sinh nghèo đói, do đó việc xóa đói giảm nghèo được Đảng và Nhà nước
ta đặc biệt quan tâm, coi đó là nhiệm vụ cơ bản lâu dài, vừa là nhiệm vụ trọng
tâm trước mắt trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở nước ta
Chủ trương xóa đói giảm nghèo của Đảng Cộng sản Việt Nam lần đầu tiên được đề cập trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của
Đảng (9/1991) Nghị quyết chỉ rõ: Cùng với quá trình đổi mới, tăng trưởng
kinh tế phải tiến hành công tác xóa đói giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội, tránh sự phân hóa giàu nghèo quá giới hạn cho phép
Cương lĩnh xây dựng đất nước đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội được Đại hội VII thông qua đã khẳng định: “Phương hướng lớn của
chính sách xã hội là: phát huy nhân tố con người trên cơ sở bảo đảm công bằng, bình đẳng quyền lợi và nghĩa vụ của công dân; kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội; giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần; giữa đáp ứng các nhu cầu trước mắt với chăm lo lợi ích lâu dài;
Trang 26giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội” [41, tr 139] Đến hội nghị
Trung ương lần thứ 5 khóa VII đã chủ trương: Trợ giúp người nghèo bằng cách cho vay vốn, hướng dẫn cách cho vay vốn, hướng dẫn cách làm ăn, hình thành quỹ xóa đói giảm nghèo ở các địa phương trên cơ sở dân giúp dân, Nhà nước giúp dân và tranh thủ các nguồn tài trợ quốc tế, phấn đấu tăng hộ giàu đi đôi với xóa đói giảm nghèo Hội nghị đã đưa ra tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ kinh tế xã hội nông thôn Đối mặt với tình trạng đói nghèo, lạc hậu nhất là ở vùng nông thôn, do đó phải khuyến khích mọi người làm giàu hợp pháp, đi đôi với xóa đói giảm nghèo, phấn đấu để mọi gia đình đều khá giả,
đủ ăn, thu hẹp diện nghèo, vùng nghèo Hưởng ứng phong trào xóa đói giảm nghèo từ đó đề ra những giải pháp phù hợp để xóa đói giảm nghèo, chuyển từ trợ giúp bằng bao cấp sang giáo dục, thuyết phục, kèm cặp, hỗ trợ để người nghèo cùng cộng đồng tự chủ vươn lên làm ăn khá giỏi, thực hiện một bước công bằng xã hội
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã đề ra mục tiêu cụ
thể cho công tác xóa đói giảm nghèo đến năm 2000 là giảm tỷ lệ hộ nghèo
của cả nước từ 20-25% hiện nay xuống còn khoảng 10% vào năm 2000, bình quân giảm 300.000 hộ/năm Trong 2-3 năm đầu của kế hoạch 5 năm tập trung xóa cơ bản nạn đói kinh niên Để triển khai Nghị quyết Đại hội VIII của
Đảng, Chính phủ đã đưa ra chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo theo quyết định số 133/1998/QĐ-TTg ngày 22 tháng 7 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ
Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg ngày 3/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi Trong đó có 1000 xã đặc biệt khó khăn; 1715 xã được tập trung giải quyết trong năm 1999 Tháng 11/1999 Chính phủ đã tổ chức Hội nghị quốc gia về xóa đói giảm nghèo Sau Hội nghị Chính phủ đã chỉ đạo
Trang 27phân công cán bộ, đoàn thể và các tỉnh khá giúp các tỉnh nghèo, khuyến khích các cơ quan, xí nghiệp, tổng công ty nhận giúp xã, huyện xóa đói giảm nghèo
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng tiếp tục khẳng định: Nhà nước tạo môi trường thuận lợi, khuyến khích mọi người vươn lên làm giàu chính đáng và giúp đỡ người nghèo phấn đấu đến năm 2010 về cơ bản không còn hộ nghèo thường xuyên củng cố thành quả xóa đói giảm nghèo, đưa Nghị quyết Đại hội IX vào cuộc sống Chính phủ đã phê duyệt chiến lược toàn diện về tăng trưởng xóa đói giảm nghèo và nhiều quyết định, chương trình, dự án về xóa đói giảm nghèo cho từng vùng, nhất là vùng núi cao, vùng đặc biệt khó khăn nhằm hỗ trợ, tạo điều kiện cho người nghèo có điều kiện phát triển kinh tế và thoát nghèo, vươn lên làm giàu
Trong văn kiện Đại hội IX của Đảng đã khẳng định: “Khuyến khích
làm giàu hợp pháp, đồng thời ra sức xóa đói giảm nghèo”[38, tr 163] Mục
tiêu chiến lược xóa đói giảm nghèo thời kỳ 2001-2010 do Đại hội IX đề ra là:
“Phấn đấu đến năm 2010 về cơ bản không còn hộ nghèo Thường xuyên củng
cố thành quả xóa đói giảm nghèo” [38, tr 211] Đại hội cũng đánh giá về
công tác xóa đói giảm nghèo “công tác xóa đói giảm nghèo trên phạm vi cả
nước đạt kết quả nổi bật, được dư luận thế giới đánh giá cao” [38, tr 162]
Do đó, việc tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình xóa đói giảm nghèo
“quan tâm xây dựng kết cấu hạ tầng cho các vùng nghèo, xã nghèo; đồng thời nâng cấp cải tạo các tuyến trục giao thông, nối vùng nghèo, xã nghèo với các trung tâm của những vùng khác, nhằm tạo thêm điều kiện thuận lợi cho vùng nghèo, vùng khó khăn để phát triển Đi đôi với việc xây dựng kết cấu hạ tầng, phải rất coi trọng việc tạo nguồn lực cần thiết để dân cư ở các vùng khó khăn đẩy mạnh sản xuất, phát triển ngành nghề, tăng thu nhập Nâng dần mức sống của các hộ đã thoát nghèo” [38, tr 299]
Trang 28Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (4/2006) khẳng
định: “Tiếp tục đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo Đa dạng hóa các nguồn lực và
phương thức thực hiện xóa đói giảm nghèo theo hướng phát huy cao độ nội lực và kết hợp sử dụng có hiệu quả sự trợ giúp của quốc tế Nhà nước tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội và trợ giúp về điều kiện sản xuất, nâng cao kiến thức để người nghèo, hộ nghèo, vùng nghèo tự vươn lên thoát nghèo và cải thiện mức sống một cách bền vững; kết hợp chính sách của Nhà nước với sự giúp đỡ trực tiếp và có hiệu quả của toàn xã hội, của những người khá giả cho người nghèo, hộ nghèo, nhất là đối với những vùng đặc biệt khó khăn Ngăn chặn tình trạng tái nghèo” [39, tr 217] Phát huy
hơn nữa vai trò của Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân tham gia công tác xóa đói giảm nghèo
Nghị quyết 30a/2008-NQ-CP của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo, nhằm tạo sự chuyển biến nhanh hơn về đời sống vật chất tinh thần của người dân các huyện nghèo Quan điểm chỉ đạo của Chính phủ là xóa đói giảm nghèo là sự nghiệp của toàn dân, kết quả thành công phụ thuộc trước hết vào nỗ lực vươn lên của người nghèo Nhà nước giành nguồn lực ưu tiên đầu tư tạo điều kiện để các huyện nghèo phát triển nhanh hơn, cải thiện và nâng cao nhanh đời sống vật chất và tinh thần cho người nghèo
Tăng trưởng kinh tế là điều kiện giúp cho việc xóa đói giảm nghèo Sau
20 năm đổi mới nền kinh tế nước ta phát triển với tốc độ tương đối nhanh và đạt được những thành tựu to lớn Với chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta hiện đang dẫn đầu thế giới về xóa đói giảm nghèo, là một trong những nước giảm nghèo thành công, nhất là trong vòng 10 năm gần đây
Trong báo cáo “Việt Nam thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ”, công bố ngày 16/9/2005, Việt Nam đã giảm được trên 60% số người nghèo
Trang 29Ngày nay, trong quá trình phát triển tăng trưởng kinh tế phải luôn gắn
với tiến bộ và công bằng xã hội Vì vậy, Đảng ta khẳng định: “Khuyến khích
làm giàu hợp pháp, chống làm giàu phi pháp đi đôi với chăm lo xóa đói giảm nghèo, thu hẹp dần khoảng cách về trình độ phát triển, về mức sống giữa các vùng, giữa các dân tộc, giữa các tầng lớp dân cư, đặc biệt quan tâm đến các vùng căn cứ cách mạng và kháng chiến cũ, các gia đình thuộc diện chính sách, làm cho mọi người, mọi nhà đều tiến tới ấm no, hạnh phúc, ai cũng có việc làm, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành và chữa bệnh từng bước thực hiện điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong ước”[37, tr 31]
Căn cứ vào chỉ đạo của Đảng, căn cứ quyết định số 05/1998/QĐ-TTg ngày 14/1/1998 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý chương trình mục tiêu quốc gia, theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội,
Bộ trưởng Bộ kế hoạch và đầu tư, Thủ tướng Chính phủ quyết định phê duyệt
“Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo trong giai đoạn 2000” Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan thường trực giúp
1998-Chính phủ thực hiện chương trình Trong đó về xóa đói giảm nghèo bao gồm
những vấn đề sau:
- Xóa đói giảm nghèo gắn với tăng trưởng kinh tế
- Phát huy nguồn lực tại chỗ (nội lực) để người nghèo, xã nghèo vươn
lên tự xóa đói giảm nghèo
- Thực hiện xã hội hóa công tác xóa đói giảm nghèo
Như vậy, có thể thấy xóa đói giảm nghèo là yếu tố cơ bản đảm bảo
công bằng xã hội và tăng trưởng bền vững
Xóa đói giảm nghèo là công việc của toàn xã hội Xóa đói, giảm nghèo
không chỉ dừng lại ở nhiệm vụ thực hiện chính sách xã hội, không chỉ việc riêng của ngành lao động - thương binh và xã hội hay một ngành khác mà đây
là nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân
Trang 30tiến tới thực hiện xã hội hóa công tác xóa đói giảm nghèo Do đó, việc thực hiện thành công chương trình xóa đói giảm nghèo có hiệu quả cần có sự phối hợp của các ngành, từ Trung ương đến địa phương Nắm vững lý luận Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định vai trò và trách nhiệm đứng mũi chịu sào trong công tác xóa đói giảm nghèo làm cho dân giàu nước mạnh Điều này thể hiện trong các văn kiện Nghị quyết qua các thời kỳ Đại hội và Hội nghị Trung ương của Đảng từ trước đến nay Dưới sự lãnh đạo của Đảng, với sự quyết tâm của toàn xã hội, phương hướng nhiệm vụ xóa đói giảm nghèo ở nước ta thời gian qua, hiện nay vững chắc và nhất quán Trên quan điểm thực hiện phát triển hướng theo mục tiêu lý tưởng chủ nghĩa xã hội đã lựa chọn, tất cả cho con người, vì con người, với thực hiện giải pháp một cách đồng bộ và có tham gia của cả cộng
đồng, chúng ta sẽ thành công trong cuộc chiến chống đói nghèo
1.2 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Nga Sơn (tỉnh
sự tích hiện thực và huyền thoại như sự tích quả dưa hấu, động Từ thức, cửa Thần Phù, đền thờ bà Lê Thị Hoa, căn cứ cuộc khởi nghĩa Ba Đình… những
di tích, dấu ấn lịch sử từ buổi sơ khai, lập địa ở Nga Sơn đều chứa đựng tinh thần lao động sáng tạo, lòng yêu nước nồng nàn và ý chí đấu tranh kiên cường bất khuất vì độc lập, tự do của Tổ Quốc Truyền thống lịch sử lâu dài chống ngoại xâm, chế ngự thiên nhiên, xây dựng quê hương càng được hun đúc và nhân lên khi Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng bộ huyện Nga Sơn được
Trang 31thành lập, lãnh đạo nhân dân trong huyện vượt qua nhiều khó khăn thử thách,
đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác
Về kinh tế - xã hội: Nga Sơn là huyện có diện tích rộng, địa hình đa
dạng, đồng bằng xen lẫn núi, sông nên vừa có nhiều thuận lợi lại vừa có khó khăn cho sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện
Trong giai đoạn này, thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Nga Sơn lần thứ XVII và lần thứ XVIII, kinh tế xã hội của huyện có sự chuyển biến quan trọng và rõ rệt
Sản xuất nông nghiệp phát triển toàn diện cả trồng trọt, chăn nuôi và
khai thác cá biển Tổng sản lượng lương thực quy thóc năm 1993 là 36.718 tấn (là năm có sản lượng cao nhất so với những năm trước đó) đạt 104,9% kế hoạch, tăng 18,2% so với năm 1992 Điều đáng chú yếu là sản lượng lương thực vụ đông và vụ mùa đều tăng so với những năm trước Vụ đông đạt 3.512 tấn bằng 140% kế hoạch, vượt 84,6% so với năm 1992 Sản lượng vụ mùa đạt 18.885 tấn bằng 115% kế hoạch, tăng hơn so với cùng kỳ năm trước 27,2% Do tổng sản lượng lương thực tăng cao nên lương thực bình quân đầu người tăng từ 230kg/người năm 1992 lên 270kg/người năm 1993 Các sản phẩm chủ yếu có khả năng xuất khẩu đạt 2.047.000 USD Bước đầu có sự chuyển dịch về cơ cấu sản xuất với 13,9% số hộ sản xuất tiểu thủ công nghiệp, 3,9% hộ làm thương mại và dịch vụ Đời sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt
Tháng 5-1996, Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh hóa lần thứ XIV chủ trương tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy mạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phát huy lợi thế, tiềm năng của các vùng kinh tế, đồng thời đổi mới cơ chế quản lý, khuyến khích các thành phần kinh
tế phát triển Chăm lo giải quyết tốt các vấn đề xã hội, coi đây là nhiệm vụ quan trọng về chiến lược con người Tháng 6-1996, Đại hội Đảng toàn quốc
Trang 32lần thứ VIII xác định đường lối và xây dựng chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 1996-2000 Tiếp tục phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế… Thành công của Đại hội Đảng các cấp càng củng cố niềm tin và tạo động lực mới để Đảng bộ và nhân dân Nga Sơn đẩy mạnh việc thực hiện đường lối đổi mới của Đảng trên địa bàn huyện
Nga Sơn là một trong ba huyện đầu tiên của Thanh Hóa thực hiện đổi mới hợp tác xã nông nghiệp Đến cuối năm 1996, 49 hợp tác xã ở Nga Sơn đều tiến hành xong bước 1, tổng kết kiểm kê và chấm dứt hoạt động của hợp tác xã kiểu cũ Chỉ có 15 hợp tác xã kiểu mới được thành lập tiến độ như vậy
là quá chậm Trước tình hình đó, Ban Thường vụ Huyện ủy ra thông báo về việc tiếp tục lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ đổi mới hợp tác xã nông nghiệp Thường vụ Huyện ủy yêu cầu các xã như Nga Thắng, Nga Trung, Nga Hưng, Nga Thiện… phải tìm các biện pháp để tổ chức ngay các hợp tác xã kiểu mới, nhưng phải tôn trọng triệt để nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi, dân chủ và theo đúng hướng dẫn của Huyện ủy Ủy ban nhân dân huyện tiếp tục cử cán
bộ giúp các xã, đồng thời mở lớp bồi dưỡng cho đội ngũ quản lý hợp tác xã
Năm 1997, các lĩnh vực kinh tế - xã hội phát triển tương đối toàn diện Việc thực hiện các nhiệm vụ do Huyện ủy đề ra đạt kết quả khá Tổng giá trị sản phẩm năm 1997 đạt 297 tỷ đồng tăng 11% so với năm 1995 Thu nhập bình quân trên 1ha canh tác đạt 16,9 triệu đồng Vùng 2 vụ lúa đạt 11 triệu đồng Vùng mầu đạt 13,5 triệu đồng Vùng biển đạt 25 triệu đồng/ha/năm Bình quân lương thực đầu người 260kg/người/năm, tăng 5,7% so với năm
1995 Bình quân thu nhập đầu người 1.350.000 đồng/năm tăng 8,8% so với năm 1995 Năng suất lúa bình quân cả năm đạt 35,3% Tổng sản lượng lương thực cả năm đạt 37.652 tấn (bằng 94% kế hoạch)
Trang 33Trên các lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp thành tựu nổi bật nhất là sản
xuất lương thực Tổng sản lượng lương thực quy ra thóc cả năm đạt 45,7 nghìn tấn, vượt mức kế hoạch (kế hoạch 43 nghìn tấn) và về trước mục tiêu Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVIII đề ra một năm Các xã trong huyện đã thực hiện mạnh mẽ việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, mùa vụ, đưa lúa lai, ngô lai vào thâm canh nhằm tăng nhanh năng suất, sản lượng lương thực Vụ mùa năm 1999 riêng các xã Nga Điền, Nga Phú, Nga Thái, Nga An, Nga Thành có vùng lúa lai tập trung hơn 1000ha, đạt năng suất bình quân 65-70 tạ/ha gấp 2 lần năng suất của các giống lúa khác gieo cấy trên địa bàn huyện Năm 1998-1999, Nga Sơn liên tục là huyện dẫn đầu về năng suất lúa toàn tỉnh Ngày 10-9-1999, tỉnh ủy và Sở Nông nghiệp đã tổ chức hội nghị đầu bờ cho hầu hết các huyện bạn đến thăm quan, học tập về kinh nghiệm gieo cấy lúa lai ở Nga Sơn
Cơ cấu kinh tế tiếp tục có sự chuyển dịch đáng kể theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng tiểu, thủ công nghiệp và dịch vụ Năm 1999,
cơ cấu kinh tế nông - lâm - ngư nghiệp chiếm tỷ trọng 54% (1998: 57,7%) công nghiệp và xây dựng 25,6% (1998: 23,3%), dịch vụ 20,4% (1998: 19%)
Song song với nhiệm vụ phát triển kinh tế, Huyện ủy Nga Sơn đã chỉ đạo các cấp, các ngành tập trung xây dựng cơ cở vật chất kỹ thuật và kết cấu
hạ tầng nông thôn mới Thực hiện phương châm: Nhà nước và nhân dân cùng làm, phát huy tinh thần tự lực, tự cường xây dựng quê hương, Đảng bộ và nhân dân trong huyện đã khơi dậy tiềm năng của các thành phần kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, từng bước làm thay đổi bộ mặt nông thôn Trong năm 1993, huyện đã hoàn thành và đưa vào sử dụng 1,8 km đường nhựa Cầu kênh - Xa Loan, 1,5 km đường thị trấn - ngã Tư Hạnh và đào đắp hàng triệu m3 đất làm đường giao thông nông thôn Huyện còn đắp 15.000m3
đê do tỉnh Thanh Hóa giao, đảm bảo đúng tiến độ và chất lượng Ngoài ra nhờ
Trang 34có sự cố gắng của các cấp chính quyền, năm 1993 nhiều trường học đã được đưa vào sử dụng như: Trường PTCS Nga Yên, Trường PTTH Ba Đình và một
số công trình đang được xây dựng khác Tổng số vốn xây dựng cơ bản là 5 tỷ đồng, trong đó các xã thực hiện 3 tỷ đồng Hệ thống đường dây điện hạ thế cũng được xây dựng ở nhiều xã để phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân
Năm 1999, các mục tiêu xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn tiếp tục phát triển với tốc độ nhanh Trong năm, nhiều công trình mới được hoàn thành và đưa vào sử dụng Tiếp tục kiên cố hóa kênh cấp 1 và kênh nội đồng; đắp đê ở Nga Điền 34.000m3
; tiếp tục đắp đê Ngự Hàm III, làm 3 cống dưới
đê, xây dựng cầu qua sông Hưng Long, huy động toàn dân nạo vét sông Hưng Long dài 4km Kết hợp kinh tế với quốc phòng, huy động dân quân tự vệ đắp
đê chống tràn 14.000m3
Tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất trường phổ thông trung học Mai Anh Tuấn Xây dựng 19 trạm y tế xã, 18 nhà bưu điện, lắp đặt tổng đài mới của trạm bưu điện Mai An Tiêm và 30 km cáp Xây dựng đài truyền thanh huyện, 27/27 xã có trạm hạ thế điện, gần 100% số hộ dùng điện
So với 10 năm trước, bộ mặt nông thôn huyện Nga Sơn thay đổi căn bản
Về văn hóa - xã hội: Nga Sơn là huyện có dân số đông, trình độ dân trí
thấp, đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn chưa nhiều dẫn đến chất lượng giáo dục thấp Thiếu việc làm là vấn đề bức xúc chưa được giải quyết Trang thiết bị phục vụ cho giáo dục và y tế còn yếu và thiếu, ít được chú trọng nên đời sống văn hóa ở cơ sở còn lạc hậu, sức khỏe của người dân chưa được quan tâm Một số hủ tục và tệ nạn tăng nhanh, đời sống của nhân dân trong huyện vốn đã khó khăn lại càng khó khăn hơn
Với tình trạng trên, Đảng bộ Huyện đã phối hợp với các cấp, ban, ngành trong huyện nỗ lực và thường xuyên quan tâm tới đời sống tinh thần của nhân dân So với các năm học trước thì năm học 1998-1999, chất lượng giáo dục đạt kết quả khá tốt cả về giáo dục đạo đức, kiến thức, tổ chức phong
Trang 35trào đoàn đội trong nhà trường Trong năm học có 188 giáo viên giỏi cấp huyện, 19 giáo viên giỏi cấp tỉnh Học sinh giỏi cấp huyện là 502 em, cấp tỉnh
là 99 em trong đó có 7 em được tuyển thẳng đại học Toàn huyện có 9/27 xã
cơ bản hoàn thành phổ cập giáo dục cấp II Trường tiểu học Nga Thủy và Thị trấn đạt tiêu chuẩn trường quốc gia Hai xã Nga Thái và Nga Thành, mỗi xã
đã xây dựng mới 2 trường cao tầng
Bên cạnh đó, công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân được huyện quan tâm hơn cả về vật chất và chuyên môn, hàng năm thăm khám và điều trị cho trên dưới một ngàn người Nhiều hộ có công trình vệ sinh đảm bảo, chính sách kế hoạch hóa gia đình bắt đầu có hiệu quả Tỷ lệ hộ đói nghèo giảm, năm
1999 còn 10,2% (năm 1998 là 14,5%) Trong năm 1999 đã giải quyết việc làm cho 9.000 người Các đối tượng chính sách xã hội và đối tượng có hoàn cảnh khó khăn đã được cấp ủy, chính quyền và các đoàn thể xã hội quan tâm giúp đỡ Với tinh thần uống nước nhớ nguồn, từ năm 1996 đến năm 1999, toàn huyện đã hỗ trợ cho các gia đình chính sách 202 triệu đồng, 96 triệu đồng để sửa nhà cửa, xây 24 nhà tình nghĩa với số tiền là 170 triệu đồng Tặng 286 sổ tiết kiệm với số tiền 500 triệu đồng Tu sửa nghĩa trang liệt sĩ
200 triệu đồng Đời sống văn hóa của nhân dân được nâng lên đáng kể Tuy nhiên, so với nhiều huyện khác trong tỉnh, tệ nạn trong huyện Nga Sơn vẫn còn nhiều làm cho đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn Chính sách xã hội cũng được quan tâm đáng kể tuy nhiên vẫn cần phải quan tâm đến lợi ích chính đáng của nhân dân
Như vậy, có thể khẳng định rằng, trước năm 2000 dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Nga Sơn, đời sống của nhân dân ngày càng nâng cao, mức sống của người dân được cải thiện và tăng đáng kể, nhưng chưa xứng với tiềm năng của huyện Còn nhiều bất cập đặt ra: tăng trưởng kinh tế và thu nhập bình quân người dân còn thấp chủ yếu dựa vào nông nghiệp; dịch vụ du
Trang 36lịch của làng nghề truyền thống (chủ yếu là cói) chậm phát triển, lao động thiếu việc làm, tệ nạn xã hội gia tăng, cơ sở hạ tầng thấp kém; công tác đầu tư xóa đói, giảm nghèo còn chưa được quan tâm nhiều nên sự chênh lệch ở mức sống của người dân còn cao Trong toàn huyện còn nhiều hộ nghèo, khó khăn chồng chất những khó khăn nên huyện cần quan tâm nhiều hơn nữa tới đời sống của nhân dân Muốn làm được điều đó, huyện cần phải đẩy mạnh phong trào xóa đói, giảm nghèo, phải coi đây là chìa khóa để cải thiện và nâng cao mức sống của nhân dân trong huyện Tuy nhiên đây lại là một vấn đề khó khăn và phức tạp trước những năm 2000 và những năm tiếp theo đặt ra cho Đảng bộ và nhân dân huyện Nga Sơn
1.2.2 Một số đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Nga Sơn (tỉnh Thanh Hóa) từ năm 2000 đến năm 2010
Vị trí địa lý: Nga Sơn là huyện thuộc đồng bằng ven biển nằm về phía
đông bắc tỉnh Thanh Hóa, có tọa độ địa lý 19056'23” đến 200
04'10” vĩ độ Bắc; 1050 54’45” đến 1060 04'30” Kinh độ Đông
Trung tâm huyện là thị trấn Nga Sơn, cách thành phố Thanh Hóa khoảng 40 km về phía Nam, cách thị xã Bỉm Sơn khoảng 10 km về phía Tây, cách thị xã Kim Sơn tỉnh Ninh Bình 17 km về phía Bắc Là một huyện miền biển, có quốc lộ, hệ thống tỉnh lộ chạy qua lại được bao quanh với 2 con sông Lèn và sông Hoạt nên rất thuận lợi cho giao lưu kinh tế, văn hóa với các
huyện trong tỉnh và trong cả nước
Huyện Nga Sơn có ranh giới tiếp giáp như sau: phía Bắc giáp huyện Kim Sơn (Ninh Bình) và huyện Hà Trung; phía Đông giáp huyện Kim Sơn (Ninh Bình) và biển Đông, phía Tây giáp thị xã Bỉm Sơn và huyện Hà Trung; phía Nam giáp huyện Hậu Lộc
Huyện có 26 xã và 01 thị trấn, với tổng diện tích tự nhiên là 15.829,15ha (Theo số liệu tổng kiểm kê đất đai năm 2008), bằng 1,35% diện
Trang 37tích tự nhiên toàn tỉnh Dân số tính đến tháng 01/03/2008 là 150.268 người, bằng 4,14% dân số toàn tỉnh, mật độ dân số 943 người/km2 (ở tỉnh 326 người/km2
)
Nga Sơn được bao bọc bởi các con sông: Sông Càn, sông Hoạt, sông Lèn, biển Đông Giao thông đường bộ có quốc lộ 10 chạy qua địa phận huyện dài 18 km theo hướng Bắc Nam, tạo thành trục giao thông chính, tỉnh lộ 13 nối quốc lộ 10 tại xã Nga Mỹ (gần Thị trấn Nga Sơn) dài khoảng 5 km trên địa phận của huyện Với hệ thống giao thông đường thủy, đường bộ thuận lợi thông suốt là điều kiện cơ bản để phát triển sản xuất nông nghiệp, giao lưu trao đổi hàng hóa nông sản, góp phần đẩy mạnh kinh tế của huyện phát triển
Địa hình, khí hậu
Địa hình: Do quá trình bồi đắp của phù sa sông biển, toàn huyện có
dạng hình lượn sóng, tạo thành những dải đất cao, thấp xen kẽ nhau, độ cao giữa các vùng chênh lệch từ 0,3 - 0,5 m Tổng thể nghiêng dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam Phía Tây Bắc là dãy núi đá thuộc vòng cung Tam Điệp
Đặc điểm khí hậu: Nga Sơn nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, là
huyện có địa hình phức tạp, độ dốc chủ yếu (cấp 1 - cấp 3) từ 0 - 150, có hai mùa rõ rệt, mùa hè khí hậu nóng ẩm, chịu ảnh hưởng của gió tây nam (gió Lào) khô nóng, mùa đông khô hanh
Cơ cấu kinh tế ở huyện Nga Sơn: Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo
hướng tích cực, các ngành tiểu thủ công nghiệp, xây dựng; thương mại, dịch
vụ đều tăng cả về giá trị và tỷ trọng trong cơ cấu GDP Lĩnh vực nông, lâm, thủy sản tăng về giá trị nhưng giảm về tỷ trọng trong cơ cấu GDP Tuy vậy,
thu nhập về nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ lớn Kết quả thể hiện ở bảng 3
Trang 38Bảng 3: Cơ cấu kinh tế Nga Sơn qua các thời kỳ
(Nguồn: Phòng Thống kê huyện Nga Sơn)
Bảng 4: Cơ cấu kinh tế qua các thời kỳ
Thực trạng phát triển ngành
Nông nghiệp: Là ngành sản xuất chính, giữ vai trò quan trọng trong
kinh tế của huyện, là nguồn thu nhập chính của đại bộ phận dân cư Mấy năm gần đây đã phát triển vượt bậc Đặc biệt từ khi giao ruộng đất ổn định lâu dài, các hộ nông dân tích cực áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đầu tư thâm canh
vụ %
Trang 39nên năng suất cây trồng tăng lên Trong nông nghiệp đã tập trung chuyển dịch
cơ cấu mùa vụ, cây trồng, vật nuôi, trên cơ sở ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông nghiệp nông thôn từng bước gắn với thị trường và công nghiệp chế biến
Nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản: Đây là lĩnh vực sản xuất mang lại
hiệu quả cao, là thế mạnh của huyện Nga Sơn hiện đang được phát triển Bước đầu huyện đã có chủ trương cho các xã, thị trấn vận động nhân dân đổi điền, dồn thửa, xây trang trại kết hợp (lúa+cá, tôm), nuôi thủy sản nước ngọt
Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp còn nhỏ bé, chậm phát
triển, phần lớn là thủ công nghiệp gia đình chế biến nông sản, sửa chữa cơ khí nhỏ (dệt, chiếu, xe lõi, đan lát )
Thương mại dịch vụ là ngành kinh tế đang được phát triển, phục vụ đắc
lực cho sản xuất nông nghiệp
Hệ thống công trình giao thông: đường bộ chạy qua địa bản huyện có
quốc lộ 10B dài 28km, bề rộng mặt đường bình quân 8m, nền đường nhựa Tỉnh lộ 13 nối quốc lộ 10 với quốc lô 1A tại Nga Mỹ, chạy theo hướng Đông
- Tây dài 5km (trên địa bàn huyện), nền đường rải nhựa bề mặt rộng 7m Ngoài hai đường chính trên, Nga Sơn có đường nối liền với Bỉm Sơn đã được nâng cấp rải nhựa Hệ thống đường liên xã với tổng chiều dài khoảng 68,7km
Tỷ lệ diện tích giao thông so với diện tích tự nhiên là 6,02%
Hệ thống các công trình thủy lợi: hệ thống thủy lợi Nga Sơn bao gồm
các trạm bơm, các công trình trên kênh mương Các công trình trên kênh thuộc xí nghiệp Thủy nông Nga Sơn quản lý
Hệ thống điện: Mạng lưới điện nông thôn đã được rải khắp, đã được
đầu tư Hiện có 62 trạm biến áp, công suất từ 150 - 350 KVA, 100% hộ dân
đã dùng điện
Thực trạng phát triển xã hội
Trang 40Dân số và lao động: Năm 2008, tổng dân số của huyện có 150.268
người, số hộ gia đình là 34.346 hộ Thị trấn có 3400 người, toàn huyện có 63.123 lao động, chiếm 43,5% dân số, trong đó lao động nông nghiệp là 50.973 lao động (bằng 80,75% tổng lao động), lao động ngành nghề khác là 12.150 người (bằng 19,25% tổng lao động) Nguồn lao động của huyện tương đối dồi dào
Y tế: Mạng lưới y tế chăm sóc sức khỏe nhân dân được chú trọng đầu tư
phát triển, các chương trình y tế quốc gia, y tế cộng đồng, bảo vệ sức khỏe ban đầu cho nhân dân bước đầu được thực hiện tốt, ngành y tế Nga Sơn đang từng bước nâng cao chất lượng phục vụ với phương châm “vững tuyến xã, mạnh tuyến huyện”, góp phần nâng cao chất lượng lao động sản xuất
Giáo dục: sự nghiệp giáo dục phát triển nhanh, thể hiện tính vững chắc
chất lượng dạy và học, tính xã hội hóa giáo dục Toàn huyện có 28 trường đạt chuẩn quốc gia, 25/27 xã có trường trung học cơ sở 2 cao tầng Huyện có 4 trường trung học phổ thông, một Trung tâm giáo dục thường xuyên có nhà cao tầng Có đội ngũ giáo viên được cân đối theo khối học, không còn hiện tượng học lồng ghép, học ba ca Có 15 trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia, 32 trường đạt chuẩn quốc gia về diện tích
Đánh giá chung điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ở huyện Nga Sơn Những thuận lợi: Huyện Nga Sơn là huyện đồng bằng ven biển có điều
kiện phát triển kinh tế đa ngành như nông nghiệp, thủy sản, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản Trong nông nghiệp trồng cói cung cấp nguyên liệu tại chỗ cho tiểu thủ công nghiệp, tạo
công ăn việc làm cho người lao động
Huyện Nga Sơn có hệ thống giao thông thuỷ, bộ giao lưu với bên ngoài thông suốt, thuận tiện Nga Sơn gần khu công nghiệp Bỉm Sơn, thị trấn Phát Diệm, trên cơ sở đó dễ dàng nâng cao dân trí, tiếp thu thông tin nhanh nhạy,