Đề tài “Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH giai đoạn 1997 - 2003” được chọn làm luận văn cao học ngành lịch sử, chuyên ngành Lịch sử ĐCSVN là
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Trang 2118
MỤC LỤC
Trang
Mở đầu 1
Chương 1 Cơ sở của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa ở tỉnh Hưng yên giai đoạn 1997 - 2003 7 1.1 Chủ trương của Đảng Cộng sản Vịêt Nam về chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá 7 1.2 Thực trạng và yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở
Hưng Yên 25
Chương 2 Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo chuyển dịch cơ
2003
32
2.1 Quá trình Đảng bộ tỉnh lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu
kinh tế (1997 - 2000) 32 2.2 Quá trình Đảng bộ tỉnh lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu
kinh tế giai đoạn 2001 - 2003 49
Chương 3 Kết quả và một vài kinh nghiệm bước đầu trong
lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên giai đoạn 1997 - 2003 75
3.2 Một vài kinh nghiệm bước đầu trong lãnh đạo chuyển
dịch cơ cấú kinh tế của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên giai đoạn 1997 - 2003 96
Kết luận 105
Danh mục tài liệu tham khảo 109
Trang 31
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Kể từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI đến nay, Đảng CSVN đã đề
ra và không ngừng hoàn thiện đường lối đổi mới toàn diện mà trung tâm là đổi mới kinh tế Điều đó hoàn toàn phù hợp với xu thế thời đại và đòi hỏi của tình hình đất nước, đáp ứng đúng yêu cầu và nguyện vọng của nhân dân Hiện nay cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, kinh tế tri thức, xu thế toàn cầu hoá kinh tế phát triển mạnh mẽ, đang tác động đến mọi quốc gia cũng như mỗi địa phương Ở nước ta, đổi mới lấy phát triển kinh tế trước hết phải lấy phát triển lực lượng sản xuất, CNH, HĐH đất nước là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên CNXH Xuất phát từ thực tiễn một nước nông nghiệp, kinh tế chưa phát triển, Đảng ta đã coi CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn là nhiệm vụ hàng đầu của quá trình CNH, HĐH đất nước Trong
đó, chuyển dịch CCKT nông nghiệp nông thôn theo hướng CNH, HĐH là vấn
đề cốt lõi quan trọng nhất, là qui luật phát triển của nền kinh tế nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH
Nông nghiệp Việt Nam trong những năm đổi mới từ 1986 đến nay đã từng bước chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh theo hướng CNH, HĐH, tạo ra bước phát triển có tính đột phá trên lĩnh vực sản xuất hàng hoá Qúa trình đó còn tác động mạnh đến công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thay đổi mạnh kết cấu hạ tầng nông thôn, xây dựng nông thôn mới, củng cố khối đoàn kết liên minh công, nông, trí thức, rút ngắn khoảng cách giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị và củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng
Hưng Yên là một tỉnh nông nghiệp thuộc châu thổ đồng bằng Bắc Bộ Đây là vùng đất phù sa màu mỡ, phát triển sớm nghề sản xuất lúa nước với nhiều sản phẩm nổi tiếng Với lợi thế tự nhiên có đường quốc lộ số 5, đường sắt Hà Nội - Hải Phòng, nằm trong khu vực trọng điểm kinh tế phiá Bắc và
Trang 42
tam giác tăng trưởng Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, sau khi cầu Thanh Trì, cầu Minh Khai xây dựng xong, cùng với các cầu Triều dương, Yên lệnh, Hưng Yên càng có nhiều lợi thế phát triển Khi còn trong tỉnh Hải Hưng cũ, Hưng Yên đã phát huy được tiềm năng kinh tế nông nghiệp của mình Từ khi tách tỉnh năm 1997 đến nay, Đảng bộ Hưng Yên đã có nhiều chủ trương lớn nhằm phát huy thế mạnh của tỉnh, thu hút mạnh nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước, từng bước chuyển dịch CCKT của địa phương theo hướng CNH, HĐH, nền kinh tế của tỉnh đã có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá nhanh, cơ sở
hạ tầng và đời sống nhân dân trong tỉnh ngày càng được cải thiện
Tuy nhiên trong quá trình phát triển kinh tế, Hưng Yên đang còn những hạn chế và đang đối mặt với nhiều vấn đề mới nảy sinh Thực hiện bước đi CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn như thế nào để phát huy thế mạnh của địa phương, tiếp tục phát huy truyền thống sản xuất lương thực thực phẩm hàng hoá, phát triển các khu công nghiệp, kết hợp kinh tế nông - công nghiệp - dịch
vụ, du lịch, giải quyết việc làm, chế biến nông sản, thực phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ ? Đó là những câu hỏi đòi hỏi đặt ra cho Đảng bộ và nhân dân Hưng Yên tìm câu trả lời
Đề tài “Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH giai đoạn 1997 - 2003” được chọn làm luận văn cao
học ngành lịch sử, chuyên ngành Lịch sử ĐCSVN là để góp phần làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo giải quyết các vấn đề trên, rút ra những kinh nghiệm cần thiết, phấn đấu thực hiện mục tiêu đưa Hưng Yên trở thành một trong những tỉnh đi đầu của cả nước thành tỉnh công nghiệp vào năm
2020
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về chuyển dịch CCKT ở nước ta trong những năm đổi mới như :
Trang 5Một số bài báo viết về chuyển dịch CCKT trên một lĩnh vực cụ thể
đăng trên báo Hưng Yên thời gian qua như bài “Phát triển làng nghề một hướng đi đúng” của Phạm Đức Nhuận (18/8/1999), bài "Công nghiệp - những khởi sắc” của Quốc Việt (1/9/1999), bài “Vùng đất mời gọi đầu tư” của Công Đán (8/10/2001), bài “Nên chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp như thế nào” của TS Lê Hưng Quốc (18/9/2002) và nhiều bài báo riêng lẻ khác
Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học nào tổng kết một cách hệ thống
và toàn diện quá trình Đảng bộ Hưng Yên lãnh đạo chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH trên địa bàn tỉnh
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình mới mẻ do tôi tự nghiên cứu
và thực hiện, chưa có ai nghiên cứu với những nội dung trên, tôi không có sự sao chép bất cứ một công trình khoa học nào khác
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
a Mục đích nghiên cứu của luận văn
- Làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo chuyển dịch CCKT ở địa phương giai đoạn 1997 - 2003
- Đánh giá bước đầu những thành tựu và hạn chế của quá trình chuyển dịch CCKT ở Hưng Yên
Trang 64
- Nêu lên một số kinh nghiệm bước đầu trong lãnh đạo chuyển dịch CCKT giai đoạn 1997 - 2003
a Nhiệm vụ của luận văn
- Trình bày một cách có hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Hưng Yên vận dụng đường lối của Đảng để lãnh đạo chuyển dịch CCKT ở tỉnh từ 1997 -
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu
Nội dung quá trình lãnh đạo chuyển dịch CCKT của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên giai đoạn 1997 - 2003 theo tinh thần của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, IX của Đảng CSVN và thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV
và XV của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên
b Phạm vi nghiên cứu
Sự lãnh đạo của đảng bộ tỉnh Hưng Yên trong thực hiện chuyển dịch CCKT trên các ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp và thương maị dịch vụ, các thành phần kinh tế, các vùng kinh tế trên địa bàn tỉnh
Trang 75
Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng CSVN về phát triển kinh tế, CNH, HĐH đất nước trong thời kỳ đổi mới
* Phương pháp nghiên cứu
- Trên cơ sở phương pháp luận sử học mac - xit, phương pháp nghiên cứu chủ yếu của luận văn là phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic và sự kết hợp hai phương pháp đó để làm rõ quá trình Đảng bộ địa phương lãnh đạo trên một lĩnh vực kinh tế
- Luận văn có sử dụng các phương pháp thống kê, so sánh, lập bảng để trình bày kết quả nghiên cứu làm rõ nội dung nêu trên
* Nguồn tư liệu
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế, các Văn kiện Đại hội
VI, VII, VIII, IX của Đảng CSVN và các Nghị quyết của BCH Trung ương Đảng, BBT , BCT các khoá VI, VII, VIII, IX về phát triển kinh tế
- Các Văn kiện Đại hội XIV, XV Đảng bộ tỉnh Hưng Yên và các Nghị quyết của BCH Đảng bộ tỉnh, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ
- Các Quyết định của UBND tỉnh Hưng Yên và một số số liệu thống kê của Cục thống kê Tỉnh Hưng Yên
- Một số báo cáo tổng kết của các ngành công nghiệp, nông nghiệp, thương mại - du lịch tỉnh Hưng Yên
6 Đóng góp của luận văn
- Đóng góp mới mẻ của luận văn là trình bày một cách tương đối hệ thống và toàn diện quá trình Đảng bộ tỉnh lãnh đạo và tổ chức thực hiện chuyển dịch CCKT theo hướng CNH - HĐH ở Hưng Yên thời kì 1997 - 2003
- Chỉ rõ kết quả nổi bật của quá trình đó và bước đầu tổng kết một số kinh nghiệm lãnh đạo chỉ đạo của Đảng bộ Hưng Yên trong chuyển dịch CCKT
Trang 87 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, mục lục, Luận văn được kết cấu thành 3 chương :
Chương 1: Cơ sở của việc chuyển dịch CCKT theo hướng cụng nghiệp
hoỏ, hiện đại hoỏ ở Hưng Yên giai đoạn 1997 - 2003
Chương 2: Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo chuyển dịch CCKT giai
đoạn 1997 - 2003
Chương 3: Kết quả và một vài kinh nghiệm bước đầu trong lãnh đạo chuyển dịch CCKT của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên giai đoạn 1997 - 2003
Trang 97
Chương 1
CƠ SỞ CỦA VIỆC CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HÓA
Ở TỈNH HƯNG YÊN GIAI ĐOẠN 1997 - 2003 1.1 Chủ trương của Đảng Cộng sản Vịêt Nam về chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
1.1.1 Cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế - khái niệm và nội dung cơ bản
Trước xu thế toàn cầu hoá và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, kinh tế tri thức trên thế giới hiện nay, mỗi quốc gia, mỗi địa phương đều phải tìm cách lựa chọn cho mình một phương án phát triển kinh
tế thích hợp nhằm phát huy tối ưu lợi thế của mình Để phát triển kinh tế, CNH, HĐH đang và sẽ là qui luật chung của tất cả các nước hiện nay, đặc biệt
là với những nước kinh tế chưa phát triển như Việt Nam Lịch sử kinh tế thị trường trên thế giới đã chỉ ra nhiều mô hình phát triển CCKT khác nhau Chuyển dịch CCKT có vai trò rất quan trọng để đưa sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn ngày càng hiện đại Nhận thức sâu sắc điều đó, đường lối kinh tế của Đảng ta là lấy phát triển kinh tế là trung tâm, đẩy mạnh chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH
a Về cơ cấu kinh tế
Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam xuất bản năm 2003: CCKT là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành Các bộ phận của nền kinh tế có vị trí, tỷ trọng và quan hệ tương tác ràng buộc lẫn nhau, luôn luôn vận động hướng vào mục tiêu đã định cuả nền kinh tế
Cơ cấu kinh tế giữ vai trò là cốt lõi của nền kinh tế - xã hội, thể hiện trình độ phát triển chuyên môn hoá các ngành kinh tế trong từng thời kỳ lịch
Trang 108
sử CCKT phản ánh nội dung kinh tế của một xã hội, một vùng nên nó có tính lịch sử, không ngừng vận động và phát triển CCKT không phải là hệ thống tĩnh mà là hệ thống động, các nhân tố của CCKT vận động trong mối quan hệ hữu cơ tác động lẫn nhau, ràng buộc chặt chẽ với nhau; giai đoạn sau cao hơn, hoàn thiện hơn so với giai đoạn trước
Cơ cấu kinh tế mang tính khách quan, được hình thành trên cơ sở trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, sự tăng trưởng của các yếu tố cấu thành nền kinh tế
Nội dung CCKT quốc dân rất phong phú, có thể nghiên cứu dưới nhiều góc độ, lĩnh vực nhưng về cơ bản nội dung đó gồm: CCKT quốc dân, CCKT ngành và nội bộ ngành kinh tế - kỹ thuật, cơ cấu các thành phần kinh tế, cơ cấu các vùng kinh tế theo đơn vị hành chính - lãnh thổ
Trong các nội dung cơ bản của CCKT ở trên thì CCKT ngành là nội dung cơ bản nhất, có tính chất quyết định, phản ánh sự phát triển theo quan hệ cung cầu trên thị trường theo tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế Cơ cấu các thành phần kinh tế chỉ rõ những lực lượng quan trọng thực hiện CCKT ngành, theo hướng của cơ cấu ngành, các thành phần kinh tế được tổ chức thực hiện Cơ cấu ngành và cơ cấu thành phần kinh tế chỉ có thể được chuyển dịch đúng đắn trên từng lãnh thổ cho nên, việc phân bố lãnh thổ một cách hợp lý để phát triển ngành và thành phần kinh tế có ý nghĩa hết sức quan trọng
Việc xác định CCKT hợp lý có ý nghĩa chiến lược quan trọng, thúc đẩy
sự tăng trưởng kinh tế, ổn định tình hình chính trị - xã hội ở mỗi quốc gia, mỗi địa phương Đó cũng là sự đòi hỏi khách quan của tái sản xuất và tăng trưởng kinh tế Nó phụ thuộc vào sự hiểu biết sâu sắc các nhân tố và lợi thế kinh tế, xã hội, kỹ thuật cụ thể ở từng vùng trong từng thời gian và khả năng
tổ chức sản xuất và quản lý kinh tế Trên cơ sở đó khai thác và sử dụng có
Trang 119
hiệu quả nhất tài nguyên, đất đai, sức lao động, tư liệu sản xuất, tiềm năng của mình để phát triển các vùng, nâng cao đời sống nhân dân, khắc phục sự phát triển không đều giữa các vùng, các tầng lớp dân cư
Với ý nghĩa đó, sự lãnh đạo, điều hành kinh tế năng động, nhạy bén của các quốc gia và lãnh đạo các địa phương có vai trò vô cùng quan trọng nhằm phát huy tiềm năng và thế mạnh của mình để phát triển kinh tế theo một CCKT hợp lý
Cơ cấu kinh tế hợp lý phải thoả mãn được năm yêu cầu cơ bản: Một là
phù hợp với các quy luật khách quan mà trước hết là quy luật kinh tế cơ bản
Hai là khai thác hợp lý và phát huy được nguồn lực và tiềm năng của đất
nước, từng vùng, từng địa phương, vận dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và
công nghệ hiện đại Ba là tạo nên sự phát triển cân đối, phát huy được lợi thế của các vùng, các ngành kinh tế Bốn là tạo nên sự gắn kết giữa các loại thị
trường trong nước và ngoài nước, mở rộng các quan hệ hợp tác kinh tế quốc
tế Năm là tạo được tích luỹ ngày càng tăng cho nền kinh tế quốc dân, cùng
với phát triển xã hội phát triển lành mạnh, giữ vững quốc phòng an ninh
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam trong thời kỳ quá độ là xây dựng một CCKT gồm ba nội dung cơ bản sau:
- Cơ cấu ngành: thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, phát
triển nông - lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, đồng thời tăng tốc độ phát triển các ngành công nghiệp, mở rộng khu vực dịch vụ, từng bước đưa nền kinh tế phát triển toàn diện và theo hướng hiện đại
- Cơ cấu thành phần kinh tế: phát triển 6 thành phần kinh tế là: kinh tế
nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể - tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh
tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Trang 1210
- Cơ cấu vùng: phát triển các vùng kinh tế trọng điểm và các vùng
chuyên môn hoá sản xuất có hiệu quả cao
b Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trong quá trình tái sản xuất xã hội, lực lượng sản xuất nói chung và giữa các ngành, các vùng và các thành phần kinh tế luôn luôn biến đổi, phát triển, vì thế CCKT cũng thường xuyên biến động, đó chính là quá trình chuyển dịch CCKT
Theo từ điển Bách Khoa Việt nam xuất bản năm 2003: Chuyển dịch CCKT là quá trình cải biến kinh tế xã hội từ tình trạng lạc hậu, mang nặng
tính chất tự cấp tự túc, từng bứơc vào chuyên môn hoá hợp lý, trang bị kỹ thuật, công nghệ hiện đại, trên cơ sở đó tạo ra năng suất lao động, hiệu quả kinh tế cao và nhịp độ tăng trưởng mạnh cho nền kinh tế nói chung Chuyển dịch CCKT bao gồm việc cải biến CCKT ngành, vùng lãnh thổ và cơ cấu các thành phần kinh tế
Chuyển dịch CCKT là vấn đề khách quan và là quá trình đi lên từng bước dựa trên sự kết hợp hữu cơ các điều kiện chủ quan, các lợi thế kinh tế -
xã hội, tự nhiên trong nước, trong vùng, trong đơn vị kinh tế với các khả năng đầu tư, hợp tác, liên kết, liên doanh về sản xuất, dịch vụ
c Về công nghiệp hóa, hiện đại hoá
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 BCH TW Đảng khoá VII (7/1994) đă xác định rõ: “ CNH, HDH là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ , tạo ra năng suất lao động xã hội cao” [8, tr.65]
Trang 1311
Nước ta hiện nay đang phát triển mạnh kinh tế thị trường vận hành theo
cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN Vì vậy, chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH là nhiệm vụ chiến lược tổng quát nhằm khai thác tối ưu lợi thế các ngành, các lĩnh vực, các vùng để thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế Điều đó cũng có nghĩa là quá trình chuyển dịch từ
cơ cấu nông nghiệp - công nghiệp sang cơ cấu công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp Đặc trưng cơ bản là giá trị sản xuất của cả ba ngành đều tăng lên qua các giai đoạn, nhưng tỷ trọng của ngành nông nghiệp giảm dần trong CCKT quốc dân, sử dụng công nghệ cao với đội ngũ lao động trí tuệ ngày càng nhiều, tỷ lệ lao động nông nghiệp ngày càng giảm dần, lao động công nghiệp
và dịch vụ ngày càng tăng lên
Chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH là quá trình phức tạp và kéo dài trong suốt thời kỳ quá độ Đây là quá trình chưa có tiền lệ, Đảng và Nhà nước ta vừa tìm tòi con đường phát triển, nghiêm túc nghiên cứu kinh nghiệm của các nước đi trước để đề ra chiến lược và bước đi chuyển dịch CCKT đúng hướng
Trong những năm gần đây, nhờ hoạt động theo cơ chế mới, với những bước đi hợp quy luật, CCKT ở nước ta đã có sự chuyển dịch theo hướng CNH, HĐH một cách tích cực và ngày càng hợp lý hơn Tuy nhiên CCKT xã hội cũng đang tồn tại nhiều hạn chế và chịu nhiều tác động của nền kinh tế thế giới Vì vậy, để thúc đẩy chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH, Đảng CSVN đã nêu rõ các quan điểm cơ bản sau đây:
- Chuyển dịch CCKT phải thúc đẩy kinh tế hàng hoá phát triển, phù hợp với mô hình kinh tế thị trường theo định hướng XHCN
- Chuyển dịch CCKT phải khai thác tối ưu khả năng, thế mạnh của từng vùng kinh tế trong cả nước và phát huy sức mạnh tổng hợp của các thành
Trang 14- Chuyển dịch CCKT phải đảm bảo nền kinh tế hoạt động có hiệu quả, bảo đảm môi trường sinh thái bền vững, tăng cường ổn định chính trị - xã hội và
an ninh quốc phòng
- Chuyển dịch CCKT phải phù hợp với xu hướng mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, tranh thủ khả năng thu hút vốn và công nghệ nước ngoài nhằm phát triển kinh tế, thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch CCKT
Vấn đề xuyên suốt là “Quá trình chuyển dịch CCKT được thực hiện thông qua hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh của mọi thành phần kinh
tế dưới tác động của cơ chế thị trường được nhà nước hướng dẫn và thúc đẩy bằng công cụ quản lý vĩ mô và bằng chương trình đầu tư dựa vào nguồn vốn tập trung” [5, tr.12]
1.1.2 Tầm quan trọng và vai trò của chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Bất cứ quốc gia phát triển nào đều tất yếu trải qua thời kỳ công nghiệp hoá Đó là quá trình công nghiệp hoá ở nước Anh thế kỷ XVIII, ở Nhật Bản thế kỷ XIX, ở các nước NICS như Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Công, Singapore thế kỷ XX Ở mức độ khác nhau, các nước đó đều đạt được những thành công trong quá trình công nghiệp hoá
Công nghiệp hoá là nhiệm vụ tất yếu, là nhiệm vụ trung tâm có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển kinh tế của nước ta Đại hội đại biểu
Trang 1513
toàn quốc lần thứ III (9 - 1960) của Đảng đã đề ra đường lối công nghiệp hoá
là: “Thực hiện công nghiệp hoá XHCN bằng cách ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ” [12, tr.559] Hiện nay hoàn cảnh quốc tế và điều kiện
trong nước, thế và lực của đất nước ta đã khác nhiều so với trước Những thành tựu của 18 năm đổi mới đã tăng cường thế và lực của đất nước, cả bên trong lẫn bên ngoài cho phép chúng ta chuyển sang một thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
Tuy nhiên, do điểm xuất phát thấp về kinh tế và phải đi lên trong môi trường cạnh tranh gay gắt nên chúng ta đang đứng trước những thách thức to lớn về kinh tế như nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới Để đẩy lùi nguy cơ đó, thúc đẩy sự nghiệp CNH - HĐH, đòi hỏi chúng ta phải tìm cách chọn lựa những bước đi và có CCKT hợp lý
Nội dung cơ bản của CNH, HĐH bao gồm hai vấn đề cốt lõi là áp dụng rộng rãi tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ sản xuất mới vào các ngành kinh tế và xây dựng CCKT phát triển hợp lý, có hiệu quả và ngày càng hiện đại
Chuyển dịch CCKT và CNH, HĐH có mối quan hệ biện chứng, gắn bó với nhau và thúc đẩy nhau cùng phát triển Chuyển dịch nền CCKT theo hướng hiện đại sẽ tạo điều kiện thuật lợi và là nội dung cốt lõi của CNH, HĐH Quá trình chuyển dịch CCKT vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của quá trình CNH, HĐH và ngược lại CNH, HĐH nền kinh tế tạo điều kiện tiền
đề vật chất - kỹ thuật và là con đường, phương hướng, mục tiêu thúc đẩy chuyển dịch CCKT từ một nền kinh tế phổ biến là sản xuất nhỏ mà chủ yếu là sản xuất nông nghiệp thành một nền kinh tế công nghiệp ngày càng hiện đại
có năng xuất lao động cao, có khả năng phát triển toàn bộ nền kinh tế quốc dân
Trang 1614
Đối với nước ta hiện nay chuyển dịch CCKT tất yếu phải gắn liền và phải phát triển theo hướng CNH, HĐH Chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH là nội dung, là điều kiện cho sự thành công của sự nghiệp CNH, HĐH nền kinh tế quốc dân, thực hiện mục tiêu đến 2020 nước ta về cơ bản sẽ trở thành nước công nghiệp
Chuyển dịch CCKT là chiến lược kinh tế tổng quát nhằm khai thác lợi thế tối ưu của các vùng, các ngành, các lĩnh vực để thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế tạo nên sự gắn kết giữa các ngành, các vùng và các thành phần kinh tế, xuất hiện những yêu cầu lớn hơn để các yếu tố tác động lẫn nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển
Trong điều kiện hiện nay ở nước ta, chỉ có chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH mới có thể khắc phục nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới, mở rộng thị trường trong và ngoài nước, chủ động hội nhập kinh tế thế giới, thu hút các nguồn vốn đầu tư, kinh nghiệm quản lý, chuyển giao công nghệ tiên tiến thế giới
Chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH có vai trò quan trọng trong quá trình nâng cao vị trí chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, tăng cường sức mạnh của hệ thống chính trị XHCN, từ đó thúc đẩy sự nghiệp giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ phát triển văn hoá xã hội, tăng cường khối đoàn kết dân tộc, giữ vững an ninh quốc phòng, rút ngắn khoảng cách chênh lệch về kinh tế giữa các vùng, nhất là vùng núi, vùng sâu, vùng
xa, nông thôn với thành thị tạo động lực cho phát triển toàn diện của đất nước
Chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH sẽ làm thay đổi căn bản bộ măt nông thôn, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân (hiện nay nông dân chiếm tới 76% dân số và 73% lực lượng lao động của toàn xã hội ); góp phần củng cố khối đoàn kết liên minh công, nông, trí thức, nâng cao niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ và con đường đi lên CNXH
Trang 1715
Như vậy chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH là một trong những nội dung kinh tế cốt lõi trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng
và nhân dân ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH
1.1.3 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển sáng tạo lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin về CNXH và con đường tiến lên CNXH Người chỉ rõ trong nền kinh tế Việt Nam “Công nghiệp và nông nghiệp là hai chân của nền kinh tế, cho nên công nghiệp, nông nghiệp phải giúp đỡ nhau cùng phát triển như hai chân đi khoẻ và đi đều thì tiến bước sẽ nhanh chóng tiến đến mục đích” [15, tr.544-545] Người nói: “Phải lấy nông nghiệp làm chính, nhưng phải toàn diện, phải chú ý cả các mặt công nghiệp, thương nghiệp, tài chính, ngân hàng, giao thông, kiến trúc, văn hoá, giáo dục, y tế Các ngành này phải lấy phục vụ nông nghiệp làm trung tâm” [16, tr.396] “Nông thôn tăng gia sản xuất thực hành tiết kiệm thì ngày càng giàu có, nông thôn giàu có sẽ mua nhiều hàng hoá của công nghiệp sản xuất ra đồng thời sẽ cung cấp đủ lương thực, nguyên liệu cho công nghiệp và thành thị Như thế là nông thôn giàu có giúp cho công nghiệp phát triển Công nghiệp phát triển lại thúc đẩy nông nghiệp phát triển mạnh hơn nữa Công nghiệp, nông nghiệp phát triển thì dân giàu, nước mạnh” [15, tr.405-406]
Những tư tưởng trên của Hồ Chí Minh đã đặt nền móng quan trọng cho việc xây dựng một CCKT hợp lý giữa công nghiệp và nông nghiệp trong xây dựng CNXH ở nước ta
Trong quá trình xây dựng CNXH ở miền Bắc 1954 - 1975 và trên cả nước 1975 - 1985, căn cứ vào tình hình lịch sử cụ thể, Đảng ta đã có nhiều chủ trương để phát triển kinh tế, trong đó nhấn mạnh vai trò và mối quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp trong phát triển kinh tế đất nước Tuy nhiên
do nhiều lý do khách quan và chủ quan, trong đó có lúc còn nóng vội trong
Trang 1816
việc xác định mô hình kinh tế, vì vậy xác định phát triển CCKT có những yếu
tố không hợp lý, nên CCKT của cả nước và các địa phương suốt trong thời gian dài có sự chuyển dịch không đáng kể, hạn chế tăng trưỏng kinh tế, đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế xã hội, đời sống nhân dân rất khó khăn
Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986) đã tổng kết nêu lên bốn bài học kinh nghiệm lớn, trong đó có bài học “Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật là điều kiện bảo đảm sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng” [3, tr.20] Bài học này có ý nghĩa lớn nhưng quan trọng nhất là trên lĩnh vực kinh tế
Tư tưởng chủ đạo của các chính sách kinh tế của Đảng tại Đại hội VI là giải phóng mọi năng lực sản xuất hiện có, khai thác mọi khả năng tiềm tàng của đất nước và sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ của quốc tế để phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất “Nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát của những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là: ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hoá XHCN trong chặng đường tiếp theo” [3, tr.42]
Một trong những mục tiêu cụ thể về kinh tế xã hội của chặng đường đầu tiên là tạo ra CCKT hợp lý, hướng vào việc đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, chủ yếu là lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu
“Trong những năm còn lại của chặng đường đầu tiên, trước mắt là trong kế hoạch 5 năm 1985 - 1990, phải thật sự tập trung sức người, sức của vào việc thực hiện cho được ba chương trình mục tiêu về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu [3, tr.47]
Đại hội VI chỉ rõ trong toàn bộ quá trình xây dựng CNXH, kể cả trong chặng đường hiện nay không được tách rời nông nghiệp với công nghiệp, không chỉ coi trọng nông nghiệp hoặc công nghiệp, nhưng ở mỗi giai đoạn,
Trang 1917
trong từng chặng đường, vị trí của nông nghiệp và công nghiệp có khác nhau, trong chặng đường hiện nay phải tập trung sức phát triển nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp một bước lên sản xuất lớn CNXH Đây là cụ thể hoá nội dung chính của công nghiệp hoá XHCN trong chặng đường đầu tiên lên CNXH ở nước ta, là bước đột phá trong tư duy và nhận thức đổi mới về chuyển dịch CCKT trong thời kì mới của Đảng ta
Tiếp tục bước chuyển đó, Hội nghị Trung ương 3 khoá VI (8/1987) đã
ra Nghị quyết “Về chuyển hoạt động của các đơn vị kinh tế quốc doanh sang hạch toán kinh doanh XHCN, đổi mới quản lý nhà nước về kinh tế” Ngày 5/4/1988 BCT đã ra NQ10/NQ - TW “Về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp” Đây là bước đột phá mở đầu cho chuyển dịch CCKT của Đảng theo
hướng mới ở nước ta
Đại hội VII của Đảng (6/1991) đã tổng kết 5 năm đổi mới khẳng định thành tựu đầu tiên trên lĩnh vực kinh tế là đã đạt được những tiến bộ rõ rệt trong việc thực hiện các mục tiêu của ba chương trình kinh tế “Những kết quả thực hiện các mục tiêu của ba chương trình kinh tế gắn liền với những chuyển biến tích cực trong việc điều chỉnh cơ cấu đầu tư và bố trí lại CCKT ” [4, tr.19-20]
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ qúa độ lên CNXH, thông qua Đại hội VII đã chỉ rõ “ Phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hoá đất nước theo hướng hiện đại hoá gắn liền với phát triển một nền nông nghiệp toàn diện là nhiệm vụ trung tâm nhằm từng bước xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của CNXH, không ngừng nâng cao năng suất lao động xã hội và cải thiện đời sống nhân dân” [6, tr.9]
“Khi kết thúc thời kỳ quá độ, hình thành về cơ bản nền kinh tế công nghiệp với CCKT công - nông nghiệp - dịch vụ gắn với phân công và hợp tác kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng Trong qúa trình chuyển đổi CCKT lạc hậu
Trang 2018
lên CCKT hiện đại, nền kinh tế quốc dân sẽ gồm nhiều ngành nghề, nhiều qui
mô nhiều trình độ công nghệ, phát triển nông - lâm - ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu
để ổn định tình hình kinh tế xã hội Đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, mở rộng kinh tế đối ngoại, phát triển kinh tế dịch vụ, xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng Xây dựng nền công nghiệp nặng với bước đi thích hợp, trước hết là các ngành trực tiếp phục vụ nông nghiệp Thực hiện chuyên môn hoá và liên kết kinh tế giữa các vùng, các địa phương Xây dựng các trung tâm kinh tế của từng vùng để tạo điều kiện liên kết công nghiệp với nông nghiệp, thành thị với nông thôn” [6, tr.12]
Để tiếp tục đẩy mạnh phát triển nông nghiệp và kinh tế - xã hội nông
thôn, Hội nghị Trung ương 5 khoá VII (6-1993) đã ra Nghị quyết “Về tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn” đánh giá thực trạng nông
nghiệp, nông thôn nước ta qua những năm đầu đổi mới và khẳng định: “Trải qua các thời kỳ cách mạng từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn khẳng định tầm quan trọng của vấn đề nông dân, nông nghiệp và nông thôn Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo trong những năm qua cũng lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu và là khâu đột phá Chỉ thị 100 của BBT (khoá IV), Nghị quyết 10 của BCT (khoá VI) được triển khai cùng với các Chỉ thị, Nghị quyết khác của các Đại hội và Hội nghị trung ương các khoá V,
VI, VII đã đưa đến những thành tựu to lớn trong nông nghiệp, nông thôn nước ta” [7, tr.53]
Tại Hội nghị Trung ưong 5, Đảng ta đã xác định 4 quan điểm cơ bản nhằm tiếp tục đổi mới và phát triển nông nghiệp nông thôn nước ta trong giai đoạn mới là:
Trang 2119
- Đặt sự phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng sản xuât hàng hoá trong quá trình CNH, HĐH đất nước coi đó là nhiệm vụ chiến lược có tầm quan trọng đặc biệt
- Thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách kinh tế nhiều thành phần trong nông nghiệp theo định hướng XHCN, trong đó kinh tế quốc doanh, kể
cả kinh tế quốc doanh trong công nghiệp và dịch vụ nông nghiệp cùng với kinh tế hợp tác xã được đổi mới và phát triển có hiệu quả, từng bước vươn lên làm nền tảng tạo điều kiện để củng cố liên minh công nhân, nông dân, trí thức, huy động tối đa tiềm năng của kinh tế hộ xã viên, hộ cá thể, hộ tư nhân, kinh tế liên doanh với nước ngoài
- Gắn sản xuất với thị trường, mở rộng sản xuất đi đôi với mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản, đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật và công nghệ mới, nhất là công nghệ sinh học để nâng cao năng xuất, tăng chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước, tăng sức mua của thị trường nội địa,
đẩy mạnh xuất khẩu thay thế nhập khẩu những mặt hàng trong nước sản xuất
có hiệu quả
- Gắn liền phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, xã hội, nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài, bảo vệ phát triển tài nguyên, cải thiện môi trường sinh thái, xây dựng nông thôn mới Đổi mới kinh tế đi đôi với đổi mới hệ thống chính trị trong nông thôn
Hội nghị Trung ương 7 khoá VII (11/1994) ra Nghị quyết về: "Phát triển công nghiệp, công nghệ đến năm 2000 theo hướng CNH, HĐH đất nước
và xây dựng giai cấp công nhân trong giai đoạn mới" đã xác định rõ: “CNH,
HĐH đất nước là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang lao động sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với
Trang 2220
công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tao ra năng xuất lao động cao” [8, tr.65] “Mục tiêu lâu dài của CNH, HĐH là phải biến nước ta thành một nước có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, có CCKT hợp lý, quan
hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của sức sản xuất, mức sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng - an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh” [8, tr.70]
Nghị quyết đề ra 3 chủ trương lớn phát triển công nghiệp và chuyển dịch CCKT trong thời gian tới là: CNH, HĐH nông nghiệp và kinh tế nông thôn, phát triển toàn diện, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến Phát triển mạnh công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Mở rộng thương nghiệp, du lịch, dịch vụ ở cả thành thị và nông thôn, đẩy mạnh các hoạt động kinh tế đối ngoại khác
Đại hội VIII của Đảng (6/1996) khẳng định những nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kỳ qúa độ là chuẩn bị tiền đề cho CNH, HĐH đã cơ bản hoàn thành, cho phép nước ta chuyển sang thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Con đường đi lên CNXH ở nước ta ngày càng được xác định rõ hơn “Mục tiêu của CNH, HĐH là xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất và kỹ thuật hiện đại, CCKT hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh Từ nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp” [9, tr.80]
Đại hội VIII nhấn mạnh phải đặc biệt coi trọng CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, chỉ rõ nội dung cơ bản của CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn những năm còn lại của thập kỷ 90 là phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp, hình thành các vùng tập trung chuyên canh, có cơ cấu hợp lý về
Trang 2321
cây trồng, vật nuôi, có sản phẩm hàng hoá nhiều về số lượng, tốt về chất lượng, bảo đảm an toàn về lương thực trong xã hội, đáp ứng yêu cầu của công nghiệp chế biến của thị trường trong và ngoài nước
Thực hiện thuỷ lợi hoá, điện khi hoá, cơ giới hoá, sinh học hoá Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản với công nghệ ngày càng cao, gắn với nguồn nguyên liệu và liên kết với công nghiệp ở đô thị Phát triển các ngành nghề, làng nghề truyền thống và các ngành nghề mới bao gồm tiểu, thủ công nghiệp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, công nghiệp khai thác và chế biến các nguồn nguyên liệu phi công nghiệp các loại hình dịch vụ sản xuất và đời sống nhân dân Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế
và xã hội, từng bước hình thành nông thôn mới văn minh hiện đại” [9, tr.87]
“Phát triển công nghiệp ưu tiên các ngành chế biến lương thực - thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, công nghiệp điện tử và công nghệ thông tin” [9, tr.88] “Phát triển nhanh du lịch, các dịch vụ hàng không, hàng hải, bưu chính - viễn thông, thương mại, vận tải, tài chính, ngân hàng, kiểm toán, bảo hiểm, công nghệ, pháp lý thông tin và các dịch vụ phục vụ cuộc sống nhân dân Từng bước đưa nước ta trở thành một trung tâm du lịch, thương mại, dịch vụ có tầm cỡ trong khu vực” [9, tr.89]
Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại Đẩy mạnh xuất khẩu coi xuất khẩu là hướng ưu tiên và là trọng điểm của kinh tế đối ngoại … chủ động tham gia cộng đồng thương mại thế giới… [9, tr.90-91]
Hội nghị Trung ương 4 khoá VIII ra Nghị quyết “Về tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, cần kiệm để CNH, HĐH, phấn đấu hoàn thành các mục tiêu kinh tế xã hội đến năm 2000” đã chỉ rõ những việc cần tập trung thực hiện CNH, HĐH là: Đẩy
nhanh quá trình chuyển dịch CCKT gắn với phân công lao động ở nông thôn, giải quyết vấn đề thị trường tiêu thụ nông sản; phát triển mạnh các hình thức
Trang 2422
kinh tế hợp tác, đổi mới hoạt động của các cơ sở quốc doanh trong nông nghiệp và nông thôn
Ngày 10/11/1998, BCT đã ra Nghị quyết 06 - NQ/TW “Về một số vấn
đề phát triển nông nghiệp và nông thôn” khẳng định bốn quan điểm phát triển
nông nghiệp nông thôn
Một là: Coi trọng thực hiện CNH, HĐH trong phát triển nông nghiệp
(gồm cả lâm nghiệp, ngư nghiệp ) và xây dựng nông thôn, đưa nông nghiệp
và kinh tế nông thôn lên sản xuất lớn là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng cả trước mắt và lâu dài, là cơ sở để ổn định tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, củng cố liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước theo định hướng XHCN
Hai là: Đẩy mạnh chuyển dịch CCKT, gắn phát triển nông nghiệp với
công nghiệp chế biến, ngành nghề, gắn sản xuất với thị trường để hình thành
sự liên kết nông - công nghiệp - dịch vụ và thị trường ngay trên địa bàn nông thôn và trên phạm vi cả nước; gắn phát triển nông nghiệp với xây dựng nông thôn mới; gắn công nghiệp hoá với thực hiện dân chủ hoá và nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực ở nông thôn; tạo ra sự phân công lao động mới, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống, xoá đói, giảm nghèo, thu hẹp dần khoảng cách
về mức sống giữa thành thị và nông thôn
Ba là: Phát huy lợi thế của từng vùng và cả nước, áp dụng nhanh các
tiến bộ khoa học, công nghệ để phát triển nông nghiệp hàng hoá đa dạng, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu nông sản thực phẩm và nguyên liệu công nghiệp, hướng mạnh ra xuất khẩu
Bốn là: Phát triển nền nông nghiệp với nhiều thành phần kinh tế, trong
đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế hợp tác xã dần trở thành nền tảng, hợp tác và hướng dẫn kinh tế tư nhân phát triển theo đúng pháp luật Tiếp tục phát triển nhiều hình thức kinh tế hợp tác; các loại hình
Trang 2523
hợp tác xã dịch vụ cho kinh tế hộ nông dân, từng bước xây dựng các hợp tác
xã nông nghiệp theo Luật hợp tác xã; chú trọng liên kết kinh tế nhà nước với các thành phần kinh tế khác Tạo điều kiện và khuyến khích mạnh mẽ hộ nông dân và những người có khả năng đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn” [10, tr.6-7]
Đây là Nghị quyết có tác động mạnh nhất và là cơ sở quan trọng nhất
để Đảng bộ Hưng Yên trực tiếp triển khai thực hiện ngay sau khi tái lập tỉnh
Tổng kết 15 năm đổi mới, Đại hội IX của Đảng (4/2001) xác định đường lối kinh tế là “Đẩy mạnh CNH, HĐH, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp; ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng XHCN; phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hóa, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường; kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng - an ninh” [11, tr.24]
Nghị quyết nêu rõ định hướng cho việc phát triển các ngành và các vùng là “Phát triển và chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH Nâng cao chất lượng và hiệu quả phát triển kinh tế, tăng sức cạnh tranh chuyển dịch CCKT, cơ cấu đầu tư dựa trên cơ sở phát huy các thế mạnh và các lợi thế so sánh của đất nước, gắn với nhu cầu thị trường trong nước và ngoài nước; nhu cầu đời sống nhân dân và quốc phòng - an ninh, tạo thêm sức mua của thị trường trong nước và mở rộng thị trường ngoài nước, đẩy mạnh xuất khẩu” [11, tr.26]
Đại hội IX chủ trương phải ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng XHCN, phát triển
Trang 2624
kinh tế đi đôi với phát triển văn hoá - xã hội, tăng cường sự chỉ đạo và huy động các nguồn lực cần thiết để đẩy nhanh công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn; đồng thời chỉ rõ những định hướng lớn về chính sách để thực hiện nhiệm vụ này đến năm 2010 “Tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân Chuyển dịch mạnh CCKT,
cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hoá Nâng cao rõ rệt kết quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế Mở rộng kinh tế đối ngoại ” [11, tr.90]
Hội nghị Trung ương 5 khoá IX (18/3/2002) đã ra Nghị quyết “Về đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 - 2010” đã chỉ rõ nội
dung tổng quát CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn bao gồm: CNH, HĐH nông nghiệp là quá trình chuyển dịch CCKT nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường, thực hiện cơ khí hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ trước, hết là công nghệ sinh học, đưa thiết bị kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sức cạnh tranh của nông sản hàng hoá trên thị trường
CNH, HĐH nông thôn là quá trình chuyển dịch CCKT nông thôn theo hướng tăng tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng, kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển nông thôn, bảo vệ môi trường sinh thái; tổ chức lại sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp; xây dựng nông thôn dân chủ, công bằng, văn minh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân đân ở nông thôn” [13, tr.42-43]
Nghị quyết Trung ương 5 khẳng định năm quan điểm chính về đầy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn trong giai đoạn tới:
- CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của CNH, HĐH đất nước Phát triển công nghiệp dịch vụ
Trang 2725
phải gắn bó chặt chẽ, hỗ trợ đắc lực và phục vụ có hiệu quả cho CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
- Ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất chú trọng phát huy nguồn lực
con người, ứng dụng rộng rãi thành tựu khoa học, công nghệ; thúc đẩy chuyển dịch CCKT theo hướng phát huy lợi thế của từng vùng gắn với thị trường để sản xuất hàng hoá qui mô lớn với chất lượng và hiệu quả cao, bảo vệ môi trường, phòng chống, hạn chế và giảm nhẹ thiên tai, phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững
- Dựa vào nội lực là chính, đồng thời tranh thủ tối đa các nguồn lực
bên ngoài, phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc; phát triển mạnh mẽ kinh tế hộ sản xuất hàng hoá các loại hình doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn
- Kết hợp chặt chẽ các vấn đề kinh tế và xã hội trong quá trình công
nghiệp hoá và hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn nhằm giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo ổn định xã hội và phát triển kinh tế
- Kết hợp chặt chẽ CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn với xây dựng tiềm lực và thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân ” [13, tr.43-44]
Đường lối và những quan điểm chỉ đạo quá trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn của Đảng như đã trình bày trên thể hiện quá trình phát triển nhận thức và tư duy lý luận của Đảng ta về CNH, HĐH, về chuyển dịch CCKT ở nước ta nhằm phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp
Những quan điểm chỉ đạo đó được triển khai quán triệt và vận dụng trên phạm vi cả nước Đây là nền tảng và căn cứ xuất phát quan trọng của việc chuyển dịch CCKT ở Hưng Yên thời kỳ từ khi tách tỉnh đến nay
Trang 2826
1.2 Thực trạng và yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Hƣng Yên
1.2.1 Đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội
Hưng Yên là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, tiếp giáp với 6 tỉnh Hà Nội, Hà Tây, Bắc Ninh, Hải Dương, Hà Nam, Thái Bình Toàn tỉnh gồm 10 đơn vị hành chính gồm Thị xã Hưng Yên và 9 huyện Văn Giang, Khoái Châu, Mỹ Hào, Yên Mỹ, Văn Lâm, Kim Động, Ân Thi, Tiên Lữ, Phù Cừ
Hưng Yên có các tuyến giao thông quan trọng đi qua như Quốc lộ 5A, đường 39A, đường 39B và đường sắt Hà Nội - Hải Phòng nối Hưng Yên với trọng điểm kinh tế phía Bắc như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh Hệ thống sông Hồng, sông Luộc qua Hưng Yên rất thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội “Từ nay đến năm 2020 vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ sẽ là vùng phát triển mạnh mẽ, đi trước và trở thành động lực lớn thúc đẩy quá trình CNH, HĐH của đất nước Tốc độ phát triển bình quân của vùng thời kỳ 1996 - 2000
dự báo đạt 12 - 13 % và thời kỳ 2001 - 2010 là 13 - 14%, kim ngạch xuất khẩu tăng 18 - 30%, vùng có ưu thế thực hiện hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới thông qua mở rộng kinh doanh xuất nhập khẩu và tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài” [38, tr.4]
Xét về lâu dài, Hưng Yên có một số thuận lợi và thế mạnh nổi bật Dân
số toàn tỉnh gồm 1, 084 triệu người; lao động trong độ tuổi có 55, 2 vạn người
- đây là nguồn bổ sung nhân lực quan trọng Đây là mảnh đất có lịch sử văn hiến lâu đời Nhân dân Hưng Yên có nhiều truyền thống tốt đẹp, cần cù lao động, đoàn kết, nhân ái, thông minh, hiếu học
Hưng Yên nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, có hệ thống giao thông sắt, bộ, thuỷ thuận lợi, nằm trong vùng Thủ đô, Hưng Yên có sự
Trang 29, Hưng Yên là thị trường tiêu thụ đa dạng các loại hàng hoá Đất đai dùng vào nông nghiệp của tỉnh có 60.823 ha trong đó đất trồng cây hàng năm 55.420, 09 ha, cây lâu năm 204, 06 ha (0,34%), mặt nước nuôi thuỷ sản 3.843 ha (6,31%) Tài nguyên nước ngọt của Hưng Yên rất phong phú, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp Hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình và nguồn nước ngầm dồi dào là thuận lợi rất lớn cho sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt, giao thông thuỷ
Hưng Yên là tỉnh có bề dày lịch sử và văn hoá Cả tỉnh có hơn 800 di tích lịch sử và văn hóa, trong đó có 105 di tích được xếp hạng quốc gia Các quần thể di tích Phố Hiến, Đa Hòa - Dạ Trạch, khu tưởng niệm Hải Thượng Lãn Ông… cùng với miền đồng quê lúa, cách thủ đô Hà Nội không xa, là địa điểm du lịch văn hóa, sinh thái hấp dẫn
Khoáng sản chính của Hưng Yên hiện nay là nguồn cát đen có thể khai thác đáp ứng nhu cầu xây dựng trong tỉnh Theo dự báo của các nhà khoa học, Hưng Yên nằm trên bể than nâu được đánh giá có trữ lượng rất lớn Hưng Yên nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, hiện nay nhiều khu công
nghiệp đã và đang hình thành Với dự án "Đường 5 mới" Hưng Yên sẽ có lợi
thế mới là thị trường lớn tiêu thụ sản phẩm và hàng tiêu dùng của cả vùng Hiện nay Hưng Yên có tiềm năng và lợi thế tham gia xuất khẩu về một số sản phẩm chủ lực như gạo, thịt lợn, thịt bò, gia cầm, trái cây, các loại rau cao cấp; một số mặt hàng công nghiệp kỹ thuật cao ở các khu công nghiệp liên doanh với nước ngoài
Trang 3028
Khó khăn thử thách của Hưng Yên khi bước vào thời kỳ CNH, CNH nổi bật là những thách thức lớn về sự cạnh tranh mạnh mẽ về kinh tế của các trung tâm công nghiệp lớn như: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh Do là một tỉnh thuần nông, kinh tế còn nghèo, mới được tái lập, tài nguyên khoáng sản không có, kết cấu hạ tầng kém phát triển…Tài nguyên du lịch của Hưng Yên mới ở dạng tiềm năng, chưa khai thác Chế biến nguyên liệu nông sản thô là chính Vỉa than nâu của Hưng Yên được dự báo có trữ lượng rất lớn nhưng ở
độ sâu trung bình từ 600 - 1000 mét chưa có khả năng khai thác ngay
Lao động nông nghiệp và thuỷ sản chiếm tỷ lệ chủ yếu, gần 85% tổng
số lao động Lao động chưa có việc làm còn nhiều, hầu hết chưa qua đào tạo nghề kỹ thuật Đây là sức ép lớn trong vấn đề giải quyết việc làm tại chỗ cho người lao động Hưng Yên
Đảng bộ và nhân dân Hưng Yên nhận thức rõ những đặc điểm của mình, chủ động tìm ra những giải pháp tận dụng lợi thế để phát triển kinh tế
xã hội nói chung và chuyển dịch cơ cấu nói riêng, phấn đấu đến “Năm 2020 Hưng Yên trở thành một tỉnh có CCKT hiện đại, tỷ lệ nông nghiệp chỉ còn khoảng 11%, công nghiệp, xây dựng chiếm 39 - 40% và dịch vụ chiếm 49 -
Trang 3129
25% - 30% Trong đó, nông nghiệp Hải Hưng có tốc độ tăng 7,43%/năm Sản lượng thực bình quân 1,1 triệu tấn/năm, riêng năm 1995 đạt 1,31 triệu tấn Năng suất lúa 103 tạ /ha, lương thực bình quân đầu người 485 kg/năm Chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp đa dạng và phong phú, giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích 26 triệu đồng/ha, tỷ trọng lương thực - rau quả, cây công nghiệp - chăn nuôi 48% - 24% - 28%
Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp phát triển nhanh, tốc độ tăng 13% trong đó công nghiệp địa phương tăng 11, 4% Một số xí nghiệp bước đầu đổi mới thiết bị công nghệ, nhiều khâu lao động nặng nhọc được thay thế dần bằng máy (cày bừa, xay xát, làm gạch ) 32 làng nghề với 54 nghề truyền thống được khôi phục
Các ngành kinh tế dịch vụ phát triển đa dạng với tốc độ tăng 0,24%, 14
dự án hợp tác đầu tư với nước ngoài được cấp giấy phép với tổng số vốn đăng
ký 153 triệu đô la, đang chuẩn bị một số dự án khả thi có qui mô vừa và lớn
Xây dựng kết cấu hạ tầng đạt kết quả quan trọng Tổng số vốn đầu tư đạt 450 tỷ, chưa kể hàng chục triệu ngày công do nhân dân đóng góp Các thành phần kinh tế phát triển, khai thác tốt hơn tiềm năng của địa phương Kinh tế quốc doanh đã sắp xếp lại Hợp tác xã nông nghiệp cũ đang tích cực đổi mới Vai trò tự chủ của kinh tế hộ được khẳng định và trở thành động lực phát triển Kinh tế gia đình và cá thể phát triển, khoảng 35 000 hộ làm công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, 37.000 hộ kinh doanh kinh tế ngoài quốc doanh chiếm gần 80% giá trị công nghiệp địa phương, trên 70% hàng hoá bán
lẻ toàn xã hội
Về mặt xã hội qua những chuyển biến tích cực Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, số hộ giàu tăng từ 5% lên 16%, cơ bản xoá đói, hộ nghèo giảm từ 20% xuống 10%, nhu cầu ăn, ở, đi lại, học hành, chữa bệnh, hưởng thụ văn hoá được đáp ứng tốt hơn Sự nghiệp giáo dục được phát triển
Trang 3230
theo hướng giữ vững và nâng cao chất lượng, phổ cập cấp I, xoá tái mù chữ
Số học sinh các cấp đều tăng, cơ sở vật chất, thiết bị cho các trường tăng khá
Khoa học và công nghệ phát triển hướng vào phục vụ các chương trình kinh tế xã hội Hoạt động văn hoá, nghệ thuật, thể dục thể thao phát triển, nhiều di tích văn hoá lịch sử và cách mạng được bảo tồn và tôn tạo Công tác dân số, kế hoạch hoá gia đình được quan tâm đúng mức Tỷ suất sinh giảm bình quân 0,1%/năm năm 1995 tỷ lệ phát triển dân số 1,49 % Công tác bảo
vệ sức khoẻ nhân dân được quan tâm Phong trào đền ơn đáp nghĩa đối với người có công được các cấp uỷ đảng, chính quyền, đoàn thể và nhân dân quan tâm Đã xây dựng 1.000 ngôi nhà tình nghĩa, nâng cấp 240 nghĩa trang liệt sĩ, trao tặng 7.619 sổ tiết kiệm cho các gia đình chính sách, 1.894 bà mẹ Việt Nam anh hùng được trao tặng danh hiệu và phụng dưỡng các bà mẹ khi còn sống [21]
Thành tựu nổi bật đó trước hết là do tỉnh uỷ Hải Hưng đã biết vận dụng đúng đắn các Nghị quyết của Trung ương vào hoàn cảnh điạ phương lãnh đạo chỉ đạo thực hiện các chủ trương như sớm giao quyền sử dụng đất lâu dài cho
hộ nông dân; sắp xếp và đổi mới quản lý kinh tế quốc doanh nhằm thích ứng nhanh với cơ chế thị trường, đổi mới và phát triển hợp tác xã, xây dựng chương trình phát triển công nghiệp và công nghệ, chuyển dịch CCKT nông nghiệp nông thôn, chỉnh đốn đảng và giải quyết các vấn đề xã hội
Đây là thuận lợi lớn cho bước chuyển dịch CCKT ở Hưng Yên sau này Tuy nhiên, sự chuyển dịch CCKT Hải Hưng còn rất chậm Kinh tế nông nghiệp ở nhiều xã còn thuần nông, chưa có nông sản hàng hoá; công nghiệp nhỏ bé chiếm tỷ trọng thấp, công nghệ lạc hậu, chưa có loại sản phẩm có khối lượng đáng kể Dịch vụ du lịch chưa phát triển tương xứng với tiềm năng; kim ngạch xuất khẩu thấp; kết cấu hạ tầng yếu kém và xuống cấp, việc ứng
Trang 3331
dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất còn chậm, quản lý nhà nước về kinh tế xã hội do thiếu kiến thức và kinh nghiệm nên còn lúng túng, một số doanh nghiệp nhà nước làm ăn kém hiệu quả, hợp tác xã chậm đổi mới, sử dụng đất đai còn nhiều thiếu sót
Những hạn chế và yếu kém nêu trên cùng với một só yếu kém khác là
do sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng công tác quản lý điều hành của chính quyền còn hạn chế Tỉnh uỷ lãnh đạo một số mặt kinh tế - xã hội chưa phát huy được mọi nguồn lực và lợi thế của tỉnh CCKT chuyển dịch chậm; công tác điều hành quản lý kinh tế - xã hội của các cơ quan Nhà nước còn thiếu kinh nghiệm và chưa đồng bộ, cải cách hành chính nhà nước còn chậm Điểm xuất phát về kinh tế của tỉnh thấp, chưa tạo được tích luỹ đáng kể từ nội bộ kinh tế địa phương
Đại hội đại biểu tỉnh Hải Hưng lần thứ VII (tháng 5/96) đã đề ra mục tiêu tổng quát đến năm 2020 của Hải Hưng là “căn bản hoàn thành nhiệm vụ công nghiệp hoá đưa tỉnh ta từ tỉnh nông nghiệp trở thành một tỉnh công - nông nghiệp” [21, tr.28] Mục tiêu cụ thể là “Chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH (coi trọng công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn, đẩy nông nghiệp phát triển toàn diện ở trình độ cao hơn…”) và “hình thành CCKT theo
tỷ lệ nông nghiệp 36%, công nghiệp 30% và dịch vụ 34%” [21, tr.29-30]
Nghị quyết kỳ họp thứ 10 Quốc Hội khoá IX, ngày 1/1/1997 tách tỉnh Hải Hưng thành hai tỉnh Hưng Yên và Hải Dương
Phiên họp đầu tiên sau tái lập tỉnh, ngày 9/1/1997, Ban Thường vụ tỉnh
uỷ Hưng Yên đã xác định tỉnh có những khó khăn nổi bật là điểm xuất phát về kinh tế của tỉnh thấp, cơ sở hạ tầng yếu kém Chuyển dịch CCKT đã khởi sắc nhưng kinh tế vẫn là tỉnh thuần nông, sản xuất manh mún, hàng hoá nông nghiệp ít, chất lượng chưa cao Cơ sở công nghiệp nhỏ bé, tiểu thủ công nghiệp chậm phát triển, CCKT nông nghiệp khoảng 60%, công nghiệp 15%,
Trang 34Tóm lại: Chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH ở Hưng Yên là
yêu cầu khách quan của tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hưng Yên, là phù hợp với đường lối của Đảng CSVN Quá trình đó không phải mới bắt đầu mà là tiếp tục các chủ trương của Đảng và của Đảng bộ Hải Hưng Trong hoàn cảnh mới, nhiệm vụ mới hết sức nặng nề, qúa trình đó đòi hỏi Đảng bộ và nhân dân Hưng Yên phát huy trí tuệ và tinh thần sáng tạo để khai thác tiềm năng, lợi thế của địa phương, có bước chuyển dịch CCKT phù hợp và có hiệu quả hơn
Chương 2 ĐẢNG BỘ TỈNH HƯNG YÊN LÃNH ĐẠO CHUYỂN DỊCH
CƠ CẤU KINH TẾ GIAI ĐOẠN 1997 - 2003 2.1 Quá trình Đảng bộ tỉnh lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế (1997 - 2000)
2.1.1.Đặc điểm tình hình tỉnh Hưng Yên sau khi tái lập (1/1/1997)
Đến ngày 1/1/1997 tái lập lại, Đảng bộ tỉnh Hưng Yên có 451 cơ sở Đảng thuộc 8 Đảng bộ huyện, thị xã và khối cơ quan tỉnh với 45.015 đảng viên, chiếm 4,28% dân số toàn tỉnh BCH lâm thời Đảng bộ Hưng Yên ngày 21/1/1997 đã khẳng định Hưng Yên có nhiều thuận lợi cơ bản
- Hưng Yên là vùng đất văn hiến, giàu truyền thống và tiềm năng đất đai, cây trồng, vật nuôi Một số nghề truyền thống đang tiếp tục khôi phục Đã
có những cơ sở vật chất nhất định được xây dựng, Đảng, chính quyền có một
Trang 3533
số kinh nghiệm lãnh đạo trong 10 năm đổi mới Một số địa phương có kinh nghiệm về chuyển dịch cơ cấu cây trồng, phát triển sản xuất, dịch vụ Nằm trong trọng điểm kinh tế phía bắc, là cửa ngõ phía đông Thủ đô, với 23,5 km Đường 5, đường sắt chạy qua, có khả năng thu hút đầu tư và có nhiều tiềm năng về phát triển dịch vụ
- Đảng bộ và nhân dân Hưng Yên có truyền thống đoàn kết cần cù lao động, ham học hỏi, có ý chí quyết tâm xây dựng quê hương giàu mạnh Sau
10 năm đổi mới, trong nông nghiệp đã có những chuyển biến theo hướng sản xuất hàng hoá “Năm 1996 sản lượng lương thực quy thóc đạt 50,7 vạn tấn, bình quân lương thực đầu người 460 kg, cây thực phẩm 8,8 ngàn ha chủ yếu
là rau, màu Diện tích cây công nghiệp là 9,7 ngàn ha Về chăn nuôi xu hướng tăng về số lượng con có giá trị cao [22, tr.17-18]
“Tính đến ngày 31-12-1996 đã có 5 dự án của nước ngoài được cấp giấy phép đầu tư vào Hưng Yên với tổng số vốn là 60,3 triệu USD; 2 dự án tỉnh ngoài hoạt động tại tỉnh có vốn đầu tư 36 tỷ đồng Việt Nam Tổng mức luân chuyển hàng hoá bán lẻ trên thị trường xã hội năm 1996 đạt 800 tỷ đồng Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 5 triệu USD tập trung vào các mặt hàng Long nhãn, dược liệu, đay ” [22, tr.19]
Những khó khăn chủ yếu của tỉnh là: Điểm xuất phát về kinh tế còn
thấp, GDP bình quân đầu người trong tỉnh năm 1996 khoảng 180USD; thu ngân sách trên địa bàn chỉ đáp ứng 1/3 yêu cầu; chuyển dịch CCKT rất chậm Nhìn chung vẫn là tỉnh thuần nông, sản xuất manh mún, hàng hoá nông nghiệp ít, chất lượng chưa cao Cơ sở công nghiệp nhỏ bé, tiểu thủ công nghiệp chậm phát triển, kinh tế nông nghiệp chiếm khoảng 60% GDP của tỉnh, công nghiệp 15%, dịch vụ 25%; nhiều chỉ tiêu kinh tế thấp hơn mức bình quân của các tỉnh đồng bằng Bắc bộ; tài nguyên khoáng sản nghèo
Trang 3634
Các cơ sở vật chất của ngành y tế, văn hoá của một tỉnh mới tái lập hầu như chưa có gì Tỉnh lỵ nằm ở vùng ít thuận lợi về đường giao thông, giao lưu kinh tế với các tỉnh chưa phát triển
Bộ máy và cán bộ của cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan sự nghiệp, các đơn vị kinh doanh của tỉnh vừa thiếu vừa chưa có kinh nghiệm trên một
số lĩnh vực, đời sống nhân dân còn khó khăn [22, tr.22-23]
Đánh giá đó của Đảng bộ Hưng Yên là khá sát, đúng với tình hình Đây
là cơ sở để tỉnh khai thác hết tiềm năng, xây dựng kế hoạch phát triển CCKT ngành hợp lý, đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH trên địa bàn tỉnh nhà
2.1.2 Những chủ trương, giải pháp chính lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế (1997 - 2000)
Quán triệt Nghị quyết Đại hội VIII và Nghị quyết Trung ương 4 khoá VIII (11/1997) “Về tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, cần kiệm để công nghiệp hoá hiện đại hoá phấn đấu hoàn thành các mục tiêu kinh tế - xã hội đến năm 2000”, ngày 26-4-
1997 Hội nghị BCH lâm thời Đảng bộ đã ra Nghị quyết 03-NQ/TU “Về chương trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn tỉnh Hưng Yên"
Hội nghị đánh giá tình hình nông nghiệp và kinh tế nông thôn từ khi có chỉ thị 100 của BBT năm 1981, nhất là sau khi có Nghị quyết 10 của BCT (khoá VI), Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VII) sản xuất nông nghiệp và nông thôn của tỉnh đã có chuyển biến tích cực Tiếp thu công nghệ sinh học với việc chuyển dịch CCKT nông nghiệp nông thôn CCKT của tỉnh đã từng bước chuyển dịch theo hướng CNH, HĐH “Năm 1996 tỷ trọng nông nghiệp - công nghiệp, xây dựng - dịch vụ đạt khoảng 60% - 15% - 25%, giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích đạt 28 triệu đồng /ha, tỷ trọng lương thực, rau quả, cây công nghiệp, chăn nuôi 51,8% - 19,1% - 29,1%, thu nhập GDP bình quân đầu
Trang 37Nghị quyết chỉ rõ mục tiêu nhiệm vụ và các giải pháp đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn Hưng Yên giai đoạn 1997 - 2000 là:
- Phát triển công nghệ sinh học, coi cách mạng giống là khâu mũi nhọn; tiếp tục chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH; đảm bảo tổng sản lượng lương thực trên 55 vạn tấn/năm, bình quân lương thực đầu người trên 450kg; giá trị thu nhập đạt trên 30 triệu đồng/ha/năm; phát triển chăn nuôi theo hướng công nghiệp, “nạc hoá” 20% tổng đàn lợn, “sind hóa” 70% đàn bò thịt và cày kéo, phát triển bò sữa, gia cầm và thuỷ sản
- Đẩy mạnh cơ giới hoá nông nghiệp Năm 2000 đạt tỷ lệ cơ giới hoá khâu làm đất trên 60% (kết hợp máy kéo lớn, vừa và nhỏ) phòng trừ sâu bệnh 100%, vận chuyển nông thôn trên 60%, tuốt đập lúa 100%, xay sát gạo 100% (30% được chế biến với thiết bị hiện đại đảm bảo được tiêu chuẩn xuất khẩu)
Cơ giới hóa các khâu nặng nhọc trong sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ
- Cải tạo và nâng cấp hệ thống giao thông thuỷ bộ (đặc biệt quan tâm đến giao thông nông thôn) Tăng cường hệ thống thuỷ lợi mở rộng và hiện đại hoá thông tin liên lạc quan tâm xây dựng cơ sở hạ tầng cho giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khoẻ, văn hoá, văn nghệ, thể thao [22, tr.75-76]
Nghị quyết đề ra 5 giải pháp cơ bản để thực hiện Một là: Phát triển
khoa học - công nghệ, bảo vệ môi trường, tạo nguồn nhân lực Thực hiện cơ cấu công nghiệp kết hợp nhiều trình độ, lấy hiệu quả kinh tế gắn với bảo vệ
môi trường làm tiêu chuẩn Hai là: Các giải pháp tranh thủ vốn đầu tư của
Trang 3836
trung ương, vận động nhân dân cần kiệm, tăng tích luỹ để đẩy mạnh công
nghiệp hoá nông thôn Ba là: Tìm kiếm và mở rộng thị trường: Kết hợp chặt chẽ thị trường tại chỗ với thị trường trong và ngoài nước Bốn là: Khuyến
khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước, linh hoạt và mềm dẻo kêu gọi đầu
tư Năm là: Xây dựng mô hình công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn Tỉnh
sẽ tập trung xây dựng một số mô hình từ đó sẽ rút ra kinh nghiệm và nhân ra diện rộng và trở thành phong trào rộng lớn [22]
Nghị quyết đã chỉ rõ để tổ chức thực hiện cân tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp của các cấp uỷ Đảng Các huyện, thị uỷ tiếp tục xây dựng hoàn thiện chương trình hành động và các dự án cho địa phương mìn thực hiện Nghị quyết của Đảng, tỉnh uỷ, huyện hoặc thị uỷ Hội đồng nhân dân và UBND tỉnh thể chế hóa và thực hiện thắng lợi Nghị quyết của tỉnh uỷ Các ngành xây dựng kế hoạch cụ thể thực hiện Nghị quyết của tỉnh uỷ trong phạm vi ngành phụ trách [22, tr.97-98]
Quán triệt tinh thần của Nghị quyết 03-NQ/TU, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Hưng Yên đã xây dựng dự án tiếp tục thực hiện chương trình “Nạc hoá” đàn lợn và “Sind hóa” đàn bò (chương trình đã triển khai từ tháng 9-1995) Ngày 5-10-1997 UBND tỉnh Hưng Yên ra quyết định số 1424 /QĐ - UB “Về tiếp tục triển khai thực hiện chương trình” “nạc hóa” đàn lợn
và “sind hoá” đoàn bò của tỉnh đến năm 2000”, quyết định “tiếp tục triển khai thực hiện chương trình nạc hoá đàn lợn và “sind hoá” đàn bò trong thời gian
từ năm 1997 - 2000 và thành lập Ban Chỉ đạo chương trình
Các quyết định trên của UBND tỉnh tạo cơ sở pháp lý cho việc phát triển chăn nuôi góp phần vào chuyển dịch kinh tế nông nghiệp tạo ra một khối lượng sản phẩm lớn cho xã hội, tạo ra công ăn việc làm cho người lao động Đây là những chương trình kinh tế lớn của tỉnh, thực sự tạo ra một cuộc cách
Trang 39và ứng dụng các thành tựu khoa học, kỹ thuật, thực hiện cơ giới hoá, điện khí hoá nông thôn
Để tăng cường chuyển dịch CCKT ngành, ngày 10-9-1997, Ban
Thường vụ tỉnh uỷ ra Nghị quyết số 07 - NQ/TU “Về đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu đến năm 2000” Nghị quyết đã đánh giá " Các doanh nghiệp
xuất nhập khẩu đã có bước phát triển Kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn tỉnh năm 1996 đạt khoảng 13 triệu USD, 6 tháng đầu năm 1997 đạt gần 10 triệu USD Mặt hàng chủ yếu là các sản phẩm may mặc, hàng nhựa, mút xốp hàng thủ công mĩ nghệ và nông sản xuất sang các thị trường: Séc, Đức, Pháp, Bỉ, Nhật Bản, Trung Quốc
Tuy nhiên hoạt động xuất nhập khẩu chưa có thị trường vững chắc, hàng hoá nông sản dồi dào nhưng vẫn còn kém chất lượng, sản xuất phân tán nên khả năng cạnh tranh trên thị trường còn hạn chế
Nguyên nhân do phương thức canh tác cũ; chậm áp dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ mới để tạo ra sản phẩm có chất lượng và năng xuất cao; cơ
sở vật chất của doanh nghiệp làm nhiệm vụ xuất, nhập khẩu rất thiếu thốn, lạc hậu, thông tin thị trường và khả năng tiếp thị còn hạn chế ” [22, tr.139-140]
Nghị quyết chỉ rõ mục tiêu của xuất nhập khẩu 1997 - 2000, phấn đấu đạt tổng kim ngạch xuất nhập khẩu bình quân mỗi năm trên 30 triệu USD Tổng kim ngạch xuất khẩu bình quân mỗi năm trên 20 triệu USD Chỉ tiêu phấn đấu đạt tổng kim ngạch xuất khẩu cho từng năm như sau: năm 1997 từ
Trang 4038
20 đến 21 triệu USD; năm 1998 từ 26 đến 27 triệu USD; năm 1999 từ 33 đến
34 triệu USD; năm 2000 từ 45 đến 50 triệu USD (Doanh nghiệp trung ương
26 triệu, doanh nghiệp địa phương 24 triệu) [22, tr.141]
Nhiệm vụ là đẩy mạnh xuất khẩu, làm cho xuất khẩu trở thành hướng
ưu tiên, là trọng điểm của kinh tế đối ngoại Nghị quyết vạch rõ những giải pháp chủ yếu là giữ vững thị trường truyền thống, phát triển thị trường mới,
coi đây là mũi nhọn đột phá để phát triển sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu kết hợp chặt chẽ giữa các thị trường trong tỉnh với thị trường trong nước và thị trường nước ngoài để tiêu thụ các mặt hàng nông sản của điạ phương
Sớm tạo ra các vùng nông sản xuất khẩu với chất lượng cao Kết hợp chặt chẽ giữa người sản xuất với các doanh nghiệp kinh doanh hàng xuất khẩu Tăng cường cơ sở vật chất cho sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu tạo môi trường thuận lợi gọi đầu tư vào các cơ sở sản xuất và chế biến hàng nông sản với thiết bị và công nghệ hiện đại
Tăng cường công tác đào tạo cán bộ, nâng cao năng lực nguồn nhân lực Đi đôi với đẩy mạnh xuất khẩu cần củng cố và mở rộng hệ thống thương mại và du lịch để tiêu thụ sản phẩm nông sản và hàng hoá thủ công mĩ nghệ, thúc đẩy sản xuất phát triển [22, tr.144-145]
Thực hiện Nghị quyết của Ban Thường vụ tỉnh uỷ, Ban cán sự Đảng Sở Thương mại và du lịch đã ra kế hoạch cụ thể chỉ đạo các hoạt động xuất, nhập khẩu trên địa bàn tỉnh Kết quả làm cho hoạt động xuất nhập khẩu đã tiêu thụ một khối lượng lớn hàng hóa nông sản của tỉnh, góp phần thúc đẩy sản xuất của địa phương và giải quyết được nhiều việc làm cho lao động ở nông thôn
* Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV (tháng11/1997) đánh
giá rõ hơn Hưng Yên từ điểm xuất phát thấp với những khó khăn thử thách