1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảng bộ tỉnh hải dương lãnh đạo xây dựng lực lượng dân quân du kích trong kháng chiến chống thực dân pháp từ năm 1946 đến năm 1954

110 644 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, dưới sự lãnh đạo của Đảng, lực lượng dân quân du kích tỉnh Hải Dương đã lập nên nhiều chiến công oanh liệt, góp sức vào thắng lợi chung của dân tộc và

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

- -

ĐẶNG THỊ DUNG

ĐẢNG BỘ TỈNH HẢI DƯƠNG LÃNH ĐẠO

XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG DÂN QUÂN DU KÍCH TRONG KHÁNG CHIẾN TOÀN QUỐC CHỐNG THỰC

DÂN PHÁP TỪ NĂM 1946 ĐẾN NĂM 1954

Luận văn thạc sỹ chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Mã số: 60 22 56

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS VŨ QUANG HIỂN

Hà Nội - 2012

Trang 2

1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

1.Lý do chọn đề tài 4

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 7

2.1 Các công trình viết về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trong đó có đề cập đến vấn đề xây dựng lực lượng dân quân du kích 7

2.2 Những công trình đề cập đến sự lãnh đạo của Đảng và Đảng bộ trong xây dựng lực lượng dân quân du kích 9

2.3 Đánh giá chung 11

2.4 Các vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu sâu sắc và đầy đủ 11

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 12

3.1 Mục đích nghiên cứu 12

3.2 Nhiệm vụ 12

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12

4.1 Đối tượng nghiên cứu 12

4.2 Phạm vi nghiên cứu 12

5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 13

5.1 Nguồn tài liệu 13

5.2 Phương pháp nghiên cứu 13

6 Đóng góp mới của luận văn 14

7 Kết cấu của luận văn 14

Chương 1:CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ VỀ XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG DÂN QUÂN DU KÍCH TRONG GIAI ĐOẠN TRIỂN KHAI CUỘC KHÁNG CHIẾN TOÀN DÂN, TOÀN DIỆN (1946 – 1950 ) 15

1.1 Điều kiện lịch sử và chủ trương của Đảng bộ 15

1.1.1 Điều kiện lịch sử 15

Trang 3

2

1.1.2 Chủ trương của Đảng và Đảng bộ 30

1.2 Chỉ đạo xây dựng lực lượng dân quân du kích 40

1.2.1 Xây dựng tổ chức và phát triển lực lượng 40

1.2.2 Xây dựng về chính trị và vật chất 46

Tiểu kết chương 1 52

Chương 2:TĂNG CƯỜNG XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG DÂN QUÂN 53

DU KÍCH TRONG GIAI ĐOẠN TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN ( 1951 – 1954 ) 53

2.1 Yêu cầu mới và chủ trương mới của Đảng bộ 53

2.1.1 Yêu cầu mới của cuộc kháng chiến 53

2.1.2 Chủ trương của Đảng và Đảng bộ 56

2.2 Chỉ đạo xây dựng lực lượng dân quân du kích địa phương 64

2.2.1 Phát triển lực lượng, củng cố tổ chức 64

2.2.2 Đẩy mạnh công tác giáo dục tư tưởng chính trị, trang bị huấn luyện 66

Tiểu kết chương 2 76

Chương 3:MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM LI ̣CH SỬ 78

3.1 Một số nhận xét 78

3.1.1 Ưu điểm 78

3.1.2 Hạn chế 89

3.2 Một số kinh nghiệm lịch sử 90

3.2.1 Nhận thức đúng yêu cầu phát triển lực lượng dân quân du kích của địa phương để xác định chủ trương phù hợp 90

3.2.2 Muốn xây dựng lực lượng dân quân du kích có số lượng và chất lượng cao, quá trình chỉ đạo thực hiện phải linh hoạt, thích hợp với hoàn cảnh địa phương 92

Trang 4

3

3.2.3 Kết hợp đúng đắn giữa xây dựng lực lượng dân quân du kích với lực lượng vũ trang khác Gắn xây dựng lực lượng dân quân du kích với

xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện 95

Tiểu kết chương 3 97

KẾT LUẬN 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

Trang 5

Có thể nói, chiến tranh chống ngoại xâm vừa là thử thách gay go, ác liệt nhất, vừa thể hiện ý chí quật cường, đồng thời cũng là niềm tự hào vĩ đại nhất của nhân dân Việt Nam Trong phần lớn các cuộc chiến tranh, dân tộc Việt Nam luôn phải đối đầu với những thế lực xâm lược to lớn, giầu mạnh, có lực lượng quân đông gấp nhiều lần, có phương tiện vật chất và kĩ thuật quân sự tiên tiến

Vì vậy, dân tộc Việt Nam luôn phải “ lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều”,

“Dựa vào dân, xây dựng lực lượng vũ trang từ nhân dân, thực hiện chiến tranh nhân dân và nghệ thuật quân sự toàn dân, cả nước đánh giặc, là phương thức thích hợp nhất, là bài học thành công trong sự nghiệp giữ nước của dân tộc Việt Nam”

Lực lượng vũ trang ba thứ quân bao gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích Dân quân du kích là lực lượng vũ trang quần chúng gồm những công dân tình nguyện tham gia công tác quân sự địa phương, không thoát ly sản xuất, có nhiệm vụ chiến đấu chống giặc, bảo vệ chính quyền, nhân dân và làm những nhiệm vụ quân sự khác; là một bộ phận hợp thành của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam

Xây dựng lực lượng dân quân du kích là một trong những nội dung lớn trong đường lối quân sự của Đảng Đó là một trong ba thứ quân của lực lượng

vũ trang, đáp ứng yêu cầu to lớn của cách mạng Việt Nam Trong suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, lực lượng dân quân du kích đã góp phần to

Trang 6

5

lớn vào việc phân tán, chia cắt, giam chân, đánh tiêu diệt và tiêu hao lực lượng địch, làm thất bại những âm mưu quân sự và chính trị của kẻ thù, góp phầnlàm cho lực lượng Việt Nam ngày càng phát triển mạnh mẽ cả về sôốlượng và chất lượng, từng bước đua cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi

Nhân dân Việt Nam đã phát triển rộng rãi chiến tranh du kích và coi đó

là một trong những hình thức chiến tranh cơ bản, một chiến lược quân sự nhằm đánh bại thực dân Pháp xâm lược Du kích, dân quân tự vệ, bộ đội địa phương và những bộ phận bộ đội chủ lực hoạt động phân tán đã dùng cách đánh du kích bất ngờ, linh hoạt, "lai vô ảnh, khứ vô tung", đánh nhanh, di chuyển nhanh, khi phân tán, lúc tập trung, đánh địch mọi lúc, mọi nơi, đánh địch bằng mọi thứ vũ khí và bằng mọi hình thức, làm cho quân địch tiêu hao sinh lực, sa sút về tinh thần, ăn không ngon, ngủ không yên Do thông thạo địa hình, lại được nhân dân che chở, bộ đội địa phương, dân quân du kích đã

sử dụng chông, mìn, cạm, bẫy, "ong bò vẽ" để đánh giặc, góp phần làm nên thắng lợi chung của dân tộc

Hải Dương - một vùng đất thuộc châu thổ Sông Hồng, là một địa bàn

có vị trí chiến lược vô cùng quan trọng nối liền Thủ đô Hà Nội với Hải Phòng

và Quảng Ninh Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, dưới sự lãnh đạo của Đảng, lực lượng dân quân du kích tỉnh Hải Dương đã lập nên nhiều chiến công oanh liệt, góp sức vào thắng lợi chung của dân tộc và làm rạng rỡ thêm truyền thống anh hùng bất khuất trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của một

vùng đất “giàu của, giàu người, giàu chiến công”

Thực hiện chủ trương của Đảng ngay từ khi mới thành lập, Đảng bộ tỉnh Hải Dương đã chú trọng lãnh đạo xây dựng lực lượng dân quân du kích

từ không đến có, từ yếu đến ngày càng vững mạnh, đáp ứng yêu cầu của cuộc

Trang 7

6

kháng chiến chống ngoại xâm cùng cả nước đánh đuổi quân thù Nhân tố quan trọng nhất cho sự phát triển và trưởng thành của lực lượng dân quân du kích ở Hải Dương là vai trò lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là Đảng bộ tỉnh Hải Dương Căn cứ vào những điều kiện thực tiễn của địa phương như: điều kiện

tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội, truyền thống dựng nước giữ nước của nhân dân địa phương, nhiệm vụ quân sự của địa phương, Đảng bộ tỉnh Hải Dương đã có những chủ trương, biện pháp đúng đắn, sáng tạo trong việc xây dựng và phát triển lực lượng dân quân du kích địa phương

Đất nước đang trên con đường đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội Dưới

sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam đang ra sức thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất nước, nhân dân Việt Nam vẫn luôn nâng cao cảnh giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Tổ quốc và thành quả cách mạng Đó là một trong những phương hướng cơ bản được xác định trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” do Đại hội lần thứ VII của Đảng thông qua (6/1991) và được các Đại hội VIII (6/1996), IX (4/2001), X (4/2006) của Đảng khẳng định lại

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các lực lượng dân quân du kích thường xuyên được quan tâm xây dựng và phát triển về mọi mặt, đáp ứng được yêu cầu xây dựng nền quốc phòng toàn dân, toàn diện, hăng say lao động sản xuất

và sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc khi cần Do vậy, việc nghiên cứu đề tài này không chỉ góp phần làm rõ một giai đoạn trong quá trình xây dựng và phát triển của lực lượng dân quân du kích địa phương, mà còn góp phần tổng kết những kinh nghiệm lịch sử cách mạng cần thiết phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay

Trang 8

7

Để góp phần tìm hiểu cuộc kháng chiến chống Pháp của quân và dân Hải Dương, đặc biệt là vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hải Dương trong việc xây dựng lực lượng dân quân du kích địa phương, đáp ứng yêu cầu nâng cao trình độ chuyên môn và tự hào về truyền thống quê hương, tôi chọn đề

tài: “Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnh đạo xây dựng lực lượng dân quân du kích trong kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp từ năm 1946 đến năm 1954” làm luận văn thạc sĩ của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu về xây dựng và phát triển lực lượng dân quân du kích trên

cả nước nói chung và lực lượng dân quân du kích ở Hải Dương nói riêng cho đến nay đã có nhiều cuốn sách đã xuất bản, nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả về cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Hải Dương Có thể khái quát thành các nhóm sau đây:

2.1 Các công trình viết về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trong đó có đề cập đến vấn đề xây dựng lực lượng dân quân du kích

- Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ( 1945 – 1954 ), tập I,

II, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (Nxb, Quân đội nhân dân, Hà Nội 2001) Cuốn sách đã khẳng định một trong những yếu tố thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp là chủ trương đúng đắn của Đảng về xây dựng lực lượng dân quân du kích trên phạm vi cả nước Nhân dân trong cả nước có tinh thần đoàn kết, thống nhất ý chí cao giữa Đảng và nhân dân Đảng tin dân, bám vào dân; dân tin Đảng, theo Đảng Đây là sức mạnh to lớn để đánh bại

âm mưu thủ đoạn của kẻ thù trong suốt cuộc kháng chiến

- Lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp trên địa bàn Hải Hưng (1945 – 1954 ), (Bộ chỉ huy Quân sự Hải Hưng xuất bản năm 1988 ); Lịch sử

Trang 9

vị chủ lực tiến công địch cả về chính trị, quân sự và binh vận, tiêu hao, tiêu diệt và làm tam rã hàng ngũ địch, càng đánh càng mạnh, càng trưởng thành về mọi mặt” [44, tr 265-266] Ngoài ra còn khẳng định mỗi bước phát triển của

sự nghiệp kháng chiến đều gắn liền với sự đóng góp to lớn của nhân dân, từ của cải vật chất đến đùm bọc, che chở nuôi dưỡng cán bộ, đảng viên, dân quân, du kích, xây dựng lực lượng về mọi mặt, mà trọng tâm là xây dựng củng cố lực lượng vũ trang, phát triển mở rộng lực lượng dân quân du kích để làm nòng cốt cho cuộc kháng chiến, làm chỗ dựa và thúc đẩy phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng phát triển

- Các bài viết, bài báo khoa học đã được đăng đề cập đến xây dựng lực

lượng dân quân du kích như: “45 năm xây dựng chiến đấu và trưởng thành của lực lượng vũ trang tỉnh nhà”, Báo cáo kinh nghiệm chiến tranh du kích,

Hội nghị Quân chính, Ban thông sự tỉnh Hải Dương(Tháng 9/1948 )

Các bài viết đã nêu lên các thành tích của lực lượng vũ trang tỉnh Hải Dương trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, trong đó góp phần không nhỏ là lực lượng dân quân du kích Tổng kết thành kinh nghiệm trong việc xây dựng lực lượng dân quân du kích, quá trình phát triển của dân quân

du kích Hải Dương, các hình thức chiến đấu của dân quân du kích

Trang 10

- “Đảng lãnh đạo xây dựng lực lượng dân quân du kích trong kháng chiến chống Pháp 1946 – 1954” ( khoá luận tốt nghiệp Đại học của Nguyễn

Thị Ngọc Hoa) Khoá luận đã nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng về tình hình xây dựng lực lượng dân quân du kích trên phạm vi cả nước Những chủ trương của Đảng trong các năm 1946 – 1950, 1951 – 1954 về sự cần thiết và chủ trương, chỉ đạo thực hiện xây dựng lực lượng dân quân du kích Khoá luận khẳng định: “Đường lối xây dựng lực lượng dân quân du kích của Đảng

là đúng đắn và sáng tạo Nó đáp ứng yêu cầu khách quan của lịch sử, đáp ứng

ý chí và nguyện vọng của quần chúng nhân dân là đứng lên chiến đấu vì độc lập, tự do Chính vì thế mà lực lượng dân quân du kích đã trở thành lực lượng chiến lược, góp phần quyết định đến thắng lợi của chiến tranh” [48, tr 96]

- Đảng bộ và nhân dân Kinh Môn kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ( 12/ 1946 đến 4/ 1955 ),( Nhà in Hải Dương ) Sách đã đề cập đến

sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Kinh Môn cụ thể hoá đường lối lãnh đạo của Đảng trong kháng chiến toàn dân, vấn đề quan trọng trong kháng chiến là xây dựng lực lượng về mọi mặt, mà trọng tâm là xây dựng củng cố lực lượng vũ trang, phát triển mở rộng lực lượng dân quân du kích để làm nòng cốt cho cuộc kháng chiến Chính vì vậy, ngay từ ngày đầu bùng nổ cuộc kháng chiến,

Trang 11

- Hải Dương - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc

Mỹ (1945 – 1975), (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội năm 2008) ; Địa chí Hải Dương, tập II, phần III: Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội năm 2008 ); Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân Liên khu III, 1945 – 1955 ( Nxb Quân đội nhân dân, Bộ tư lệnh

Quân khu III, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, năm 2005)

Các sách trên đã đề cập đến các đảng bộ lãnh đạo nhân dân trong huyện đứng lên kháng chiến như: đảng bộ Tứ Kỳ ra đời và lãnh đạo nhân dân củng

cố chính quyền, chuẩn bị kháng chiến (30/8/1945 đến 19/12/1946), lãnh đạo nhân dân sản xuất, vừa chiến đấu chống địch (12/1946 đến 12/1949), nhân dân vượt qua gian khổ, chống lại các cuộc hành quân càn quét bình định của địch (12/1949 đến 10/1951), lãnh đạo nhân dân chủ động tiến công địch giải phóng quê hương (11/1951 đến 10/1954) Đảng bộ và nhân dân Kinh Môn kháng chiến (12/1946 đến 4/1955) Đảng bộ và nhân dân Nam Sách kháng chiến (19/12/1946 đến 10/1954) Nhân dân Hải Hưng chiến đấu anh dũng chống phá kế hoạch bình định của địch, xây dựng hậu phương, mở rộng khu

du kích và căn cứ du kích (10/1949 đến 2/1952)…Các sách này còn khái quát một số bài học kinh nghiệm và nguyên nhân thắng lợi đúc rút trong kháng chiến chống Pháp, chủ trương xây dựng lực lượng dân quân du kích trong tỉnh, là cơ sở hoạch định đường lối kháng chiến lâu dài về sau này

Trang 12

11

2.3 Đánh giá chung

Phần lớn các công trình nghiên cứu và các bài viết nêu trên cung cấp cách nhìn tổng thể và khái quát về cuộc kháng chiến của nhân dân cả nước trong đó có nhân dân Hải Dương Ở những mức độ khác nhau, những tác phẩm này đã đề cập đến chủ trương của Đảng bộ tỉnh trong việc xây dựng lực lượng dân quân du kích Nhưng về cơ bản chỉ đề cập đến việc xây dựng lực lượng dân quân du kích trên phạm vi cả nước, nói về số lượng nhiều hơn vấn

đề xây dựng lực lượng, việc tác chiến của lực lượng dân quân du kích với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên chưa tập trung đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống như một công trình chuyên khảo; chưa hệ thống hoá số liệu, kết quả làm được trong xây dựng lực lượng dân quân du kích về

số lượng, tư tưởng; chưa đánh giá về quá trình chỉ đạo của Đảng bộ trong xây dựng lực lượng dân quân du kích; chưa tổng kết kinh nghiệm của Đảng bộ

2.4 Các vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu sâu sắc và đầy đủ

- Trình bày luận giải một cách có hệ thống quá trình lãnh đạo xây dựng lực lượng dân quân du kích với chủ trương, biện pháp cụ thể

- Quá trình xây dựng và phát triển lực lượng dân quân du kích ở Hải Dương qua các giai đoạn kháng chiến chống Pháp

- Vai trò của lực lượng dân quân du kích Hải Dương trong kháng chiến chống Pháp

- Đánh giá ưu điểm và hạn chế của Đảng bộ Hải Dương trong lãnh đạo xây dựng lực lượng dân quân du kích

- Tổng kết kinh nghiệm lịch sử rút ra trong quá trình lãnh đạo xây dựng lực lượng dân quân du kích

Trang 13

12

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Làm rõ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hải Dương trong việc xây dựng

và phát triển lực lượng dân quân du kích từ năm 1946 đến năm 1954 Từ đó rút ra một số kinh nghiệm lịch sử

- Trình bày quá trình chỉ đạo thực hiện xây dựng, phát triển dân quân du kích

- Đánh giá, phân tích để làm rõ ưu điểm, hạn chế của Đảng bộ Hải Dương trong quá trình lãnh đạo xây dựng và phát triển lực lượng dân quân du kích

- Phân tích nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế để từ đó tổng kết một số kinh nghiệm lịch sử có liên quan đến sự lãnh đạo của Đảng bộ Hải Dương

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Chủ trương của Đảng và Đảng bộ tỉnh Hải Dương trong việc xây dựng dân quân du kích

- Quá trình triển khai thực hiện chủ trương xây dựng dân quân du kích

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung:

- Nghiên cứu sự lãnh đạo ( bao gồm chủ trương, chính sách và tổ chức thực hiện) của Đảng về xây dựng lực lượng dân quân du kích

Trang 14

13

- Nghiên cứu chủ trương xây dựng lực lượng dân quân du kích ở Hải Dương

Về thời gian: Nghiên cứu quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hải Dương từ năm 1946 đến năm 1954

Về không gian: Chủ yếu tập trung nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Hải Dương

5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tài liệu

- Các Văn kiện Đảng, Đảng bộ tỉnh Hải Dương về cuộc kháng chiến chống Pháp, những tài liệu về chỉ đạo cuộc đấu tranh vũ trang của Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương, Bộ tư lệnh quân khu, các nghị quyết, chỉ thị của Liên Khu Ba, của Tỉnh ủy Hải Dương

- Các tài liệu báo cáo, tổng kết, ghi chép của các ban, ngành có liên quan gồm cả những tài liệu đã công bố và chưa công bố, các tài liệu có lư trữ tại Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thư viện và các tài liệu khảo sát thực tiễn ở địa phương

- Các sách báo đã xuất bản ở Trung ương và địa phương tỉnh Hải Dương viết về lịch sử kháng chiến chống Pháp của nhân dân Hải Dương

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở phương pháp luận: Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên cơ sở chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa duy vật biện chứng, những quan điểm cụ thể của Đảng về xây dựng dân quân du kích

- Phương pháp nghiên cứu chủ yếu:

Phương pháp lịch sử ( để mô tả đúng sự thật lịch sử, phản ánh một cách khách quan sự lãnh đạo của Đảng bộ, xây dựng và phát triển dân quân du kích đúng như thực tế khách quan

Trang 15

14

Phương pháp logic: tổng kết, đánh giá một cách đúng đắn ưu điểm và hạn chế của Đảng bộ cũng như thành tựu, hạn chế trong xây dựng và phát triển dân quân du kích Đảng bộ tỉnh Hải Dương Đồng thời để bước đầu tổng kết một số kinh nghiệm lịch sử

- Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể khác

như: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh…

6 Đóng góp mới của luận văn

- Về mặt khoa học: Luận văn phân tích làm rõ vai trò lịch sử và sự lãnh đạo của Đảng bộ đối với việc xây dựng lực lượng dân quân du kích trong cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp và các nhân tố bảm bảo sự lãnh đạo đó

- Về mặt thực tiễn: Luận văn rút ra được những nhận xét và tổng kết được những kinh nghiệm có giá trị lãnh đạo xây dựng dân quân du kích phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước trong giai đoạn hiện nay

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chương, 6 tiết

Chương 1: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ về xây dựnglực

lượng dân quân du kích trong giai đoạn triển khai cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện ( 1946 – 1950 )

Chương 2: Tăng cường lãnh đạo xây dựng lực lượng dân quân du kích

trong giai đoạn tiến công chiến lược của cuộc kháng chiến (1951 – 1954)

Chương 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm lịch sử

Trang 16

15

Chương 1

CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ VỀ XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG DÂN QUÂN DU KÍCH TRONG GIAI ĐOẠN TRIỂN KHAI CUỘC KHÁNG CHIẾN TOÀN DÂN, TOÀN DIỆN (1946 – 1950 )

1.1 Điều kiện lịch sử và chủ trương của Đảng bộ

từ tả ngạn sông Hồng đến sông Lục Đầu, nên Hải Dương chịu tác động mạnh của hệ thống sông phía Bắc Hải Dương nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và có vị trí chiến lược về chính trị, quân sự hết sức quan trọng của

Trang 17

16

Linh) và bô xít, cao lanh, đá vôi, cát trắng, than non, khí đốt….Diện tích rừng không lớn nhưng có nhiều gỗ quý ở Bắc An, Hoàng Hoa Thám Song, tre, mây thì khá nhiều được trồng bao bọc ở hầu khắp các làng xóm trong địa bàn tỉnh, ngoài việc phát triển nghề thủ công, nó còn tạo nghề cho công binh xưởng Chí – Nam – Kinh (Chí Linh, Nam Sách, Kinh Môn), cho các bễ lò rèn của các làng kháng chiến, cả vật liệu rèn kiếm, vót chông, gậy tầm vông, đánh dao, đúc mìn, lựu đạn, địa lôi… tự túc một phần quan trọng vũ khí thô sơ phục vụ dân quân du kích đánh giặc ngay giữa lòng địch trong suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp

Hải Dương là vành đai trực tiếp bảo vệ thủ đô Hà Nội, là tuyến trong của thành phố Hải Phòng và là hậu phương trực tiếp của tỉnh biên giới Quảng Ninh Điểm cực bắc là xã Hoàng Hoa Thám (Chí Linh ) Phía Đông tiếp giáp với thành phố Hải Phòng, điểm gần biển nhất là Quý Cao (Tứ Kỳ) Từ phía Đông Hải Dương được thông với biển bằng mạng lưới sông lớn đổ ra 6 cửa sông là Bạch Đằng, Nam Triệu, Cửa Cấm, Lạch Tray, Văn Úc và cửa sông Thái Bình Từ những cửa sông này, tàu thuyền có thể từ biển đi vào Hải Dương qua Lục Đầu Giang theo sông Đuống về thủ đô Hà Nội hoặc theo sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam tiến sâu vào trung tâm Việt Bắc Trong các cuộc chiến tranh xâm lược đất nước, nhiều lần các thế lực phong kiến phía Bắc, đế quốc đã sử dụng các tuyến sông này làm những hướng tiến quân chủ yếu Địa giới phía Nam tiếp giáp với tỉnh Thái Bình, ngăn cách bởi con sông Luộc – con sông nối hai lưu vực Hồng Hà và Thái Bình, là tuyến đường thuỷ quan trọng nối Hải Phòng với huyện Ninh Giang và thành phố Hưng Yên Khi các phương tiện vận tải đường không, đường sắt, đường bộ chưa phát triển, mạng lưới đường sông trên địa bàn Hải Dương có vị trí quan trọng trong vận tải nói chung, đặc biệt là trong vận tải quân sự Trong thời đại nào tuyến

Trang 18

Hà Nội - Hải Phòng chạy trên phần đất Hải Dương, thị trấn Cẩm Giàng tới cuối xã Kim Lương (Kim Thành) Trong cuộc kháng chiến chống thực dân

Pháp, địch đã coi tuyến đường này là “cái yết hầu” nối “cuống họng” Hải Phòng với cái “dạ dày” Hà Nội Ở phía Bắc tỉnh, đường số 18 chạy xuyên hai

huyện Chí Linh và Đông Triều Trong thời kỳ chống Pháp, địch đã dựa vào đây để thiết lập hệ thống ngăn chặn chủ yếu, chống bộ đội chủ lực của ta từ căn cứ Việt Bắc thâm nhập vào địch hậu

Cùng với các tuyến đường chiến lược trên, Hải Dương còn có mạng lưới đường bộ khá phát triển, chạy dọc ngang trên địa bàn toàn tỉnh, có ý nghĩa về quân sự quốc phòng cũng như trong xây dựng phát triển kinh tế và phục vụ đời sống nhân.Với ưu thế tuyệt đối về binh khí kỹ thuật và phương tiện cơ động, trong cuộc chiến tranh từ năm 1946 đến năm 1954, Bộ chỉ huy quân sự Pháp

đã triệt để lợi dụng hệ thống đường sá, sông ngòi là những lợi thế của chúng ở đồng bằng Bắc Bộ để thực hiện các ý đồ chiến dịch, chiến thuật và tiến hành càn quét

Điều kiện tự nhiên của Hải Dương thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội và củng cố quốc phòng an ninh.Trong kháng chiến chống Pháp, vùng đồi núi được cắt về Quảng Yên, địa bàn Hải Dương hoàn toàn là

Trang 19

18

đồng bằng Hải Dương là địa bàn lý tưởng thuận tiện cho không quân địch hoạt động trong các cuộc chiến tranh Vùng trời trên địa bàn Hải Dương cũng đặt ra cho công tác phòng không quốc gia những vấn đề lớn về xây dựng lực lượng, bố trí trận địa, triển khai phương án chống tập kích đường sông, đường

bộ, đường không chiến lược và chiến dịch của địch trong chiến tranh bảo vệ

Tổ quốc

Địa hình của Hải Dương khá đa dạng, phần lớn là đồng bằng (chiếm 89%), bán sơn địa và rừng núi (chiếm 11%) Nhìn chung địa hình tương đối bằng phẳng, nghiêng từ Tây sang Đông và từ Bắc xuống Nam Mặt khác, Hải Dương nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hương chủ yếu là gió Đông Nam và Đông Bắc, được chia thành hai mùa rõ rệt, mùa mưa thường từ tháng tư đến tháng mười, mùa khô từ cuối tháng mười năm trước đến hết tháng ba năm sau Những tháng mùa khô, cơ giới hoạt động thuận tiện, các loại xe vận tải quân sự và xe chiến đấu loại xe nhẹ đi lại dễ dàng trên

cả quốc lộ và đường liên tỉnh, liên huyện; xe bánh xích có thể cơ động trên các cánh đồng thuộc huyện Cẩm Giàng, Tứ Kỳ, Bình Giang, Bắc Gia Lộc, Bắc Kim Thành, Kinh Môn, Chí Linh Về mùa mưa xe cơ giới chỉ có thể hoạt động được trên các khu ruộng sình lầy hoặc ngập nước thuộc huyện Thanh

Hà, khu trung và hạ Tứ Kỳ, Nam Sách, Ninh Giang, Thanh Miện, Nam Gia Lộc, Nam Bình Gang Những địa hình này cũng khó xây dựng các kho bãi để cất giấu tài sản, vũ khí, khí tài, lương thực, thực phẩm Ở các huyện phía Đông và Đông Nam của tỉnh do sông, ngòi chằng chịt nên ngoài những khó khăn trên còn có thêm trở ngại lớn là địa bàn bị chia cắt, chiến trường dễ bị bao vây, cô lập Một số huyện trong tỉnh, do ít sông lạch, nguồn nước khó khăn, nên làng mạc thưa thớt, phần nhiều ở thế độc lập, thậm chí có nơi từ làng này sang làng kia từ 2 đến 3km, tạo nên những khoảng trống lớn, những cánh đồng rộng hàng 100 ha, như cánh đồng Ba Tổng ở Ninh Giang, cánh

Trang 20

19

đồng Tứ Tổng ở Thanh Miện Tuy nhiên, các làng xã trên địa bàn Hải Dương hầu hết nằm dọc hai bên các triền sông Vùng ven sông Luộc, sông Thái Bình, sông Kinh Thầy, sông Văn Úc…đã hình thành các khu vực làng mạc dầy đặc, rất thuận tiện cho việc trú quân và giấu quân, cơ động lực lượng và tổ chức chiến đấu liên hoàn Bên cạnh đó, ở các huyện Thanh Hà, Tứ Kỳ, Kim Thành, các xã ven sông thuộc huyện: Ninh Giang, Thanh Miện và Nam Sách các làng phần lớn trống trải, nhiều đường ngang ngõ tắt dễ tiếp cận làng này sang làng kia, không thuận tiện cho việc tổ chức chiến đấu theo lối cố thủ

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, nhân dân Hải Dương đã phát huy tối đa kiểu chiến tranh du kích, gây cho địch nhiều tổn thất Với địa hình có nhiều ao xen kẽ, đường đi lối lại trong làng ngoằn ngèo và hiểm trở; đường vào làng phần nhiều được lát gạch nghiêng hay đá phiến và độc đạo, có cổng làng khá kiên cố thuận tiện cho người và phương tiện thô sơ qua lại, có luỹ tre bao bọc kín đáo và chắc chắn Loại làng này chủ yếu ở các huyện: Cẩm Giàng, Ninh Giang, Gia Lộc, Tứ Kỳ, Nam Sách, Kim Thành, Thanh Miện Huyện Chí Linh và Kinh Môn (trừ các làng thuộc hai xã Đồng Lạc, Tân Dân – Nam Chí Linh; năm xã thuộc khu Nam và khu Bắc dẫy Yên Phụ (Kinh Môn) vừa là làng đồng bằng, vừa gần núi Làng mạc ở đây thường nằm ven sườn núi, sông, ở trong các thung lũng, khe, một số nơi có hang động; một số làng nằm ngay cửa rừng hoặc nằm ăn liền vào dãy núi Yên Phụ rất hiểm trở Những nơi đây vừa tiện cho cấu trúc công sự, vừa tiện cho xây dựng các căn

cứ hậu phương cho chiến tranh khi áp dụng lối đánh phòng thủ Nhưng đây cũng dễ bị địch chia cắt, là nơi ta dễ gặp khó khăn khi tiếp tế hậu cần và các loại vũ khí, khí tài

Như vậy, với vị trí quan trọng, địa hình, khí hậu thuận lợi, Đảng bộ và nhân dân Hải Dương có điều kiện phát huy thế mạnh xây dựng lực lượng dân

Trang 21

20

quân du kích và phát huy lối đánh du kích trong kháng chiến chống thực dân Pháp góp phần làm nên thắng lợi chung của đất nước trước giặc ngoại xâm

- Truyền thống lịch sử của tỉnh Hải Dương

Trong quá trình dựng nước và giữ nước, cư dân trên mảnh đất Hải Dương có truyền thống yêu nước nồng nàn, đứng lên đấu tranh chống thù trong giặc ngoài, dày công khai phá, tạo dựng nên quê hương giàu đẹp

Cư dân Hải Dương chiếm số lượng đông đảo và có truyền thống đấu tranh bất khuất là điều kiện thuận lợi để Đảng đề ra chủ trương và chỉ đạo thực hiện xây dựng lực lượng dân quân du kích và phát động chiến tranh nhân dân của Đảng

Nhân dân Hải Dương tự hào về những truyền thống vẻ vang của quê hương trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam Trong cái nôi của nền văn minh nông nghiệp sông Hồng, người dân Hải Dương vừa mang trong mình bản sắc chung của dân tộc Việt Nam, vừa mang những nét riêng truyền thống đậm đà bản sắc văn hoá của vùng châu thổ sông Hồng

Đó là những con người thông minh, nhạy bén, cần cù, sáng tạo trong lao động

và học tập, kiên cường, tài trí trong đấu tranh, giản dị, chân thành trong cuộc sống, bao dung, nghĩa khí trong ứng xử

Đóng góp vào nền văn hoá của dân tộc, xứng danh vùng đất “địa linh, nhân kiệt”, Hải Dương là nơi sinh ra và nuôi dưỡng nhiều tài năng lỗi lạc của

quê hương, đất nước Đó là truyền thống thượng võ – nơi sinh ra và nơi dựng binh của nhiều vị tướng tài, nhiều nhà quân sự tài ba trong lịch sử; truyền thống hiếu học nổi tiếng, lĩnh vực nào Hải Dương cũng có những nhân tài nổi danh khắp đất nước như: Khúc Thừa Dụ- ông đã lãnh đạo nhân dân đứng lên giành lại quyền tự chủ từ tay bọn phong kiến nhà Đường, đặt nền móng đầu tiên cho sự nghiệp khôi phục độc lập dân tộc sau hơn 1.000 năm Bắc thuộc;

Trang 22

21

Trần Quốc Tuấn là người thông minh, thiên tài về quân sự, lãnh đạo quân dân Đại Việt giành chiến thắng vang dội ở Chương Dương, Hàm Tử, Vạn Kiếp đuổi giặc ra khỏi đất nước, phá tan mộng xâm lăng của giặc Nguyên; Yết Kiêu là người có công đầu trong trận đại thắng quân Nguyên trên sông Bạch

Đằng Ngoài ra, Hải Dương còn tự hào về Chu Văn An - “Người thầy của muôn đời”, Mạc Đĩnh Chi - có đầu óc “kinh bang tế thế vào bậc nhất”,

Nguyễn Trãi - nhà văn hoá lớn, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới, tác giả lớn của nền văn học dân tộc, là niềm tự hào của nhân dân Hải Dương…

Thiên nhiên và con người Hải Dương với các yếu tố về địa lý, dân cư, nghề nghiệp, cùng những di sản văn hoá, truyền thống dựng nước, giữ nước

từ bao đời nay là một chỉnh thể thống nhất, song hành và có tác động sâu sắc đến nhận thức, tư tưởng của nhân dân Hải Dương Tất cả những yếu tố đó đã thấm sâu vào tiềm thức mỗi người dân, trở thành nguồn động lực to lớn bên trong thôi thúc và phát huy sức mạnh cộng đồng trong sự nghiệp đấu tranh, xây dựng và bảo vệ đất nước.Cũng như nhân dân cả nước, trong quá trình dựng nước và giữ nước, nhân dân Hải Dương có nguồn sức mạnh vô cùng to lớn được hun đúc từ thế hệ này sang thế hệ khác Hải Dương cũng là một trong những miền đất tiêu biểu của các công cuộc trị thuỷ, khẩn hoang và lao động cần cù sáng tạo

Không chỉ bền bỉ và kiên trì trong quá trình chinh phục thiên nhiên, nhân dân Hải Dương còn có tài trí, dũng cảm kiên cường trong đấu tranh chống kẻ thù xâm lược Lịch sử đấu tranh chống xâm lược của tỉnh là lịch sử của những chiến công hào hùng Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, nhân dân Hải Dương đã hun đúc nên truyền thống yêu nước, ý chí chiến đấu kiên cường trong các cuộc chiến tranh chống kẻ thù xâm lược

Trang 23

22

Với nguồn tài nguyên phong phú và vị trí chiến lược quan trọng, Hải Dương luôn là mục tiêu chiếm đóng và đặt ách cai trị của các thế lực phong kiến và bè lũ thực dân, đế quốc xâm lược

Ngay từ thời cổ - trung đại, với sức mạnh của truyền thống đoàn kết, yêu nước nhân dân Hải Dương đã lập nên biết bao chiến công hiển hách trong chống ngoại xâm phương Bắc Nhân dân Hải Dương cùng cả nước đương đầu với hàng chục cuộc chiến tranh của các đội quân xâm lược: Tần, Hán, Tống, Nguyên, Minh, Thanh và tham gia nhiều cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ để giành độc lập tự do Đó là, chiến công từ thời Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, chặn đánh quân Mã Viện nhà Đông Hán ở cửa sông Văn Úc

Đầu thế kỷ thứ X (905), Khúc Thừa Dụ từ Hồng Châu - Ninh Giang đã lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa lật đổ chính quyền đô hộ nhà Đường, lập nên nhà nước phong kiến độc lập, cơ bản kết thúc ách thống trị hơn một nghìn năm của phong kiến phương Bắc

Thế kỷ thứ XIII, khi vó ngựa Nguyên – Mông xâm lược, vua Trần Nhân Tông đã triệu tập và chủ trì họp bàn với các Vương hầu, bách quan bàn

kế sách đánh giặc Lời thề “Sát Thát” với ý chí quyết đánh sang sảng vang

lên, thể hiện quyết tâm đánh giặc giữ nước của cả dân tộc

Trong khoảng thế kỷ XVI – XVII, khi chế độ phong kiến Việt Nam dần suy tàn và mục nát, cũng là lúc phong trào nổi dậy của nông dân bùng lên khắp miền Bắc (Đàng Ngoài) Nhân dân Hải Dương hăng hái tham gia các cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ (Nam Sách) Sang thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, các cuộc khởi nghĩa của nông dân đã lên tới đỉnh cao, lan rộng khắp cả nước Tiêu biểu nhất cho ý chí và nguyện vọng của nông dân

là cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Cầu (Lôi Động, Thanh Hà) Cuộc khởi nghĩa này đã lôi kéo hàng chục vạn nông dân trong tỉnh và các tỉnh lân cận:

Trang 24

23

Hưng Yên, Kiến An, Thái Bình cùng tham gia, sau đó lan rộng ra toàn đồng

bằng Bắc Bộ, thu hút được nhiều nhân sỹ yêu nước, tiến bộ Lá cờ “Đông đạo tổng quốc bảo dân đại tướng quân” của ông giương lên từ Đồ Sơn (Hải Phòng) với khẩu hiệu “lấy của nhà giàu chia cho dân nghèo”, nghĩa quân của

Nguyễn Hữu Cầu đã từ các tỉnh sông Hồng tiến lên Kinh Bắc, uy hiếp thành Thăng Long rồi tiến xuống Sơn Nam vùng Thanh Hoá, Nghệ An, làm lung lay chế độ phong kiến Lê - Trịnh và cổ vũ cuộc kháng chiến của nông dân ở Đàng Trong

Đến thời kỳ cận đại, phát huy truyền thống yêu nước bất khuất, kiên cường trong các thế kỷ trước, nhân dân Hải Dương lại một lần nữa vùng lên chống thực dân Pháp xâm lược bằng những cách đánh sáng tạo, mưu trí và những vũ khí tự làm đã lối dài truyền thống lịch sử chống giặc ngoại xâm của quê hương, đất nước

Hoàn cảnh lịch sử

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, chính quyền mới được thành lập, cùng với cả nước, Đảng bộ và nhân dân Hải Dương phải đối phó với nhiều khó khăn phức tạp: nạn đói chưa chấm dứt, nạn lụt chưa được giải quyết, thù trong giặc ngoài đe doạ, tình hình như "nghìn cân treo sợi tóc" Sản xuất nông nghiệp suy giảm Mùa lũ năm 1945, nước sông Thái Bình lên to, nhiều đoạn đê có nguy cơ bị vỡ, nước tràn vào đồng làm úng ngập hàng trăm hécta ở các huyện Nam Sách, Thanh Hà, Tứ Kỳ Sau nạn đói tháng 3- 1945, sức khoẻ của người dân giảm sút, bệnh tật nhiều, thiếu ăn, thiếu ruộng hoặc không có ruộng cày cấy do bị địa chủ tước đoạt hoặc cầm cố Ngành công nghiệp, tiếu thủ công nghiệp trên địa bàn gần như đình trệ Một số xí nghiệp, nhà máy, hầm mỏ của tư bản như: Nhà máy Chai, Nhà máy Nước, Nhà máy Rượu, Mỏ than Mạo Khê do chiến tranh tàn phá, thiếu

Trang 25

24

nguyên liệu cũng ngừng hoạt động Hàng trăm công nhân, thợ thủ công và dân nghèo thành thị không có việc làm, đời sống cơ cực, đói kém Hàng hoá khan hiếm

Dưới danh nghĩa quân Đồng minh vào tước vũ khí quân đội Nhật, quân đội Tưởng Giới Thạch tràn vào đóng ở thị xã Hải Dương, Phả Lại tới trên 1.000 tên, có lúc lên tới trên 2.000 tên Theo chân chúng là bọn Việt Quốc, Việt Cách phản động, câu kết với nhau ra sức gây rối, âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng còn non trẻ Chúng lập trụ sờ ở một số huyện như: Bình Giang, Tứ Kỳ, thị xã Hải Dương Chúng tăng cường hoạt động khiêu khích trắng trợn như rải truyền đơn, áp phích, báo chí nói xấu cộng sản, nói xấu Việt Minh, hoặc bắt bớ cán bộ du kích Quân Tưởng đã bao vây trụ sở công

an tỉnh, bắt đồng chí Trưởng Ty Công an đưa đi Hải Phòng, bao vây huyện Kinh Môn bắt đồng chí Chủ tịch uỷ ban hành chính huyện và bắn chết đồng chí tự vệ ở huyện Ninh Giang

Trong khi tình hình kinh tế còn nhiều khó khăn, tình hình chính trị phức tạp, quân Tưởng sách nhiễu ta đủ điều, chúng yêu cầu ta cung cấp lương thực, thực phẩm, bắt ta tiêu tiền quan kim của chúng Trắng trợn hơn, chúng còn gây sức ép bắt ta cho bọn Việt Quốc, Việt Cách được tự do hoạt động và tham gia chính quyền Lợi dụng tình hình rối ren, bọn phản động địa phương (Quốc dân đảng) cũng ngóc đầu hoạt động chống phá cách mạng Nạn thố phỉ lại nối lên hoạt động ở các huyện phía bắc, nhất là ở Chí Linh, Đông Triều

Quân Pháp vào Hải Dương đóng tại các vị trí trên đường 5, thị xã Hải Dương, thị trấn Phả Lại Tại thị xã Hải Dương có 300 quân Pháp, đóng ở cầu Phú Lương, Trường Con gái, nhà máy Chai, Nông Phố, ngân hàng Chúng tỏ thái độ ngang ngược, hống hách, khiêu khích, sách nhiễu, gây nhiều khó khăn Quân Pháp còn duyệt binh ở thị xã Hải Dương nhân ngày Quốc khánh nước Pháp (ngày 14 tháng 7) Ngày 18-3-1946 có khoảng 1.200 quân Pháp từ

Trang 26

25

Hải Phòng (có xe tăng, đại bác) kéo lên Hà Nội đi qua địa bàn Hải Dương Nhân dân Hải Dương tổng biểu tình phản đối quân Pháp Từ Phú Thái, Tiền Trung, thị xã Hải Dương, Cầu Ghẽ (huyện Cẩm Giàng) hàng nghìn người dân

đổ ra đường chặt cây, vứt đồ đạc, bàn ghế trên mặt đường 5 nhằm ngăn cản bước tiến quân của chúng Tại chùa Đông Thuần (thị xã Hải Dương) một tổ tự

vệ chiến đấu của các nhà sư bí mật mai phục, sẵn sàng chiến đấu khi được lệnh [53, tr.142]

Đặc biệt sau chiến dịch Việt Bắc Thu Đông 1947 thất bại, làm sụp đổ chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh” , thực dân Pháp buộc phải chuyển sang đánh lâu dài, ráo riết thực hiện chính sách “dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” Về quân sự chúng rải quân để bình định, củng cố các vùng chiếm đóng của chúng ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Bình Trị Thiên và đồng bằng Bắc Bộ; thực thi chiến lược “chiến tranh tổng lực” đánh phá cơ sở kinh tế, chính trị và lực lượng hậu bị của ta; hệ thống tháp canh De Latour, chiến thuật “ chiếm cứ điểm nhỏ và đối ứng chiến nhỏ” được áp dụng trên cả ba miền, hệ thống lô cốt của địch dựng lên khắp các trục đường giao thông và vùng bị chúng chiếm đóng Chúng áp dụng chiến thuật “khóa then cửa” lập hệ thống hành lang chia cắt, cô lập các chiến trường của ta, đồng thời còn mở các cuộc tấn công càn quét lớn vào một số vùng căn cứ và vùng tự do của ta ở Nam Bộ Về chính trị, chúng gấp rút lập

tề, tổ chức chính quyền bù nhìn ở địa phương và trung ương Các chính phủ

bù nhìn do thực dân Pháp lập ra một cách bất hợp pháp đã liên tục cải tổ và thay đổi nhiều lần nhưng không đạt được ý muốn của chúng vì đi ngược lại lợi ích của dân tộc Việt Nam

Bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng đã xác định: chỉ

có một con đường giành thắng lợi là dựa hẳn vào nhân dân, phát huy truyền thống yêu nước chống ngoại xâm của dân tộc, phát động và tổ chức cuộc kháng

Trang 27

Tình hình xây dựng lực lượng dân quân du kích tỉnh trước khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ

Ngay từ đầu bước vào cuộc kháng chiến tương quan so sánh lực lượng giữa Việt Nam và thực dân Pháp, buộc nhân dân Việt Nam phải chọn lấy nhỏ đánh lớn Tuy nhiên, dần dần sau đó, phương thức đấu tranh lấy nhỏ đánh lớn dần hình thành và phát triển như là một ưu thế của dân tộc Việt Nam trong điều kiện tương quan lực lượng không có lợi Và trong chính thực tế phát triển của cuộc kháng chiến đã cho thấy đó là sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp

và mang lại hiệu quả to lớn

Quan điểm chiến tranh nhân dân được nhân dân Hải Dương quán triệt sâu sắc Chính phương thức chiến tranh nhân dân, toàn dân đánh giặc cũng đã quy định cuộc “kháng chiến của ta là nhân dân chiến tranh, vì vậy dân quân du kích cũng phải hoạt động mạnh, phát triển mạnh, và phối hợp chặt chẽ với Vệ quốc quân”

Để kiện toàn bộ máy lãnh đạo chống lại thực dân Pháp xâm lược, hội đồng nhân dân các cấp được bầu ra Cấp tỉnh và cấp xã bầu ra uỷ ban hành chính Lực lượng vũ trang, công cụ chuyên chính của chính quyền được Đảng bộ Hải Dương quan tâm xây đựng, củng cố Dưới sự chỉ đạo của các cấp uỷ đảng, nhiều hội viên trong Thanh niên cứu quốc, Nông dân cứu quốc được lựa chọn bố sung vào lực lượng vũ trang địa phương Đến cuối năm 1945, mỗi xã

Trang 28

10 khấu súng máy Phong trào ủng hộ, mua sắm vũ khí, trang bị cho dân quân

du kích của nhân dân trong tỉnh phát triến rầm rộ, sôi nối khắp nơi

Lực lượng vũ trang trong tỉnh đã kiềm chế có hiệu quả những hoạt động phá hoại của quân Tưởng Giới Thạch và tay sai, đặc biệt là làm tốt công tác tiễu phỉ, trừ gian, giữ vững trật tự xã hội và an toàn cho các cơ quan của Đảng, chính quyền, Mặt trận, góp phần ổn định tình hình, giữ vững và củng

cố chính quyền cách mạng, chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược

Công tác phát triển Đảng được đẩy mạnh Từ Cách mạng Tháng Tám đến tháng 12-1945, toàn Đảng bộ có 100 đảng viên, tháng 6-1946 tăng lên 250 đảng viên, đến tháng 12-1946 tăng lên 644 đảng viên sinh hoạt ở 88 chi bộ.Thành phần giai cấp trong Đảng được mở rộng gồm nông dân, công nhân, tiểu tư sản nhưng đa số là trung, bần, cố nông Đến cuối năm 1946 hệ thống tổ chức của Đảng bộ đã được kiện toàn chặt chẽ

Thực hiện Sắc lệnh ngày 2-9-1945 của Chính phủ, lực lượng công an được thành lập, chính quyền cách mạng có thêm công cụ chuyên chế để trấn

áp thù trong, cùng bộ đội, tự vệ và toàn dân chống giặc ngoại xâm Cuối năm

1945, tỉnh tổ chức ra các đơn vị giải phóng quân, cả tỉnh là một chi đội, mỗi huyện là một trung đội Đây là đơn vị vũ trang tập trung đầu tiên của tỉnh, dựa vào chiến khu Đông Triều để xây dựng lực lượng vũ trang tập trung của địa phương Chi đội giải phóng quân gồm 500 chiến sĩ, vũ khí trang bị gồm 500

Trang 29

28

súng trường và 10 súng máy [53, tr 134].Vũ khí trang bị cho lực lượng dân quân du kích còn thô sơ, chỉ có một số vũ khí, súng đạn lấy được của địch trong Cách mạng Tháng Tám

Các lực lượng dân quân du kích sau khi giành được chính quyền đã về các làng xã tăng gia sản xuất và trở thành lực lượng bán vũ trang Một số ít lực lượng đã được giữ lại tổ chức thành những đơn vị Giải phóng quân, cả tỉnh là một chi đội, mỗi huyện một trung đội Về vũ khí trang bị chưa được đầy đủ, có gì cấp nấy, vũ khí vừa thô sơ, vừa thiếu thốn Ngoài các trung đội Giải phóng quân, một số huyện còn thành lập từ 1 đến 2 tiểu đội cảnh vệ để tuần tra canh gác, bảo vệ các cơ quan huyện Nhân dân hăng hái tham gia lực lượng dân quân du kích, sắm vũ khí để tự vệ, bảo vệ làng Các phong trào vũ trang, phong trào học tập quân sự, chế tạo vũ khí ở địa phương phát triển nhanh chóng, rộng khắp trong toàn tỉnh: nhà nhà thi đua, người người tranh đua, nhiều gia đình cả nhà là dân quân du kích, cả nhà tự sắm lấy vũ khí, nhiều làng xã đã mời cả thầy về dạy võ cho thanh niên Đường làng, sân đình,

bờ đê, cả sớm, trưa, chiều, tối đều biến thành những bãi tập…Lực lượng dân quân chưa thoát ly sản xuất nhưng ở nhiều nơi đã xây dựng dưới nhiều hình thức nửa tập trung , mỗi làng có tới hàng trăm đội viên, tự vệ đảm nhiệm các nhiệm vụ canh gác, tuần tra, chế áp các phần tử phá hoại, giữ vững an ninh, chính quyền Mỗi huyện là một trung đội, dựa vào chiến khu Đông Triều để xây dựng lực lượng vũ trang tập trung

Lực lượng vũ trang cách mạng hình thành khắp các địa phương và trở thành công cụ chủ yếu của chính quyền Lực lượng dân quân du kích Hải Dương nói chung và thanh niên huyện Cẩm Giàng nói riêng đã tổ chức mít tinh biểu tình ( 8-10-1945) phản đối phái bộ Anh thoả hiệp cho thực dân Pháp gây đổ máu ở Nam Bộ Toàn bộ thanh thiếu niên Cẩm Giàng đã tuyên thệ

Trang 30

29

trước Quốc kỳ và ảnh Hồ Chủ tịch, xin sẵn sàng ra trận, tiêu diệt bọn thực dân Pháp xâm lược, quyết bảo vệ nền độc lập tự do của Tổ quốc mới giành được Nhiều đơn vị xin đi gọn, nhiều cá nhân đã dùng máu của mình để viết đơn xin tình nguyện Đó là những người hoàn toàn tình nguyện, được tuyển trọn từ các đơn vị trong tỉnh, được huấn luyện chu đáo, có sức khoẻ và ý thức kỷ luật tốt Vũ khí trang bị, lương thực, thực phẩm và các phương tiện đảm bảo Lúc này, tỉnh Hải Dương đã giải thể các đơn vị bảo an, các lực lượng tự vệ đã lần lượt trở về các làng, xã làm lực lượng nòng cốt ở địa phương

Từ cuối tháng 11 đầu tháng 12 năm 1946, công tác chuẩn bị cho kháng chiến ở Hải Dương được tiến hành khẩn trương hơn Thực hiện chủ trương tiêu thổ kháng chiến, ở thị xã Hải Dương, thị xã Ninh Giang, các công sự, nhà

ga, nhà điện, Ty tuyên truyền, Uỷ ban Hành chính tỉnh đã được gài mìn sẵn, khi cần sẽ cho nổ để tiêu huỷ Nhân dân ở các thị xã Hải Dương, Ninh Giang được vận động triệt để tản cư, tiêu thổ kháng chiến, thực hiện “Vườn không nhà trống” Lực lượng tự vệ đã đục phá tường nhà nọ thông qua nhà kia để làm giao thông hào, đào công sự, đắp ụ chiến đấu Bộ đội, tự vệ và nhân dân các địa phương phá một số đoạn trên đường 17, 20,5, cưa cây cối ngả xuống

để cản xe cơ giới của quân Pháp

Thực tế hơn một năm tích cực xây dựng lực lượng cách mạng về mọi mặt và chuẩn bị các điều kiện cần thiết để bước vào cuộc kháng chiến, cũng là thời gian quân dân Hải Dương được rèn luyện thử thách qua nhiều cuộc đấu tranh với nhiều kẻ thù hung bạo, xảo quyệt Thực tế đó đã chuẩn bị về mặt tâm lý, tôi luyện ý chí cho quân dân Hải Dương cùng với cả nước sẵn sàng bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược Tỉnh uỷ Hải Dương khẩn cấp triệu tập cuộc họp mở rộng dưới sự chủ tọa của đồng chí Đặng Tính- Bí thư Tỉnh uỷ để bổ khuyết công khuyết công việc kháng chiến Tỉnh uỷ tiến

Trang 31

30

hành rà soát toàn bộ công việc chuẩn bị của các địa phương, bặc biệt là thị xã Hải Dương Sau cuộc họp, cán bộ chủ chốt các huyện, nghành về ngay vị trí chỉ huy chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu

1.1.2 Chủ trương của Đảng và Đảng bộ

Từ cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ đến Thu – Đông 1947

Đảng lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược trong bối cảnh lịch sử nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vừa mới tuyên bố độc lập, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước còn nhiều khó khăn Bên cạnh đó lại phải đối đầu với kẻ thù có quân đội xâm lược nhà nghề, trang bị vũ khí hiện đại

Từ rất sớm Đảng xác định phải sử dụng chiến thuật chiến tranh du kích, xây dựng lực lượng dân quân du kích, thực hiện vũ trang toàn dân để chống lại thực dân Pháp xâm lược Từ quan điểm cơ bản đó, Đảng đề ra đường lối xây dựng

lực lượng vũ trang với nội dung cốt lõi là: “Động viên và tổ chức toàn dân, xây dựng lực lượng chính trị rộng rãi của quần chúng đồng thời xây dựng lực lượng lượng vũ trang nhân dân bao gồm ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc” [39, tr

120]

Ngày 19/12/1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ Lực lượng vũ trang ở các địa phương cũng tăng cường đáng kể Tuy nhiên, nước Việt Nam là nước nhỏ, kĩ thuật lạc hậu; Dân quân du kích, tự vệ đông đảo và được tổ chức rộng khắp nhưng chất lượng còn thấp, trang bị chủ yếu bằng vũ khí thô sơ Dù vậy,

đáp lại Chỉ thị Toàn dân kháng chiến của Thường vụ Trung ương Đảng và Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân nhân khắp nơi

hăng hái tham gia cách mạng, hàng triệu người tham gia các đoàn thể cứu quốc Nhiều đội du kích nổi tiếng toàn quốc xuất hiện như: Đội du kích Cao Phạ của

Trang 32

tr 197] Đồng thời, trong những Nhiệm vụ cần kíp, Đảng đã đề ra chiến lược

chiến thuật: “Dùng những đội dân quân du kích thật gan dạ và khôn khéo, quấy nhiễu, du kích đánh tỉa làm cho địch hao mòn” [26, tr 183]

Trung tuần tháng 11 năm 1947, Bộ Quốc phòng ra huấn lệnh “Phát động chiến tranh du kích - nhiệm vụ quân sự căn bản trong giai đoạn này” [26, tr 334] Bản huấn lệnh chỉ ra những việc cần làm ngay khi địch tấn công lên Việt Bắc

Để chống lại âm mưu của thực dân Pháp Quân dân Việt Nam đã tích cực phát triển chiến tranh du kích khắp nơi, biến hậu phương địch thành tiền phương ta Hội nghị cán bộ trung ương lần thứ IV (miền bắc Đông Dương) đã

có đường lối phát triển chiến tranh du kích và xây dựng lực lượng dân quân

Trang 33

32

- Đại đội độc lập giúp du kích trở nên những bộ đội địa phương

- Lập nhiều làng chiến đấu ở đồng bằng, khu chiến đấu ở miền núi, theo những nguyên tắc: bảo vệ tài sản tính mạng dân, có chỗ rút lui, tương trợ không cô độc, có thể dùng để tác chiến được thật sự (chứ không phải chỉ có danh nghĩa)

- Gây cǎn cứ du kích

- Dân quân du kích tham gia sinh sản để tự cung” [26, tr 97]

Dân quân du kích có hai hạng:

- Dân quân tự vệ có nhiệm vụ canh gác, phòng gian trong địa phương, vận tải, tiếp tế, tải thương…để giúp du kích địa phương

- Du kích địa phương có nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ làng mạc, tài sản, tính mạng của dân, độc lập tác chiến và phối hợp với Vệ quốc đoàn Trong giai đoạn này Hải Dương phần lớn do ta làm chủ Đảng bộ tỉnh Hải Dương đã chỉ đạo các huyện xây dựng lực lượng trong đó tập trung xây dựng lực lượng dân quân du kích

Đầu năm 1947, theo chỉ thị của Tỉnh uỷ, các địa phương khẩn trương rút kinh nghiệm những ngày đầu chiến đấu để củng cố tinh thần cán bộ, bộ đội, dân quân và nhân dân Tại Kính Chủ ( huyện Kinh Môn ), huyện uỷ triệu tập hội nghị cán bộ các cơ quan huyện và cán bộ chủ chốt các xã để học tập lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến” của Thường vụ Trung ương Đảng Hội nghị đã chỉ rõ: tổ chức lực lượng du kích, đẩy mạnh công tác chuẩn bị kháng chiến Phát triển Đảng phải chú ý tập trung vào lực lượng dân quân du kích

Thi hành Sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 12 tháng 2 năm

1947 về việc kiện toàn lực lượng dân quân du kích, tháng 2 năm 1947 Bộ Quốc phòng ra thông tư tổ chức mọi công dân từ 18 đến 45 tuổi vào dân quân, đồng

Trang 34

33

thời quy định nhiệm vụ của dân quân tự vệ và các đội du kích địa phương

Tháng 4 năm 1947, Trung ương Đảng ra nghị quyết: “Mỗi làng, mỗi địa phương phải phái ngay đồng chí hoặc cán bộ cứu quốc có năng lực ra đảm nhiệm công việc phát triển dân quân” [26, tr 117] Thực hiện chủ trương trên, Tỉnh uỷ ra

nghị quyết về tăng cường chỉ đạo xây dựng lực lượng dân quân du kích và tự vệ

Tháng 4 năm 1947, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ II họp tại Triều Dương xã Hoà Bình họp rút kinh nghiệm và nhận định: “ Vừa đánh vừa bảo toàn lực lượng và phát triển lực lượng Phải xây dựng ba đại đội mạnh, tiến lên thành tiểu đoàn bộ đội tỉnh Mỗi huyện xây dựng một đại đội, các xã phải phát triển mạnh lực lượng dân quân du kích và lập đơn vị du kích tập trung; đẩy mạnh huấn luyện quân sự, thực hiện học quân sự ngay trong tác chiến xây dựng tinh thần sẵn sàn chiến đấu; khuyến khích các gia đình có điều kiện đứng ra đỡ đầu lực lượng dân quân du kích” [53, tr 166]

Cuối năm 1947, trước tình hình âm mưu của địch, Đảng bộ tỉnh Hải Dương triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III, họp tại đình Xuyên Hử ( thôn Đông Cao, xã Xuyên Hử, Ninh Giang ) Đại hội khẳng định: “Đánh mạnh

để chuyển sang giai đoạn thứ hai, phát triển chiến tranh du kích, xúc tiến việc luyện quân tập công, rút kinh nghiệm những cuộc chiến đấu năm 1947, tập dược đánh những trận vận động tiêu diệt địch tiếp tục xây dựng khối đoàn kết toàn dân kháng chiến, phát triển phải đi đôi với củng cố, nhất là trong lực lượng vũ trang và đồng bào vùng công giáo, chú ý đào tạo cán bộ nữ, cán bộ người công giáo” [53, tr 178-179]

Như vậy, từ sau Cách mạng Tháng Tám, trước tình hình cụ thể của cuộc kháng chiến, yêu cầu phải phát huy sức mạnh toàn diện, Đảng có những chủ trương thích hợp đẩy mạnh việc xây dựng lực lượng dân quân du kích

Trang 35

34

Đảng bộ tỉnh Hải Dương đã quán triệt đề ra chủ trương phù hợp hoàn cảnh, nguyện vọng của nhân dân trong tỉnh đáp ứng được yêu cầu của cuộc kháng chiến

Từ cuối năm 1947 đến cuối năm 1950

Từ đầu năm 1948, trước yêu cầu mới của cuộc kháng chiến, Đảng chủ trương phát triển mạnh lực lượng dân quân du kích Tháng 1/1948 Trung ương Đảng họp Hội nghị mở rộng, chủ trương: “ Một mặt phát triển dân quân, phát triển chiến tranh du kích khắp nơi, nhất là vùng địch kiểm soát, đồng thời tùy theo tình thế tập trung đánh vận động tiêu diệt địch, quét những đồn lẻ của giặc, bắt địch thu hẹp địa bàn lại…

Từ những đánh giá sát thực âm mưu thủ đoạn của địch, Hội nghị Trung ương Đảng (15-1-1948) đề ra nhiệm vụ cụ thể cho quân dân cả nước Về chính

trị, phải củng cố khối đoàn kết toàn dân, phá chính sách “Dùng người Việt đánh người Việt”, phá hội tề, trừ diệt bọn tay sai, tuyên truyền địch vận Về kinh tế,

phá kinh tế tài chính địch, thực hiện tăng gia sản xuất tự cấp, tự túc Về quân sự, phá vỡ cuộc tiến công mùa đông của địch, phát triển lực lượng dân quân, tiến hành chiến tranh du kích khắp nơi, quét sạch những đồn lẻ, đột kích vào thành phố, thu hẹp địa bàn của địch

Để thúc đẩy phong trào đấu tranh của lực lượng dân quân du kích, tháng 4/1948 theo Chỉ thị của ban Thường vụ Trung ương Đảng, Hội nghị dân quân toàn quốc lần thứ hai được triệu tập Nghị quyết Hội nghị nêu lên nhiệm

vụ quan trọng năm 1948 là: “Phát động mạnh mẽ du kích chiến tranh…lập làng chiến đấu ở đồng bằng…phát triển chiến tranh du kích trong tất cả các giới và khắp các địa phương…tổ chức du kích bí mật, tình báo, liên lạc, giao thông nhân dân Gây cơ sở du kích trong vùng địch kiểm soát và gây du kích

Trang 36

2 Tìm những người tản cư có tinh thần, huấn luyện cho họ để gây tổ chức du kích bí mật

3 Ít nhất mỗi xã phải có một tổ du kích bí mật

4 Ở những nơi không tìm được người tản cư đưa về phải dùng các tổ chức bí mật xã lân cận, những người có họ hàng xa ở vùng chiếm đóng, trao cho họ nhiệm vụ giúp tổ chức bí mật

5 Những nơi có tổ chức bí mật rồi, đem một số có tinh thần nhất ra vùng ta kiểm soát để đặc biệt huấn luyện

6 Phải giữ gìn các tổ chức bí mật ấy…giao công tác hợp với năng lực của họ và huấn luyện công tác bí mật của họ

Cần phải tổ chức rộng rãi các bậc phụ lão, phụ nữ, thiếu nhi vào du kích Ở miền bị chiếm nên tổ chức cả những người có thể giúp cho đội du kích ( ông lang, người tàn tật, người bần cùng)

Trong thư gửi Hội nghị, Hồ Chí Minh căn dặn:

1 Thiết thực tổ chức và huấn luyện dân quân du kích từng làng, lấy dân quân du kích làng làm nền tảng, đồng thời phải kiện toàn các đội du kích thoát

ly

Trang 37

36

2 Làm cho mỗi đội viên hiểu rõ và tin tưởng vài lực lượng của ta, tin tưởng vào vũ khi thô sơ của ta

3 Phối hợp thật chặt chẽ với Vệ quốc quân

4 Làm cho đội viên hiểu rõ các nhiệm vụ vẻ vang của họ

5 Làm cho họ hiểu rõ chiến thuật du kích là: Phải luôn luôn giữ quyền chủ động, phải tìm địch mà đánh, phải luôn luôn quấy rối phá hoại địch, phải cộng những thắng lợi nhỏ thành những thắng lợi to

6 Phải thực hành tự cấp, tự túc bằng cách thiết thực, bằng tăng gia sản xuất

7 Phải thực hành những điều đó bằng cách thi đua, làng này thi đua với làng khác, huyện, tỉnh, khu này thi đua với huyện, tỉnh khu khác Với kế hoạch rõ ràng và thiết thực của Hội nghị, với lòng hăng hái của toàn thể dân quân du kích, với sự giúp đỡ của đồng bào, tôi chắc chắn rằng dân quân du kích sẽ làm tròn nhiệm vụ vẻ vang là: giết nhiều giặc, cướp nhiều sung, để giúp cho trường kỳ kháng chiến mau thắng lợi, thống nhất và độc lập tự do mau thành công”[59, tr 416]

Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương tại Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ V (8-8-1948) xác định Nhiệm vụ chiến lược và chiến lược lúc này là lúc: “Thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch, đẩy địch vào thế đóng giữ” và “Phát triển du kích sau lưng địch, hoạt động du kích một cách tích cực hơn trong vùng địch kiểm soát, ngay trong các thành phố tạm bị chiếm Học đánh vận động bằng tiểu đoàn tập trung rồi tiến lên thực hiện đánh vận động bằng trung đoàn dã chiến Đột kích quét cứ điểm nhỏ, chế vũ khí mới để đánh pháo đài (cứ điểm) nhỏ và tiến lên có thể đánh chiến thị trấn Ra sức chặn đánh các đường giao thông tiếp tế của địch cả trên bộ, dưới thủy và trên không Mở rộng vũ trang tuyên truyền và địch vận” [31, tr 166]

Trang 38

37

Theo chủ trương trên, từ giữa năm 1948, một phần ba bộ đội chủ lực đã được phân tán thành các đội độc lập để đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích, trong đó nhiệm vụ chủ yếu vẫn là tuyên truyền, kết hợp tác chiến với vận động nhân dân Phong trào du kích đã diễn ra vô cùng phong phú, ngày càng phát triển mạnh mẽ và sâu rộng làm cơ sở để tiến chiến tranh chính quy

Trước tình hình phát triển của chiến tranh, căn cứ vào tình hình thực tế của chiến trường, tháng 4-1949 Hồ Chí Minh ký sắc lệnh thành lập bộ đội địa phương, tiếp đó tháng 8-1949 Trung ương Đảng lại ra chỉ thị về việc xây dựng bộ đội địa phương và phát triển dân quân du kích Chỉ thị xác định:

“Xây dựng bộ đội địa phương là một công tác then chốt để đẩy mạnh chiến tranh…”chỉ thị còn nhắc nhở các địa phương “ phải động viên nhân dân nuôi dưỡng bộ đội, gia nhập bộ đội…”

Ngày 18 tháng 8 năm 1949, Ban thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị

về xây dựng bộ đội địa phương Từ ngày 1 đến ngày 24 tháng 9 năm 1949 tại Hội nghị Đèo Voi về xây dựng lực lượng vũ trang, tỉnh Hải Dương tiếp tục đề

ra chủ trương “ Tích cực xây dựng, tổ chức lực lượng” [32, tr 270]

Thực hiện kháng chiến toàn dân, phát triển mạnh mẽ phong trào đấu tranh của dân quân du kích nhằm đẩy mạnh chiến ranh du kích, tiến dần lên chiến tranh chính quy là sự chỉ đạo chiến lược chiến tranh đúng đắn của Trung ương Đảng và Chính phủ, nhằm đưa kháng chiến tiến lên mạnh mẽ trong những năm 1948 – 1949 và năm 1950

Thấy được sự phát triển to lớn của phong trào cách mạng và cụ thể là

sự trưởng thành của lực lượng vũ trang, trong đó có dân quân du kích, để tạo điều kiện hơn nữa cho cuộc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 20/SL ngày 02/02/1950 quyết định tổng động viên nhân lực, vật lực, tài lực của toàn thể nhân dân để tiến tới tổng phản công

Trang 39

38

Hội nghị lần thứ 3 Trung ương Đảng lần thứ 3 được tổ chức từ ngày 21

tháng 1 đến ngày 2 tháng 2 năm 1950 Hội nghị xác định “cần chiếm ưu thế

về quân sự trên chiến trường chính (Bắc Bộ) trong khi các chiến trường khác

ta đủ sức kiềm chế địch Ưu thế quân sự đó phải được giữ vững và phát triển

để tiếp tục phản công cho đến toàn thắng” Về phương châm chiến lược quân

sự, Hội nghị quyết định “vận động chiến đóng vai trò chủ yếu, du kích chiến

và trận địa chiến đóng vai trò hỗ trợ” [33, tr 197]

Bước sang Thu Đông 1950, nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ cho cuộc kháng chiến, Đảng và Chính phủ quyết định mở Chiến dịch Biên Giới vào tháng 9/1950 nhằm mục đích: tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giảo phóng một phần vùng biên giới, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc, đánh thông đường liên lạc quốc tế với các nước xã hội chủ nghĩa

Trước hoàn cảnh đó, Hội nghị toàn quốc lần thứ tư (5/1950- 6/1950) đã họp và chủ trương: phải kiện toàn và phát triển lực lượng dân quân, các đội du kích để chuẩn bị cho cuộc chiến đấu sắp tới, đồng thời “dựa vào sự phát triển của du kích chiến tranh trong mỗi địa phương và những thắng lợi của vận động chiến, xây dựng những căn cứ địa du kích sau lưng địch để tạo những khu vực hậu phương nhỏ trong những miền bị tạm chiếm, tạo điều kiện cho

bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, các cơ quan chỉ đạo hoạt động”

Thực hiện chủ trương của Trung ương, ngày 25 tháng 1 năm 1948, Chính phủ ra Sắc lệnh số 120/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký, quyết định tổ chức lại các chiến khu trong cả nước Theo đó, sát nhập Chiến khu 2, Chiến khu 3 thành Liên khu 3 gồm thành phố Hải Phòng và các tỉnh Kiến An, Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nội, Hà Đông, Sơn Tây, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Hòa Bình Bộ chỉ huy Liên khu, đồng chí Hoàng Sâm giữ

Trang 40

39

chức Tư lệnh, đồng chí Lê Quang Hòa giữ chức Chính ủy, đồng chí Hoàng Minh Thảo giữ chức Phó Tư lệnh

Giữa tháng 2 năm 1948, trước tình hình âm mưu mới của địch, Đảng

bộ Hải Dương triệu tập Đại hội đại biểu lần thứ III Đại hội họp tại đình thôn Xuyên Hử, xã Đông Xuyên, huyện Ninh Giang Đại hội phân tích, đánh giá kết quả sau một năm kháng chiến và bàn nhiệm vụ mới

Về nhiệm vụ quân sự thời gian tới, Nghị quyết nhấn mạnh:“Đẩy mạnh hoạt động để chuyển sang giai đoạn thứ hai là cầm cự, phát triển chiến tranh

du kích tập dượt nhanh những trận vận động tiêu diệt địch phải gây cơ sở

du kích trong lòng địch, đánh phá sau lưng địch, làm cho địch phải chống đỡ nhiều mặt; đẩy mạnh xây dựng lực lượng vũ trang địa phương mạnh cả về số lượng và chất lượng”; củng cố và mở rộng “Hội bảo trợ dân quân”, “Hội mẹ chiến sỹ”[31, tr 46]

Ngày 29 tháng 8 năm 1949, Tỉnh uỷ ra nghị quyết Phát động chiến tranh

nhân dân Nghị quyết chỉ rõ: “Thành lập thêm các đội vũ trang tuyên truyền, chú trọng đặc biệt việc xây dựng bộ đội địa phương và dân quân du kích xã cả về số lượng và chất lượng” [32, tr 290]

Ngoài việc xây dựng các đơn vị bộ đội địa phương, Tỉnh còn chú trọng củng cố lực lượng dân quân du kích Mỗi xã có một đội du kích thoát ly Đến cuối năm 1949, Tỉnh Hải Dương có 7.812 du kích, trong đó 2.548 lão du kích, 2.838 nữ du kích, 16.041 dân quân

Ngày 22 tháng 12 năm 1949, địch mở cuộc càn quét Đi-a-bô-lô (Điabolo) đánh vào nhiều huyện của các tỉnh: Hải Dương, Hưng Yên, Kiến

An, Thái Bình Tại Hải Dương chúng đánh vào các huyện: Bình Giang, Gia Lộc, Tứ Kỳ, Ninh Giang, Thanh Miện, nhằm chiếm nốt vùng tự do phía Nam của tỉnh Địch sử dụng hai binh đoàn ứng chiến tinh nhuệ bậc nhất đồng bằng

Ngày đăng: 22/05/2016, 00:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Hữu An (1994), “Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân theo tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân theo tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh”
Tác giả: Nguyễn Hữu An
Năm: 1994
2. Ban thông sự Tỉnh Hải Dương (Tháng 9/1948 ), Báo cáo kinh nghiệm chiến tranh du kích, Trích biên bản Hội nghị Quân chính, lưu tại thư viện tỉnh Hải Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kinh nghiệm chiến tranh du kích
3. Ban chính trị Tỉnh Đội dân quân Tỉnh Hải Hưng, Số 118 (20/12/1949), Báo cáo quân sự Hải Dương năm 1949, lưu tại thư viện tỉnh Hải Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo quân sự Hải Dương năm 1949
4. Ban chính trị Tỉnh Đội Hưng Yên (1962), Những lá cờ đầu trong Phong trào thi đua “Ba nhất” của dân quân tự vệ Hưng Yên, lưu tại văn phòng tỉnh đội Hưng Yên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những lá cờ đầu trong Phong trào thi đua “Ba nhất” của dân quân tự vệ Hưng Yên
Tác giả: Ban chính trị Tỉnh Đội Hưng Yên
Năm: 1962
5. Ban tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (1996), Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp: Thắng lợi và bài học, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp: Thắng lợi và bài học
Tác giả: Ban tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
Năm: 1996
6. Ban Thông sự Tỉnh Hải Dương (4/1988), Báo cáo kinh nghiệm chiến tranh du kích của Tỉnh Hải Dương từ 19/12/1946 đến 1950, lưu tại thư viện tỉnh Hải Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kinh nghiệm chiến tranh du kích của Tỉnh Hải Dương từ 19/12/1946 đến 1950
7. Ban chấp hành Đảng bộ Thành phố Hải Dương (1997), Lịch sử Đảng bộ thành phố Hải Dương, Nhà in Hải Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ thành phố Hải Dương
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ Thành phố Hải Dương
Năm: 1997
8. Ban chỉ huy quân sự Tỉnh Hải Dương (2000), Lực lượng vũ trang cách mạng Thành phố Hải Hưng, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lực lượng vũ trang cách mạng Thành phố Hải Hưng
Tác giả: Ban chỉ huy quân sự Tỉnh Hải Dương
Nhà XB: Nxb Quân đội Nhân dân
Năm: 2000
9. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Hải Dương (2005), Các kỳ Đại hội Đảng bộ, Nhà in Hải Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các kỳ Đại hội Đảng bộ
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Hải Dương
Năm: 2005
10. Bộ tham mưu quân khu Ba (1978), Vũ khí tự làm cho dân quân tự vệ, quân dự bị, lưu tại thư viện tỉnh Hải Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ khí tự làm cho dân quân tự vệ, quân dự bị
Tác giả: Bộ tham mưu quân khu Ba
Năm: 1978
12. Bộ tư lệnh Quân khu Ba (1991), Những trận đánh trong kháng chiến chống Pháp, tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những trận đánh trong kháng chiến chống Pháp, tập 1
Tác giả: Bộ tư lệnh Quân khu Ba
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 1991
13. Bộ tư lệnh Quân khu Ba (1994), Những trận đánh điển hình trên chiến trường vùng châu thổ Sông Hồng ( 1945-1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những trận đánh điển hình trên chiến trường vùng châu thổ Sông Hồng ( 1945-1975)
Tác giả: Bộ tư lệnh Quân khu Ba
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 1994
14. Bộ tư lệnh quân khu Ba (2010), Một số trận đánh điển hình của quân và dân quân khu 3 ( 1945-1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số trận đánh điển hình của quân và dân quân khu 3 ( 1945-1975)
Tác giả: Bộ tư lệnh quân khu Ba
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 2010
15. C.Mác (1967), Bàn về nâng cao chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về nâng cao chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân
Tác giả: C.Mác
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 1967
16. Trường Chinh (1955), Kháng chiến nhất định thắng lợi, Nxb Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kháng chiến nhất định thắng lợi
Tác giả: Trường Chinh
Nhà XB: Nxb Sự Thật
Năm: 1955
17. Trường Chinh (1965), “Giương cao ngọn cờ của chủ nghĩa Mác – Lênin sáng tạo nắm vững đường lối quân sự của Đảng”, Tạp chí Quân đội nhân dân, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giương cao ngọn cờ của chủ nghĩa Mác – Lênin sáng tạo nắm vững đường lối quân sự của Đảng
Tác giả: Trường Chinh
Năm: 1965
18. Dư địa chí Hải Dương (2008), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dư địa chí Hải Dương
Tác giả: Dư địa chí Hải Dương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2008
19. Lê Duẩn (1965), Ta nhất định thắng, địch nhất định thua, Nxb Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ta nhất định thắng, địch nhất định thua
Tác giả: Lê Duẩn
Nhà XB: Nxb Sự Thật
Năm: 1965
20. Lê Duẩn (1979), Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam anh hùng, bách thắng, Nxb Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam anh hùng, bách thắng
Tác giả: Lê Duẩn
Nhà XB: Nxb Sự Thật
Năm: 1979
21. Văn Tiến Dũng (1964), Nhận rõ tình hình tích cực xây dựng lực lượng vũ trang hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ, Nxb Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận rõ tình hình tích cực xây dựng lực lượng vũ trang hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ
Tác giả: Văn Tiến Dũng
Nhà XB: Nxb Sự Thật
Năm: 1964

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm