1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảng lãnh đạo công tác đảm bảo giao thông vận tải trên địa bàn quân khu 4 thời kỳ 1965 1968

108 501 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

* Nhiệm vụ - Trình bày một cách có hệ thống chủ trương, đường lối của Trung ương Đảng, các đảng bộ địa phương trên địa bàn Quân khu 4, các đảng bộ ngành… về công tác đảm bảo giao thông

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

TRƯƠNG CÔNG HỮU

ĐẢNG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC ĐẢM BẢO GIAO THÔNG VẬN TẢI TRÊN ĐỊA BÀN QUÂN KHU 4

THỜI KỲ 1965-1968

LUẬN VĂN THẠC SỸ

Người hướng dẫn: TS Hồ Khang

Hà nội - 2005

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 6

QUÂN KHU IV VÀ CÔNG TÁC GIAO THÔNG VẬN TẢI 6

TRƯỚC CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI LẦN THỨ NHẤT 6

1.1 Quân khu IV - một địa bàn chiến lược 6

1.1.1 Điều kiện tự nhiên và con người Quân khu IV 6

1.1.2 Tính chiến lược của địa bàn Quân khu IV 9

1.2 Tình hình giao thông, vận tải trên địa bàn Quân khu 4 trước chiến tranh phá hoại (1954- 1964) 12

1.2.1 Những chủ trương của Đảng về công tác giao thông, vận tải trước chiến tranh phá hoại 12

1.2.2 Công tác giao thông, vận tải trên địa bàn Quân khu 4 thời kỳ 1954 - 1964 20

Chương 2 31

CHỦ TRƯƠNG VÀ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG TRÊN MẶT TRẬN GIAO THÔNG VẬN TẢI Ở QUÂN KHU 4 THỜI KỲ 1965 - 1968 31

2.1 Âm mưu và thủ đoạn của đế quốc Mỹ 31

2.2 Sự lãnh đạo của Đảng trên mặt trận giao thông vận tải ở Quân khu IV (1965 - 1968) 34

2.2.1 Nhận thức và những chủ trương chỉ đạo của Đảng trên mặt trận giao thông vận tải nói chung và ở Quân khu IV nói riêng 34

2.2.2 Chỉ đạo tiến hành những biện pháp cụ thể để đảm bảo giao thông, vận tải trong điều kiện có chiến tranh 45

Trang 3

2.3 Công tác đảm bảo giao thông, vận tải trên địa bàn Quân khu 4 thời kỳ 1965-1968 54

2.3.1 Quân và dân Khu IV trên mặt trận giao thông, vận tải 54 2.3.2 Hoạt động của Đoàn 559 trên mặt trận giao thông, vận tải ở Quân khu 4 trong thời kỳ 1965-1968 60

Chương 3 Ý NGHĨA LỊCH SỬ VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM 65 3.1 Ý nghĩa lịch sử 65

3.1.1 Thắng lợi của quân và dân Quân khu 4 trên mặt trận giao thông, vận tải giai đoạn 1965-1968 đã đảm bảo được sự chi viện liên tục, ngày càng tăng cho chiến trường miền Nam 65 3.1.2 Thắng lợi của quân và dân Quân khu 4 trên mặt trận giao thông, vận tải giai đoạn 1965-1968 đã chứng minh sự chỉ đạo đúng đắn của Đảng 66 3.1.3 Thắng lợi của quân và dân Quân khu 4 trên mặt trận giao thông, vận tải giai đoạn 1965 - 1968 một lần nữa chứng ta đã chứng minh sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân 68 3.1.4 Thắng lợi trên mặt trận giao thông, vận tải giai đoạn 1965-1968 minh chứng cho truyền thống anh hùng, bất khuất của quân và dân Quân khu 4 69 3.1.5 Thắng lợi của quân và dân Quân khu 4 trên mặt trận giao thông, vận tải giai đoạn 1965-1968 chứng minh cho sức mạnh của chính nghĩa, sự ưu việt của chế độ chính trị ở miền Bắc 70

3.2 Một số kinh nghiệm 71

3.2.1 Kinh nghiệm về quán triệt đường lối của Đảng tới từng chiến sỹ, người dân; tăng cường vai trò lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng 71 3.2.2 Kinh nghiệm về đẩy mạnh công tác tuyên truyền, huy động trí tuệ và công sức của nhân dân 73 3.2.3 Kinh nghiệm tổ chức vận tải một cách linh hoạt, kết hợp các phương thức vận chuyển, binh chủng một cách hợp lý 75

Trang 4

3.2.4 Kinh nghiệm về chủ động xây dựng lực lượng, phương tiện vận tải,

phán đoán đúng âm mưu của địch 80

3.2.5 Kinh nghiệm về chỉ đạo xây dựng lực lượng phòng không đủ mạnh, vũ trang toàn dân để chiến đấu, bảo vệ hệ thống giao thông vận tải 81

KẾT LUẬN 84

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

Phụ lục 93

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong suốt 20 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc ta, giao thông vận tải chiếm giữ một vị trí vô cùng quan trọng; đó là mạch máu nối liền hậu phương lớn miền Bắc với tiền tuyến lớn miền Nam Từ năm 1965, khi

đế quốc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc nước ta mặt trận giao thông vận tải lại càng trở nên nóng bỏng, khốc liệt hơn Để ngăn chặn sự chi viện từ hậu phương miền Bắc vào tiền tuyến miền Nam cũng như để khủng bố tinh thần kháng chiến của nhân dân ta đế quốc Mỹ đã dội xuống đất nước ta một lượng bom đạn khổng

lồ mà trọng tâm là địa bàn Quân khu IV

Các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và đặc khu Vĩnh Linh trở thành trọng điểm đánh phá vô cùng dữ dội, ác liệt của không quân, hải quân Mỹ; nơi đây trở thành tuyến lửa thử thách ý chí, nghị lực, thành nơi đọ sức,

đọ lực giữa quân và dân ta với đế quốc Mỹ xâm lược Trong cuộc chiến đấu này, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân Quân khu 4 đã mưu trí, dũng cảm đương đầu và đánh tan cuộc chiến tranh phá hoại của không quân và hải quân

Mỹ, giữ vững mạch máu giao thông, góp phần quan trọng trong việc đảm bảo sự chi viện liên tục, mạnh mẽ và toàn diện của hậu phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến miền Nam

Như chúng ta đã biết, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố có ý nghĩa quyết định để chúng ta chiến thắng đế quốc Mỹ trên mặt trận ác liệt này Nghiên cứu

sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng trên mặt trận giao thông vận tải ở địa bàn Quân khu 4 những năm chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất (1965- 1968) chúng ta

sẽ thấy rõ hơn vai trò lãnh đạo của Đảng, hiểu rõ hơn những sáng tạo của các địa phương, qua đó góp phần tái hiện đầy đủ, sinh động hơn những trang sử hào hùng của dân tộc Cũng qua việc nghiên cứu chúng ta sẽ thấy rõ quá trình hình

Trang 6

thành, hoàn thiện những chủ trương chiến lược, các giải pháp của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, của các cấp bộ Đảng, các địa phương… trên mặt trận gay go, ác liệt này; quan trọng hơn nữa qua nghiên cứu chúng ta rút ra được những bài học kinh nghiệm phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa ngày nay Rõ ràng, đây là một vấn đề vừa có tính khoa học, vừa có tính thực tiễn

Với những lý do trên tôi quyết định chọn đề tài “Đảng lãnh đạo công tác đảm bảo giao thông vận tải trên địa bàn Quân khu IV thời kỳ 1965 - 1968”

làm luận văn thạc sỹ khoa học lịch sử của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Từ trước đến nay đã có nhiều công trình khoa học của các nhà sử học, các địa phương, các đơn vị quân đội nghiên cứu vấn đề này; có thể kể tên một số công trình tiêu biểu như:

- Quân khu IV - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1945 - 1975), NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994

- Lịch sử Đoàn 559 bộ đội Trường Sơn đường Hồ Chí Minh, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999

- Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975), tập 4, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999

- Vận tải quân sự chiến lược Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống Mỹ, Tổng cục Hậu cần xuất bản, Hà Nội 1988

- Kỷ yếu hội nghị khoa học: Mặt trận giao thông vận tải trên địa bàn Quân khu 4 trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội

2001

Ngoài ra các bài viết trong các hội thảo khoa học, tạp chí, lịch sử các Đảng bộ địa phương trên địa bàn Quân khu IV cũng đã đề cập nhiều đến vấn

Trang 7

đề này; tuy vậy chưa có một công trình nào chuyên khảo về vấn đề giao thông vận tải trên địa bàn Quân khu IV thời kỳ 1965 - 1968 một cách có hệ thống

Với lịch sử vấn đề như vậy, tác giả có điều kiện thuận lợi là được kế thừa kết quả những công trình đã nghiên cứu trước, nhưng mặt khác, tác giả cũng đối diện với một số khó khăn vì phải nghiên sâu vấn đề trên một địa bàn hẹp

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Nêu lên một số kết quả, ý nghĩa lịch sử và rút ra một số kinh nghiệm

về quá trình lãnh đạo và tổ chức của Đảng trên mặt trận giao thông vận tải ở địa bàn Quân khu IV giai đoạn 1965-1968

* Nhiệm vụ

- Trình bày một cách có hệ thống chủ trương, đường lối của Trung ương Đảng, các đảng bộ địa phương trên địa bàn Quân khu 4, các đảng bộ ngành… về công tác đảm bảo giao thông vận tải trong thời kỳ 1965 - 1968

- Trình bày quá trình quân và dân Quân khu 4 thực hiện các chủ trương,

sự chỉ đạo của Đảng trên mặt trận giao thông vận tải

- Tổng kết kinh nghiệm quá trình lãnh đạo đảm bảo giao thông vận tải trên địa bàn Quân khu 4

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu những chủ trương, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng trên mặt trận giao thông vận tải ở Quân khu 4 thời kỳ 1965-1968

Trang 8

- Nghiên cứu quá trình quân và dân Quân khu 4 thực hiện những chủ trương, đường lối của Đảng trong công tác đảm bảo giao thông vận tải thời kỳ 1965-1968

* Phạm vi nghiên cứu

- Công tác đảm bảo giao thông vận tải trong kháng chiến chống Mỹ là một vấn đề rộng lớn, tuy vậy trong khuôn khổ của một đề tài luận văn thạc sĩ, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng trên mặt trận giao thông vận tải trên bộ ở địa bàn Quân khu IV giai đoạn 1965 - 1968

- Địa bàn Quân khu IV ở từng thời kỳ khác nhau được hiểu không đồng nhất với nhau; tuy vậy trong công trình này Quân khu IV được hiểu gồm các tỉnh: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và đặc khu Vĩnh Linh

5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu, nguồn tư liệu

* Cơ sở lý luận

Luận văn được tiến hành trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam về công tác giao thông vận tải

* Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp logic, trong chừng mực nhất định, luận văn còn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp,

so sánh để giải quyết các vấn đề đã đặt ra

* Nguồn tư liệu

- Một số tác phẩm của Hồ Chí Minh về công tác đảm bảo giao thông vận tải

Trang 9

- Các văn kiện, nghị quyết của Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam, Tổng quân ủy Trung ương… về công tác đảm bảo giao thông vận tải trong thời

kỳ 1965-1968

- Các văn kiện, nghị quyết của các Đảng bộ địa phương trên địa bàn Quân khu 4, Đảng bộ ngành Giao thông vận tải, các văn bản của Đoàn 559 và một số đơn vị vũ trang…

6 Đóng góp của luận văn

- Hệ thống hoá các chủ trương, đường lối của Đảng về công tác đảm bảo giao thông vận tải trên địa bàn Quân khu 4 thời kỳ 1965- 1968

- Làm rõ quá trình quân và dân Quân khu 4 thực hiện công tác đảm bảo giao thông vận tải, làm nổi bật tinh thần anh hùng, bất khuất của nhân dân Quân khu 4

- Làm rõ ý nghĩa của việc đảm bảo giao thông vận tải ở Quân khu 4 thời

kỳ 1965- 1968 Rút ra được một số kinh nghiệm về công tác đảm bảo giao thông, vận tải trong điều kiện có chiến tranh

- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể tham khảo trong giảng dạy và nghiên cứu lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục… luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Quân khu IV và công tác giao thông vận tải trước chiến tranh

phá hoại lần thứ nhất

Chương 2: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng trong việc đảm bảo giao

thông vận tải trên địa bàn Quân khu IV thời kỳ 1965-1968

Chương 3: Ý nghĩa lịch sử và một số kinh nghiệm

Trang 10

Chương 1 QUÂN KHU IV VÀ CÔNG TÁC GIAO THÔNG VẬN TẢI

TRƯỚC CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI LẦN THỨ NHẤT

1.1 Quân khu IV - một địa bàn chiến lược

1.1.1 Điều kiện tự nhiên và con người Quân khu IV

* Điều kiện tự nhiên của Quân khu 4

Quân khu 4 là một dải đất dài và hẹp, một bên chạy dọc ven biển miền Trung một bên chạy dọc dãy Trường Sơn hùng vĩ Dải đất này kéo dài suốt từ Thanh Hoá vào đến tận Quảng Trị Vị trí địa lý của Quân khu 4 nằm vào khoảng 16,2 đến 20,3 độ vĩ Bắc, 103,5 đến 108,10 độ kinh Đông; phía Bắc giáp các tỉnh Hoà Bình, Ninh Bình, Sơn La; phía Tây giáp các tỉnh Sầm Nưa, Xiêng Quảng, Bulikhămxay, Khăm Muộn và một phần tỉnh Xavanakhẹt của nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975), Quân khu 4 là địa bàn chiến lược cực kỳ quan trọng Đây là nơi tiếp xúc với tiền tuyến miền Nam, nơi tập kết lực lượng để chi viện cho chiến trường, nơi kết thúc tuyến vận tải hậu phương và là điểm bắt đầu tuyến vận tải của Đoàn 559

Đứng trên phương diện vận tải thì Quân khu 4 lúc bấy giờ (các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và đặc khu Vĩnh Linh) gặp rất nhiều khó khăn, cụ thể là:

Về địa thế: nhiều dãy núi cao và dốc ở phía Tây cùng với biển ở phía Đông đã làm cho Quân khu 4 trở thành thế “độc đạo” Với chiều ngang nơi rộng nhất là Nghệ An, khoảng 207km, nơi hẹp nhất là Lệ Thuỷ (Quảng Bình) chỉ có 46,5km, rõ ràng đây là địa hình dễ bị kẻ thù thực hiện âm mưu chia cắt, phong

Trang 11

toả Trên thực tế, trong những năm chống chiến tranh phá hoại, trước sự đánh phá dữ dội của không quân, hải quân Mỹ, Quân khu 4 không ít lần đã bị ách tắc, thiệt hại

Bên cạnh sự khó khăn về địa thế như trên thì những khó khăn về địa hình cũng không nhỏ Do địa hình dốc về phía Tây và thấp dần về phía Đông nên Quân khu 4 có nhiều sông ngòi chảy cắt ngang với những con sông nổi tiếng như: sông Mã, sông Lam, sông La, sông Ngàn Sâu, sông Ngàn Phố Những con sông này đã làm cho địa hình bị chia cắt, gây khó khăn trong việc đi lại và vận chuyển Nếu tính trung bình trên tuyến quốc lộ 1A thì khoảng 800m đến 1200m

có một cầu nhỏ (dài dưới 15m), 2000m đến 3000m có một cầu lớn (dài trên 15m) Trong những nă chiến tranh, nhiều khu vực cầu, phà ở Quân khu 4 trở thành nơi đấu sức, đấu trí giữa ta và đế quốc Mỹ; tiêu biểu như khu vực cầu Hàm Rồng, cầu Bùng, cầu Tào, phà Ghép, phà Bến Thuỷ, phà Quán Hàu, phà Linh Cảm

Một khó khăn nữa trong việc đảm bảo giao thông, vận tải ở Quân khu 4 là vùng này không những bị chia cắt bởi sông mà còn bị chia cắt bởi núi Có nhiều dãy núi chạy dài từ miền Tây vươn ra biển, tạo thành các đèo dốc rất hiểm trở, gây khó khăn trong việc vận tải, đi lại, đặc biệt là gây khó khăn cho các phương tiện cơ giới, các dãy núi nổi tiếng như núi Nưa, Cao Sơn, Đại Huệ, Mồng Gà, Hoành Sơn, Bạch Mã

Về khí hậu, Quân khu 4 là địa hình có điều kiện khí hậu tự nhiên hết sức khắc nghiệt có những vùng lượng mưa lên tới 300ml mỗi năm nhưng cũng có vùng thường xuyên xảy ra hạn hán Nắng nóng có thể lên tới 40 độ nhưng mùa đông vẫn rất lạnh Bão lũ xẩy ra thường xuyên làm cho công tác giao thông, vận tải ở Quân khu 4 vốn đã khó khăn lại càng gian khổ hơn

Trang 12

Bên cạnh những khó khăn trên, công tác đảm giao thông vận tải ở Quân khu 4 trong điều kiện có chiến tranh phá hoại cũng có một số thuận lợi nhất định Thuận lợi đáng kể nhất là sau 10 năm hòa bình, quân và dân Quân khu 4

đã xây dựng được một mạng lưới giao thông tương đối tốt, cơ bản đáp ứng nhu được nhu cầu vận tải hàng hóa vào miền Nam Địa hình nơi đây tuy hiểm trở nhưng có dải đồng bằng chạy dọc ven biển tương đối bằng phẳng, thuận lợi cho các phương tiện cơ giới hoạt động

Như vậy, cùng với những khó khăn, Quân khu 4 cũng có một số thuận lợi trong quá trình đảm bảo giao thông vận tải trong điều kiện có chiến tranh phá hoại Tuy vậy chúng ta đều thấy rằng những điều kiện thuận lợi trên rất nhỏ bé

so với khó khăn mà quân và dân Quân khu 4 phải đối mặt trong công tác đảm bảo giao thông vận tải

* Truyền thống anh hùng của quân và dân Quân khu 4

Trái với những khó khăn của điều kiện tự nhiên, con người nơi đây là nhân tố quyết định hàng đầu trong công tác đảm bảo giao thông vận tải Với tổng số khoảng 8 triệu người (trong kháng chiến chống Mỹ), nhân dân Quân Khu 4 có truyền thống yêu nước từ lâu đời, truyền thống đó được cha truyền con nối, được dìn giữ và phát huy Mỗi khi tổ quốc lâm nguy thì nhân dân Quân khu

4 là lực lượng đóng vai trò quan trọng để bảo vệ tổ quốc Người Quân Khu 4 tuy

“ăn sóng nói gió” nhưng tính tình ngay thẳng, nghĩa hiệp, trung thành, yêu quê hương đất nước, sẵn sàng hi sinh cho tổ quốc Sau cuộc kháng chiến chống Pháp, tranh thủ thời gian hoà bình, nhân dân Quân khu 4 đã khẩn trương bắt tay vào việc khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội Qua 10 năm hoà bình (từ 1954 đến 1964) nhân dân Quân khu 4 đã xây dựng được một nền kinh tế ổn định, quốc phòng an ninh được củng cố và tăng cường, mạng lưới giao thông vận tải

Trang 13

được chú trọng và có nhiều thành tựu đáng khích lệ Trên địa bàn Quân khu 4 có khoảng 775 km đường sắt, hàng vạn km đường ôtô, mười bến phà lớn, 4 sân bay

và 11 bến cảng Bên cạnh đó mạng lưới giao thông liên tỉnh, liên huyện, liên xã, liên thôn cũng được củng cố, mở rộng và xây mới thêm Sau 10 năm phấn đấu, đời sống nhân dân được cải thiện nhiều, y tế giáo dục cũng có bước phát triể n đáng kể

Nói tóm lại, nhân dân Quân khu 4 vốn có truyền thống anh hùng, yêu nước, nay dưới sự lãnh đạo của Đảng, truyền thống anh hùng đó được nhân lên gấp bội và đó cũng là một nhân tố quan trọng để chúng ta dành chiến thắng trên mặt trận giao thông vận tải sau này

1.1.2 Tính chiến lược của địa bàn Quân khu IV

Như đã nói trên, địa bàn Quân khu 4 giữ một vị trí có tầm quan trọng chiến lược trong tất cả các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta Đã nhiều lần địa bàn này trở thành hậu phương, thành nơi phòng thủ chiến lược để đánh tan các cuộc xâm lăng của kẻ thù Trong thư gửi quân và dân Quân khu 4 năm 1947 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: Quân khu 4 có truyền thống là căn cứ địa của cả nước Trong đại hội Đảng bộ tỉnh Nghệ An khoá 6, đồng chí Lê Duẩn cũng nói: Ở Nghệ An và Khu 4 nói chung, mỗi khi miền Bắc mất, người ta lại vào đây xây dựng lại lực lượng, tiến lên lấy lại cả nước

Thật vậy, từ những năm đầu của thời kỳ phong kiến Việt Nam, Ngô Quyền, một tướng giỏi được cử trông coi vùng Châu Ái (Thanh Hoá và một phần Nghệ An ngày nay) đã dựa vào địa thế và truyền thống yêu nước của vùng đất này để xây dựng lực lượng rồi sau đó kéo quân ra Bắc đánh tan quân Nam Hán Thời Lý, vùng Hoan, Ái (Thanh - Nghệ - Tĩnh ngày nay) là hậu phương chiến lược quan trọng để nhân dân ta đánh bại cuộc xâm lược của nhà Tống

Trang 14

Đến thời Trần, trước sự tấn công ồ ạt của quân Nguyên Mông, nhà Trần đã đưa lực lượng về vùng Thanh - Nghệ ngày nay để phòng thủ và dựa vào địa thế, kinh

tế của vùng này để tích lũy thêm lực lượng, thành chỗ đứng chân, thành bàn đạp đánh lui quân Nguyên - Mông Thanh Hoá, Nghệ An cũng là nơi Lê Lợi, Nguyễn Trãi xây dựng cờ khởi nghĩa, xây dựng lực lượng để đánh đuổi giặc Minh

Đến cuối thế kỷ XIX, trước sự xâm lược của thực dân Pháp, nhân dân vùng đất này đã lợi dụng địa thế đặc biệt hiểm trở của địa phương, nhiều lần tổ chức kháng chiến, tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng, Phạm Bành, Đinh Công Tráng, Tống Duy Tân hay các phong trào Đông Du, Duy Tân chống thuế ở Trung Kỳ

Từ năm 1930, dưới sự Đảng Cộng sản Việt Nam, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân nơi đây lại càng mạnh mẽ hơn Phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh nổ ra đã làm thực dân Pháp khiếp sợ Sau thời kỳ 1930-1931, tuy bị đàn áp dã man nhưng người dân Nghệ - Tĩnh vẫn một lòng trung thành với Đảng, ra sức xây dựng lực lượng để rồi đến năm 1945 đã cùng cả nước vùng lên đập tan ách đô hộ gần 100 năm của thực dân Pháp Trong 9 năm chống Pháp, Liên khu 4 là vùng tự do, là hậu phương của chiến trường chính Bắc bộ Đặc biệt năm 1954, Liên khu 4 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của một hậu phương chiến lược; nơi đây đã cung cấp cho chiến trường hàng trăm tấn lương thực, thực phẩm, hàng chục vạn chiến sĩ, hàng triệu lượt dân công, góp phần quan trọng vào chiến dịch Điện Biên Phủ vĩ đại

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tính chiến lược của địa bàn này lại càng rõ hơn

Trang 15

Quân khu 4 là thành luỹ để che chắn cho miền Bắc Trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, mỗi lần kẻ thù đưa không quân ra đánh phá miền Bắc đều bị Quân khu 4 chặn đánh Kẻ thù đã nhiều lần đưa biệt kích, bọn phản động ra Bắc hoạt động đều bị nhân dân Quân khu 4 kịp thời phát hiện, bắt gọn, giữ vững an ninh Nói tóm lại, Quân khu 4 là bức tường phía Nam trong cuộc đấu tranh chống Mỹ - Ngụy

Quân khu 4 là cầu nối để chúng ta chi viện cho cách mạng miền Nam Kẻ thù coi Quân khu 4 là cái “cuống nhau”, “cuống phễu” và chúng đã điên cuồng đánh phá hòng cắt đứt con đường huyết mạch này

Quân khu 4 là cửa ngõ quan trọng của chiến trường Lào và chiến trường Campuchia, nhiều lần chúng ta đã phối hợp với bộ đội nước bạn đập tan nhiều cuộc tấn công của kẻ thù, làm tròn nghĩa vụ quốc tế

Đối với sự nghiệp cách mạng chung của cả nước, Quân khu 4 là nơi đấu trí, đấu sức giữa ta và địch; đây vừa là hậu phương nhưng cũng vừa là tiền tuyến Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Quân khu 4 trở thành tuyến lửa của

cả nước, các tỉnh từ Thanh Hoá đến đặc khu Vĩnh Linh trở thành “túi bom”, trở thành nơi kẻ thù triển khai các âm mưu thâm độc, các loại vũ khí tối tân và cũng

là nơi để chúng ta chứng minh sức mạnh chính nghĩa của dân tộc Việt Nam

Trên thực tế, chúng ta thấy rằng cuộc kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam được quyết định bởi sự chi viện từ miền Bắc, sự chi viện Bắc- Nam lại phụ thuộc rất lớn vào công tác đảm bảo giao thông vận tải ở Quân khu 4; do đó, công tác giao thông vận tải ở Quân khu 4 có vai trò đặc biệt quan trọng Đây vừa

là nơi vận chuyển, vừa là nơi cung cấp và cũng là nơi tập kết hàng hoá (thành chân hàng) để chúng ta chi viện cho miền Nam

Trang 16

Như vậy Quân khu 4 là một địa bàn có tầm quan trọng đặc biệt, có ý nghĩa chiến lược, trọng yếu trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, đặc biệt là trong cuộc kháng chiến chống Mỹ Đây là địa bàn mang tính sống còn của cách mạng Việt Nam, là cầu nối giữa hai miền Nam - Bắc, là cửa ngõ của chiến trường Đông Dương Quân khu 4 là điểm chốt quan trọng trong hệ thống mạch máu giao thông vận tải của nước ta, là địa bàn mang tính chiến lược trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ, thống nhất đất nước

1.2 Tình hình giao thông, vận tải trên địa bàn Quân khu 4 trước chiến tranh phá hoại (1954- 1964)

1.2.1 Những chủ trương của Đảng về công tác giao thông, vận tải trước chiến tranh phá hoại

Được coi là địa bàn chiến lược, có vai trò đặc biệt quan trọng đối với công tác giao thông vận tải giữa hai miền Nam - Bắc nên ngay từ những ngày đầu khi hoà bình lập lại, trên cơ sở nhận thức đúng vai trò của Quân khu 4, Đảng

ta đã có những chủ trương chỉ đạo quân và dân Quân khu 4 nhanh chóng hàn gắn vết thương chiến tranh, phục hồi sức sản xuất, phát triển kinh tế, văn hóa -

xã hội, chuẩn bị và sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu mới chống kẻ thù xâm lược

Ngay từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ Đảng ta đã rất quan tâm đến công tác giao thông vận tải Hội nghị Trung ương lần thứ 12 khóa

II (3/1957) chỉ rõ: “Dù hậu phương của nước nhà có đầy đủ vật chất, nhưng nếu không có một tổ chức hậu cần, không có công tác hậu cần mạnh mẽ về vận chuyển, phân phối và cung cấp đầy đủ cho tiền tuyến thì không bảo đảm được thắng lợi” [13, tr.226]

Trang 17

Tiếp đó, Hội nghị đánh giá về tình hình giao thông vận tải của miền Bắc tính đến năm 1957: “phần lớn đều tập trung ở đồng bằng, đường thì nhỏ, cầu thì yếu, không phù hợp với yêu cầu của chiến tranh hiện đại và của một bộ đội có trang bị tương đối nặng” [13, tr.235]

Đây là một nhận định thẳng thắn và rất khách quan về tình hình giao thông, vận tải của nước ta sau kháng chiến chống Pháp Tuy chúng ta đảm bảo được vấn đề vận tải, chi viện trong 9 năm kháng chiến nói chung và chiến dịch Điện Biên Phủ nói riêng nhưng điều đó không có nghĩa là giao thông vận tải của chúng ta đã phát triển Trên thực tế, trong kháng chiến chống thực dân Pháp, phương thức vận tải của chúng ta rất thô sơ, phương tiện là xe thồ và sức người

là chính Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, hệ thống giao thông vận tải cũ

kỹ đó không còn đáp ứng đủ nhu cầu chiến tranh nữa Chúng ta đều biết, đế quốc Mỹ là kẻ hiếu chiến và có phương tiện chiến tranh vào loại bậc nhất, để vượt qua sự phong toả của Mỹ thì việc nâng cấp hệ thống giao thông vận tải là điều hết sức cần thiết

Trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng của hệ thống giao thông vận tải, để giải quyết khó khăn, đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, Hội nghị Trung ương mở rộng lần thứ 12 (1957) chỉ đạo: “Chú trọng phát triển các đường giao thông, đặc biệt là những đường giao thông chiến lược ở hậu phương, và có kế hoạch xây dựng từng bước các kiến trúc quốc phòng ” [13, tr.199] Tuy vậy trong quá trình phát triển chúng ta không xây dựng một cách ồ ạt mà: “Cần kết hợp nhu cầu kinh tế với nhu cầu quốc phòng mà sửa chữa những con đường chiến lược đi thông với nước bạn và đi qua nội địa các quân khu, những con đường chiến dịch cần thiết cho mỗi quân khu và một số con đường vận chuyển thường, đường sắt thì cần phát triển Một số đường sông cũng cần sửa lòng sông” [13, tr.235]

Trang 18

Đây là sự chỉ đạo mang tính vĩ mô, chiến lược nhưng cũng hết sức cụ thể;

là định hướng quan trọng để nhân dân cả nước nói chung cũng như nhân dân Quân khu 4 nói riêng bắt tay vào việc khôi phục và xây dựng, nâng cấp hệ thống giao thông Việc kết hợp giữa giao thông vận tải phục vụ nhiệm vụ khôi phục và phát triển kinh tế với nhiệm vụ quốc phòng là một chủ trương hết sức đúng đắn Chủ trương đó vừa đáp ứng yêu cầu khôi phục kinh tế, nhu cầu đi lại của nhân dân ta sau chiến tranh, vừa đáp ứng được đòi hỏi của việc củng cố và tăng cường an ninh, quốc phòng Thời kỳ này, mỗi khi xây mới một công trình giao thông, Đảng ta đều tính toán rất kỹ, sao cho ngoài việc phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế công trình đó còn phải đảm bảo tính chiến lược, hợp lý khi có chiến tranh nổ ra Năm 1959, để phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân, phục vụ công tác phát triển kinh tế, xã hội và quan trọng hơn là để chuẩn bị đối phó với âm mưu xâm lược của kể thù Đảng ta đã quyết định tiến hành khảo sát và xây dựng tuyến đường 15A từ Hòa Bình đến đặc khu Vĩnh Linh Đây là một minh chứng

về việc Đảng ta kết hợp nhiệm vụ kinh tế với nhiệm vụ quốc phòng Trong những năm chống chiến tranh phá hoại, khi quốc lộ 1A bị ách tắc thì đường 15A

đã trở thành tuyến giao thông hết sức quan trọng để chúng ta chi viện cho miền Nam

Đặc biệt, để đảm bảo cho công tác chi viện vào chiến trường miền Nam, tháng 5 năm 1959, Tổng Quân uỷ đã quyết định thành lập một đơn vị chuyên trách công tác giao thông vận tải, đó là Đoàn 559 Đoàn 559 lúc bấy giờ có tên

là “Đoàn công tác quân sự đặc biệt”, có nhiệm vụ mở đường, vận chuyển hàng hoá quân sự vào miền Nam và đưa đón cán bộ, liên lạc giữa hai miền Nam – Bắc Ngay khi mới thành lập, Đoàn 559 hoạt động rất hiệu quả và địa bàn chính của đơn vị này chính là Quân khu 4

Trang 19

Như vậy, ngay từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, khi

mà chiến tranh phá hoại chưa xẩy ra, Trung ương Đảng đã có những chỉ đạo về công tác giao thông vận tải Nội dung bao trùm nhất của sự chỉ đạo thời kỳ này

là phục hồi và xây dựng thêm những tuyến giao thông mới, trong quá trình xây dựng các công trình giao thông vận tải phải kết hợp nhiệm vụ khôi phục, phát triển kinh tế với nhiệm vụ đảm bảo an ninh quốc phòng Sự chỉ đạo đó là định hướng lớn, và là nội dung cơ bản để các Đảng bộ điạ phương tiếp tục cụ thể hoá, chi tiết hoá sao cho phù hợp với đ ịa phương mình Việc chỉ đạo sát sao kịp thời

về công tác đảm bảo giao thông vận tải và thành lập Đoàn 559 để chi viện cho miền Nam còn thể hiện được khả năng dự báo chính xác của Đảng ta Vào thời điểm này, tuy chiến tranh phá hoại vẫn chưa nổ ra nhưng Trung ương Đảng đã tích cực chuẩn bị mọi mặt, sẵn sàng đối phó với âm mưu của kẻ thù Trên sơ sở nắm vững chủ trương của Trung ương Đảng, Đảng bộ các tỉnh trên địa bàn Quân khu 4 đã nhanh chóng cụ thể hoá đường lối, lãnh đạo nhân dân khẩn trương khôi phục và nâng cấp hệ thống giao thông vận tải ở địa phương để đảm bảo cho quá trình phát triển kinh tế- xã hội cũng như nhu cầu an ninh, quốc phòng

Ngay từ khi hoà bình được lập lại, quân và dân tỉnh Thanh Hoá- tỉnh “cực bắc” của Quân khu 4 đã tích cực khôi phục kinh tế, việc khôi phục hệ thống giao thông, vận tải là một nội dung quan trọng trong công tác khôi phục kinh tế của Tỉnh Vào thời điểm đó, hạ tầng cơ sở và phương tiện giao thông, vận tải của tỉnh Thanh Hoá rất thấp kém Sau nhiều năm chiến tranh hệ thống đường sá bị như hỏng nặng Các tuyến giao thông chủ yếu là đường đất phát triển tự phát, vì vậy việc đi lại rất khó khăn (chủ yếu vẫn là đi bộ) toàn tỉnh chỉ có vài ôtô chở khách cũ kỹ chạy bằng khí than của một số tư nhân Trước thực trạng đó, thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của Trung ương, Đảng bộ Thanh Hoá đã coi nhiệm vụ

Trang 20

khôi phục giao thông vận tải là một công tác trọng điểm, cần được ưu tiên làm trước Đảng bộ Thanh Hoá chủ trương: “Nhanh chóng khôi phục lại hệ thống Giao thông, vận tải Tích cực xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật mới phục vụ cho

sự nghiệp phát triển kinh tế xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và chi viện cho miền Nam” [47, tr.68]

Để thực hiện tốt chủ trương trên, Ty giao thông vận tải của tỉnh Thanh Hoá đã đề ra 5 nhiệm vụ của công tác giao thông, vận tải là: “Vận tải phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, cho thương mại, cho KTCB (kinh tế cơ bản - TG) và quốc phòng an ninh” [47, tr.79] Trên cơ sở nắm vững chủ trương của Đảng, quân và dân Thanh Hóa đã thực hiện nhiều biện pháp quan trọng để khôi phục và phát triển hệ thống giao thông của tỉnh Nhiệm vụ khôi phục và xây dựng đường sá được giao cụ thể tới từng cơ quan, ban, ngành trong tỉnh, ngoài ra Thanh Hóa còn rất chú trọng tới việc phát triển các phương tiện vận tải thô sơ để phục vụ nhu cầu trước mắt

Việc đề ra nhiệm vụ cụ thể cho công tác khôi phục giao thông vận tải có tác dụng rất tích cực, đó chính là sự cụ thể hoá quá trình chỉ đạo của Trung ương Đảng và Đảng bộ tỉnh trong điều kiện cụ thể của địa phương Nhờ vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, hệ thống giao thông, vận tải của Thanh Hoá về cơ bản đã được khôi phục xong, bắt đầu có những bước phát triển mới

Nghệ An là địa phương có truyền thống anh hùng cách mạng, nơi đã sinh

ra nhiều anh hùng cho dân tộc Sau 1954, thực trạng kinh tế của tỉnh nói chung

và thực trạng hạ tầng cơ sở giao thông vận tải nói riêng, gặp rất nhiều khó khăn Trong Hội nghị tổng kết năm 1956, Tỉnh uỷ Nghệ An nêu rõ: “Giao thông, vận tải gặp khó khăn, đường sá hỏng nhiều, xe ôtô đầu năm có 65 chiếc nay còn 9 chiếc, các xe hỏng không có phụ tùng thay thế các xe thô sơ cũng hư hỏng

Trang 21

nhiều, lại thiếu các vật liệu, phụ tùng thay thế vận tải bị ách tắc” [46, tr.51] Trước tình hình ấy, việc nhanh chóng khôi phục hệ thống giao thông vận tải để phát triển kinh tế xã hội trở thành một nhiệm vụ cấp bách Nhận thức rõ vấn đề, Đảng bộ tỉnh Nghệ An đã nhanh chóng có sự chỉ đạo kịp thời, sát sao để quân và dân Nghệ An gấp rút phục hồi, củng cố tình hình giao thông trên địa bàn tỉnh Quá trình phục hồi và xây dựng các công trình phục vụ giao thông, vận tải của tỉnh Nghệ An thời kỳ này về cơ bản cũng giống như các địa phương khác trên phạm vi cả nước Đó là sự kết hợp giữa việc xây dựng các công trình phục vụ phát triển kinh tế xã hội với việc xây dựng các công trình đảm bảo an ninh quốc phòng Nói cách khác, mỗi công trình giao thông vận tải phải đảm bảo được cả hai yêu cầu phục vụ kinh tế và quốc phòng Tinh thần đó được thể hiện rõ trong Nghị quyết Đảng bộ Nghệ An lần thứ 10 (vòng 2), tháng 3 năm 1961: “Ra sức đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và các ngành kinh tế khác chú trọng củng cố, phát triển tài chính, ngân hàng, giao thông, vận tải làm cơ sở cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà” [1, tr.81]

Cũng như Nghệ An, Hà Tĩnh là địa phương có truyền thống anh hùng, là cái nôi của cách mạng và sau 1954, kinh tế xã hội của tỉnh cũng hết sức khó khăn Sau khi hoà bình lập lại, bên cạnh những khó khăn về kinh tế Hà Tĩnh đồng thời đứng trước thực trạng hạ tầng cơ sở, phương tiện vân tải lạc hậu, nghèo nàn Toàn tỉnh chỉ có vài xe ôtô, phương tiện đi lại chủ yếu là xe thô sơ

và đi bộ; các tuyến đường do lâu ngày không được nâng cấp, sửa chữa nên cũng

bị hư hỏng nặng, các bến cảng hầu như không hoạt động Với truyền thống anh hùng cách mạng của mình, Đảng bộ Hà Tĩnh đã nhanh chóng đã nhanh chóng lãnh đạo quần chúng nhân dân khôi phục đường sá, cầu, cảng nhằm phát triển kinh tế, làm cơ sở cho cuộc kháng chiến chống Mỹ Quán triệt các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương cũng như nắm rõ tình hình và thực trạng giao thông vận

Trang 22

tải trên địa bàn, Đảng bộ Hà Tĩnh đã chủ trương sửa chữa một số tuyến đường chính, lấy đó làm nền tảng để khôi phục kinh tế, phục vụ đời sống dân sinh; sau

đó, khi các tuyến đường chính đã được sửa chữa xong, các đơn vị xây dựng tiếp tục thi công sửa chữa các tuyến đường còn lại, có thể nói Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh

đã chia ra từng bước với các nhiệm vụ cụ thể để phục hồi hệ thống giao thông, vận tải Thực hiện tốt sự chỉ đạo của Trung ương, công tác phục hồi và xây dựng các công trình giao thông vận tải của Hà Tĩnh thời kỳ này được quy hoạch và triển khai thực hiện bằng những biện pháp hiệu quả, kết hợp chặt chẽ giữa yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và an ninh, quốc phòng Như vậy, cũng giống như các địa phương khác trong cả nước, việc lãnh đạo công tác khôi phục giao thông, vận tải của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh trong thời kỳ 1954-1964 chủ yếu là phục vụ nhu cầu kinh tế nhưng bên cạnh đó các công trình cũng được quy hoạch

để luôn đảm bảo an ninh, quốc phòng

Địa bàn cuối cùng của Quân khu 4 là tỉnh Quảng Bình và khu vực Vĩnh Linh của tỉnh Quảng Trị Như chúng ta đã biết, cùng với hiệp định Giơnevơ đất nước ta bị tạm chia cắt hai miền Nam - Bắc và giới tuyến phân chia là vĩ tuyến

17 Do có sự phân chia đó, huyện Vĩnh Linh của tỉnh Quảng Trị được giải phóng, các huyện còn lại của tỉnh Quảng Trị phải chịu sự quản lý của chế độ Nguỵ quyền Sài Gòn Nắm vững đặc điểm cũng như vai trò, vị trí quan trọng của huyện Vĩnh Linh, ngày 28/5/1955, Trung ương Đảng ra nghị quyết 16/NQTW, quyết định thành lập Đảng ủy khu vực Vĩnh Linh Tiếp đó ngày 16/6/1955, Thủ tướng Chính phủ ra nghị định số 551/TTg thành lập đặc khu Vĩnh Linh, nghị định có đoạn: “khu vực Vĩnh linh của tỉnh Quảng Trị từ đây được tổ chức thành một đơn vị hành chính riêng ngang với một tỉnh, dưới sự chỉ đạo của chính phủ Trung ương” [2, tr.81]

Trang 23

Sau cuộc kháng chiến chống Pháp, tỉnh Quảng Bình và khu vực Vĩnh Linh gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là khó khăn về kinh tế Tuy vậy, với tinh thần yêu nước Đảng bộ các cấp của Quảng Bình, Vĩnh Linh đã nhanh chóng đề

ra những chủ trương và giải pháp cụ thể để khôi phục và phát triển hệ thống giao thông, vận tải Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ V (8/1963) của Đảng bộ Quảng Bình ghi rõ: “Phải tăng thêm phương tiện vận tải đường bộ và đường thuỷ, kết hợp chặt chẽ giữa thô sơ và cơ giới, tăng cường việc bảo quản và sửa chữa tốt các đường giao thông, vận tải trong tỉnh, mở thêm một số đường mới ở một số khu vực kinh tế mới và miền núi, nạo vét các lạch và xúc tiến việc xây dựng cảng sông Gianh để phục vụ kinh tế và quốc phòng Phát triển mạnh việc vận tải đường thuỷ, hướng dẫn các hợp tác xã cải tiến các phương tiện vận chuyển, xây dựng đường giao thông nông thôn ” [48, tr.123]

Quán triệt đường lối của Đảng, nhiều cơ quan, ban ngành của Tỉnh đã ra sức khôi phục, xây dựng hệ thống giao thông vận tải trên địa bàn Nhiều tuyến đường mới được xây dựng, nhiều đoạn sông, kênh được nạo vét, tạo sự đi lại thuận lợi cho thuyền bè Các tuyến đường liên huyện, liên xã được tu sửa và

mở rộng Nhờ những giải pháp đồng bộ, huy động được công sức, lòng nhiệt tình và sự sáng tạo của đông đảo nhân dân, trong thời kỳ 1954-1964 Quảng Bình

và Vĩnh Linh đã xây dựng được một hệ thống giao thông, vận tải khá cơ bản Đặt trong điều kiện là vùng đất “cực nam” của địa bàn Quân khu 4 thì những kết quả khôi phục, phát triển giao thông vận tải trong giai đoạn này ở Quảng Bình

và Vĩnh Linh đã tạo điều kiện nền tảng cho công tác chi viện sau này

Năm 1960, Đại tướng Võ Nguyên Giáp về thăm Quảng Bình, Vĩnh Linh; sau khi kiểm tra thực địa, nghe cán bộ cơ sở báo cáo về tiến độ việc xây dựng đường 15 đoạn qua Quảng Bình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã phân tích nguy

cơ địch phong toả đường 15 và chỉ đạo rõ: “Ta phải có đường vượt Trường Sơn

Trang 24

đi xuống đường 9, như vậy kẻ địch có nham hiểm đến mấy đi nữa cũng không thể ngăn cản sự chi viện ngày càng tăng của miền Bắc kéo vào miền Nam” [48, tr.118] Như vậy trong quá trình khôi phục và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội cũng như phục hồi và xây dựng hệ thống giao thông vận tải, Quảng Bình và Vĩnh Linh luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Trung ương Đảng

Qua phần trình bày trên, chúng ta có thể khẳng định rằng ngay từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, Trung ương Đảng cũng như các Đảng bộ địa phương ở Quân khu 4 đã rất quan tâm đến công tác giao thông, vận tải Đường lối chỉ đạo chung nhất của công tác giao thông, vận tải thời kỳ này là kết hợp nhu cầu phát triển kinh tế với nhu cầu quốc phòng Đây là một chủ trương hết sức đúng đắn, cùng lúc giải quyết được cả vấn đề trước mắt và vấn đề lâu dài Nhờ có chính sách này nên quân và dân Quân khu 4 đã từng bước khôi phục lại được hệ thống giao thông vận tải, vấn đề đi lại được đảm bảo Bên cạnh

đó, bước đầu Quân khu 4 đã xây dựng được một số tuyến đường mang tính chiến lược để chuẩn bị cho công tác chống chiến tranh phá hoại sau này Ở các địa phương phía bắc Quân khu 4 như Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh trong quá trình xây dựng các tuyến giao thông, vận tải tuy đã quan tâm đến công tác quốc phòng nhưng vẫn lấy việc phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế xã hội làm trọng Trong khi đó, các địa phương phía nam Quân khu 4 như Quảng Bình, Vĩnh Linh, do tiếp giáp với khu phi quân sự (vĩ tuyến 17) nên đã sớm mở các tuyến giao thông vận tải chiến lược, chi viện cho miền Nam

1.2.2 Công tác giao thông, vận tải trên địa bàn Quân khu 4 thời kỳ

1954 - 1964

1.2.2.1 Quá trình thực hiện nhiệm vụ khôi phục, xây dựng hệ thống giao thông vận tải của quân và dân Quân khu 4

Trang 25

Chấp hành nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, dưới sự lãnh đạo của Đảng

bộ các cấp, quân và dân các địa phương trên địa bàn Quân khu 4 đã khắc phục gian khổ, khó khăn, ổn định đời sống, phục hồi sức sản xuất, phục hồi và từng bước xây dựng hạ tầng cơ sở giao thông vận tải

Cũng như nhiều địa phương khác trên cả nước, sau cuộc kháng chiến chống Pháp, hệ thống giao thông, vận tải ở Quân khu 4 bị hư hỏng nặng nề, không đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Nắm rõ tình hình địa phương, hiểu được vai trò quan trọng của công tác giao thông, vận tải đối với quá trình phát triển kinh tế và đảm bảo an ninh quốc phòng, thực hiện triệt để, nghiêm túc sự lãnh đạo của Đảng, các đơn vị phụ trách vấn đề giao thông trên địa bàn Quân khu 4 đã gấp rút bắt tay vào việc khôi phục hệ thống giao thông, vận tải

Quá trình khôi phục hệ thống giao thông, vận tải được bắt đầu bằng việc sửa chữa lại các tuyến đường Ngay từ những ngày đầu từ khi hoà bình lập lại, ngành giao thông, vận tải và nhân dân Quân khu 4 đã mở các chiến dịch san lấp mặt đường Thanh Hoá là một trong những địa phương làm rất tốt công tác này Sau khi họp bàn cụ thể, Đảng bộ và Uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh Hoá đã huy động hàng vạn ngày công của nhân dân bên đường Quốc lộ 1A tham gia vào công tác khôi phục mặt đường và chỉ sau 10 ngày 100 km tuyến Quốc lộ 1A đoạn qua địa bàn của tỉnh Thanh Hoá đã được san lấp xong, chất lượng mặt đường được cải thiện rõ rệt, góp phần quan trọng vào quá trình phục hồi kinh tế sau chiến tranh Tuy vậy, vẫn còn những đoạn đường quá xấu, công tác khôi phục cải tạo gặp rất nhiều khó khăn, điển hình là 30 km đường chạy qua huyện Tĩnh Gia 30 km đường này bị lún nặng, mặt đường đầy các “ổ gà”, tốc độ ôtô trung bình chỉ đạt 5 km/h Trước tình hình đó, Ty Giao thông, vận tải Thanh Hoá đã có sáng kiến dùng cuốc và cào răng ở xe ủi xới tung mặt đường, trộn

Trang 26

thêm đá dăm, đất sét, sau đó tưới nước và dùng xe lu lèn đều Nhờ sáng kiến đó, chất lượng mặt đường phần nào được cải thiện; tốc độ phục hồi được đẩy nhanh

Ở Nghệ An và Hà Tĩnh, công tác sửa chữa các tuyến đường cũng được nhân dân nhanh chóng tiến hành và đạt được nhiều thành tích đáng kể

Cũng như nhân dân Thanh Hoá, nhân dân hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh

đã mở các chiến dịch san lấp mặt đường với khẩu hiệu đầy quyết tâm: “Ướt áo

để ráo đường” Với khí thế ấy, chỉ sau một thời gian ngắn, tuyến quốc lộ 1A đi qua địa bàn Nghệ - Tĩnh đã được san lấp xong, đảm bảo nhu cầu đi lại, vận chuyển của nhân dân Hai tỉnh Nghệ - Tĩnh còn rất quan tâm đến công tác giao thông ở nông thôn Hệ thống đường liên huyện, liên xã cũng được nhân dân nhanh chóng sửa chữa, phục vụ kịp thời nhu cầu sản xuất nông nghiệp, lưu thông

Ở Quảng Bình và đặc khu Vĩnh Linh, tuyến Quốc lộ 1A, từ đèo Ngang đến tận cầu Hiền Lương cũng được phục hồi tu bổ Tất cả các hố “chữ chi” trên mặt đường (do ta đào hồi 9 năm chống Pháp) đều được san lấp Những đoạn đường yếu, có nguy cơ sạt lở được kè đá khá kiên cố Hệ thống đường nội tỉnh, liên xã, liên thôn cũng được tu bổ, sửa sang để phục vụ đời sống nhân dân Nhờ quyết tâm và sáng kiến của nhân dân mà giao thông, vận tải của Quảng Bình và Vĩnh Linh nhanh chóng được phục hồi, công tác san lấp mặt đường hoàn thành sớm, đảm bảo được nhu cầu đi lại

Năm 1956 ngành Giao thông vận tải Quảng Bình đã phấn đấu thực hiện

kế hoạch kế hoạch xây dựng phát triển giao thông, kết quả đạt 164% so với chỉ tiêu đề ra Năm 1960, Bộ Giao thông vận tải quyết định mở bến phà II sông Gianh ở xã Quảng Thuận, huyện Quảng Trạch Ty Giao thông vận tải Quảng

Trang 27

Bình còn quyết định thành lập Công trường xây dựng cơ bản để củng cố và mở rộng các tuyến đường nội tỉnh

Cùng với việc san lấp, sửa chữa mặt đường là công tác củng cố, xây dựng cầu phà Sau 9 năm kháng chiến, phần lớn cầu phà ở Quân khu 4 bị như hỏng nặng, nhiều nơi bị đứt gãy gây ách tắc giao thông Để khắc phục vấn đề đó, nhân dân Quân khu 4 đã nhanh chóng lập các đội sửa chữa cầu phà Quân khu 4 là vùng có nhiều sông suối, bởi vậy công tác thông suốt gặp rất nhiều khó khăn Đối với những đoạn sông lớn như Đò Lèn, Hàm Rồng, Ghép, Bến Thuỷ, Linh Cảm, Quán Hàu bên cạnh việc tu sửa, xây dựng cầu chúng ta còn phải chuẩn

bị một số phà Nhiều phà mới, trọng tải lớn đã được đóng một cách khẩn trương

để nhanh chóng thông suốt các tuyến giao thông Đối những cầu, cống nhỏ, nhân dân các địa phương đã có sáng kiến bó các thanh ray lại (từ những đoạn đường sắt cũ, hỏng) chắp nối với những bộ phận còn tận dụng được từ cầu cũ để làm dầm cầu, xếp các thanh tà vẹt, ghim lại và nối thành trụ cầu sau đó lát ván hoặc các tấm sắt lên để xe chạy qua Đó là những sáng kiến có giá trị, tạm thời phục vụ việc đi lại của nhân dân và vận chuyển hàng hóa Vào thời điểm sau chiến tranh, khi kinh tế còn muôn vàn khó khăn thì việc đảm bảo thông suốt các tuyến đường như trên là một sự nỗ lực lớn của nhân dân Quân khu 4 Bên cạnh việc sửa chữa mặt đường, khôi phục cầu phà thì công tác khảo sát và mở những con đường mới cũng là một nội dung quan trọng trong công tác đảm bảo giao thông, vận tải trên địa bàn Quân khu 4

Tháng 10/1955, nhân dân tỉnh Thanh Hoá đã khởi công mở tuyến đường Thanh Hoá - Na Mèo để phục vụ cho việc xây dựng, phát triển kinh tế miền núi, tăng cường sự giao lưu giữa miền ngược, miền xuôi, phục vụ nhu cầu quốc phòng và làm nhiệm vụ quốc tế với nước bạn Lào Việc khảo sát và thi công công trình này rất gian khổ do tuyến đường chạy qua nhiều núi cao, rừng rậm,

Trang 28

vực sâu, đèo dốc Tuy vậy, để đảm bảo tiến độ, giám đốc Khu giao thông Quân khu 4 yêu cầu trong vòng 5 tháng Thanh Hoá phải hoàn thành Với khí thế cách mạng tiến công, chỉ sau 3 tháng với kinh phí 1,16 tỉ đồng, 2396000 ngày công,

91 km đường mới đã được thông tuyến Con đường được đặt tên là “Đường 217” để kỷ niệm ngày 21/7/1954 - ngày đầu tiên lập lại hoà bình) Việc khai thông tuyến đường 217 là cái mốc quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội, nhất là đối với kinh tế miền núi Tuyến đường cũng có ý nghĩa lớn đối với việc đảm bảo an ninh ở vùng biên giới phía tây Tổ quốc, giúp nhân dân hai nước Việt - Lào giao lưu thuận tiện hơn

Năm 1963, cùng với sự lãnh đạo của Đảng, sự giúp đỡ của Nhà nước, Thanh Hoá, Nghệ An đã xây dựng lại và thông suốt tuyến đường sắt giữa hai tỉnh Nhân dịp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư động viên anh em công nhân đang thi công đoạn đường sắt trên, bức thư của Bác có đoạn: “Trong kế hoạch 5 năm, Đảng và Chính phủ đã quyết định xây dựng lại đường sắt Thanh Hoá - Nghệ An Trung ương đoàn thanh niên lao động đã thay mặt các cháu mà nhận công trình và xin đặt tên là “công trường đường sắt thanh niên” Các cháu phải đoàn kết chặt chẽ, hăng hái thi đua, vừa lao động vừa học tập và khắc phục khó khăn ” [46, tr.58] Việc hoàn thành tuyến đường sắt Thanh Hoá - Nghệ An

có ý nghĩa quan trọng, phục vụ cho công cuộc phục hồi và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của các địa phương trên địa bàn Quân khu 4 Ở thời kỳ này, với khẩu hiệu: “phà chờ xe, xe không chờ phà” nhân dân Hà Tĩnh đã xây dựng được nhiều bến phà lớn, đảm bảo thông suốt trên toàn tỉnh Khối lượng vận chuyển hàng hóa của Hà Tĩnh năm 1964 so với năm 1960 tăng 266%, trong đó vận chuyển bằng ô tô tăng 125,8% Những thành tích đó không chỉ có ý nghĩa trong thời bình mà còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi chiến tranh nổ ra

Trang 29

Đối với Quảng Bình và Vĩnh Linh công tác mở đường được đặt ra rất cấp bách nhằm phục cho các chiến dịch quân sự Cuối năm 1958, đầu năm 1959, chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm đã cho quân lấn chiếm vùng Hương Lập, hô hào lấp sông Bến Hải, Bắc tiến Để chặn đứng âm mưu và hành động khiêu khích của địch, Quân khu 4 quyết định điều động một tiểu đoàn bộ đội từ Vít Thù Lù và tiểu đoàn 207 lên vùng Hướng Lập Tuy vậy, khi lên giữ Hướng lập

bộ đội ta đã gặp những khó khăn lớn về công tác hậu cần vì đây là vùng gần địch, địa hình hiểm trở

Để đảm bảo nhu cầu hậu cần cho bộ đội, Đảng bộ địa phương đã họp bàn

và quyết định mở đường lên Hướng Lập Sau 3 tháng làm việc ròng rã (có nhiều đơn vị làm cả đêm), với sự nỗ lực của 3500 nhân công, tuyến đường đã hoàn thành đúng kế hoạch Đường dây điện thoại đã vào tận nơi Nhờ có giao thông đảm bảo, công tác hậu cần tốt nên ta đã đập tan âm mưu khiêu khích của địch, đẩy địch vào thế bị vây hãm, buộc chúng phải rút lui, chiến dịch toàn thắng

Cùng với việc mở đường lên Hướng Lập, trong thời kỳ 1954- 1964, Đảng

bộ Quảng Bình, Vĩnh Linh còn lãnh đạo nhân dân điạ phương mở thêm nhiều tuyến đường quan trọng nữa, như tuyến Lệ Kỳ vào Khe Liệt và sang Lào; tuyến Phong Nha - Cà Roòng Đặc biệt, để đối phó với âm mưu xâm lược lâu dài của

đế quốc Mỹ, Quảng Bình và Vĩnh Linh cùng với cán bộ Trung ương nhanh chóng hoàn thành Quốc lộ 15 đoạn đi qua địa phương

Quốc lộ 15 là tuyến đường có ý nghĩa chiến lược, bắt đầu từ Hoà Bình vào đến tận Vĩnh Khê (Vĩnh Linh) Đoạn chạy qua Quảng Bình và Vĩnh Linh dài 214km Có 3 đơn vị được giao nhiệm vụ cùng tham gia khảo sát mở đường

là Viện Thiết kế của Bộ Giao thông vận tải, Đoàn Thiết kế Khu giao thông vận tải Quân khu 4 và Ty Giao thông vận tải Quảng Bình Công tác khảo sát, thiết kế

Trang 30

bắt đầu từ năm 1958, đến 1959 đồ án thiết kế được Trung ương duyệt rất nhanh

vì tính cấp bách của công trình Sau khi xem xét kỹ, bản thiết kế của Ty Giao thông vận tải tỉnh Quảng Bình được Trung ương đánh giá là tối ưu hơn cả và từ

1961, công tác thi công bắt đầu Từ năm 1961- 1965, tỉnh Quảng Bình và đặc khu Vĩnh Linh đã huy động khoảng 7000 dân công cùng với lực lượng công nhân của ngành giao thông, vận tải tập trung thi công tổng lực Sau một thời gian dài lao động khẩn trương, cuối năm 1965, tuyến đường 15A cơ bản hoàn thành, thông xe đúng tiến độ Việc Quảng Bình và Vĩnh Linh cùng với nhân dân

cả nước hoàn thành tuyến 15A có ý nghĩa hết sức quan trọng, đây là một trong hai tuyến đường huyết mạch từ Bắc vào Nam

Bên cạnh công tác xây mới các tuyến đường, ngay từ thời kỳ 1954 - 1964, trên địa bàn Quân khu 4, các Đảng bộ địa phương đã cùng với các cán bộ Trung ương tổ chức khảo sát địa hình, lập hồ sơ gửi lên Bộ Giao thông vận tải, chuẩn

bị cho việc mở các tuyến đường vượt Trường Sơn sau này Công việc trong giai đoạn này được giữ bí mật nghiêm ngặt

Công tác mua sắm phương tiện, nâng cao năng lực vận tải người và hàng hoá cũng được các địa phương trên địa bàn Quân khu 4 hết sức quan tâm Nhiều cán bộ kỹ thuật đã cố gắng sửa chữa, phục hồi các xe cũ hỏng Một đơn vị còn

cử cán bộ ra Hà Nội, Nam Định tìm mua thêm xe ôtô về phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân Nhờ các biện pháp đó, năng lực vận tải dần được tăng lên, phần nào đáp ứng được nhu cầu của nhân dân Như vậy, trong những năm 1954 -

1964, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Quân khu 4 đã tiến hành phục hồi toàn bộ hệ thống giao thông, vận tải một cách nhanh chóng Bên cạnh những thành tích đã đạt được, quá trình phục hồi hệ thống giao thông, vận tải ở Quân khu 4 thời gian này còn một số hạn chế cần được khắc phục, cụ thể là: Tuy phần lớn các tuyến đường đã được san lấp, sửa chữa nhưng chất lượng giao thông vẫn

Trang 31

chưa đảm bảo Mặt đường chủ yếu vẫn là đất, đá được lèn chặt, rất ít đoạn được rải nhựa; lòng đường rất hẹp (Quốc lộ 1A cũng chỉ có 6m lòng đường) Cầu phà tuy đảm bảo thông suốt nhưng chất lượng rất kém, độ an toàn không cao, trọng tải thấp, vẫn còn nhiều bến phà bị ách tắc, gây trở ngại cho quá trình lưu thông,

đi lại Đường sắt khôi phục chậm, mãi đến năm 1965 tuyến đường sắt Hà Nội - Vinh mới được thông suốt Trong điều kiện khó khăn sau chiến tranh, địa hình chia cắt phức tạp thì những kết quả đạt được trên lĩnh vực giao thông vận tải của các địa phương trên địa bàn Quân khu 4 là rất quan trọng Những kết quả đó nhìn chung đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế, quốc phòng; là tiền đề để quân và dân Quân khu 4 tiếp tục đẩy mạnh công tác giao thông, vận tải trong chiến tranh phá hoại sau này

1.2.2.2 Quá trình hoạt động của Đoàn 559 trên địa bàn Quân khu 4 thời

kỳ 1959- 1964

Như đã nói ở trên, ngày 5 tháng 5 năm 1959, Tổng Quân uỷ đã quyết định thành lập tuyến vận tải quân sự Trường Sơn, lấy tên là Đoàn 559 Sau khi nhận nhiệm vụ với Tổng Quân uỷ, cán bộ của Đoàn 559 đều xác định Quân khu 4 là địa bàn hoạt động quan trọng của đơn vị Từ nhận thức đúng đắn đó, Ban cán sự Đoàn 559 đã khẩn trương làm việc với Thường vụ Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh Quân khu 4 để triển khai tổ chức vận tải Lực lượng được lựa chọn để thành lập đơn vị lúc này chủ yếu là cán bộ, chiến sĩ miền Nam tập kết ra Bắc, tập trung ở các sư đoàn 324, 325, các nông trường “19-5”, “1-5”

Tháng 6/1959, Đồng chí Võ Bẩm, Đoàn trưởng Đoàn 559 đã từ Hà Nội vào Vĩnh Linh để chủ trì cuộc họp bàn về việc mở đường vào Nam Cuộc họp đã bàn nhiều vấn đề cụ thể Thông qua cuộc họp, cán bộ Đoàn 559 đã phần nào nắm được tình hình giao thông, vận tải và phong trào đấu tranh của nhân dân bờ

Trang 32

Nam sông Bến Hải Vấn đề được bàn bạc tranh luận nhiều nhất là việc Đoàn 559 nên dừng lại ở bờ Bắc hay tiến sang bờ Nam sông Bến Hải Các đại biểu chiến trường, những người có kinh nghiệm chiến đấu ở miền Nam đều khẩn thiết yêu cầu Đoàn phải tiến sâu vào chiến trường miền Nam vì khu vực Trị Thiên và Liên khu 5 đang rất khó khăn, thiếu lực lượng, thiếu hàng hoá, vũ khí không thể tự đảm đương được công tác vận tải hàng hoá Sau khi họp bàn cẩn thận và xin ý kiến của Bộ Chính trị, Đoàn 559 đã quyết định lấy khu vực Vĩnh Linh làm địa điểm “chân hàng” và từ đó tổ chức lực lượng tiến sâu vào bờ Nam sông Bến Hải

Sau hội nghị ở Vĩnh Linh, Đoàn 559 đã tổ chức ngay đội khảo sát mở đường Qua nghiên cứu thực địa, đặc biệt là khảo sát con đường do Lữ đoàn 270 của Quân khu 4 mới mở Tây Nam Vĩnh Linh, Đoàn 559 đã quyết định chọn khe

Hó (Vĩnh Linh) làm điểm khởi đầu cho tuyến đường Trường Sơn lịch sử

Tuyến đường bắt đầu từ khe Hó, vượt qua làng Mít, qua nhiều đỉnh núi cao, qua sông Bến Hải, qua đường số 9 vào đến tận Tà Riệp và trạm dừng chân cuối cùng là trạm tiếp nhận của Liên khu 5 Trong quá trình mở đường cũng như khi làm công tác vận tải, các chiến sĩ Đoàn 559 phải luôn cảnh giác, giữ bí mật

để tránh sự phá hoại của kẻ thù Khẩu hiệu mang tính mệnh lệnh lúc này là: “ở không nhà, đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng” Cuối năm 1959,

440 chiến sỹ của tiểu đoàn 301 đã được đưa vào bờ Nam sông Bến Hải để lập các trạm vận tải hàng hoá vào Nam, cũng vào thời điểm cuối năm 1959 những chuyến hàng đầu tiên đã vượt Truờng Sơn đến với cách mạng miền Nam và từ

đó tuyến vận tải chiến lược này đã đi vào ổn định

Tuy vậy, sự ổn định chỉ diễn ra trong một thời gian, sang năm 1960 do kẻ địch bắt đầu nghi ngờ và tiến hành càn quét trên diện rộng, lực lượng mở tuyến

Trang 33

của ta lại phải tạm thời “án binh bất động”, vấn đề chi viện cho cách mạng miền Nam lại gặp khó khăn

Để giải quyết khó khăn đó, đoàn 559 đã nghĩ đến phương án phải mở đường vòng sang Tây Trường Sơn Nhưng để thực hiện được phương án này vấn đề đặt ra là không chỉ cần sự đồng ý của TW mà còn cần sự cho phép của nước bạn Lào Sau một loạt chiến thắng của liên quân Việt - Lào, được sự đồng

ý của hai Đảng, hai nhà nước, Đoàn 559 đã tiến hành mở con đường mới ở phía Tây Trường Sơn, chuẩn bị khai thông một tuyến vận tải mới Tuyến vận tải mới này chính là đường 129 Đường 129 nối liền tuyến đường số 12 (ở Lằng Khằng) với đường 9 là tuyến chi viện cơ giới đầu tiên của bộ đội Trường Sơn, đường chạy dọc phía Tây Trường Sơn, trên địa phận nước Lào, việc khai thông tuyến đường này là một bước phát triển quan trọng của tuyến vận tải Trường Sơn Đường 207 (xuất phát từ khe Hó đi Tà Riệp) do bị địch khống chế mạnh nên ta dùng phương thức vận tải thô sơ là chính, vận tải cơ giới chuyển sang hoạt động trên tuyến 129 (xuất phát từ Quảng Bình qua nước bạn Lào) Từ đây sức chi viện vào miền Nam ngày càng tăng, Quân khu 4 trở thành “chân hàng” quan trọng của toàn tuyến

Như vậy, ngay từ thời kỳ 1954-1964, công tác đảm bảo giao thông, vận tải ở Quân khu 4 đã được Đảng ta hết sức quan tâm, các tuyến đường được mở trong thời kỳ này đều được tính toán kỹ lưỡng và khi chiến tranh nổ ra, các con đường đó đều trở thành tuyến vận tải chiến lược của bộ đội ta Việc Đảng ta lãnh đạo nhân dân Quân khu 4 mở đường trong thời kỳ 1954-1964 thể hiện khả năng dự báo chính xác của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, không phải đến khi

đế quốc Mỹ dùng không quân phong toả chúng ta mới mở đường Trường Sơn

mà ngay trong hoà bình Đảng ta đã tính trước vấn đề Những kết quả mà Quân

và dân Quân khu 4 đạt được trong thời kỳ 1954-1964 là tiền đề quan trọng để

Trang 34

chúng ta đảm bảo được công tác giao thông, vận tải trong chiến tranh phá hoại sau này

Trang 35

Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG TRÊN MẶT TRẬN GIAO THÔNG VẬN TẢI Ở QUÂN KHU 4 THỜI KỲ 1965 - 1968

2.1 Âm mưu và thủ đoạn của đế quốc Mỹ

Đế quốc Mỹ xác định Việt Nam là một mắt xích quan của hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới và âm mưu xâm lược Việt Nam đã được đế quốc Mỹ tính toán từ rất lâu Vào những năm 50, khi cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta đang trên đà thắng lợi, thực dân Pháp đang sa lầy ở Việt Nam thì đế quốc

Mỹ đã sử dụng chiêu bài viện trợ cho Pháp để dính líu đến cuộc chiến tranh ở Đông Dương Sau khi thực dân Pháp thất bại ở Điện Biên Phủ (1954) và chấp nhận ký Hiệp định Giơnevơ, đế quốc Mỹ đã từng bước hất cẳng Pháp ở miền Nam, lập ra chính quyền tay sai thân Mỹ

Sau khi hất cẳng Pháp ở miền Nam, Mỹ đã thực hiện một loạt các biện pháp nhằm tiêu diệt những người cộng sản, xây dựng chế độ tay sai của Mỹ Mục tiêu của Mỹ là biến miền Nam Việt Nam thành “con đê ngăn làn sóng đỏ”, thành bức tường để ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản từ Bắc bán cầu tiến xuống Nam bán cầu, ngoài ra Mỹ còn định dùng miền Nam nước ta như một căn cứ quân sự, một bàn đạp để đe doạ, thậm chí tấn công các nước xã hội chủ nghĩa khác

Ngay từ những ngày đầu của cuộc chiến tranh, đế quốc Mỹ đã nhận ra vai trò quyết định của miền Bắc, Mỹ nhận ra rằng một trong những yếu tố quan trọng, quyết định sự thắng lợi của cách mạng miền Nam chính là sự chi viện của miền Bắc Để giải quyết vấn đề đó, Mỹ, Nguỵ đã ra sức ngăn chặn sự chi viện từ Bắc vào Nam, cố gắng xây dựng một hệ thống hàng rào điện tử hết sức hiện đại

Trang 36

để chống lại sự xâm nhập, tuy nhiên sự nỗ lực của chúng không đạt được kết quả, sức chi viện từ Bắc vào Nam vẫn ngày một tăng Không ngăn chặn được sự chi viện của chúng ta, đế quốc Mỹ đã nhận định: Không thể thương lượng bằng một hàng rào phòng thủ mà phải có một hành động nào đó để làm tổn thương Bắc Việt Nam Các chuyên gia quân sự Mỹ nhận định: “Việc chặn đứng nguồn tiếp tế của Bắc Việt là một tiên quyết cho sự thành công”, “để chiến thắng Mỹ không còn cách nào khác là phải xoá bỏ cái cuống nhau nối liền miền Bắc Việt Nam” [44, tr.154] Mỹ đã quyết định dùng không quân và hải quân để tấn công

ra miền Bắc với những mục tiêu:

- Phá tiềm lực kinh tế và quốc phòng, phá công cuộc xây dựng chủ nghĩa

xã hội ở miền Bắc

- Ngăn chặn nguồn chi viện từ bên ngoài vào miền Bắc và từ miền Bắc vào miền Nam

- Uy hiếp tinh thần, làm lung lay ý chí chống Mỹ cứu nước của nhân dân

ta ở cả hai miền đất nước

Đế quốc Mỹ coi việc thực hiện những mục tiêu trên là những biện pháp nhằm củng cố tinh thần quân ngụy đang sa sút nghiêm trọng, dập tắt ý chí giải phóng dân tộc của nhân dân ta

Để đạt được mục đích trên đế quốc Mỹ đã huy động một lược lượng không quân và hải quân khổng lồ, gồm nhiều tầu chiến, hàng ngàn máy bay tối tân thuộc hàng chục loại khác nhau, trong đó có những loại hết sức hiện đại như B52, F111 và các loại vũ khí hiện đại khác

Không quân Mỹ được lệnh tập trung đánh phá vào các mục tiêu quân sự, các tuyến giao thông vận tải (chủ yếu trên địa bàn Quân khu 4), ngoài ra chúng còn ra sức đánh phá vào các nhà máy, xí nghiệp, hầm mỏ, các công trình thủy

Trang 37

lợi, các khu dân cư Chúng đánh cả trường học, bệnh viện, nhà trẻ, khu an dưỡng, nhà thờ, đền chùa Trên đường Trường Sơn đế quốc Mỹ còn áp dụng nhiều kiểu chiến tranh hiện đại như: “Chiến tranh điện tử”, “Chiến tranh khí tượng”, “Chiến tranh hoá học” Đây là những kiểu chiến tranh vô nhân đạo, có sức phá huỷ lớn, gây hậu quả nặng nề và lâu dài cho con người cũng như môi trường

Máy bay Mỹ bắn phá liên tục, khắp mọi nơi, trong mọi điều kiện thời tiết với cường độ ngày càng tăng Trung bình mỗi ngày có 300 lần chiếc máy bay đi oanh tạc, bắn phá với 1600 tấn bom đạn trút xuống các làng mạc, thành phố, các tuyến giao thông gây tổn thất nghiêm trọng cho nhân dân ta

Như vậy, để thực hiện mưu đồ xâm lược miền Nam, đế quốc Mỹ đã dùng không quân và hải quân để tấn công hòng phá huỷ miền Bắc, phong tỏa hệ thống giao thông, vận tải của chíng ta.Trong cuộc chiến này Mỹ quyết tâm huỷ diệt miền Bắc bằng các loại vũ khí giết người hàng loạt Đây là một thử thách nghiêm trọng đối với toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta; lúc này giao thông, vận tải thực sự trở thành nơi đọ sức, đọ ý chí, trí tuệ giữa ta và địch Mặt trận này đòi hỏi Đảng ta phải luôn thể hiện được sự kiên cường, tỉnh táo, luôn phát huy được chủ nghĩa anh hùng cách mạng, có vậy chúng ta mới đảm bảo được sự chi viện cho miền Nam, mới giành được thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống

Trang 38

Giao thông, vận tải là một lĩnh vực quan trọng, mang tính sống còn đối với một quốc gia Đối với những quốc gia đang có chiến tranh thì vấn đề giao thông, vận tải lại càng trở nên quan trọng hơn Ngay từ thời kháng chiến chống Pháp, Đảng ta đã nhận thức rất rõ ràng về vai trò của vấn đề này Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Giao thông là mạch máu cuả mọi việc Giao thông tắc thì việc gì cũng tắc, giao thông tốt thì việc gì cũng dễ dàng” [32, tr.79] Đây là một nhận định rất đơn giản nhưng hết sức chính xác Trong các cuộc kháng chiến chúng ta đều cố gắng hết mình để đảm bảo giao thông vận tải, đặc biệt là giao thông vận tải giữa hậu phương với tiền tuyến Việc thông suốt tuyến đường giữa hậu phương với tiền tuyến là một trong những nhân tố quyết định kết cục cuộc chiến; cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó Đảm bảo được giao thông, vận tải, giữ vững sự chi viện

từ Bắc vào Nam là một trong những nhân tố quyết định sự thắng lợi của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam Nhận ra vai trò của miền Bắc đối với miền Nam, cũng như nhận thấy vai trò đặc biệt của Quân khu 4 trong công tác chi viện, đế quốc Mỹ đã tăng cường và mở rộng đánh phá đánh phá các tuyến giao thông, vận tải chi viện của ta, hòng ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc, cô lập cách mạng miền Nam Đứng trước thử thách nghiêm trọng đó, Đảng

ta đã kịp thời đưa ra các chủ trương lớn để lãnh đạo nhân dân từng bước đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của địch, đảm bảo được sự thông suốt về giao thông, vận tải giữa hai miền Trên cơ sở nhận thức đúng tầm quan trọng của công tác giao thông, vận tải ở Quân khu 4, năm1966, khi đế quốc Mỹ tiến hành đánh phá ác liệt, Ban Bí thư đã ra chỉ thị số 138-CT/TW về việc tăng cường và tập trung hơn nữa sự lãnh đạo và chỉ đạo công tác giao thông vận tải Chỉ thị nêu

rõ : “Trung ương Đảng và chính phủ đã đề ra công tác giao thông, vận tải hiện nay là công tác trung tâm đột xuất, có tính chất chiến lược của toàn Đảng, toàn

Trang 39

quân, toàn dân ta” [16, tr.334] Đây là tư tưởng chỉ đạo lớn nhất, chung nhất của Đảng về công tác đảm bảo giao thông vận tải trong điều kiện có chiến tranh phá hoại Nội dung chỉ đạo này mang tính chiến lược, là định hướng lớn cho quân và dân ta trong việc đảm bảo thông suốt tuyến vận tải Bắc - Nam

Nhận thức đúng vai trò của vấn đề giao thông, vận tải trong chiến tranh, Đảng chủ trương “làm cho mọi người hiểu rõ đảm bảo giao thông, vận tải là nhiệm vụ cách mạng của mình” [45, tr.131] Nội dung của chủ trương này là huy động toàn dân cùng làm công tác đảm bảo giao thông vận tải, chi viện đầy

đủ cho miền Nam Chính nhờ có chủ trương này nên ở thời kỳ 1965-1968 toàn dân ta đã hăng hái, nhiệt tình tham gia vận tải, thông suốt các tuyến đường Huy động sức mạnh của nhân dân để giành thắng lợi trong cách mạng là một chủ trương không mới, ngay từ khi mới thành lập Đảng ta đã biết dựa vào dân để phát động nhiều phong trào đấu tranh và giành được nhiều kết quả to lớn, tuy vậy, đây là lần đầu tiên Đảng ta huy động toàn dân tham gia công tác giao thông, vận tải trong điều kiện có chiến tranh ác liệt Trong điều kiện cả nước có chiến tranh, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta cùng lúc phải tiến hành nhiều nhiệm vụ cách mạng như Đảng ta vẫn chỉ đạo toàn dân phải coi công tác bảo đảm giao thông, vận tải là nhiệm vụ trọng tâm, là nhiệm vụ cách mạng hàng đầu của mình, điều đó chứng tỏ Đảng ta đặc biệt coi trọng vấn đề bảo đảm giao thông, vận tải Tuy coi trọng công tác giao thông, vận tải nhưng Đảng ta không chủ trương phát triển giao thông, vận tải theo hướng mở rộng, chung chung mà chỉ đạo quân và dân ta tập trung bảo vệ và xây dựng những tuyến vận tải quan trọng Nói cách khác là Đảng chỉ đạo vấn đề giao thông, vận tải có trọng tâm, chỉ tập trung xây dựng, bảo vệ một số tuyến quan trọng, lấy đó làm nền tảng cho toàn hệ thống Năm 1965, trong Đề cương báo cáo tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 11 Đảng ta chỉ rõ: “Tập trung mọi khả năng xây dựng, cải

Trang 40

tạo và bảo vệ một số trục giao thông quan trọng bậc nhất đối với quốc phòng và kinh tế để bất cứ tình thế nào xảy ra vẫn đảm bảo đi lại và vận chuyển thông suốt Đồng thời tiếp tục cải tạo và xây dựng mạng lưới giao thông cho phù hợp với yêu cầu phòng thủ và sẵn sàng chiến đấu” [15, tr.88] Cũng trong năm 1965, Đảng chỉ đạo thêm: “phải đảm bảo giao thông, vận tải thông suốt giữa các khu vực quan trọng về kinh tế và quốc phòng, đảm bảo những yêu cầu về vận chuyển của quân đội” [15, tr.88] Đây là sự chỉ đạo của Đảng về việc đảm bảo

sự thông suốt giao thông, đảm bảo sự cơ động cho quân đội Việc đảm bảo cơ động cho bộ đội chiến đấu là một trong những yếu tố quyết định kết quả của mọi cuộc chiến tranh Trong điều kiện đế quốc Mỹ dùng không quân đánh phá hệ thống giao thông, vận tải ở miền Bắc thì việc cơ động bộ đội lại càng trở nên quan trọng hơn Khi cuộc chiến tranh phá hoại nổ ra, không ít người cho rằng việc bảo vệ các cơ sở kinh tế mới là trọng tâm còn việc cơ động của quân đội là điều dễ dàng làm được Thực tiễn cho thấy, khi địch đánh phá hệ thống giao thông, vận tải thì việc cơ động một đội quân có trang bị vũ khí tương đối nặng như chúng ta là việc không đơn giản Tuy vậy, do được chỉ đạo rõ ràng từ đầu nên quân đội ta đã cơ động, di chuyển kịp thời, thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc và chi viện cho miền Nam

Ngày 19/12/1966, trước tình hình đế quốc Mỹ đánh phá ngày càng ác liệt, trên một số tuyến đường giao thông, vận tải bị đình trệ, gặp nhiều thiệt hại và khó khăn, Ban bí thư đã ra chỉ thị số 138-CT/TW với nội dung kiểm điểm lại công tác giao thông, vận tải thời gian qua và đề ra một số nhiệm vụ mới Sau khi kiểm tra công tác giao thông, vận tải ở các tỉnh thuộc Quân khu 4, Ban Bí thư kết luận, nguyên nhân của những khó khăn, thiệt hại mà chúng ta gặp phải là do các cấp, các ngành và nhân dân “chưa nhận thức sâu sắc tính chất chiến lược của công tác giao thông, vận tải trong tình hình mới” [16, tr.332] Trước tình hình

Ngày đăng: 21/05/2016, 23:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Nghệ An (1999), Lịch sử Đảng bộ Nghệ An 1954-1975, tập 2, Nxb. Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ Nghệ An 1954-1975
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Nghệ An
Nhà XB: Nxb. Nghệ An
Năm: 1999
2. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Trị (1999), Lịch sử Đảng bộ Quảng Trị 1954-1975, tập 2, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ Quảng Trị 1954-1975
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Trị
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1999
3. Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (2000), Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975 thắng lợi và bài học, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975 thắng lợi và bài học
Tác giả: Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2000
4. Đặng Duy Bán - Đinh Xuân Lâm - Ngô Đăng Tri (1997), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh 1954-1975, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh 1954-1975
Tác giả: Đặng Duy Bán - Đinh Xuân Lâm - Ngô Đăng Tri
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
5. Phạm Văn Bạch - Nguyễn Thành Vinh (1975), Tội ác xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ ở Việt Nam, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội ác xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Văn Bạch - Nguyễn Thành Vinh
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1975
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2004), Giáo trình lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2004
7. Phan Huy Chúc, Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá 1954-1975, tập 2, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá 1954-1975
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
8. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam (1987) Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
9. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Những sự kiện quân sự (1988), Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Những sự kiện quân sự
Tác giả: Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Những sự kiện quân sự
Năm: 1988
10. Cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ ở Việt Nam (1991), Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ ở Việt Nam
Tác giả: Cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ ở Việt Nam
Năm: 1991
11. Philíp B. Davitson (1995), Những bí mật của cuộc chiến tranh Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bí mật của cuộc chiến tranh Việt Nam
Tác giả: Philíp B. Davitson
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1995
12. Lê Duẩn (1993), Về Chiến tranh nhân dân Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về Chiến tranh nhân dân Việt Nam
Tác giả: Lê Duẩn
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1993
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 18, 1957, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 25, 1964, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2003
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 26, 1965, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2003
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 27, 1966, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 28, 1967, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
18. Võ Nguyên Giáp (1975), Chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước, tập 2, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước
Tác giả: Võ Nguyên Giáp
Nhà XB: Nxb. Quân đội nhân dân
Năm: 1975
19. Giáo trình lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam
Tác giả: Giáo trình lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2001
20. Giônxơn (1972), Hồi ký về cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam và cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam, VNTTX phát hành Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồi ký về cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam và cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Giônxơn
Năm: 1972

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm