Với gần 90% dân số là nông dân, nguồn thu nhập chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp… Hà Tây là vùng có tiềm năng để phát triển nông nghiệp toàn diện, bao gồm cả nông nghiệp, thủy sản và lâm n
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Trang 3MỤC LỤC
Mở đầu 4
Chương 1 Tình hình nông nghiệp, nông thôn Hà Tây trước năm 1996 7
1.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội 7
1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 7
1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 9
1.2 Thực trạng nông nghiệp nông thôn Hà Tây 12
1.2.1 Đảng bộ Hà Tây quán triệt quan điểm của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp 12
1.2.2 Kết quả và một số vấn đề đặt ra 20
Chương 2 Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ Hà Tây về phát
triển nông nghiệp nông thôn từ 1996 đến 2006 25
2.1 Những quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá 25
2.2 Chủ trương của Đảng bộ Hà Tây về phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá 33
2.3 Quá trình chỉ đạo thực hiện đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn 42
Chương 3 Kết quả và những kinh nghiệm 59
3.1 Kết quả 59
3.1.1 Một số thành tựu cơ bản 59
3.1.2 Những hạn chế chủ yếu 72
3.2 Một số kinh nghiệm 76
3.2.1 Nắm vững chủ trương, đường lối phát triển nông nghiệp, nông thôn của Đảng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, và vận dụng sáng tạo vào thực tiễn địa phương 76 3.2.2 Chú trọng đào tạo nguồn nhân lực và xây dựng cơ sở vật chất - kỹ
Trang 43.2.4 Nâng cao vai trò lãnh đạo của các cấp uỷ đảng ở nông thôn, đáp ứng
yêu cầu phát triển nông nghiệp trong thời kỳ công nhgiệp hoá, hiện
đại hoá 83
Kết luận 86
Danh mục tài liệu tham khảo 90
Phụ lục 95
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân là vấn đề lớn và quan trọng đối với nền kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, đặc biệt là đối với những nước đang tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá Vì vậy, quan tâm đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn là vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tạo điều kiện để bố trí lại cơ cấu sản xuất, phân công lao động xã hội, nâng cao đời sống nông dân, thay đổi bộ mặt nông
thôn
Từ năm 1996, Đại hội VIII của Đảng đã xác định: "Giai đoạn từ nay đến năm 2000 là bước rất quan trọng của thời kỳ phát triển mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước" [20, tr.20], và đề ra mục tiêu đến năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp Hiện nay chúng ta đang trong quá trình đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Bởi thế, trong những năm qua vấn đề công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn luôn được đặt ở vị trí quan
trọng và là mối quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước
Quá trình đổi mới đường lối phát triển nông nghiệp, nông thôn, đã tạo
ra nhiều chuyển biến quan trọng trong thực tiễn, đặc biệt: Năng suất, sản lượng và hàm lượng công nghệ trong sản phẩm nông nghiệp tăng đáng kể, an ninh lương thực được đảm bảo; Việt Nam trở thành quốc gia có sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu chiếm thị phần quan trọng trên thị trường thế giới, như gạo, cà phê và hạt điều… Bộ mặt nông thôn và đời sống nông dân, kể cả ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số, từng bước được cải thiện Những thành tựu trong sản xuất nông nghiệp đã góp phần quan trọng vào sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, khẳng định vai trò quan trọng của nông
Trang 6Hà Tây (khi chưa sáp nhập với Hà Nội) vốn là một tỉnh nông nghiệp, thuộc đồng bằng Sông Hồng, cửa ngõ phía Tây thủ đô Hà Nội, có diện tích đất tự nhiên khá lớn Với gần 90% dân số là nông dân, nguồn thu nhập chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp… Hà Tây là vùng có tiềm năng để phát triển nông nghiệp toàn diện, bao gồm cả nông nghiệp, thủy sản và lâm nghiệp.Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và Đảng
bộ Hà Tây, nông nghiệp, nông thôn Hà Tây đã có những bước phát triển toàn diện, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân
Tuy nhiên, vấn đề nông nghiệp, nông thôn ở Hà Tây vẫn còn tồn tại một số hạn chế, yếu kém, chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của tỉnh như: Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá chưa rõ nét; vấn đề năng xuất lao động nông nghiệp;
tỉ lệ lao động nông nghiệp, nông thôn; cơ chế quản lí kinh tế nông nghiệp; chính sách đất đai; một số vấn đề văn hoá - xã hội ở nông thôn Nghiên cứu quá trình Đảng bộ Hà Tây quán triệt thực hiện đường lối chủ trương của Đảng
và Nhà nước về phát triển nông nghiệp, nông thôn từ năm 1996 đến năm
2006, từ đó rút ra một số kinh nghiệm, góp phần đẩy mạnh phát triển nông nghiệp nông thôn của Hà Tây trong thời gian tới là việc làm có ý nghĩa khoa học
và thực tiễn cấp thiết
Vì những lí do trên, tôi chọn đề tài “Đảng bộ Hà Tây lãnh đạo phát triển nông nghiệp, nông thôn từ năm 1996 đến 2006” để viết luận văn Thạc
sĩ lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa và sự nghiệp đổi mới, nông nghiệp luôn chiếm vị trí quan trọng Vì vậy, Đảng ta đã có những quan điểm chủ trương, chính sách, cùng với những tổng kết, đánh giá, rút ra những kinh nghiệm về phát triển nông nghiệp, nông thôn ở nước ta Sự tổng kết đánh
Trang 7giá đó được phản ánh trong các Văn kiện Đại hội VI, VII, VIII, IX, X, và Nghị quyết các Hội nghị chuyên đề của Ban Chấp hành Trung ương, Hội nghị
Bộ Chính trị… Đây là những đánh giá chính thức và quan trọng của Đảng ta
Nó phản ánh nhận thức lý luận và thực tiễn của Đảng về lãnh đạo nông nghiệp, nông thôn trong quá trình đổi mới Trong thời gian qua, còn có những công trình của các nhà khoa học đề cập đến vấn đề này ở nhiều góc độ khác nhau Nhìn một cách khái quát, các công trình nghiên cứu liên quan có thể chia thành những nhóm chủ yếu sau:
- Nhóm thứ nhất: Một số công trình nghiên cứu chuyên khảo đã xuất
bản như:
“Thực trạng nông nghiệp, nông thôn và nông dân nước ta” của Nguyễn
Sinh Cúc, Nxb Thống kê, Hà Nội, 1990
“Nông nghiệp Việt Nam 1945-1995” của PTS Nguyễn Sinh Cúc, Nxb
Thống kê, Hà Nội, 1995
“Đổi mới cơ chế quản lý nông nghiệp ở Việt Nam” của PTS.Trương Thị
Tiến, Nxb, Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1999
“Chính sách phát triển nông nghiệp và nông thôn sau Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị” do PGS.TS Lê Đình Thắng làm chủ biên, Nxb, Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, 2000
“Con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn”
của Ban tư tưởng văn hoá Trung ương, Nxb, Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Hà Nội, 2002
“Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam bước vào thế kỉ XXI” của Khoa
Kinh tế nông nghiệp và phát triển và nông thôn - Đại học Kinh tế quốc dân, Nxb, Nông nghiệp, Hà Nội, 2001
- Nhóm thứ hai: Một số luận văn Tiến sĩ, Thạc sĩ chuyên nghành Lịch
Trang 8lãnh đạo đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp (1975-1995); Nguyễn Thị Kim Anh: Đảng bộ Bình Định lãnh đạo quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp của tỉnh (1989-1997)…
- Ngoài ra còn có nhiều bài đăng trên các tạp chí chuyên ngành đã đề cập đến vấn đề nông nghiệp, nông thôn trong thời kì đổi mới
- Các công trình nghiên cứu trên đã nêu lên những thành công và hạn chế của nông nghiệp nước ta thời kì từ sau đổi mới Đồng thời, các tác giả đã đưa ra những kiến nghị, giải pháp để tiếp tục đổi mới, phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta trong thời gian tới
Các công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn tuy nhiều, nhưng chưa có tác giả nào nghiên cứu về Đảng bộ Hà Tây lãnh đạo phát triển nông nghiệp nông thôn từ 1996 đến 2006
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích nghiên cứu:
- Làm sáng tỏ sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo đường lối của Đảng trong lĩnh vực phát triển nông nghiệp, nông thôn vào thực tiễn điạ phương từ
năm 1996 đến năm 2006 của Đảng bộ Hà Tây
- Từ đó rút ra một số kinh nghiệm lãnh đạo phát triển nông nghiệp nông
thôn của Đảng bộ Hà Tây trong những năm đổi mới
* Nhiệm vụ:
- Trình bày một cách có hệ thống quá trình Đảng bộ Hà Tây vận dụng đường lối phát triển nông nghiệp, nông thôn của Đảng vào thực tiễn địa phương từ 1996 đến 2006
- Phân tích kết quả phát triển nông nghiệp, nông thôn ở Hà tây từ 1996 đến 2006 từ đó nêu lên những thành tựu và hạn chế
- Rút ra những kinh nghiệm trong việc Đảng bộ Hà Tây lãnh đạo thực hiện đường lối, chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn của Đảng ở địa phương
Trang 94 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ Hà Tây trong lĩnh vực phát triển nông nghiệp, nông thôn, thể hiện ở những chủ trương, giải pháp và việc tổ chức thực hiện của Đảng bộ từ 1996 đến 2006
* Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu sự lãnh đạo phát triển nông nghiệp, nông thôn của Đảng bộ Hà Tây
- Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu từ năm 1996 đến năm 2006
- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu ở địa bàn tỉnh Hà Tây cũ (khi chưa sáp nhập với Hà Nội)
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
* Nguồn tài liệu:
Đề tài dựa trên các nguồn tài liệu sau:
+ Các tác phẩm của Hồ Chí Minh liên quan đến đề tài
+ Hệ thống văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam từ 1986 đến 2006 + Các Văn kiện của Đảng bộ tỉnh Hà Tây; báo cáo hàng năm của UBND, Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Hà Tây; báo cáo hàng năm của mặt trận và các đoàn thể; Báo cáo tổng kết hàng năm của một số huyện tiêu biểu…
* Phương pháp nghiên cứu:
- Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở các nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
- Kết hợp phương pháp lịch sử và phương pháp logic, lấy phương pháp lịch sử là chủ yếu
- Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp so sánh, phương pháp
Trang 106 Đóng góp của luận văn
- Góp phần khẳng định tính đúng đắn của đường lối phát triển nông nghiệp, nông thôn của Đảng và sự vận dụng sáng tạo của Đảng bộ Hà Tây
vào thực tiễn của địa phương trong thời kì từ 1996 đến 2006
- Khẳng định những thành tựu về phát triển nông nghiệp, nông thôn ở
Hà Tây từ 1996 đến 2006
- Nêu ra một số kinh nghiệm trong lãnh đạo phát triển nông nghiệp, nông thôn của Đảng bộ Hà Tây, góp phần cung cấp một số luận cứ khoa học
để phục vụ sự phát triển nông nghiệp, nông thôn Hà Tây trong những năm tới
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo khi nghiên cứu lịch sử Đảng bộ Hà Tây thời kì đổi mới, và giảng dạy về lịch sử Đảng bộ trong các trường học ở Hà Tây
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm có 3 chương 7 tiết:
Chương 1: Tình hình nông nghiệp, nông thôn Hà Tây trước1996
Chương 2: Chủ trương và chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ Hà Tây về
phát triển nông nghiệp, nông thôn từ 1996 đến 2006
Chương 3: Kết quả và những kinh nghiệm
Trang 11Chương 1
TÌNH HÌNH NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN HÀ TÂY TRƯỚC NĂM 1996
1.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội
1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Kỳ họp Quốc hội thứ 9, khoá VIII, từ ngày 27 - 7 đến ngày 12 - 8 -
1991 đã quyết định tách tỉnh Hà Sơn Bình thành 2 tỉnh Hà Tây và Hoà Bình
5 huyện: Ba Vì, Phúc Thọ, Thạch Thất, Đan Phượng, Hoài Đức và Thị xã Sơn Tây được tách khỏi thành phố Hà Nội để trở về Hà Tây Tỉnh Hà Tây được tái lập và chính thức làm việc từ ngày 1 - 10 - 1991
Là một tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ, nằm ở phía Tây và Nam Thủ đô
Hà Nội - cửa ngõ nối liền vùng Tây Bắc và trung du Bắc Bộ với các tỉnh đồng bằng sông Hồng, Hà Tây có diện tích tự nhiên là 219.160 ha, nằm trọn trong nội địa, không có đường biên giới quốc gia và đường biển, kéo dài từ 20˚34'18'' đến 21˚18'26'' vĩ độ Bắc, 105˚17'18'' đến 106˚ 0'28'' kinh độ Đông Phía Bắc và Tây Bắc giáp sông Hồng, các tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ, phía Đông giáp Thủ đô Hà Nội, sông Hồng và tỉnh Hưng Yên, phía Nam và Đông Nam giáp tỉnh Hà Nam, phía Tây giáp tỉnh Hoà Bình
Hà Tây có 14 đơn vị hành chính: Hà Đông, Sơn Tây, Ba Vì, Chương
Mỹ, Đan Phượng, Hoài Đức, Mỹ Đức, Phú Xuyên, Phúc Thọ, Quốc Oai, Thạch Thất, Thanh Oai, Thường Tín, Ứng Hoà Hà Tây vừa nằm liền kề khu tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh với các đường giao thông chiến lược: Quốc lộ 1, quốc lộ 6, quốc lộ 21, quốc lộ 32, đường
Hồ Chí Minh, đường cao tốc Láng- Hoà Lạc, đường thủy trên sông Hồng, vừa
là lá phổi xanh của thủ đô Hà Nội
Xét tổng quát, địa hình của Hà Tây biến đổi khá phức tạp, bị chia cắt mạnh, cao độ biến đổi dần từ hướng Tây Bắc xuống Đông Nam, từ Tây sang
Trang 12Vùng núi cao: Có diện tích khoảng 17.000 ha, tập trung chủ yếu ở Ba
Vì có độ cao tuyệt đối từ 300 m trở lên với đỉnh cao nhất tới 1.296 m Đây là nơi có địa hình dốc (trên 25˚ ), tập trung tới 54% diện tích đất lâm nghiệp của
Hà Tây Đất nông nghiệp nằm rải rác, tập trung trong các thung lũng nhỏ và khe suối
Kiểu địa hình đồi núi thấp: Có độ cao tuyệt đối từ 30 đến 300m, diện tích tự nhiên khoảng 53.400 ha, tập trung chủ yếu ở vùng thấp của Ba Vì,
vùng cao của các huyện Thạch Thất, Quốc Oai, Mỹ Đức, Chương Mỹ và Sơn Tây Đây là khu vực tập trung nhiều núi đá vôi và hang động cáctơ, cũng là nơi tập trung tới 45,6 % diện tích đất rừng của Hà Tây Do có địa hình dốc, diện tích đất trồng đồi núi trọc lớn nên đất đai thường bị xói mòn, rửa trôi rất mạnh
Kiểu điạ hình đồng bằng: Có 149.200 ha chiếm trên 68% diện tích tự
nhiên phân bố tập trung ở khu vực giữa sông Hồng và sông Đáy và các vùng thấp ven sông Tích Đây là vùng đồng bằng phì nhiêu, vùng sản xuất nông nghiệp quan trọng nhất của tỉnh với cây trồng chủ yếu là lúa nước Những khu vực cao hơn thì trồng cây ăn quả, làm vườn và trồng hoa màu Tuy là vùng đồng bằng nhưng cao độ cũng có nhiều biến đổi, phổ biến từ 1,0 đến 11,0 m Khu vực ven sông Hồng và sông Đáy thường có địa hình cao hơn khu vực ven sông Nhuệ tạo thành dạng địa hình lòng máng Nơi có cao độ thấp thường tập trung nhiều ở vùng hạ lưu sông Nhuệ như Ứng Hoà, Phú Xuyên
Hà Tây có nhiều khoáng sản quý, tập trung nhiều nhất ở huyện Ba Vì như vàng, đồng, pyrit, cao lanh, nước khoáng Ngoài ra có thể kể tới đôlônit
ở Quốc Oai; đá vôi ở Mỹ Đức, Chương Mỹ; đá granít ốp lát ở Chương Mỹ; đất sét ở Chương Mỹ, Sơn Tây, Thạch Thất, Quốc Oai; than bùn ở Mỹ Đức, Sơn Tây, Quốc Oai, Chương Mỹ
Trang 13Rừng ở Hà Tây không nhiều, với hai khu vực chủ yếu là rừng quốc gia
Ba Vì và khu rừng văn hoá gắn với cảnh đẹp chùa Hương thuộc Nhà nước quản lý
Khí hậu Hà Tây mang tính chất nhiệt đới gió mùa với hai mùa và ba vùng khí hậu khác nhau Nhiệt độ trung bình từ 23,5˚C đến 28˚C Số giờ nắng khoảng 1642 giờ/năm, lượng mưa trung bình khoảng 150 mm, độ ẩm trung bình 83,4%
Đất đai Hà Tây được hợp thành từ hai nguồn phong hoá, đá mẹ ở vùng đồi núi và phù sa bồi đắp ở vùng đồng bằng Toàn tỉnh có 136.000 ha đất canh tác nông nghiệp, chiếm 29% diện tích tự nhiên Bình quân diện tích đất nông nghiệp trên đầu người thấp, khoảng 527m2
(đồng bằng 342m2)
Hà Tây có nhiều sông lớn chảy qua nên cũng là tỉnh có nhiều đê sông cấp quốc gia nhất miền Bắc Những con sông chính chảy qua đó là: Sông Hồng, sông Đà, sông Tích, sông Đáy, sông Nhuệ, với tổng chiều dài chảy trong phạm vi tỉnh trên 400km, có hàng chục hồ chứa nước lớn nhỏ, đây là một trong những tiềm năng nuôi trồng thuỷ sản lớn của Hà Tây
Với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên tương đối thuận lợi trên đã tạo điều kiện cho nông nghiệp Hà Tây phát triển Nền sản xuất nông nghiệp của
Hà Tây đã có những thay đổi rất quan trọng cả về lượng và chất, nhất là cơ cấu mùa, vụ, giống cây trồng, vật nuôi nhằm khai thác tối đa những thuận lợi về điều kiện tự nhiên Với tính chất nhiệt đới nóng, ẩm, khí hậu Hà Tây thích nghi với nhiều giống cây trồng, vật nuôi ở những thời vụ khác nhau trong năm Hệ thống sông và ao, hồ, đập là một trong những tiềm năng nuôi trồng thuỷ sản lớn của tỉnh Tuy nhiên, Hà Tây cũng gặp rất nhiều khó khăn
do lượng mưa tập trung lớn vào mùa mưa gây ngập úng trên diện rộng, làm xói mòn đất, rửa trôi đất vùng núi; ngược lại, về mùa khô gây hạn hán và có sương muối không thuận lợi cho sản xuất ở vùng miền núi
Trang 14Từ năm 1991, tỉnh Hà Tây được tái lập thì mức tăng trưởng, tổng giá trị sản xuất và thu nhập nội tỉnh hàng năm đều tăng Để thoát khỏi tình trạng thuần nông, Hà Tây phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội Mặc dù nông nghiệp vẫn là ngành chủ chốt, nhưng tỉnh vẫn đang phấn đấu giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ Đây cũng là một quá trình phấn đấu lâu dài
Hà Tây sử dụng 60% lực lượng lao động trong ngành nông nghiệp và đóng góp khoảng 35% trong toàn bộ GDP của tỉnh Tuy diện tích tự nhiên lớn nhất vùng đồng bằng sông Hồng, nhưng quỹ đất của tỉnh không nhiều Do dân
số đông nên bình quân đất nông nghiệp trên đầu người chỉ đạt 527m2 Đây cũng là nguyên nhân giải thích tại sao Hà Tây là địa phương có làng nghề phát triển mạnh Từ lâu, Hà Tây đã được mệnh danh là đất trăm nghề Có nhiều làng nghề nổi tiếng như: Lụa Vạn Phúc, tre đan Ninh Sở, mây tre đan Phú Vinh, thêu ren Quất Động, sơn mài Hạ Thái và Duyên Thái, quạt Dân Hoà, điêu khắc Thanh Thuỳ, khảm trai Chuyên Mỹ, nón Chuông, giò chả Ước
Lễ, bánh tẻ Câu Liên, bánh dầy Quán Gánh Sự phát triển mạnh mẽ của các làng nghề đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động ở Hà Tây
Năm 1994, sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp của Hà Tây được khôi phục, phát triển và tăng bình quân mỗi năm 12,2% Một số xí nghiệp quốc doanh được sắp xếp lại, được tăng thêm vốn, thiết bị, hoạt động
có hiệu quả hơn Nhiều nghề thủ công truyền thống được khôi phục và phát triển thêm việc làm cho người lao động, tăng thu nhập cho nhân dân Một số
xã đạt giá trị tiểu thủ công nghiệp trên 50% tổng giá trị sản xuất
Hoạt động thương mại, xuất nhập khẩu đã cố gắng giảm bớt tình trạng khó khăn, sa sút và có mặt phát triển Du lịch đang từng bước nghiên cứu, quy hoạch phát triển ở một số khu vực trọng điểm
Trang 15Năm 1995, Hà Tây có 16 cơ sở bệnh viện, 28 phòng khám đa khoa khu vực, tất cả các huyện và hầu hết các xã đều có trạm y tế xã Đội ngũ bác sĩ và trên đại học là 627 người
Mạng lưới điện quốc gia đã phát triển tới tất cả các huyện và hầu hết các xã trong tỉnh Tuy nhiên, hệ thống điện vẫn chủ yếu dùng cho sinh hoạt và thuỷ lợi, còn sử dụng cho sản xuất công nghiệp và dịch vụ chưa nhiều
Trên địa bàn Hà Tây, tất cả các xã đều có trường tiểu học Năm học
1992 - 1993, toàn tỉnh được công nhận phổ cập tiểu học và xoá mù chữ Các trường chuyên, lớp chọn được mở rộng, bước đầu đưa nội dung dạy nghề, giáo dực dân số, tin học vào nhà trường Các huyện đều có các Trung tâm giáo dục thường xuyên và Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp Trên địa bàn Hà Tây
có 10 trường đại học và cao đẳng, 9 trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề, 3 trung tâm dịch vụ việc làm thuộc Liên đoàn lao động tỉnh
Hà Tây có rất nhiều di tích lịch sử được xếp hạng, với cảnh quan đẹp cùng nhiều lễ hội dân gian phong phú như: Ao vua, Khoang Xanh, Suối Tiên, Thác Mơ, Suối Hai, Đồng Mô, chùa Hương, chùa Đậu, chùa Tây Phương, chùa Trăm Gian, chùa Trầm, đền Và, chùa Mía, thành cổ Sơn Tây Những di sản văn hoá này vừa có ý nghĩa giáo dục, nâng cao đời sống văn hoá tinh thần, vừa khai thác các điểm du lịch để phát triển kinh tế dịch vụ, du lịch của địa phương
Hà Tây còn là nơi sản sinh ra nhiều anh hùng dân tộc và danh nhân tiêu biểu của đất nước như: Phùng Hưng, Ngô Quyền, Nguyễn Trãi, Phan Huy Chú , là tỉnh có nhiều di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh vào bậc nhất trong cả nước Những di tích đó có cùng với hệ thống đình, chùa, miếu, đền
và lễ hội hàng năm tổ chức làm phong phú thêm đời sống văn hoá, tinh thần của nhân dân
Tóm lại, trong những năm qua kinh tế Hà Tây phát triển ổn định, tương
Trang 16và phát triển bền vững, góp phần ổn định và cải thiện đời sống nhân dân ở nông thôn Kinh tế nông thôn được khởi sắc, nhất là ở làng nghề và khu vực ven đô Kinh tế công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng khá cao, năng lực sản xuất của các thành phần kinh tế được tăng cường Các ngành dịch vụ có bước phát triển, đã đổi mới phương thức hoạt động, nâng cao dần chất lượng phục vụ đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân
1.2 Thực trạng nông nghiệp nông thôn Hà Tây
1.2.1 Đảng bộ Hà Tây quán triệt quan điểm của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp
Lãnh đạo nông dân, phát triển sản xuất nông nghiệp, xây dựng nông thôn luôn là nhiệm vụ trọng yếu của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các thời
kỳ lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Việt Nam là nước sống về nông nghiệp Nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc Trong công cuộc xây dựng nước nhà, chính phủ trông mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn" [35, tr.215] Theo Người: "Chúng ta lấy sản xuất nông nghiệp làm chính Vì muốn mở mang công nghiệp thì phải có đủ lương thực, nguyên liệu" [36, tr.44]
Ngày 13 - 1 - 1981, Ban Bí thư Trung ương ban hành Chỉ thị số 100CT
- TW Đây là bước đột phá đầu tiên chấm dứt quá trình cải tiến quản lý nông nghiệp theo hướng mở rộng quy mô hợp tác xã, tăng cường cơ chế quản lý tập trung thống nhất ở mức độ cao Tuy nhiên do những sai lầm chủ quan, duy ý chí và sự trì trệ của cơ chế quản lý quan liêu, bao cấp kéo dài, làm cho sản xuất nông nghiệp cũng như các lĩnh vực khác đã lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12 - 1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, trong đó trọng tâm là đổi mới kinh tế Đại hội VI đánh dấu bước chuyển căn bản về tư duy kinh tế của Đảng, là cơ
Trang 17sở lý luận và tạo môi trường nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần cho quá trình đổi mới căn bản và toàn diện cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp, mà nội dung trọng tâm là xác lập và phát triển kinh tế hộ nông nghiệp Đại hội chỉ rõ:
"Nhiệm vụ trước mắt của những năm còn lại của chặng đường đầu tiên (1986
- 1990) là phải tập trung sức người, sức của thực hiện cho được 3 chương trình mục tiêu về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu" [15, tr.48] Nông nghiệp phải được ưu tiên đáp ứng những nhu cầu về đầu tư xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, về vật tư, về lao động kỹ thuật; những nguồn vốn đầu tư đó phải được sử dụng có hiệu quả Đầu tư cho nông nghiệp phải đồng bộ từ sản xuất đến chế biến vận chuyển, bảo quản để có nhiều sản phẩm cuối cùng Đảng ta khẳng định: "Điều quan trọng nhất hiện nay là một mặt phải cải tiến, nâng cao trình độ quản lý của hợp tác xã, tập đoàn sản xuất, mặt khác phải từng bước hoàn thiện phương thức khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động, tích cực xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật phục
vụ cho sản xuất nông nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới" [15, tr.62]
Sau Đại hội VI, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn kiện quan trọng nhằm giải quyết những vấn đề cấp bách với nông dân, nông nghiệp và nông thôn Hội nghị Trung ương lần thứ hai, khoá VI, tháng 4 - 1987 và Hội nghị Trung ương lần thứ ba, khoá VI, tháng 8 - 1987, tiếp tục khẳng định Nghị quyết của Đại hội VI của Đảng và đưa ra định hướng cho một số chính sách đổi mới về ruộng đất Ban Chấp hành Trung ương Đảng còn chỉ ra những quy định về giá cả và lưu thông hàng hoá; thực hiện chính sách thu mua nông sản theo giá thoả thuận đã ban hành trước, phấn đấu thực hiện cơ chế một giá
Tháng 1 - 1988 Quốc hội thông qua Luật đất đai, đánh dấu bước phát triển mới trong sản xuất nông nghiệp Luật đất đai chỉ rõ Nhà nước giao quyền sử dụng ruộng đất ổn định, lâu dài cho các đơn vị và hộ xã viên, cho
Trang 18quả đầu tư trên mảnh đất đã giao khoán; nghiêm cấm việc mua bán ruộng đất trái phép
Ngày 05 tháng 4 năm 1998, Bộ chính trị khoá VI, ra nghị quyết số 10 -
NQ/TW về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp Nghị quyết 10 đã có những
đánh giá khách quan về cách thức tổ chức sản xuất và quản lý nông nghiệp, chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong sản xuất nông nghiệp
và chủ trương tiến hành đổi mới một cách căn bản Nghị quyết xác định nội dung đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, chủ yếu gồm ba vấn đề: Sắp xếp
và tổ chức lại sản xuất nông nghiệp; củng cố và mở rộng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, sử dụng đúng đắn các thành phần kinh tế; đổi mới chính sách quản lý vĩ mô của Nhà nước
Nghị quyết 10 - NQ/TW đã thể hiện sự chuyển biến căn bản rõ nét nhất của tư duy kinh tế, đổi mới chính sách đối với nông nghiệp, nông dân và nông thôn Nghị quyết đã tạo sự thay đổi rõ rệt trong sản xuất nông nghiệp và đời sống của nông dân Người nông dân do tác động của cơ chế mới đã gắn bó với quá trình sản xuất, chủ động trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của mình
Hội nghị lần thứ 6 của Ban Chấp hành Trung ương khoá VI, tháng 3 -
1989, tiếp tục khẳng định những phương hướng lớn trong đổi mới quản lý nông nghiệp của Đảng và Nhà nước Nghị quyết của Hội nghị đã quyết định:
- Hợp tác xã và tập đoàn sản xuất là những đơn vị kinh tế hợp tác với nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất
- Khái niệm hợp tác xã được mở rộng bao gồm mọi tổ chức kinh doanh
do những người lao động tự nguyện góp vốn, góp sức và được quản lý theo nguyên tắc dân chủ, không phân biệt quy mô, trình độ kỹ thuật, mức độ tập thể hoá tư liệu sản xuất
- Hộ xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ
Trang 19Như vậy, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6, khoá VI, là bước tiến xa so với Chỉ thị 100 trong quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp Quan hệ sản xuất được điều chỉnh trên cả ba phương diện: Sở hữu, quản lý, phân phối cho phù hợp hơn với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất - đây là một sự điều chỉnh lớn trong đường lối, chính sách phát triển nông nghiệp và cơ chế quản lý kinh
tế nông nghiệp Nghị quyết 10 đã cụ thể hoá khá toàn diện tư tưởng đổi mới của Đại hội VI trên lĩnh vực kinh tế nông nghiệp, gỡ bỏ về cơ bản những lực cản đối với sự phát triển của kinh tế nông nghiệp nước ta
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (tháng 6 - 1991) đã đánh dấu bước chuyển biến từ cơ chế hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa trên cơ sở coi trọng yếu tố thị trường sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước định hướng xã hội chủ nghĩa Văn kiện Đại hội VII đã quyết định một số vấn
đề cấp bách đối với nông nghiệp, nông thôn Nhà nước quy định bằng pháp luật các vấn đề thừa kế, chuyển quyền sử dụng đất, giúp nông dân vốn sản xuất bằng cách mở rộng các hình thức tín dụng Đại hội đã thông qua văn kiện
quan trọng Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội Cương lĩnh nêu rõ: "Phát triển nông - lâm - ngư nghiệp gắn với công
nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu
để ổn định tình hình kinh tế - xã hội" [18, tr.12] Đại hội đề ra chủ trương tiếp tục xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, tiếp tục đổi mới quản lý kinh tế và khẳng định: Để phát huy và kết hợp sức mạnh của tập thể và của xã viên trong các hợp tác xã nông nghiệp, chúng ta chủ trương các hộ xã viên là những đơn vị kinh tế tự chủ, đồng thời tăng cường vai trò của ban quản trị hợp tác xã trong việc quản lý, điều hành sản xuất và tổ chức dịch vụ ở những khâu và lĩnh vực mà hộ xã viên không có điều kiện làm hoặc làm không hiệu quả bằng tập thể Cùng với chính quyền và các đoàn thể, hợp tác xã góp phần
Trang 20Để tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới kinh tế nông nghiệp và căn cứ vào nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, Hội nghị Trung ương lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khoá VII đã họp ngày 3 - 6 - 1993 và ra
nghị quyết về "Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn"
Sau khi xác định mục tiêu, quan điểm đổi mới về phát triển nông nghiệp, nông thôn, Nghị quyết đề ra phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm thực hiện mục tiêu đó Nghị quyết xác định phải đổi mới cơ cấu kinh tế nông nghiệp, đổi mới cơ cấu kinh tế nông thôn, phá vỡ thế độc canh cây lúa, phá vỡ
cơ cấu thuần nông và xây dựng một nền kinh tế nông nghiệp phát triển cân đối Hội nghị xác định rõ: "Trên cơ sở xúc tiến công cuộc công nghiệp hóa nói chung, công nghiệp hoá nông nghiệp và nông thôn nói riêng mà thực hiện
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng phát triển mạnh, vững chắc, có hiệu quả công nghiệp - dịch vụ ở nông thôn, tăng nhanh tỷ trọng những ngành này trong cơ cấu nông - công nghiệp - dịch vụ" [19, tr 63] Hội nghị xác định: Kiên trì và nhất quán thực hiện chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trên cơ sở tiếp tục phát huy vai trò
tự chủ của kinh tế hộ mà đổi mới hình thức, nội dung kinh doanh và cơ chế họat động của hợp tác xã, phát huy vai trò tự chủ của kinh tế hộ xã viên; đổi mới hệ thống doanh nghiệp nhà nước và khuyến khích phát triển kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân trong nông nghiệp, nông thôn Thực hiện chính sách giao quyền sử dụng đất lâu dài cho hộ nông dân; đổi mới chính sách vĩ
mô của Nhà nước, bao gồm chính sách thị trường tiêu thụ nông sản hàng hoá, chính sách đầu tư tín dụng, chính sách khuyến nông, chính sách khoa học - công nghệ, chính sách xã hội nông thôn nhằm tạo điều kiện và môi trường kinh tế - xã hội thúc đẩy cho sản xuất phát triển; đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị Trong các phương hướng nêu trên thì việc gắn phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn với quá trình công nghiệp
Trang 21hoá, hiện đại hoá đất nước là nhiệm vụ có tầm quan trọng hàng đầu và có ý nghĩa chiến lược
Nghị quyết Trung ương 5 đã bổ sung, nâng tầm các chính sách đổi mới kinh tế nông nghiệp, nông thôn hình thành từ Đại hội VI Nghị quyết đã giải quyết đồng bộ các yếu tố nông nghiệp và nông thôn trong mối quan hệ mật thiết, tạo điều kện cho kinh tế nông nghiệp phát triển thuận lợi, đồng thời tác động tích cực đến kinh tế nông thôn Nghị quyết đã định hướng và trợ giúp cho sự phát triển của kinh tế nông nghiệp, nông thôn, chuyển dần nền kinh tế nông nghiệp, nông thôn nước ta vào thời kỳ công nghiệp hoá
Đường lối đổi mới nông nghiệp, nông thôn được tiếp tục bổ sung và phát triển và khẳng định trong Hội nghị Đại biểu Đảng toàn quốc giữa nhiệm
kỳ khoá VII (tháng 1 - 1994), trong Hội nghị Trung ương lần thứ 7 khoá VII (tháng 7 - 1994)
Nếu như nghị quyết 10 của Bộ Chính trị mở ra thời kỳ nông nghiệp được giải phóng thì Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 5 khoá VII và các nghị quyết tiếp theo đã tạo sức bật mới cho kinh tế nông nghiệp - nông thôn phát triển, thực sự tháo gỡ những cản trở, trì trệ của cơ chế cũ và mở ra hướng phát triển mới cho nông nghiệp, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn cho cả nước nói chung và cho nông nghiệp, nông thôn Hà Tây nói riêng
Sau khi tái lập, Đảng bộ Hà Tây có 14 huyện, thị uỷ và các Đảng uỷ trực thuộc Đảng bộ tỉnh có 1.038 cơ sở Đảng, hơn 74.000 đảng viên, chiếm 3,5% dân số
Đảng bộ Hà Tây tổ chức Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XI (tháng 3-1992) Đại hội đã kiểm điểm, đánh giá đúng thực trạng tình hình trong tỉnh những năm 1986 - 1991; vận dụng cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chiến lược ổn định và phát triển
Trang 22quốc lần thứ VII để định ra phương hướng nhiệm vụ trong những năm 1992 - 1995; đồng thời bầu Ban chấp hành Đảng bộ mới
Đại hội đánh giá, sau 5 năm thực hiện nghị quyết Đại hội VI của Đảng, tình hình địa phương có những biến chuyển đáng kể trên các mặt, lương thực thực phẩm tăng khá, hàng tiêu dùng phong phú, đa dạng hơn trước Cơ sở vật chất phục vụ nông nghiệp và nông thôn được tăng cường Trong những năm
từ 1986 đến 1991, cơ cấu kinh tế nông nghiệp, bộ mặt nông thôn và đời sống nông dân đã khởi sắc và phát triển
Đảng bộ đã tiến hành tổng kết việc thực hiện Chỉ thị 100 ở các hợp tác
xã để phát hiện và khắc phục những mặt yếu kém, thực hiện đúng đắn chế độ khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động phù hợp với trình độ hợp tác xã từng vùng khác nhau Chấn chỉnh tổ chức và hoạt động của các hợp tác xã tín dụng, liên kết chặt chẽ với các hợp tác xã nông nghiệp Có chính sách khuyến khích phát triển kinh tế gia đình và tư nhân đúng hướng
Đại hội XI của Đảng bộ xác định: Trong nông nghiệp thực hiện sớm việc giao ruộng khoán ổn định đến hộ xã viên theo Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị Bộ máy quản lý hợp tác xã được sắp xếp gọn nhẹ, xoá bỏ các quỹ ở đội sản xuất, thu nhập của xã viên tăng hơn trước Mô hình kinh tế VAC và
hộ nông dân mở mang thêm, ngành nghề đang tăng lên Có những hộ đã nhận thầu hàng chục héc ta ruộng, ao đất rừng thu nhập mỗi năm hàng chục triệu đồng
Đảng bộ đề ra những mục tiêu và nhiệm vụ chủ yếu về nông nghiệp trong 4 năm 1992 - 1995 đó là:
- Giải quyết tốt hơn vấn đề lương thực, có thêm nhiều nông sản hàng hoá chế biến và hàng tiêu dùng, tăng nhanh hàng xuất khẩu Từng bước xây dựng nông thôn mới và nếp sống văn minh trật tự ở các thị xã, thị trấn
- Phát triển nông nghiệp toàn diện, tăng thêm lương thực, đồng thời tăng nhanh các loại nông sản hàng hoá
Trang 23Để phát triển nông nghiệp toàn diện cần: Đầu tư thâm canh, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật sinh học, đưa nhanh giống mới vào sản xuất để tăng sản lượng bình quân hàng năm khoảng 5%, năm 1992 đạt 70 vạn tấn, năm 1995 đạt 80 vạn tấn, nhằm đảm bảo nhu cầu lương thực của nhân dân, căn bản khắc phục nạn đói giáp hạt Đồng thời, sử dụng có hiệu quả hơn các loại đất, tăng nhanh giá trị nông sản hàng hoá trên đơn vị diện tích ngày càng cao Toàn tỉnh mở rộng diện tích vụ đông trên 60% đất canh tác để trồng các loại rau màu, thực phẩm Ưu tiên giành diện tích đất bãi ven sông, đất đồi gò để phát triển mạnh cây dâu tằm, cây chè Phát triển chăn nuôi trâu bò, lợn, gia cầm, nuôi thuỷ sản Chú trọng giống mới và từng bước chăn nuôi theo phương pháp công nghiệp Đến năm 1995 toàn tỉnh sẽ căn bản hoàn thành việc phủ xanh đất trống, đồi trọc, chủ yếu trồng các loại cây keo vừa lấy gỗ, vừa cải tạo đất
Để phát triển nông lâm nghiệp theo hướng trên, Đảng bộ đã sớm ban hành và hướng dẫn thực hiện đúng chính sách ruộng đất, trước mắt ổn định ruộng đất đã khoán hộ, không gây sáo trộn Có chính sách khuyến nông, cho vay vốn sản xuất, miễn thuế cây dài ngày và hướng dẫn kỹ thuật đến các hộ nông dân, nhất là sử dụng rộng rãi các loại giống mới Có đủ vật tư cho nông nghiệp và tích cực làm thuỷ lợi, chủ động phòng tránh thiên tai nhất là úng lụt
Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ ban chấp hành Đảng bộ tỉnh tháng 2 -
1994 đã đánh giá: Tỉnh uỷ sớm có kế hoạch hướng dẫn giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho các hộ nông dân nhờ đó đã góp phần làm cho nông dân yên tâm sản xuất, thâm canh, tăng vụ, sử dụng đất đai có hiệu quả hơn Giá trị sản phẩm trên một hécta gieo trồng trong năm nhiều hộ đạt 15 - 20 triệu đồng Từng bước đổi mới quản lý hợp tác xã nông nghiệp theo Nghị quyết Trung ương lần thứ 5 Đa số hợp tác xã đã bỏ đội sản xuất, sắp xếp lại bộ máy gọn
Trang 24khâu, nhưng cũng còn khoảng 20% số hợp tác xã yếu kém Đã xuất hiện một
số hình thức hợp tác đa dạng trong sản xuất tiểu thủ công nghiệp, chế biến nông - lâm sản, thu hút nhiều lao động có việc làm Từ 1991 đến 1993, Nhà nước đã đầu tư 131 tỷ đồng vốn ngân sách và 33 tỷ vốn tín dụng để xây dựng các công trình phục vụ sản xuất, đời sống chủ yếu là về điện, đường giao thông, thuỷ lợi Ngoài vốn của Nhà nước, các xã, hợp tác xã nông nghiệp đã đóng góp gần 200 tỷ đồng xây dựng đường điện, trạm xá, trường học, đường làng, 98% số xã có điện sản xuất và sinh hoạt làm cho bộ mặt nông thôn có bước đổi mới Hội nghị đề ra cần phải phấn đấu thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế hết năm 1995, trong nông nghiệp, giá trị chăn nuôi chiếm 30% Tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển kinh
tế địa phương, cần tập trung vào giao thông, điện nước, thông tin liên lạc, thuỷ lợi và một số công trình bức thiết về văn hoá xã hội
Hội nghị đại biểu Đảng bộ tỉnh giữa nhiệm kỳ đã kiểm điểm việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cho hai năm 1994 - 1995 Đó
là cơ sở để thống nhất tư tưởng, hành động, củng cố sự đoàn kết trong Đảng
bộ và nhân dân trong tỉnh tạo ra phong trào hành động cách mạng sôi nổi nhằm thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ Đại hội Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ
1992 - 1995 đã đề ra
1.2.2 Kết qủa và một số vấn đề đặt ra
Sau những năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VI, VII của Đảng và Nghị quyết lần thứ XI của Đảng bộ Tỉnh, tình hình kinh tế nông nghiệp, nông thôn Hà Tây đã đạt được những thành tựu hết sức quan trọng
Cơ cấu kinh tế theo ngành có sự chuyển dịch tích cực, tạo điều kiện
thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh Trong khu vực sản xuất nông nghiệp, giảm tỷ trọng từ 57% năm 1990 còn 50% năm 1995; tỷ trọng ngành công nghiệp và xây dựng từ 22% năm 1990 lên 25% năm 1995;
tỷ trọng các ngành dịch vụ từ 21% năm 1990 tăng lên 25% năm 1995
Trang 25Cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp cũng được chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng các loại cây trồng công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả và chăn nuôi, thay đổi cơ cấu mùa vụ, tăng vòng quay của đất Về việc thực hiện chương trình lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng, kết quả đáng kể nhất trong những năm 1986 - 1991 là sản xuất lương thực bình quân mỗi năm tăng 5% Bình quân đầu người từ 281kg tăng lên 317kg, năm thu hoạch cao nhất đạt gần 70 vạn tấn (1989) Nạn đói giáp hạt đã giảm bớt Vụ Xuân năm 1991 tuy bị thất thu nặng, nhưng đời sống nhân dân và giá cả lương thực ít bị đảo lộn lớn Đàn trâu, bò, lợn năm 1991 so với năm 1986 tăng trên 30% Chăn nuôi gia cầm, nuôi cá đều phát triển Từ 1991 đến 1994 sản lượng lương thực bình quân hàng năm tăng 7,9% (vượt mức đề ra tại Đại hội XI của Đảng bộ là 5%) Năm 1993, sản lượng lương thực đạt trên 83 vạn tấn, vượt mức đề ra cho năm 1995 (80 vạn tấn) Bình quân lương thực đầu người từ 317kg (1991) lên 372kg (1993) Có 4 huyện đạt và vượt 10 tấn thóc/ha Về chăn nuôi, so với năm 1991, đàn trâu tăng 11,2%, đàn bò tăng 21,2%, đàn lợn tăng 30,4% Chăn nuôi gia cầm, nuôi cá đều phát triển Đã có một số hợp tác xã và gia đình nuôi bò sữa, dê sữa và các loại đặc sản đạt hiệu quả kinh tế cao Diện tích trồng cây công nghiệp, cây ăn quả tăng nhanh: Cây chè tăng 30%, cây đậu tương tăng 3,5 lần, trồng mới 3.425 ha rừng tập trung Rừng quốc gia Ba
Vì được bảo vệ
Về ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp:
Tiềm năng khoa học kỹ thuật, trình độ dân trí được nâng lên, do có trên 20 cơ quan nghiên cứu khoa học Nông - Lâm nghiệp và cơ sở quốc doanh chế biến của Trung ương đóng trên địa bàn tỉnh Trong nông nghiệp, đã ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới, phát triển ngành nghề đi đôi với việc giải quyết tốt vấn
đề vệ sinh môi trường ở nông thôn Trong trồng trọt đã ứng dụng các giống lúa năng suất cao, chất lượng gạo ngon, có giá bán cao, phát triển mạnh loại
Trang 26nổi bật là phương thức "làm đất tối thiểu"- đưa cây trồng cạn xuống vùng đất lúa vụ Đông - một thành tựu kỹ thuật có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong sản xuất nông nghiệp của Hà Tây
Về kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội: Dưới sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ và Uỷ
ban nhân dân tỉnh, từ 1986 đến 1992, bằng các nguồn vốn của Nhà nước đã đầu tư cho ba chương trình kinh tế, xây dựng một số trạm biến áp, đường trục điện cao thế đến các huyện, trạm bơm tưới, tiêu Hai trạm bơm tiêu lớn là Vân Đình và Ngoại Độ cơ bản hoàn thành, bảo đảm 90% diện tích lúa được tưới
và 70% diện tích được tiêu úng, có thêm điều kiện để thâm canh và mở rộng sản xuất vụ đông Một phần vốn được sử dụng vào phủ xanh đất trống đồi trọc, xây dựng và cải tạo một vài cơ sở làm hàng xuất khẩu Ngoài vốn của Nhà nước, nhân dân và các hợp tác xã nông nghiệp đã đóng góp gần 100 tỷ đồng xây dựng hơn 40 trạm bơm, 500km đường nông thôn, xây lại 300 trường học, hơn 100 trạm xá, đưa điện về 85% số xã làm cho bộ mặt nông thôn có biến đổi một bước Từ 1991 đến 1993, Nhà nước đã đầu tư 131 tỷ đồng vốn ngân sách và 33 tỷ đồng vốn tín dụng để xây dựng các công trình phục vụ sản xuất, đời sống chủ yếu là về điện, đường giao thông, thuỷ lợi Ngoài ra các hợp tác xã nông nghiệp đã đóng góp gần 200 tỷ đồng xây dựng đường điện, trạm xá, trường học, đường làng Năm 1994, trên 97% số xã có điện, 95% số hộ nông thôn dùng điện vào sản xuất và sinh hoạt (cao hơn mức bình quân chung của cả nước và vùng đồng bằng sông Hồng); toàn tỉnh đã sử dụng trên 260 triệu Kwh điện cho sản xuất và sinh hoạt Phương tiện vận tải tăng 4 lần, số máy điện thoại tăng 10 lần so với năm 1990, trên 3000 máy kéo các loại với tổng công suất gần 40.000 CV, trên 8.500 máy bơm gia đình, 16.000 máy tuốt lúa có động cơ, gần 5.000 máy sát gạo, 1.700 máy nghiền thức ăn gia súc, 90% số hộ nông thôn có nhà kiên cố và bán kiên cố làm cho
bộ mặt nông thôn có bước đổi mới rõ rệt
Trang 27Về văn hoá - xã hội: Giáo dục tiếp tục phát triển, công tác nuôi dạy trẻ
có tiến bộ, toàn tỉnh đã hoàn thành phổ cập cấp 1, có 3 huyện phổ cập cấp 2, một số trường chuyển biến về giáo dục hướng nghiệp Việc bảo vệ sức khoẻ của nhân dân không để xảy ra dịch bệnh lớn Phong trào thể dục - thể thao được mở rộng Các hoạt động văn hoá, văn nghệ, báo, đài chú trọng động viên phong trào thi đua lao động sản xuất góp phần nâng cao đời sống tinh thần nhân dân Công tác kế hoạch hoá gia đình được quan tâm chỉ đạo nên tỷ
lệ sinh hàng năm giảm Do chú ý phát triển kinh tế nhiều thành phần, mở rộng sản xuất vụ Đông, chế biến nông sản, trồng rừng và đi xây dựng kinh tế mới
đã tạo thêm việc làm hàng năm cho hàng vạn lao động Khoảng 60% số hộ ở nông thôn có mức thu nhập cao hơn trước Một số hộ có vốn, biết làm ăn đã giàu lên nhanh chóng
Kết quả của sản xuất lương thực, thực phẩm đã góp phần quyết định ổn định đời sống của nhân dân Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (05/04/1988) thực sự là nguồn ánh sáng mới, nguồn lực mới để đưa nông nghiệp nông thôn
cả nước nói chung và Hà Tây nói riêng phát triển Những năm sau nghị quyết
10, tình hình nông nghiệp, nông thôn Hà Tây đã có sự phát triển rõ nét Với chính sách khoán gọn đến hộ nông dân, coi hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ, đã khắc phục dần tình trạng yếu kém trước đây, người nông dân tha thiết với đồng ruộng hơn và phấn khởi sản xuất Đến 1990 đại bộ phận kinh tế tập thể trong nông nghiệp chuyển sang kinh tế hộ gia đình; kinh tế cá thể phát triển mạnh mẽ và đa dạng, góp phần khai thác có hiệu quả lao động, đất đai
và nguồn vốn lớn trong nhân dân, thúc đẩy sản xuất phát triển, cải thiện đời sống nhân dân Những kết quả của quá trình sản xuất nông nghiệp trong thời gian này là thành tựu nổi bật của quá trình đổi mới, đã chinh phục được lòng dân, thuyết phục được cộng đồng bên ngoài, tạo điều kiện ổn định xã hội và tiền đề cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trang 28Bên cạnh những kết quả đạt được thì nền kinh tế nông nghiệp của tỉnh vẫn còn nhiều hạn chế Đại hội Đảng bộ lần thứ XI (tháng 3 - 1992) đánh giá: Sản xuất phát triển chưa toàn diện, kết quả ba chương trình kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng thế mạnh của tỉnh; sản xuất lương thực, thực phẩm còn có những yếu tố chưa ổn định; tốc độ phát trển kinh tế hàng năm còn ở mức thấp Cơ cấu kinh tế chuyển biến chậm Nông nghiệp còn độc canh, chưa phát triển mạnh nông sản hàng hoá Cơ sở hạ tầng, nhất là đường giao thông, thông tin liên lạc còn lạc hậu Cơ sở vật chất kỹ thuật của các ngành kinh tế, văn hoá, xã hội còn yếu kém Ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất còn hạn chế
Thực trạng nông nghiệp Hà Tây thời gian này đã đặt ra những vấn đề cần được quan tâm đó là:
- Trên lĩnh vực nông nghiệp tuy có nhiều tiến bộ, nhưng về thực chất vẫn còn mang tính độc canh, chưa quan tâm đến hiệu quả kinh tế cao, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất như (điện, thuỷ lợi, công nghệ sinh học) phục vụ cho nông nghiệp còn kém
- Nông nghiệp vẫn đang ở trình độ thấp, chưa thoát khỏi tình trạng sản xuất nhỏ, tỷ xuất hàng hoá và hiệu quả trong lao động nông nghiệp còn thấp,
kỹ thuật canh tác còn lạc hậu
- Chưa khai thác có hiệu quả những tiềm năng về nguồn nhân lực, đất đai, mặt nước, cơ sở vật chất, tiền vốn
- Sản xuất nông nghiệp chưa gắn với chế biến, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm, chăn nuôi chưa phát triển mạnh Công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ trong nông thôn mới chiếm tỷ trọng nhỏ và tăng trưởng chậm
Tỉnh uỷ Hà Tây đã nhận thức rõ những vấn đề trên còn tồn tại trong nông nghiệp và nông thôn của tỉnh Cùng với đó là những thuận lợi cơ bản của nền nông nghiệp ven đô đó là: Chính sách đất đai đã được giải quyết về
cơ bản, người nông dân được quyền sử dụng đất lâu dài; tiềm năng khoa học
Trang 29kỹ thuật, trình độ dân trí được nâng lên, có trên 20 cơ quan nghiên cứu khoa học Nông Lâm nghiệp và cơ sở quốc doanh chế biến của Trung ương ở trên địa bàn; thị trường được mở rộng, đặc biệt là thị trường đô thị phục vụ khoảng
5 triệu dân và cộng đồng người nước ngoài; nguồn vốn sẽ phong phú: Vốn tự
có, vốn Nhà nước, vốn đầu tư nước ngoài Đây sẽ là những thuận lợi cơ bản
để nông nghiệp Hà Tây khắc phục những hạn chế, chuyển dịch cơ cấu và phát triển ở giai đoạn sau
Trang 30Chương 2 CHỦ CHƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ HÀ TÂY
VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN TỪ 1996 ĐẾN 2006
2.1 Những quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã nhận định: Giai đoạn từ nay đến năm 2000 là bước rất quan trọng của thời kỳ phát triển mới - đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đại hội đã tổng kết những thành tựu và hạn chế, trên cơ sở nghiên cứu sự vận động của nông nghiệp, nông thôn nước ta trong thời kỳ đổi mới, từ đó đưa ra chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trong đó trọng tâm là công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
Đại hội xác định rõ nội dung của nhiệm vụ quan trọng này: Phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp hình thành các vùng tập trung chuyên canh,
có cơ cấu hợp lý về cây trồng, vật nuôi, có sản phẩm hàng hoá nhiều về số lượng, tốt về chất lượng, đảm bảo an toàn về lương thực trong xã hội, đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp chế biến và của thị trường trong, ngoài nước; thực hiện thuỷ lợi hoá, điện khí hoá, cơ giới hoá, sinh học hoá ; phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản với nguồn nguyên liệu và liên kết với công nghiệp ở đô thị; phát triển các ngành nghề, làng nghề truyền thống
và các ngành nghề mới; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội, từng bước hình thành nông thôn mới văn minh, hiện đại
Nghị quyết Đại hội VIII đã khẳng định rõ hơn vai trò của kinh tế hộ và khuyến khích kinh tế hộ phát triển: Kinh tế hộ gia đình ở nông thôn (làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp, dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp hoặc kết hợp làm nhiều ngành nghề) là loại hình tổ chức sản xuất có hiệu quả
về kinh tế - xã hội, tồn tại, phát triển lâu dài, có vị trí quan trọng trong sản
Trang 31xuất nông nghiệp và quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Vì vậy cần khuyến khích kinh tế hộ phát triển mạnh mẽ
Quốc hội và Chính phủ đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách thúc đẩy sự phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhằm cụ thể hoá Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng: Luật hợp tác xã
ra đời ngày 1 - 7 - 1997, với nội dung quan trọng đó là chuyển đổi các hợp tác
xã sản xuất nông nghiệp trước đây sang làm chức năng dịch vụ theo mô hình hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới, làm dịch vụ cho kinh tế hộ
Hội nghị Trung ương lần thứ 4, khoá VIII, ngày 29 - 12 - 1997, ra Nghị
quyết "Tiếp tục công cuộc đổi mới và phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, cần kiệm để xây dựng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phấn đấu hoàn thành các mục tiêu kinh tế - xã hội đến năm 2000" Hội nghị tiếp
tục bàn về phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Hội nghị Trung ương lần thứ 6 ( lần 1), khoá VIII, ngày 17 - 10 - 1998,
đã họp bàn về "Nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 1999 và vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn" Hội nghị khẳng định: "Tập trung sức cao hơn nữa cho
nhiệm vụ phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, làm cơ sở vững chắc cho sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội trong mọi tình huống, ưu tiên phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp, điều chỉnh cơ cấu, đổi mới cơ chế các ngành công nghiệp nhằm tháo gỡ khó khăn, tăng nhanh khả năng cạnh tranh của các sản phẩm" [23, tr.194] Nghị quyết Trung ương 6, khoá VIII, của Đảng có nhiều nội dung mới, trong đó vấn đề quan trọng nhất là khẳng định vai trò, vị trí quan trọng của nông nghiệp, nông thôn và nông dân trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá Lần đầu tiên vấn đề kinh tế trang trại được thừa nhận trong nghị quyết của Đảng Nghị quyết khẳng định sự tồn tại tất yếu, lâu
Trang 32phần kinh tế, nhất là kinh tế hộ, xác lập vị trí của kinh tế trang trại Đồng thời vạch hướng cho đầu tư vào nông nghiệp về khoa học, công nghệ, mở rộng quyền sử dụng đất, phát triển thị trường nông sản
Tháng 11 - 1998, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 06- NQ/TW về "Một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn" Nghị quyết đã đánh gía tình
hình nông nghiệp, nông thôn và nêu lên ba vấn đề: Quan điểm và mục tiêu phát triển; một số chủ trương, chính sách lớn và vấn đề tổ chức thực hiện Nghị quyết khẳng định: "Trong quá trình đổi mới, đường lối đúng đắn của Đảng về phát triển nông nghiệp, nông thôn đã khơi dậy nguồn động lực to lớn của nhân dân, đưa đến những thành tựu rất quan trọng Mười năm qua (1988 - 1998) sản xuất nông nghiệp phát triển tương đối toàn diện, liên tục với tốc độ cao (bình quân tăng 4,3%/năm), cơ cấu kinh tế nông thôn bước đầu chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng của công nghiệp và dịch vụ đời sống của đại
bộ phận nông dân được cải thiện Những thành tựu đó góp phần rất quan trọng vào sự ổn định và phát tiển kinh tế - xã hội đất nước" [24, tr.3- 4]
Trên cơ sở những mặt làm được, những mặt còn hạn chế, Nghị quyết
đã chú trọng nhiều hơn đến những chủ trương, chính sách lớn, nhằm phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn, đó là:
- Coi trọng thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong sản xuất nông nghiệp (gồm cả lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp) và xây dựng nông thôn, đưa nông nghiệp và kinh tế nông thôn lên sản xuất lớn là nhiệm vụ cực
kỳ quan trọng cả trước mắt và lâu dài, là cơ sở để ổn định tình hình kinh tế, chính trị, xã hội
- Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, gắn phát triển nông nghiệp với công nghiệp chế biến, ngành nghề gắn sản xuất với thị trường để hình thành
sự liên kết nông - công nghiệp - dịch vụ và thị trường ngay trên địa bàn nông thôn và trên phạm vi cả nước; gắn phát triển nông nghiệp với xây dựng nông
Trang 33thôn mới; gắn công nghiệp hoá với thực hiện dân chủ hoá và nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực ở nông thôn
- Phát huy lợi thế từng vùng và cả nước, áp dụng nhanh các tiến bộ khoa học - công nghệ để phát triển nông nghiệp hàng hoá đa dạng, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu nông sản thực phẩm và nguyên liệu công nghiệp, hướng mạnh ra xuất khẩu
- Phát triển nền nông nghiệp với nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo Tạo điều kiện khuyến khích mạnh mẽ
hộ nông dân và những người có khả năng đầu tư vào phát triển sản xuất kinh doanh nông nghiệp, công nghiệp dịch vụ ở nông thôn
Tiếp sau đó, Chính phủ ban hành Nghị quyết 09 ngày 15 - 6 - 2000 "Về một số chủ trương và chính sách về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp" Nghị quyết ra đời nhằm phát huy lợi thế to lớn của nền
nông nghiệp nước ta về tiềm năng thiên nhiên, về truyền thống làm nông nghiệp từ lâu đời, về tính cần cù, năng động, sáng tạo của nông dân, thực hiện mục tiêu xây dựng một nền nông nghiệp mạnh, phát triển bền vững, áp dụng công nghệ cao, công nghệ mới, từng bước được hiện đại hoá, vươn lên để trở thành một nền nông nghiệp với những ngành sản xuất hàng hoá lớn, có sức cạnh tranh ngày càng cao trong quá trình hội nhập quốc tế, có năng suất và thu nhập cao trên một đơn vị diện tích, đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm cho nhân dân, nguyên liệu cho công nghiệp, tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu và bảo vệ môi trường sinh thái, góp phần nâng cao đời sống nông dân,
ổn định kinh tế và xã hội đất nước
Trong Nghị quyết này, Chính phủ cho phép chuyển đổi cơ cấu cây trồng năng xuất thấp sang nuôi trồng thuỷ sản, chủ yếu là nuôi tôm có lợi hơn; chuyển một phần diện tích lúa năng suất thấp sang trồng màu, cây công nghiệp, cây ăn quả thực hiện đa dạng hoá cây trồng để tăng thu nhập trên
Trang 34Nghị quyết 09/CP của Chính phủ đã thể hiện sự đổi mới tư duy theo xu hướng sản xuất nông nghiệp hàng hoá, lấy hiệu quả làm mục tiêu, khác hẳn với tư duy tự túc lương thực bằng mọi giá, kể cả cấm chuyển đất lúa sang trồng cây trồng khác hoặc chạy theo năng suất cao, sản lượng nhiều mà không quan tâm đến chất lượng, giá cả nông sản và sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế
Trong những năm từ 1990 đến 2000, nông nghiệp, nông thôn nước ta
đã đạt được những thành tựu to lớn, cơ bản đã trở thành nền sản xuất hàng hoá với tốc độ tăng trưởng bình quân 4,2%/năm, bảo đảm lương thực quốc gia, một số mặt hàng xuất khẩu có thị phần khá lớn trong khu vực và trên thế giới, đời sống nông dân được cải thiện rõ rệt Thành tựu có ý nghĩa quan trọng là trong một thời gian không dài, từ một nền nông nghiệp tự cấp, tự túc
đã vươn lên thành một nền nông nghiệp với những ngành sản xuất hàng hoá lớn, có sức cạnh tranh ngày càng mạnh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế
Tuy vậy, nông nghiệp, nông thôn nước ta vẫn còn tồn tại những yếu kém cần khắc phục Mặc dù được coi là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong những năm cuối của thập niên 90, thế kỷ XX nhưng quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn còn chậm và có nhiều lúng túng Sản xuất hàng hoá vẫn mang tính chất thuần nông, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, phát triển thiếu tính bền vững, thiếu thị trường tiêu thụ hàng hoá
Vì vậy, Đại hội IX của Đảng (4 - 2001), tiếp tục thực hiện chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Đại hội xác định đường lối chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nước ta từ 2001 đến
2010, trong đó nông nghiệp, nông thôn được quan tâm đặc biệt Đại hội khẳng định: "Đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn theo hướng hình thành nền nông nghiệp hàng hoá lớn, phù hợp với nhu cầu,
Trang 35thị trường và điều kiện sinh thái của từng vùng, chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, cơ cấu lao động, tạo việc làm, thu hút nhiều lao động nông thôn Đưa nhanh tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất, xây dựng hợp lý cơ cấu sản xuất nông nghiệp phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn" [25, tr 171]
Phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, nhằm rút ngắn thời gian tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Đại hội chủ trương phải ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng cường sự chỉ đạo và huy động các nguồn lực cần thiết để đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Đại hội chỉ rõ những định hướng lớn về chính sách để thực hiện nhiệm vụ này đến năm
2010
Ngày 28 - 02 - 2001, Bộ Chính trị ban hành chỉ thị 63-CT/TW về "Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn", với quyết tâm phải đưa khoa học
công nghệ phục vụ trực tiếp cho phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới
Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá IX (3 - 2002)
đã ban hành ba nghị quyết quan trọng liên quan trực tiếp đến nông nghiệp và
nông thôn Đó là các nghị quyết: "Đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 - 2010"; "Tiếp tục đổi mới phát triển và nâng cao hiệu quả của kinh tế tập thể" và "Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân"
Hội nghị khẳng định: Đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Nội dung tổng quát của công nghiệp
Trang 36hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn phản ánh trên cả ba mặt: Lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
Nghị quyết xác định: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ khí hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ, trước hết
là công nghệ sinh học, đưa thiết bị, kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả,
sức cạnh tranh của nông sản hàng hoá trên thị trường
Nghị quyết Trung ương 5 (khoá IX) đã đưa ra quan niệm tổng quát về công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn; nhiệm vụ của công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn có quan hệ chặt chẽ với nhau, hoà quyện vào nhau, tác động lẫn nhau trong quá trình phát triển
Nghị quyết Trung ương 5 (khoá IX) đã làm rõ hơn những quan điểm của Đảng về công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, thể hiện
ở những vấn đề sau:
Thứ nhất, công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là một
trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phát triển công nghiệp, dịch vụ phải gắn bó chặt chẽ, hỗ trợ đắc lực
và phục vụ có hiệu quả cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
Thứ hai, ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, chú trọng phát huy
nguồn lực con người, ứng dụng rộng rãi thành tựu khoa học công nghệ, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát huy lợi thế của từng vùng gắn với thị trường để sản xuất hàng hoá quy mô lớn với chất lượng và hiệu quả cao, bảo vệ môi trường, phòng chống, hạn chế, giảm nhẹ thiên tai, phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững
Trang 37Ba là, dựa vào nội lực là chính đồng thời tranh thủ tối đa các nguồn lực
bên ngoài, phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc, phát triển mạnh mẽ kinh tế hộ sản xuất hàng hoá, các loại hình doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nông thôn
Bốn là, kết hợp chặt chẽ các vấn đề kinh tế và xã hội trong quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn nhằm giải quyết việc làm, xoá đói, giảm nghèo, ổn định xã hội và phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của người dân nông thôn, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, giữ gìn, phát huy truyền thống văn hoá và thuần phong mỹ tục
Năm là, kết hợp chặt chẽ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp,
nông thôn với xây dựng tiềm lực và thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, thể hiện trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của các ngành, các địa phương
Trên cơ sở tổng kết thực tiễn và trong bối cảnh mới - tri thức trở thành một yếu tố quan trọng của nền kinh tế, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
của Đảng (4 - 2006) đã chủ trương: Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức Trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn,
Đại hội chủ trương: Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân
Đại hội đề ra định hướng cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là: Chuyển dịch mạnh cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng tạo ra giá trị gia tăng ngày càng cao, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ khí hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, đưa nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ sinh học vào sản xuất,
Trang 38nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh, phù hợp đặc điểm từng vùng, từng địa phương
Mục tiêu đề ra là, phấn đấu đến năm 2010 giảm tỷ lệ lao động nông, lâm, ngư nghiệp xuống dưới 50% tổng số lao động xã hội và nâng cao tỷ lệ thời gian sử dụng lao động ở nông thôn lên khoảng 85%
Những quan điểm đúng đắn của Đảng về phát triển sản xuất nông nghiệp, nông thôn nêu trên đã tạo điều kiện cho các ngành, các địa phương , các chủ trang trại yên tâm đầu tư phát triển sản xuất hàng hoá, làm giàu chính đáng Những quan điểm chỉ đạo đó đảm bảo cho sự phát triển bền vững của nông nghiệp và nông thôn, góp phần quan trọng cho sự phát triển hài hoà giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa thành thị và nông thôn, giữa kinh tế và xã hội, an ninh, quốc phòng, môi trường, tăng cường khối liên minh công - nông
- trí thức, xây dựng khối đại đoàn kết và phát huy sức mạnh toàn dân tộc Đường lối đúng đắn đó của Đảng là cơ sở để Đảng bộ Hà Tây vận dụng vào thực tiễn nông nghiệp của tỉnh, tiếp tục phát triển sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới
2.2 Chủ trương của Đảng bộ Hà Tây về phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hoá , hiện đại hoá
Hà Tây, sau khi được tái lập có lực lượng lao động khá dồi dào (1.117.000/2.269.000 dân số toàn tỉnh), diện tích tự nhiên 218.723 ha (10 - 1994), có đồi núi, đồng bằng, rừng, hệ thống sông ngòi, hồ đập bao quanh Điều kiện kinh tế - xã hội, tự nhiên, nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú
đa dạng cùng với vị trí địa lý thuận lợi là điều kiện tốt để Hà Tây tranh thủ thời cơ, phấn đấu vươn lên đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế - xã hội của tỉnh, nhất là phát triển sản xuất nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới
Nông nghiệp vẫn luôn luôn là một ngành kinh tế trọng yếu của tỉnh Bởi vậy, Đại hội Đại biểu Đảng bộ Tỉnh Hà Tây lần thứ XII (tháng 4 - 1996)
đã nhấn mạnh nhiều nội dung rất quan trọng, đặc biệt là bàn định những chủ
Trang 39trương, giải pháp đúng đắn nhằm phát huy tốt hơn những tiềm năng, lợi thế sẵn có, đưa nền kinh tế - xã hội của Hà Tây phát triển với tốc độ cao hơn, có
cơ cấu hợp lý hơn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và kinh tế nông thôn
Để đạt được những chủ trương trên, đòi hỏi sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Đảng bộ và có sự phấn đấu nỗ lực của nhân dân Trong hoàn cảnh một tỉnh mới được tái lập nên vẫn còn tồn tại một số khó khăn về bộ máy tổ chức của tỉnh, lực lượng cán bộ có trình độ chuyên môn còn thiếu và có nhiều hạn chế, quy chế làm việc chưa thành nề nếp, nhất là ở cơ sở; quản lý Nhà nước
về kinh tế - xã hội còn thiếu kiến thức và kinh nghiệm nên còn nhiều lúng túng, chủ yếu là trong quản lý, sử dụng đất đai; hợp tác xã chậm đổi mới, thương nghiệp quốc doanh lúng túng trong hoạt động trước cơ chế mới, bỏ trống nhiều địa bàn, nhất là ở vùng nông thôn; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, mặc du đã có đầu tư, cải tạo nhưng nhìn chung vẫn còn thấp kém, thậm chí một số nơi xuống cấp trầm trọng, quy hoạch xây dựng nông thôn chưa được coi trọng, đời sống của nông dân còn gặp nhiều khó khăn
Dựa trên sự phân tích tình hình, đặc điểm của tỉnh, kế thừa và phát triển những giải pháp của Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 1992
- 1995, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Tây lần thứ XII (tháng 4 - 1996), đã
đề ra những mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu đến năm 2000
Đại hội chỉ rõ: Bước vào thời kỳ từ 1996 đến 2000, chúng ta có những thuận lợi Đó là: Đất nước thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, chính trị ổn định Trên địa bàn tỉnh, kinh tế - xã hội có chuyển biến, đời sống của đa
số nhân dân được cải thiện một bước Tỉnh lại có vị trí địa lý thuận lợi, có nhiều tiềm năng, gần các trung tâm khoa học kỹ thuật của Trung ương có thể khai thác, có điều kiện mở rộng giao lưu thị trường, hợp tác phát triển với thủ
Trang 40đô Hà Nội và khu tam giác kinh tế miền Bắc: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh sẽ thúc đẩy xây dựng phát triển kinh tế trong tỉnh mạnh hơn
Về phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn, Đại hội chỉ rõ: Phải quán triệt quan điểm của Đảng về công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phải thâm canh, ứng dụng khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ sinh học, chú trọng khâu giống cây, con và sinh thái môi trường; đồng thời đẩy nhanh việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động nông thôn theo hướng phát triển công nghiệp dịch vụ Quan tâm xây dựng cơ sở hạ tầng ở nông thôn, phát triển mạnh công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm, công nghiệp sản xuất tiêu dùng nhằm đảm bảo nông nghiệp và kinh tế nông thôn tiếp tục phát triển, giữ vững vai trò ổn định và cải thiện đời sống nhân dân, ổn định chính trị và xã hội, tạo cơ sở cho sự phát triển các ngành khác
Đảng bộ xác định, trong 5 năm tới, cần tiếp tục giải quyết vững chắc vấn đề lương thực, loại trừ nạn thiếu đói giáp hạt, có phần dự trữ đề phòng thiên tai Năm 2000, toàn tỉnh đạt 1 triệu tấn lương thực, bình quân đầu người
ở mức 400kg Quy hoạch một số vùng sản xuất các loại lúa gạo ngon có giá trị cao Chuyển bớt diện tích trồng lương thực năng suất quá thấp, thu hoạch bấp bênh sang nuôi trồng cây, con khác có hiệu quả hơn Bố trí lại mùa vụ,
mở rộng vụ đông chiếm 60% diện tích canh tác, phát triển cây ngô, các loại rau đậu, cây thực phẩm có chất lượng và năng suất cao, phẩm chất tốt, đặc biệt là giống lúa lai, ngô lai, bảo đảm toàn bộ diện tích trồng lúa, ngô được dùng giống mới và giống cấp một Phát triển nhanh giống chè Đài Loan và các giống cây ăn quả nhập nội ở những nơi có đất đai, khí hậu thích hợp Xây dựng các vùng chuyên canh sản xuất các loại rau quả sạch
Về công tác thuỷ lợi: Tiếp tục đầu tư củng cố đê kè, nâng cấp quản lý
và khai tác tốt các công trình tưới, tiêu đã có, xây dựng một số công trình để giải quyết cơ bản tiêu úng cho vùng trũng và những diện tích lớn chưa có công trình tưới Cố gắng làm sớm trạm bơm tiêu Khai Thái, củng cố hệ thống