1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảng bộ tỉnh bắc ninh lãnh đạo phát triển khu công nghiệp từ năm 2000 đến năm 2010

140 457 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 2,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nâng cấp cải tạo các cơ sở công nghiệp hiện có, đưa các cơ sở không có khả năng xử lý ô nhiễm ra ngoài thành phố, hạn chế việc xây dựng cơ sở công nghiệp xen lẫn khu dân cư.[23, tr.555]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN

LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN

ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 2000 ĐẾN

NĂM 2010

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2011

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN

LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN

ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2010

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Mã số : 60 22 56

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN XUÂN TÚ

HÀ NỘI – 2011

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Chương 1 ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH LÃNH ĐẠO

PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP

1.2 Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về

phát triển KCN trong những năm 2000-2005

41

Chương 2 ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH LÃNH ĐẠO

ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP TRONG NHỮNG NĂM 2005 – 2010

54

2.1 Quan điểm, chủ trương của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về

đẩy mạnh phát triển KCN từ năm 2005 đến năm 2010

54

2.2 Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh chỉ đạo đẩy mạnh phát triển

KCN từ năm 2005 đến năm 2010

70

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ KINH NGHIỆM ĐẢNG BỘ TỈNH

BẮC NINH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP TRONG NHỮNG NĂM 2000-2010

Trang 5

MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Chủ trương xây dựng các KCN là một trong những phương hướng đúng đắn, phù hợp, cần thiết trong chiến lược phát triển đất nước hiện nay Phát triển các KCN có ý nghĩa quan trọng nhằm thu hút các nguồn lực để phát triển công nghiệp thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thực hiện CNH,HĐH ở Việt Nam Các KCN không chỉ có vai trò to lớn đối với phát triển kinh tế mà nó còn củng cố quốc phòng trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay KCN là nơi thu hút vốn đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế Bên cạnh đó KCN còn là nơi thu hút và tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, góp phần giải quyết nhiều vấn đề KT - XH khác, tạo điều kiện cho chúng ta tiếp cận với kỹ thuật

và công nghệ hiện đại của các nước tiên tiến thông qua đó chúng ta học hỏi cách quản lý tiên tiến và nâng cao tay nghề của đội ngũ công nhân

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng năm 1996 đã xác định:

Hình thành các KCN tập trung (bao gồm cả KCN, KCNC) tạo địa bàn thuận lợi cho việc xây dựng các cơ sở công nghiệp mới, phát triển mạnh công nghiệp nông thôn và ven đô thị ở các thành phố, thị xã Nâng cấp cải tạo các cơ sở công nghiệp hiện có, đưa các cơ sở không có khả năng xử lý ô nhiễm ra ngoài thành phố, hạn chế việc xây dựng cơ sở công nghiệp xen lẫn khu dân cư.[23, tr.555]

Việc xây dựng các KCN được Đảng, Nhà nước xác định là một trong những chủ trương, chính sách lớn nhằm đạt được các chỉ tiêu tăng trưởng trong thời gian tới Hiện nay ở Việt Nam đã có nhiều KCN ra đời, nhiều tỉnh

và thành phố trực thuộc TW cũng đã xây dựng các KCN nhằm thực hiện mục tiêu thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước vào phát triển KCN, chuyển đổi

Trang 6

cơ cấu kinh tế của địa phương Đã có nhiều KCN đi vào hoạt động và được đánh giá có hiệu quả góp phần quan trọng vào phát triển công nghiệp, vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động ở Việt Nam nói chung và từng địa phương nói riêng Tuy nhiên, quá trình qui hoạch, xây dựng, quản lý các KCN ở nước ta vẫn còn nhiều mặt yếu kém chưa đáp ứng với đòi hỏi của hoạt động kinh tế mới mẻ này

Tỉnh Bắc Ninh có nhiều tiềm năng, lợi thế phát triển KCN Bắc Ninh là một tỉnh nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm phía Bắc (Khu vực đồng bằng Bắc Bộ) của Việt Nam Ngay từ khi tái lập tỉnh năm 1997, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã xây dựng định hướng phát triển KT - XH

là “tập trung đầu tư xây dựng phát triển các KCN, cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp…phấn đấu đưa tỉnh trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2015” [50] Trong những năm đổi mới, xây dựng KCN ở tỉnh Bắc Ninh có những bước phát triển nhanh so với nhiều địa phương trong cả nước, bước đầu giành được những thành tựu quan trọng

Việc tìm hiểu quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo phát triển KCN từ năm 2000 đến năm 2010, tổng kết những thành công, những khuyết điểm hạn chế và rút ra những bài học có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận và thực tiễn là việc làm cần thiết Nghiên cứu tốt vấn đề này sẽ giúp làm rõ lý luận và quan điểm về phát triển KCN trong quá trình CNH,HĐH Về thực tiễn đề tài sẽ góp phần đánh giá thực trạng phát triển KCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh hiện nay

và những kinh nghiệm làm cơ sở giúp cho Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh có thêm căn cứ đề ra những phương hướng, chủ trương và giải pháp nhằm phát triển một cách có hiệu quả và bền vững các KCN trên địa bàn của tỉnh trong quá trình CNH,HĐH nền kinh tế trong những năm tới, hướng nhanh tới mục tiêu trở thành một tỉnh công nghiệp vào năm 2015

Trang 7

Với ý nghĩa đó, tôi chọn vấn đề “Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo phát triển khu công nghiệp từ năm 2000 đến năm 2010” làm đề tài luận văn cao

học chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam Đây là đề tài có ý nghĩa

lý luận và thực tiễn, hy vọng góp phần nhỏ bé vào việc đẩy mạnh phát triển KCN Bắc Ninh nói riêng và cả nước nói chung

2.Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Vấn đề công nghiệp đã thu hút sự quan tâm của nhiều người, đặc biệt là từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, thực hiện đẩy mạnh CNH,HĐH Hiện nay, KCN đang được triển khai xây dựng ở hầu hết các tỉnh, thành phố trong

cả nước Ở các địa phương, mô hình kinh tế KCN đã mang lại hiệu quả KT -

XH to lớn, thúc đẩy tăng trưởng GDP, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân Trên phạm vi cả nước, có nhiều công trình, nhiều hội thảo, nhiều đề tài cấp nhà nước của các cơ quan lãnh đạo, quản lý hay các nhà khoa học trong nước bàn về công nghiệp nói chung và đề cập một số khía cạnh về phát triển các KCN

Liên quan đến đề tài có nhiều công trình nghiên cứu đề cập dưới các dạng khác nhau, trong đó có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:

Cuốn Tiềm năng Việt Nam thế kỉ XXI của Phan Văn Khải, Vũ Khoan, Võ

Hồng Phúc, Nhà xuất bản Thế giới năm 2001 Các tác giả khái quát những tiềm năng phát triển công nghiệp, KCN của các địa phương, các vùng kinh tế trọng điểm của Việt Nam Đề án nghiên cứu khoa học của Bộ Xây dựng năm

1996: Điều tra, đánh giá và đề xuất các giải pháp thiết kế quy hoạch khu

công nghiệp Việt Nam thời kỳ 1996-2010 Đề án đánh giá thực trạng công tác

quy hoạch, thiết kế, xây dựng KCN ở Việt Nam và đề xuất những giải pháp

thiết kế xây dựng KCN thời kỳ 1996-2010 Cuốn Quy hoạch, quản lý và phát

triển các khu công nghiệp ở Việt Nam của Vụ Kiến trúc Bộ Xây dựng, Nhà

Trang 8

KCN ở Việt Nam đến năm 2005, 2010 Tác phẩm Kinh nghiệm thế giới về

phát triển khu chế xuất và đặc khu kinh tế của Viện Kinh tế học, Nhà xuất bản

Chính trị quốc gia xuất bản năm 1994 Tác phẩm trình bày về quan điểm khu chế xuất của các nước trên thế giới, rút ra những bài học kinh nghiệm để vận

dụng vào Việt Nam Đề tài khoa học của Bộ Xây dựng: Cơ sở hình thành các

khu công nghiệp tập trung ở Việt Nam hoàn thành năm 1996 Đề tài khẳng

định tính tất yếu về lý luận và thực tiễn xây dựng KCN ở nước ta và những

điều kiện cần thiết để hình thành các KCN Cuốn Địa lý kinh tế - xã hội Việt

Nam, Lê Thông (chủ biên), Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành năm 2001 Cuốn

sách trình bày tổng quan về đặc điểm tổ chức lãnh thổ công nghiệp của Việt Nam, các hình thức tổ chức kinh tế lãnh thổ ở Việt Nam, khẳng định KCN là một hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp đặc biệt cần được xây dựng

Cuốn Tiềm năng kinh tế Đông Nam Bộ của Trần Hoàng Kim, Nhà xuất bản

Thống kê xuất bản năm 1995 chỉ ra lợi thế so sánh để phát triển kinh tế công nghiệp của khu vực miền Đông Nam Bộ, đưa ra phương hướng phát triển các

ngành kinh tế có lợi thế Cuốn Phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một

nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 của PGS.TSKH

Nguyễn Văn Đặng (chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội năm

2007 Cuốn Điều tra tâm lý nông dân bị thu hồi đất làm khu công nghiệp do Lưu Song Hà (chủ biên), Hà Nội, năm 2009 Cuốn Chiến lược huy động và sử

dụng vốn trong nước cho phát triển nền công nghiệp Việt Nam của Trần Xuân

Viện, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội, năm 1998

Ngoài ra còn có một số bài viết trên các báo, tạp chí có liên quan đến đề tài

Trong đó có các bài: Để góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả phát triển

khu công nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam của Nguyễn Bích Đạt; bài Một số nhận xét về quy hoạch khu công nghiệp, khu chế xuất trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Lưu Đức Hải; bài Cơ sở lý luận phát triển mô hình

Trang 9

khu công nghiệp trong quá trình công nghiệp hoá hiện nay của Trần Ngọc

Hiên; bài Tình hình phát triển cụm công nghiệp và những vấn đề đặt ra của

Lê Công Huỳnh; bài Đổi mới và tăng cường công tác xúc tiến đầu tư vào các

khu công nghiệp của Trần Ngọc Hưng; bài Khu công nghiệp, khu chế xuất với vấn đề bảo vệ môi trường và các tác động về mặt xã hội của Chu Thái Thành;

bài Một số vấn đề trong công tác cải tạo và quy hoạch phát triển các khu

công nghiệp hiện nay của GS.TS Nguyễn Hữu Dũng; bài Tổng quan về hoạt động của các khu công nghiệp, khu chế xuất của Vũ Huy Hoàng; bài Các khu công nghiệp, khu chế xuất trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập của TS Đinh Sơn Hùng Các tác giả khái quát thực trạng các KCN ở

Việt Nam, chỉ ra một số thành công, hạn chế và đề xuất ý kiến để phát triển KCN, khẳng định vai trò nổi bật của khu chế xuất trong tiến trình đẩy mạnh CNH,HĐH Các tác giả còn chỉ ra những vấn đề giải quyết trong xây dựng KCN như xây dựng nguồn nhân lực; công tác quy hoạch; công tác quản lý nhà nước và một số vấn đề lý luận xây dựng KCN

Một số luận án, luận văn nghiên cứu về KCN, tiêu biểu như: Đề tài Quy

hoạch xây dựng khu công nghiệp ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, Luận án

Tiến sĩ Kiến trúc của Nguyễn Xuân Hinh hoàn thành năm 2003 Đề tài Những

biện pháp phát triển và hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với khu công nghiệp ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Kinh tế của Lê Tuyển Cử hoàn

thành năm 2003 Luận văn Thạc sĩ của Chu Phương Anh (2003) “Hoàn thiện

quản lý nhà nước về đào tạo nghề ở Hà Nội đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Luận văn Thạc

sĩ của Bùi Vĩnh Kiên (2002) “Một số giải pháp đẩy mạnh phát triển các khu

công nghiệp tỉnh Bắc Ninh”, Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội Luận

văn Thạc sĩ của Hà Thị Là (2005) “Thực trạng và giải pháp phát triển nguồn

nhân lực cho các khu chế xuất, khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ

Trang 10

Chí Minh”, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Luận văn Thạc sĩ của

Bùi Hoàng Mai (2007) “Đổi mới quản lý nhà nước đối với các khu công

nghiệp ở Bắc Ninh”, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

Luận văn Thạc sĩ của Phạm Văn Tuyền (2000) “Nâng cao chất lượng lao

động trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá, hịên đại hoá ở tỉnh Thanh Hoá”, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Luận văn Thạc sĩ của Vũ

Đức Quyết (2006) “Phát triển các khu công nghiệp trong quá trình công

nghiệp hoá, hiện đại hoá trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh”, Trường Đại học Kinh

tế quốc dân Hà Nội Luận văn Thạc sĩ của Hoàng Thị Thu Hải (2008) “Giải

pháp hỗ trợ nâng cao chất lượng nhân lực trong các khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh”, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

Nhìn chung các công trình tập trung nghiên cứu về công nghiệp, về phát triển KCN; nghiên cứu vấn đề đổi mới cơ chế quản lý, chính sách kinh tế công nghiệp; nêu lên những vấn đề cần tiếp tục giải quyết như quản lý sử dụng đất đai, thực hiện chính sách xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nghiên cứu con đường thực trạng của quá trình CNH,HĐH; nêu lên những thành tựu, bài học và những hạn chế cần khắc phục trong xây dựng, phát triển KCN

Đối với việc nghiên cứu Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo phát triển KCN trong những năm đổi mới còn rất ít tác giả đề cập đến Cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo phát triển KCN trong những năm 2000-2010 Chính vì thế, khi nghiên cứu đề tài này sẽ không trùng với bất cứ công trình nào đã được công bố Tuy nhiên, để giúp cho việc nghiên cứu đạt được mục tiêu thì chính những kết quả của các công trình nghiên cứu trên sẽ là tài liệu, tư liệu quý để tác giả tham khảo, kế thừa

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 11

* Mục đích

Làm sáng tỏ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về phát triển KCN từ năm 2000 đến năm 2010, trên cơ sở đó rút ra một số kinh nghiệm của Đảng

bộ tỉnh Bắc Ninh về lãnh đạo phát triển KCN để vận dụng vào những năm tới

* Nhiệm vụ nghiên cứu

- Trình bày yêu cầu khách quan Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo phát triển KCN trong những năm 2000-2010

- Phân tích, luận giải làm rõ chủ trương và quá trình chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về phát triển KCN từ năm 2000 đến năm 2010

- Đánh giá thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và rút ra một số kinh nghiệm

từ quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo phát triển KCN trong 10 năm (2000-2010)

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về phát triển KCN

* Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc

Ninh về phát triển KCN

- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc

Ninh phát triển KCN trong 10 năm (2000-2010) Tuy nhiên, để bảo đảm tính

hệ thống và đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn có đề cập đến khoảng thời gian trước năm 2000 (từ khi tái lập tỉnh Bắc Ninh – năm 1997)

- Về không gian: Nghiên cứu KCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh hiện nay

Trang 12

5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

* Cơ sở lý luận

Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận, phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển công nghiệp

* Cơ sở thực tiễn

Từ thực tiễn xây dựng, phát triển KCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong những năm 2000 đến năm 2010

* Phương pháp nghiên cứu

Quá trình nghiên cứu luận văn có sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp logic và sự kết hợp 2 phương pháp này là chủ yếu, đồng thời còn sử dụng một số phương pháp khác như: thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp

để làm rõ các nội dung của luận văn

6 Ý nghĩa của luận văn

Luận văn góp phần tổng kết lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về lãnh đạo phát triển kinh tế trong những năm đổi mới Kết quả của luận văn góp phần cung cấp những căn cứ khoa học để tiếp tục bổ sung, phát triển chủ trương chính sách về phát triển KCN ở tỉnh Bắc Ninh trong thời kỳ mới

Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu để tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy, học tập các chuyên đề về Lịch sử Đảng trong các nhà trường

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo phát triển khu công nghiệp từ

Trang 13

Chương 2: Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo đẩy mạnh phát triển khu công

nghiệp trong những năm 2005 – 2010

Chương 3: Kết quả và một số kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc

Ninh lãnh đạo phát triển khu công nghiệp trong những năm 2000 - 2010

Trang 14

Chương 1 ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN

KHU CÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2005

1.1 Yêu cầu khách quan phát triển khu công nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh

từ năm 2000 đến năm 2005

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò khu công nghiệp

* Khái niệm khu công nghiệp

Cuộc cách mạng công nghiệp bùng nổ vào thế kỷ XVIII tại Anh đã tạo ra một bước chuyển biến mới trong nền kinh tế và lao động máy móc đã thay thế lao động chân tay Với sự bùng nổ của cuộc cách mạng công nghiệp, các KCN đã được hình thành và phát triển ở các nước tư bản vào những năm cuối của thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Các KCN đầu tiên được thành lập ở Manchester (Anh) vào năm 1896, ở Ý thành lập KCN Napoli vào năm 1940 Cho đến nay KCN đã xuất hiện ở hầu hết các nước trên thế giới và ở cả Việt Nam Về khái niệm KCN trên thế giới đã có nhiều khái niệm khác nhau Ở mỗi khu vực, mỗi quốc gia đều có khái niệm riêng về KCN, khu chế xuất của

mình:

Ở Thái Lan cho rằng KCN tương tự như một thành phố công nghiệp, một cộng đồng hoàn chỉnh Mỗi KCN được quy hoạch đầy đủ các tiện nghi đa dạng, hệ thống nước thải, hệ thống kết cấu hạ tầng hoàn hảo, thương mại, thông tin liên lạc, bệnh viện, trường học và khu chung cư dành cho công nhân

Tổ chức phát triển công nghiệp liên hợp quốc (UNIDO) quan niệm: Khu chế xuất là khu vực được giới hạn về hành chính, có khi về địa lý, được hưởng một chế độ thuế quan cho phép tự do nhập trang thiết bị và sản phẩm nhằm mục đích sản xuất sản phẩm xuất khẩu, chế độ thuế quan được ban

Trang 15

hành cùng với những quy định luật pháp ưu đãi, chủ yếu về thuế nhằm thu hút đầu tư nước ngoài

Còn ở Việt Nam, KCN được đề cập đến từ khi miền Bắc xây dựng khu gang thép Thái Nguyên, miền Nam khi Mỹ nguỵ xây dựng KCN Biên Hoà Quy chế KCN, khu chế xuất, KCNC ban hành kèm theo Nghị định số 36/CP ngày 24 – 4 - 1997 của Chính phủ xác định khái niệm về KCN:

KCN là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Trong KCN có thể có các doanh nghiệp chế xuất.[10]

Tuỳ theo mục đích, tính chất có thể phân chia KCN thành các loại hình cơ bản:

Khu chế xuất là KCN tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Khu chế xuất là một loại hình khá thích hợp với những quốc gia mới thực hiện nền kinh tế mở cửa như Việt Nam Nó là cầu nối nền kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới, là vùng đệm có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế phát triển

KCNC thường được xây dựng trên cơ sở viện nghiên cứu khoa học, trường đại học lớn, hệ thống các công xưởng và khu thử nghiệm hỗ trợ KCNC có vai trò to lớn, phát triển công nghệ kỹ thuật cao, thu hút công nghệ cao của nước ngoài, chuyển giao công nghệ cao và nâng cao năng lực nội sinh của các ngành công nghệ cao trong nước Mục tiêu phát triển của các KCNC thường

Trang 16

hướng tới các ngành công nghiệp mũi nhọn: điện tử, sản xuất phần mềm, công nghệ sinh học, vi điện tử…

KCN thông thường là một khu vực lãnh thổ giới hạn, được chuẩn bị chu đáo về kết cấu hạ tầng, trong đó tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống

Đặc khu kinh tế có đặc điểm là tổng hợp tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh toàn diện, công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, du lịch, tài chính, ngân hàng, nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ trong một vùng lãnh thổ riêng biệt, có diện tích lớn hơn nhiều so với KCN thông thường

và khu chế xuất Đặc khu kinh tế đóng vai trò là cửa ngõ giao lưu KT- XH của nước chủ nhà với thế giới bên ngoài

Theo Thạc sỹ Vũ Đức Quyết - Trưởng ban BQL các KCN Bắc Ninh đã đưa ra quan niệm về KCN dựa trên hoạt động thực tiễn tại các KCN Bắc Ninh: KCN là một tổ chức không gian KT - XH được xác định bởi những giới hạn nhất định, trong đó có những điều kiện thuận lợi về hạ tầng (gồm hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội), cơ chế chính sách và cơ chế quản lý nhằm tạo ra lợi thế thu hút đầu tư phát triển các doanh nghiệp sản xuất hàng công nghiệp, các hoạt động kinh doanh dịch vụ và nghiên cứu chuyển giao đạt hiệu quả cao.[46, tr.8]

Dù theo hình thức nào, KCN đều là một khu vực có ranh giới địa lý xác định, có những thuận lợi về tự nhiên, xây dựng kết cấu hạ tầng về xã hội và nhân văn để thu hút, tập trung các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp và dịch

vụ, hoạt động theo một phương thức quản lý và được áp dụng những cơ chế, chính sách ưu đãi nhất định nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao

* Đặc điểm khu công nghiệp

Trang 17

Từ năm 1986 đến nay, các KCN được xây dựng theo quy định thống nhất trên toàn quốc Là khu vực tập trung các doanh nghiệp công nghiệp, có ranh giới xác định, sử dụng chung kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội Các doanh nghiệp trong KCN được hưởng một số quy chế ưu đãi riêng của Nhà nước và địa phương, có BQL thực hiện quản lý nhà nước thống nhất theo Nghị định 36/CP

KCN có môi trường đầu tư thông thoáng hơn các vùng khác KCN được Nhà nước dành cho những ưu đãi trong chính sách thuế, tài chính, thủ tục hải quan, hành chính, giá thuê đất…Các KCN chủ yếu là hoạt động kinh tế hướng ngoại, bao gồm sản xuất công nghiệp, chế biến phục vụ sản xuất, hoạt động xuất khẩu và kinh doanh dịch vụ Các KCN thường nằm ở vị trí thuận lợi về giao thông, có điều kiện phát triển sản xuất thương mại KCN là khu vực tập trung tương đối nhiều xí nghiệp công nghiệp trong một khu vực có ranh giới

rõ ràng, có hàng rào ngăn cách với xung quanh

Hầu hết các doanh nghiệp KCN Việt Nam được hình thành trong thời kỳ đổi mới cơ chế quản lý nền kinh tế từ bao cấp sang cơ chế thị trường có sự định hướng và quản lý của Nhà nước và ngày càng tiến sâu vào hội nhập khu vực, quốc tế nên các KCN được xây dựng ngày càng hoàn chỉnh hơn Chất lượng công trình hạ tầng ngày một cao Các KCN đang được hoàn chỉnh nhằm đáp ứng đa dạng nhu cầu đầu tư trong nước và nước ngoài, thích ứng các loại hình công nghệ sản xuất

* Vai trò khu công nghiệp

Xây dựng phát triển KCN ở Việt Nam là một giải pháp nhằm sử dụng và phát huy vai trò, tác dụng to lớn của hình thức kinh tế tư bản chủ nghĩa nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nước có nền kinh tế chậm phát triển Lênin coi chủ nghĩa tư bản nhà nước là một mắt xích trung

Trang 18

xích trung gian có thể tạo điều kiện thuận lợi cho bước chuyển từ chế độ gia trưởng, từ nền tiểu sản xuất lên chủ nghĩa xã hội”[39, tr.276] Phát triển kinh

tế tư bản nhà nước sẽ giúp chúng ta hình thành một hệ thống kiểm kê kiểm soát toàn bộ nền kinh tế quốc dân “Hiện nay, thực hiện chủ nghĩa tư bản nhà nước có nghĩa là thực hiện chế độ kiểm kê kiểm soát mà trước đây các giai cấp tư bản đã thực hiện”[40, tr.311] Nó tạo cơ sở cho việc đẩy lùi và ngăn chặn những tiêu cực trong các cơ sở kinh tế nhất là kinh tế nhà nước Trong khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, kinh tế tư bản nhà nước không chỉ đem lại nguồn vốn, chuyển giao công nghệ, mà thậm chí còn quan trọng hơn

là đem vào cách quản lý kinh tế thị trường hiện đại Sử dụng hình thức kinh tế

tư bản nhà nước chẳng những chúng ta thu hút được tư bản nước ngoài, mà còn thu hút được tư bản trong nước bằng cách cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, hùn vốn liên doanh và qua đó thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, ở Việt Nam phải xây dựng “…nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học và kỹ thuật tiên tiến”[44, tr.588] Thực hiện mục tiêu đó ta phải tiến hành công nghiệp hoá là một yêu cầu khách quan Người còn chỉ rõ: “Muốn cho chủ nghĩa cộng sản thực hiện được, cần phải có kỹ nghệ…”[41, tr.272] Người cũng khẳng định những điều kiện ấy chúng ta vẫn chưa có đủ Do vậy, Việt Nam phải phát triển khoa học - công nghệ, tận dụng những thành tựu khoa học của các nước tiên tiến, hợp tác giao lưu với các nước phát triển trên thế giới Hồ Chí Minh đã khẳng định:

“Nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực: a) Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình b) Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay, đường xá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế.” [42, tr.470]

Trang 19

Hồ Chí Minh luôn bày tỏ quan điểm mong muốn được hợp tác với các nhà tư bản nước ngoài trên tinh thần bình đẳng, hai bên cùng có lợi, vừa xây dựng mối quan hệ hữu nghị, vừa tranh thủ sự giúp đỡ của họ để phát triển kinh tế: “Chúng tôi bao giờ cũng mong muốn kiến thiết lại nước chúng tôi với

sự giúp đỡ của tư bản và các nhà chuyên môn Pháp để mưu lợi ích chung cho

cả hai dân tộc [43, tr.19] Muốn vậy chúng ta phải xây dựng các KCN, tạo môi trường thông thoáng nhằm thu hút các nhà tư bản bỏ vốn đầu tư vào Việt Nam

Trong bối cảnh mở rộng giao lưu hợp tác khu vực và quốc tế ngày càng sâu rộng, Đảng ta chủ trương phát triển kinh tế tư bản nhà nước được sử dụng

ở các khu vực: công nghiệp, xây dựng, dịch vụ, nông nghiệp nông thôn…trong đó hình thức KCN, khu chế xuất , KCNC

Lịch sử hình thành, phát triển các KCN cho thấy rằng, sự ra đời của các KCN gắn liền với quá trình xuất khẩu tư bản của các nước tư bản phát triển sang các nước đang phát triển KCN có vai trò to lớn đối với phát triển KT -

XH của các nước đang phát triển Các KCN ra đời góp phần quan trọng tạo môi trường đầu tư thuận lợi thu hút nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài Ở các KCN, nhà nước sẽ có điều kiện cải tiến và hoàn thiện hệ thống chính sách, tạo nên hành lang pháp lý thuận lợi, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, hiện đại, vai trò đó giúp KCN trở thành điểm thu hút vốn đầu tư trong nước và ngoài nước KCN hấp thu nhanh nhất chính sách mới phát triển hiệu quả nền kinh tế quốc dân KCN là nơi thí điểm những chính sách kinh tế mới, đặc biệt là những chính sách về kinh tế đối ngoại và luôn đi tiên phong trong phát triển kinh tế quốc dân

KCN là nơi tiếp cận, đổi mới và chuyển giao có hiệu quả những thành tựu khoa học công nghệ, tăng năng suất lao động KCN được hình thành dựa trên

cơ sở khoa học và theo một mô hình tập hợp các doanh nghiệp cùng ngành

Trang 20

Do vậy sẽ liên kết với nhau trong hấp thu công nghệ và trình độ quản lý tiên tiến, hiện đại trên thế giới Nhờ áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ, các doanh nghiệp giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường trong nước, khu vực và trên thế giới

KCN là nơi tạo việc làm và nâng cao chất lượng lao động Xây dựng và phát triển các KCN để tạo thêm nhiều việc làm là một trong những mục tiêu của các nước đang phát triển Làm việc trong các KCN, người lao động được tiếp cận với tác phong công nghiệp làm việc khẩn trương và theo một dây chuyền tiên tiến cùng kỷ luật lao động cao buộc các nhà quản lý và người lao động phải rèn luyện và không ngừng học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn KCN là cầu nối hội nhập nền kinh tế nội địa với thế giới KCN thường gắn liền với các điều kiện thuận lợi cả về vị trí địa lý và các dịch vụ đi kèm cùng với các chính sách ưu đãi Đó là điều kiện thuận lợi thu hút doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ là cầu nối tốt nhất cho doanh nghiệp trong nước tiếp cận với thế giới

KCN góp phần quan trọng vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy đổi mới cơ chế quản lý kinh tế KCN hình thành và phát triển sẽ góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp

và dịch vụ, làm giảm tỷ trọng nông nghiệp trong nền kinh tế Số lượng, chủng loại, chất lượng hàng hoá và kim ngạch xuất khẩu vừa phản ánh sức cạnh tranh vừa phản ánh năng lực hội nhập và khả năng cân bằng ngoại thương của nền kinh tế Để tạo môi trường thông thoáng, Nhà nước thực hiện cơ chế “một cửa, tại chỗ” Thực hiện cơ chế này sẽ tạo nên bước đột phá trong cải thiện môi trường đầu tư, tạo nên sức hấp dẫn của các KCN và tạo nên sức lan toả, tác động làm thay đổi cơ chế quản lý của toàn bộ nền kinh tế

KCN có vai trò quan trọng thúc đẩy quá trình CNH,HĐH đất nước Các

Trang 21

phát triển đồng đều giữa các vùng Với tư cách là hạt nhân hình thành những

đô thị mới, KCN góp phần to lớn cải tạo, xây dựng mới các đô thị, phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật, mở rộng hệ thống dịch vụ công cộng

1.1.2 Điều kiện tự nhiên, đặc điểm KT – XH ở Bắc Ninh tác động tới phát triển khu công nghiệp

* Điều kiện tự nhiên

Bắc Ninh là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ - khu vực kinh tế năng động, thuộc tam giác kinh tế trọng điểm Hà Nội - Hải Phòng

- Quảng Ninh; có các tuyến đường giao thông chính thuận lợi bao gồm: Quốc

lộ 1A nối Lạng Sơn – Hà Nội - Thành phố Hồ Chí Minh, Quốc lộ 18, Quốc lộ

38, Quốc lộ 3 mới, vành đai 3 và 4 Hà Nội, đường sắt liên vận Hà Nội - Lạng Sơn – Trung Quốc, đường sắt cao tốc Yên Viên – Cái Lân, hệ thống đường sông trên sông Cầu, sông Đuống, sông Thái Bình nối với các cảng sông, cảng biển trong khu vực Dân số hơn 1 triệu người, nguồn nhân lực của Bắc Ninh khá dồi dào, có tới 50,5% thành phần dân số có khả năng lao động Bắc Ninh

là vùng đất có truyền thống văn hiến, khoa bảng trình độ dân trí tương đối cao,

đã hoàn toàn xoá mù chữ, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học thi đỗ vào đại học và cao đẳng khá cao Ngoài ra, Bắc Ninh còn nằm gần các nguồn năng lượng lớn như thuỷ điện Hoà Bình, nhiệt điện Phả Lại, nhiệt điện Uông

Bí và than Quảng Ninh

Bảng 1.1 Chiều dài quốc lộ

Hoàn thiện đủ 6 làn xe có rải phân cách, rào chắn theo tiêu chuẩn đường cao tốc

Trang 22

2 Quốc lộ

18

26,2 - Bắc Ninh - Phả Lại: Nâng

cấp, mở rộng theo tiêu đường cấp 3 Nâng cấp đoạn từ

Giai đoạn 2003 – 2005 Giai đoạn 2006 – 2010

1 ĐT 280 24 Nâng cấp rải nhựa 7 Km từ

3 ĐT 282 30 Nâng cấp 15 Km đoạn Km 9 -

Km 24 lên cấp 3 đô thị

Nâng cấp 15 Km đoạn còn lại

Trang 23

4 ĐT 283 22 Làm mặt đường nhựa 8 Km đoạn

từ Km 4 - Km12 T/c cấp 4 Nâng cấp theo TC đường đô thị 4

Km từ Km 0 –Km 4

Nâng cấp 3,5 Km đoạn từ Km12,5 - Km16 lên

cấp 4

5 ĐT 286 18,0 Nâng cấp 10,5 Km đoạn Từ

Km 0 - Km 10,5 nên cấp 4 Thảm 2,5 km theo tiêu chuẩn đường đô thị

7 ĐT 291 27 Nâng cấp rải nhựa 8 Km đoạn từ

Km 15 - Km 23 T/c cấp 4 Xây cầu Chì và 4 km đường đầu cầu

Nâng cấp 12 Km đoạn Km 0 - Km12 lên cấp 4, xây cầu Đồng

12 ĐT 285 23,7 Làm mặt đường nhựa 18,5 Từ Km Nâng cấp 7 Km đoạn từ Km 3 -

Trang 24

5,2 - Km 23,7 theo T/c cấp 4; Xây mới bến phà Thi và 1,7 km đường dẫn

Km 10 lên T/c cấp 3

Nguồn: Sở Giao thông vận tải

Bảng 1.3 Bảng phụ lục các tuyến đường đô thị

Nguồn: Sở Giao thông vận tải

Bảng 1.4 Bảng phụ lục các tuyến đường gom và đường ven Khu công nghiệp

Trang 25

Tài nguyên đất: Bắc Ninh có tổng diện tích tự nhiên khoảng 82.271,2 ha, chiếm 0,25% diện tích đất tự nhiên cả nước Trong đó: diện tích đất nông nghiệp theo thống kê đất đai đến ngày 01/01/2009 chiếm 60,03%, đất ở chiếm 12,05%, đất chuyên dùng chiếm 20,30%, đất chưa sử dụng chiếm 0,77% Theo điều tra khảo sát, toàn tỉnh Bắc Ninh hiện có 15 loại đất chính bao gồm: đất cát ven sông, đất phù sa được bồi của hệ thống sông Thái Bình, đất xám bạc màu trên phù sa cổ [47, tr.5]

Tài nguyên khoáng sản: Bắc Ninh nghèo về tài nguyên khoáng sản, ít về chủng loại, chủ yếu chỉ có vật liệu xây dựng như đất sét làm gạch, ngói, gốm

ở Quế Võ và Tiên Du; đất sét làm gạch chịu lửa ở thành phố Bắc Ninh, đất cát kết với trữ lượng khoảng 1 triệu tấn ở Thị Cầu - Bắc Ninh, đá sa thạch ở Vũ Ninh - Bắc Ninh với trữ lượng khoảng 300.000m3 Ngoài ra, còn có than bùn

ở Yên Phong với trữ lượng 60.000 – 200.000 tấn [47, tr.6-7]

Tài nguyên nước: Bắc Ninh có 3 hệ thống sông lớn chảy qua, gồm sông Đuống, sông Cầu và sông Thái Bình Trong đó:

Sông Đuống, có chiều dài 42km nằm trên đất Bắc Ninh, tổng lượng nước bình quân 31,6 tỷ m3 Mực nước cao nhất tại bến Hồ tháng 8/1945 là 9,64m, cao hơn so với mặt ruộng là 3 - 4m Sông Đuống có hàm lượng phù sa cao Sông Cầu, tổng chiều dài 290km với đoạn chảy qua tỉnh Bắc Ninh dài 70km, lưu lượng hàng năm khoảng 5 tỷ m3 Sông Cầu có lượng nước trong mùa lũ cao từ 3 - 6m, cao nhất là 8m, trên mặt ruộng 1- 2m

Sông Thái Bình, thuộc loại sông lớn của miền Bắc có chiều dài 385km đoạn chảy qua tỉnh Bắc Ninh dài 17km

Trang 26

Ngoài ra trên địa bàn tỉnh còn có các hệ thống sông ngòi nội địa như sông Ngũ Khê, sông Dâu, sông Đông Côi, sông Bùi, sông Đông Khởi, sông Đại Quảng Bình

Tổng lưu lượng nước mặt của Bắc Ninh ước khoảng 177,5 tỷ m3, trong đó lượng nước chủ yếu chứa trong các sông là 176 tỷ m3, được đánh giá là khá dồi dào Trữ lượng nước ngầm cũng khá lớn, trung bình 400.000 m3/ngày, tầng chứa nước cách mặt đất trung bình từ 3-5m và có bề dày khoảng 40m, chất lượng tốt [47, tr.6]

* Các điều kiện, yếu tố nguồn lực KT – XH cho phát triển khu công nghiệp

Nguồn nhân lực cho phát triển KCN: Theo số liệu điều tra đến năm 2010, dân số toàn tỉnh có 1.034.691 người Trong đó nam giới là 510.866 người chiếm 49,37%, nữ giới là 523.825 người chiếm 50,63% Dân số thành thị là 247.174 người chiếm 23,89%, nông thôn là 787.517 người chiếm 76,11% Mật độ dân số trung bình toàn tỉnh hiện nay là 1.257 người/km2 Toàn tỉnh hiện nay có 638.523 lao động trong độ tuổi lao động, chiếm 61,71% tổng dân

số Nguồn nhân lực của tỉnh trẻ nhưng chưa qua đào tạo chiếm tỷ lệ lớn Tỷ lệ lao động qua đào tạo tính đến năm 2009 chiếm 37,8% trong tổng số lao động trong độ tuổi Trong đó lao động nông nghiệp qua đào tạo chỉ có 19,2% Lao động trong lĩnh vực công nghiệp đã qua đào tạo nghề là 41,5% Lao động trong lĩnh vực dịch vụ đã qua đào tạo chiếm tỷ lệ cao nhất 72,7%.[47, tr.7] Theo số liệu thống kê năm 2009 số lao động có việc làm là 592.246 người chiếm 89% so tổng lực lượng lao động Tỷ lệ lao động thiếu việc làm chiếm 3,47% trên tổng số lực lượng lao động của tỉnh Năm 2010 tỉnh đã giải quyết được 25.770 lao động có việc làm mới, tăng gấp 113,67% so với năm 2009 [47, tr.7]

Trang 27

Bảng 1.5 Dự báo dân số tỉnh Bắc Ninh

II Nhân khẩu

trong tuổi lao động

Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư

Bắc Ninh có nguồn nhân lực dồi dào Hiện nay, tỉnh Bắc Ninh quyết tâm xây dựng hệ thống đào tạo chất lượng cao cho ngành công nghiệp đang phát triển của tỉnh và phục vụ cho các mục tiêu phát triển KT – XH của tỉnh

Khả năng cung cấp nguyên liệu đầu vào tại địa phương cho phát triển KCN: Mặc dù Bắc Ninh là tỉnh nằm trong vùng Đồng bằng sông Hồng đất đai

có chất lượng tốt, mạng lưới sông, ngòi, ao hồ dày đặc rất thuận lợi cho phát triển ngành nông nghiệp đa dạng; tuy nhiên rất khó hình thành các vùng chuyên canh lớn vì quỹ đất sử dụng cho nông nghiệp ít, đang dần bị thu hẹp

Trang 28

nông, lâm sản tại chỗ không nhiều để phát triển công nghiệp chế biến với quy

mô lớn Tuy nhiên, do hệ thống giao thông thuận tiện kết nối với nhiều tỉnh thành phía Đông Bắc có tiềm năng về nông sản, chăn nuôi, chính vì điều đó vẫn có thể phát triển ngành công nghiệp chế biến trên cơ sở các nguồn nguyên liệu ngoài tỉnh

Bắc Ninh còn nằm gần các nguồn năng lượng lớn như thuỷ điện Hoà Bình, nhiệt điện Phả Lại, nhiệt điện Uông Bí và than Quảng Ninh

Quan hệ kinh tế quốc tế của nước ta tạo điều kiện cho phát triển KCN: Việt Nam đã và đang hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới, đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Quá trình hội nhập tạo điều kiện cho Việt Nam tiếp cận nhanh hơn, dễ dàng hơn với thị trường thế giới và khu vực; đồng thời cũng chịu sự tác động mạnh mẽ của thị trường thế giới

Trong thập kỷ 90 của thế kỷ trước, toàn cầu hoá và tự do hoá đã tạo điều kiện cho các dòng FDI đến với các nền kinh tế đang phát triển Chỉ tính trong

8 năm 1991 – 1998, dòng vốn FDI đến các nước đang phát triển tăng 6 lần Hiện nay, 3/4 vốn FDI trên thế giới là đầu tư lẫn nhau giữa các nước phát triển, do có sự liên kết giữa các công ty đa quốc gia của Mỹ - Nhật Bản – Tây Âu; 2/3 số vốn FDI còn lại bị thu hút vào các thị trường đầu tư lớn như Trung Quốc, Brazil, Mexico, Argentina, Ba Lan, Chile, Malaysia, Venezuela, Nga, Thái Lan, trong khi đó các nước có thu nhập thấp chỉ tiếp nhận được khoảng 7%, bằng 1/10 của 10 nước trên Hàn Quốc và các nước ASEAN đã

và đang cải thiện môi trường thu hút đầu tư FDI nhằm vươn lên trên các nước khác, coi đó là giải pháp chiến lược phục hồi và phát triển kinh tế

Chính điều này tạo nên sự cạnh tranh và thách thức to lớn đối với Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh môi trường đầu tư Việt Nam hiện nay so với các

Trang 29

nước xung quanh bị đánh giá là mất dần tính cạnh tranh và độ rủi ro cao hơn các nước trong khu vực Rõ ràng đầu tư nước ngoài có vai trò rất lớn đối với

sự phát triển kinh tế đất nước mà trước hết là trong công nghiệp Quá trình toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế mở ra cơ hội để thu hút FDI, nhưng cũng là một quá trình cạnh tranh để thu hút nguồn vốn này

Hội nhập kinh tế quốc tế kéo theo việc mở cửa thị trường, hướng tới một sân chơi bình đẳng hơn, điều đó mang lại thách thức đối với công nghiệp Việt Nam (trong đó có tỉnh Bắc Ninh) để nâng cao năng lực cạnh tranh, thâm nhập các thị trường thế giới, đồng thời cạnh tranh để khai thác thị trường trong nước, tham gia vào mạng lưới sản xuất, mạng lưới phân phối, mạng lưới công nghiệp toàn cầu và khu vực

1.1.3 Tình hình phát triển khu công nghiệp ở Bắc Ninh từ khi tái lập tỉnh (1997) đến năm 2000, đặt ra yêu cầu mới về phát triển khu công nghiệp

* Chủ trương của Đảng về xây dựng và phát triển khu công nghiệp

Đại hội lần thứ VI của Đảng xác định “nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát của những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình KT – XH, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo” [24, tr.42] và

“giải phóng mọi năng lực sản xuất hiện có, khai thác mọi khả năng tiềm tàng của đất nước và sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ quốc tế để phát triển mạnh

mẽ lực lượng sản xuất” [24, tr.47]

Chủ trương xây dựng KCN ở Việt Nam ra đời cùng với đường lối đổi mới của Đảng năm 1986 và được bổ sung, phát triển trong các nghị quyết tiếp sau của Đảng Trong nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, chủ trương xây dựng các KCN được hình thành trên cơ sở tư duy mới của Đảng

Trang 30

về xây dựng cơ cấu kinh tế vùng, miền, phát triển các vùng kinh tế trọng điểm Đảng chủ trương chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho hình thành các KCN, huy động nguồn vốn, đẩy mạnh hợp tác kinh tế quốc tế “Công bố chính sách khuyến khích nước ngoài đầu tư vào nước ta dưới nhiều hình thức, nhất là đối với các ngành và cơ sở đòi hỏi kỹ thuật cao, làm hàng xuất khẩu” [24, tr.85] Tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt Nam ở nước ngoài, các nhà đầu tư nước ngoài, các tổ chức kinh tế nước ngoài vào nước ta đầu tư, kinh doanh Trong Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành TW lần thứ sáu (3/1989), Đảng ta chỉ rõ: Khẩn trương nghiên cứu phương án, tập trung làm thử ở một vài nơi để rút kinh nghiệm và tạo điều kiện mở rộng việc xây dựng các khu chế xuất, đặc khu kinh tế Nghị quyết trên đã mở ra một bước phát triển trong việc xúc tiến xây dựng các KCN ở Việt Nam Chủ trương xây dựng các KCN của Đảng ta tiếp tục được khẳng định trong các văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII

Văn kiện Đại hội lần thứ VII chỉ rõ: trong những năm 1991-1995, quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân ta là đưa đất nước “Vượt qua khó khăn thử thách,

ổn định và phát triển KT - XH, tăng cường ổn định chính trị, đẩy lùi tiêu cực

và bất công xã hội, đưa nước ta ra khỏi tình trạng khủng hoảng hiện nay” [25, tr.60] Thực hiện mục tiêu đó, phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ cơ cấu đầu tư,

cơ cấu ngành, cơ cấu vùng: “Tập trung đầu tư cả chiều rộng lẫn chiều sâu, tạo chuyển biến rõ nét về cơ cấu kinh tế, trước hết là đối với những ngành và vùng trọng điểm, có hiệu quả nhanh” [25, tr.62]

Đảng đưa ra nhiệm vụ kinh tế trong những năm 1991-1995: “Tiếp tục xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế vùng phù hợp với chiến lược chung của cả nước”[25, tr.65] Để thu hút vốn đầu tư nước ngoài xây dựng các KCN, Đảng chỉ rõ: “Có chính sách thu hút tư bản nước ngoài đầu tư vào nước ta, trước hết vào lĩnh vực sản xuất, dưới nhiều hình thức”[25, tr.64]

Trang 31

Đảng chủ trương xây dựng môi trường đầu tư thông thoáng, tạo môi trường

và điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài đầu tư, hợp tác kinh doanh: “Xây dựng thể chế đồng bộ, ổn định, thuận tiện và tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh; thống nhất đầu mối giải quyết các thủ tục và yêu cầu đầu tư của người nước ngoài Bảo đảm những điều kiện thiết yếu về cơ sở hạ tầng, phương tiện làm việc và sinh hoạt cho người nước ngoài, trước hết là ở khu chế xuất và những địa bàn đầu mối trong quan hệ kinh tế đối ngoại…”[26, tr.32]

Trên cơ sở đó, Chính phủ triển khai xây dựng khu chế xuất ở những thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hải Phòng, tỉnh Quảng Ninh…có cơ chế chính sách thông thoáng để thu hút nhiều hơn nguồn vốn đầu tư nước ngoài “Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư cả về pháp luật, quy chế lẫn điều kiện sinh hoạt và làm việc của các nhà đầu tư nước ngoài”[27, tr33-34] Đồng thời “Quy hoạch các vùng, trước hết là các địa bàn trọng điểm, các khu chế xuất, khu kinh tế đặc biệt, KCN tập trung”[27, tr.33]

Hội nghị Ban Chấp hành TW lần thứ 7 (Khoá VII), Đảng nhận thức rõ hơn vị trí vai trò của mô hình kinh tế KCN Xây dựng KCN là một chủ trương cần tổ chức thực hiện khẩn trương, trước mắt là ở những vùng, những địa bàn

có nhiều lợi thế và phát huy hiệu quả nhanh

Như vậy trong những năm 1986-1995, Đảng đã đưa ra chủ trương xây dựng KCN Đây là sự nhận thức đúng đắn về cơ cấu kinh tế lãnh thổ Đảng ta tập trung đầu tư cho các vùng kinh tế trọng điểm, khai thác tiềm năng , lợi thế của các vùng đó Đẩy mạnh hợp tác, liên kết kinh tế giữa các vùng trong nước

và với nước ngoài Xây dựng môi trường thông thoáng, thu hút đầu tư nước ngoài Xúc tiến xây dựng các KCN đặc biệt là những vùng kinh tế trọng điểm

* Chủ trương và giải pháp xây dựng khu công nghiệp ở Bắc Ninh từ khi tái lập tỉnh (1997) đến năm 2000

Trang 32

Tỉnh Bắc Ninh được thành lập từ năm 1831, bao gồm cả huyện Gia Lâm, Đông Anh (Hà Nội) và Văn Giang (Hưng Yên) ngày nay Sau năm 1963, do yêu cầu phát triển kinh tế và đấu tranh giải phóng miền Nam, tỉnh Bắc Ninh được hợp nhất với tỉnh Bắc Giang thành tỉnh Hà Bắc Sau gần 34 năm hợp nhất, tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khoá IX (10/1996) đã có Nghị quyết chia tỉnh Hà Bắc thành hai tỉnh: Bắc Giang và Bắc Ninh để phù hợp với đường lối phát triển KT – XH trong thời kỳ mới Ngày 1/1/1997, tỉnh Bắc Ninh đi vào hoạt động theo đơn vị hành chính mới

Trước khi tái lập tỉnh, trong định hướng phát triển KT – XH tỉnh Hà Bắc, Bắc Ninh là vùng kinh tế nông nghiệp (chủ yếu trồng lúa, thuỷ sản và chăn nuôi) Việc đầu tư phát triển các cơ sở sản xuất công nghiệp chủ yếu tập trung xung quanh thị xã Bắc Giang Vì thế, sau khi tái lập tỉnh, các cơ sở công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh rất nhỏ, yếu Ngoài các nhà máy kính Đáp Cầu, may Đáp Cầu, thuốc lá Bắc Sơn là cơ sở sản xuất công nghiệp quốc doanh TW, các cơ sở sản xuất của tỉnh: Cơ khí Đáp Cầu, các xí nghiệp vôi Đáp Cầu…đã rơi vào tình trạng ngừng sản xuất; các làng nghề sắt Đa Hội, giấy Phong Khê, đồng nhôm Đại Bái…có dấu hiệu phục hồi do tác động của

cơ chế, chính sách mới

Tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Bắc lần thứ IX năm 1996 đã đưa vào văn kiện một số định hướng phát triển kinh tế và đó chính là nhân tố ban đầu cho phát triển các KCN:

Nhiệm vụ trọng tâm của toàn Đảng bộ là tập trung sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp, các ngành, động viên cán bộ, đảng viên và nhân dân huy động mọi nguồn lực, phát huy sức mạnh tổng hợp của các vùng, các thành phần kinh tế, khẩn trương đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng vật chất

kỹ thuật và cơ sở hạ tầng, đẩy nhanh nhịp độ phát triển và chuyển dịch

cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tốc độ phát triển công nghiệp, tiểu

Trang 33

thủ công nghiệp và dịch vụ; phát triển mạnh sản xuất hàng hoá, tạo điều kiện tăng thu ngân sách Phấn đấu đến năm 2000 đạt tỷ trọng cơ cấu kinh

tế trong GDP là: nông lâm nghiệp 40,7%, công nghiệp 26,7% và dịch vụ 32,6% [29, tr.66]

“Khẩn trương xây dựng quy hoạch các KCN tập trung theo hành lang đường 1A, đường 18, chuẩn bị mọi điều kiện đón bắt thời cơ xây dựng các cơ

sở công nghiệp có công nghệ hiện đại về chế biến nông sản xuất khẩu, sản xuất vật liệu xây dựng cao cấp, lắp ráp ôtô, xe máy, đồ điện tử và may mặc”[29, tr.72]

Sớm quy hoạch một số KCN, dịch vụ tập trung ở những địa bàn thuận lợi như: Bắc Ninh, Tiên Sơn, Bắc Giang, Quế Võ Huy động các nguồn vốn tại địa phương để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu như: đường giao thông, điện nước…Cải tiến thủ tục hành chính trong việc liên doanh, liên kết, bảo đảm thuận lợi, nhanh gọn, đúng pháp luật Ban hành các quy định cụ thể có sức hấp dẫn nhằm thu hút các nguồn vốn đầu tư ở trong và ngoài nước [29, tr.74]

Như vậy đến năm 1996, Hà Bắc mới đưa ra chủ trương xây dựng và phát triển KCN ở Bắc Ninh, Tiên Sơn, Quế Võ nhưng đến 1/1/1997 tỉnh Hà Bắc được chia tách thành hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang

Thực trạng KT – XH tỉnh Bắc Ninh khi tái lập (theo số liệu thống kê năm 1996):

- Cơ cấu kinh tế: công nghiệp 24,1%; nông nghiệp 46,0%; dịch vụ 29,4%

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế là: 8,3%

Bắc Ninh xuất phát từ nền kinh tế thấp, kém phát triển, nông nghiệp là chủ yếu Các cơ sở nền móng cho sản xuất công nghiệp còn yếu, tập trung chủ

Trang 34

yếu trong khu vực quốc doanh TW và ngoài quốc doanh Khu vực ngoài quốc doanh chủ yếu gắn với làng nghề truyền thống song lại là khu vực hạn chế nhiều về năng lực và khả năng đổi mới công nghệ Khu vực quốc doanh tuy

có tỷ trọng lớn nhưng do nhiều năm duy trì sản xuất từ thời bao cấp lại không được tổ chức lại trong thời kỳ đổi mới nên đã bộc lộ căn bệnh hiểm nghèo về giai đoạn cuối, khó có thể trụ vững làm trụ cột tiếp cho những năm sau Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mới có một cơ sở kính Việt - Nhật đang trong giai đoạn xây dựng chuẩn bị sản xuất

Để định hướng phát triển, Bắc Ninh đã tiến hành công tác quy hoạch tổng thể phát triển KT - XH đến năm 2010 UBND tỉnh đã có Quyết định số 48/1998/QĐ-VB ngày 06/7/1998 phê duyệt quy hoạch trong đó xác định rõ định hướng phát triển như sau:

Bắc Ninh phấn đấu đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng GDP, giai đoạn

1996 - 2000 đạt 11,2% Giai đoạn 2001 - 2010 nhịp độ tăng trưởng bình quân GDP hàng năm là 13% Cơ cấu kinh tế năm 2000: nông nghiệp đạt 37%; công nghiệp đạt 25,6%; dịch vụ đạt 37,4% Cơ cấu kinh tế năm 2010: nông nghiệp đạt 17,2%; công nghiệp đạt 40,4%; dịch vụ đạt 42,4% và đưa tỷ lệ đô thị hoá đạt 40%

Phương hướng chỉ đạo là tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch

vụ, trong đó coi trọng các ngành sản xuất sản phẩm xuất khẩu, thực phẩm cung cấp cho đô thị, cụm công nghiệp Về công nghiệp: Phát triển 2 KCN tập trung Quế Võ và Tiên Sơn với các ngành công nghiệp then chốt; hoàn thiện

và phát triển các cụm công nghiệp, đặc biệt là ở các làng nghề truyền thống; Đầu tư có trọng điểm các công trình theo thứ tự ưu tiên Xây dựng và phát triển các xí nghiệp công nghiệp có quy mô vừa và nhỏ nhằm thu hồi vốn nhanh.[56, tr.2]

Trang 35

phát triển các KCN được coi là giải pháp hàng đầu Phát triển các KCN theo hình thức đa dạng, trong mối liên hệ hữu cơ KCN tập trung - cụm công nghiệp - làng nghề; đồng thời phát triển cơ sở hạ tầng một cách toàn diện trên

cả 3 loại hình giao thông vận tải, đô thị và nông thôn Với định hướng đó, Tỉnh uỷ đã có các Nghị quyết chuyên đề chỉ đạo về xây dựng, phát triển KCN, cụm công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp:

- Xây dựng KCN, cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trở thành lực lượng công nghiệp mạnh, đủ sức cạnh tranh với hiệu quả cao Kết hợp và gắn phát triển các KCN, cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp với quy hoạch, xây dựng, nâng cấp hạ tầng cơ sở các khu dân cư và giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường, thực sự là một quần thể KT - XH tiên tiến, mang bản sắc quê hương Bắc Ninh

- Các giải pháp chủ yếu:

+ Quy hoạch tổng thể các KCN, cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh Tập trung đầu tư theo phương thức “cuốn chiếu”, đăng ký đến đâu, thu hồi đất, xây dựng cơ sở hạ tầng đến đó, đảm bảo hiệu quả trước mắt cũng như lâu dài

+ Đối với KCN tập trung: vừa tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, vừa đẩy mạnh thu hút dự án đầu tư, trên cơ sở chính sách cởi mở, tích cực nhất theo quy định của pháp luật Xây dựng KCN đi đôi với quy hoạch, xây dựng từng bước hạ tầng ngoài hàng rào như: đường điện, hệ thống cấp thoát nước, nhà ở, đường giao thông, trường học, bệnh viện, các công trình phúc lợi, dịch vụ tư vấn, dịch vụ thương mại…

+ Đối với các cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp: phát triển theo hướng vừa và nhỏ, cụm công nghiệp của một làng hoặc cụm công nghiệp -tiểu thủ công nghiệp của một thị trấn có nhiều nghề Trước mắt trong năm

Trang 36

2000 và năm 2001 quy hoạch và xây dựng xong cơ sở hạ tầng cụm công nghiệp làng nghề Đa Hội, Đồng Kỵ, Đình Bảng (Từ Sơn), Phong Khê (Yên Phong), Đại Bái (Gia Bình) Nghiên cứu, tổ chức quy hoạch, xây dựng các cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đa nghề ở một số cơ sở có điều kiện: thị trấn Hồ (Thuận Thành), Võ Cường (thị xã Bắc Ninh), Hạp Lĩnh (Tiên Du), thị trấn Chờ (Yên Phong), Đông Bình (Gia Bình)… theo phương thức “cuốn chiếu” làm đến đâu lấp đầy đến đó, đảm bảo phát triển vững chắc, hiệu quả

+ Xây dựng hệ thống chế độ ưu đãi đầu tư KCN, cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp: Đa dạng hoá các loại hình cho vay vốn, tạo điều kiện thuận lợi nhất để các nhà đầu tư, các thành phần kinh tế được quyền vay vốn tại các ngân hàng, các tổ chức tài chính theo quy định của pháp luật Xây dựng hệ thống chính sách ưu đãi đối với các tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư

cơ sở hạ tầng dịch vụ ngoài hàng rào KCN, cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp

+ Tăng cường liên kết, liên doanh, mở rộng các loại hình đầu tư phát triển hạ tầng cơ sở

+ Rà soát, bổ sung chức năng, nhiệm vụ, kiện toàn tổ chức bộ máy BQL các KCN tỉnh đảm bảo đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ

+ Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, thực hiện cơ chế quản lý “một cửa, tại chỗ”

+ Tăng cường sự lãnh đạo của các tổ chức đảng và quản lý của chính quyền tạo sự thống nhất cao trong nhận thức về đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước

Quá trình phát triển các KCN ở Bắc Ninh là quá trình vận dụng sáng tạo chủ trương chính sách chung của Đảng và Nhà nước vào Bắc Ninh Những nội dung nổi bật của sự vận dụng này là sự kết hợp giữa phát huy các

Trang 37

thế mạnh của tỉnh về phát triển các làng nghề truyền thống với việc tập trung phát triển các KCN, cụm công nghiệp, tạo thành một hệ thống theo hướng trở thành các trung tâm đô thị trên địa bàn tỉnh Cụ thể là:

Thứ nhất, khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống để thực hiện

đột phá khâu CNH,HĐH nông nghiệp và nông thôn (mở rộng quy mô ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, đưa công nghệ mới, cải tạo môi trường, xây dựng nông thôn mới)

Thứ hai, phát triển các cụm công nghiệp vừa và nhỏ làm mô hình nhân

rộng; Xây dựng KCN tập trung làm động lực trung tâm; Quy hoạch phát triển các trung tâm đô thị làm môi trường gắn kết; Xây dựng cơ sở kết cấu hạ tầng làm vật liệu kết dính

Vì vậy, việc phát triển các KCN Bắc Ninh không nằm ngoài mối quan

hệ mật thiết với làng nghề, cụm công nghiệp vừa và nhỏ, đô thị và mạng kết cấu hạ tầng Giải quyết tổng thể mối quan hệ đó là quá trình, bước đi CNH,HĐH của tỉnh

* Những thành tựu và hạn chế trong phát triển khu công nghiệp ở Bắc Ninh từ năm 1997 đến năm 2000:

Ngay sau khi tái lập tỉnh, một trong các nhiệm vụ trọng tâm phát triển

KT – XH là tập trung đầu tư xây dựng, phát triển các KCN, cụm công nghiệp làng nghề, đa nghề, vừa và nhỏ…Để triển khai nhiệm vụ trên, Tổ xúc tiến dự

án khả thi các KCN tập trung tỉnh Bắc Ninh được thành lập ngày 14/5/1997 dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chủ tịch UBND tỉnh Đến ngày 25/8/1998, BQL các KCN Bắc Ninh được thành lập theo quyết định số 152/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Trong 3 năm đầu Bắc Ninh đã đạt được một số thành tựu nhất định tuy nhiên cũng gặp không ít khó khăn:

Trang 38

Chủ trương quy hoạch xây dựng KCN được tỉnh Bắc Ninh xác định là giải pháp quan trọng hàng đầu để thực hiện CNH,HĐH Năm 1998 tỉnh đã quyết định thực hiện thí điểm 04 cụm công nghiệp làng nghề:

- Cụm sản xuất thép Châu Khê - Đa Hội 13,5ha;

- Cụm sản xuất giấy Phong Khê 12,7ha;

- Cụm sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Quang 12,7ha;

- Cụm sản xuất đa nghề Đình Bảng 14,7ha

Vừa làm, vừa rút kinh nghiệm từ 04 cụm công nghiệp, tạo điều kiện tiền

đề cho ra đời KCN tập trung Tiên Sơn (khởi công tháng 12/2000) và tiếp theo

là KCN Quế Võ, Đại Đồng - Hoàn Sơn, Yên Phong

Việc phát triển các cụm công nghiệp nói trên đã giải phóng lực lượng sản xuất trong các làng nghề, chỉ trong thời gian ngắn đã lấp đầy và đòi hỏi phải mở rộng và nhân rộng Qua đó, Bắc Ninh rút ra được những bài học có giá trị sâu sắc trong việc chỉ đạo xây dựng các KCN và cụm công nghiệp sau này Trong quá trình phát triển, các cụm công nghiệp Bắc Ninh đang ngày càng gắn kết chặt chẽ với các KCN Bắc Ninh, bởi vì:

Các cụm công nghiệp tập trung chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ,

có khả năng chuyển đổi sản xuất linh hoạt, khả năng tiếp cận nhanh chóng với các doanh nghiệp trong KCN để thực hiện các dịch vụ: Cung cấp nguyên liệu, gia công sản phẩm, thu gom chế biến phế liệu, cung cấp lao động, dịch vụ vận tải… Trong KCN Tiên Sơn, các doanh nghiệp từ các cụm công nghiệp xung quanh đã thực hiện cung cấp gần 40% giá trị dịch vụ

Các cụm công nghiệp còn là bước đệm chủ yếu cho các doanh nghiệp trong nước phát triển và di dời vào KCN Bởi vào KCN có yêu cầu nghiêm ngặt về môi trường, quy mô và chất lượng đầu tư Cho nên, trong giai đoạn

Trang 39

đầu các doanh nghiệp trong nước đều muốn vào các cụm công nghiệp để tiết kiệm chi phí Nhưng khi sản xuất phát triển đến trình độ nhất định và ổn định

về thị trường tiêu thụ thì các doanh nghiệp lại muốn mở rộng sản xuất vào KCN để lấy hình ảnh, thương hiệu KCN nhằm tăng uy tín trên thị trường Cho nên các cụm công nghiệp lại trở thành bước phát triển trung gian của các doanh nghiệp

Hiện nay các cụm công nghiệp đang trở thành nơi cung cấp lao động tốt nhất cho các KCN Vấn đề này đang được tỉnh nghiên cứu để gắn thêm chức năng đào tạo nghề vào các cụm công nghiệp

Tuy nhiên, các cụm công nghiệp Bắc Ninh cũng có những vấn đề đặt ra phải giải quyết đó là:

- Về mô hình tổ chức giao cho cấp huyện quản lý cho nên hầu hết các huyện đều thành lập BQL các cụm công nghiệp hoạt động theo cơ chế đơn vị hành chính sự nghiệp với 3 chức năng chính:

+ Tổ chức triển khai quy hoạch và đầu tư xây dựng hạ tầng Cụm công nghiệp

+ Quản lý hoạt động đầu tư và xây dựng các doanh nghiệp thuê đất sản xuất

+ Quản lý sau đầu tư

- Với hệ thống tổ chức quản lý là đơn vị thuộc UBND các huyện, thị xã nhưng lại thiếu mối liên hệ về nghiệp vụ chuyên môn với các cơ quan quản lý chuyên ngành nên khi triển khai các nghiệp vụ quản lý còn lúng túng và thiếu

cụ thể Hạn chế lớn nhất của BQL các cụm công nghiệp cấp huyện là:

+ Chưa cụ thể được nhiệm vụ

+ Chưa xây dựng được các quy trình nghiệp vụ hành chính, tính chuyên nghiệp thấp

Trang 40

+ Còn lẫn lộn giữa hoạt động dịch vụ công với hoạt động quản lý nhà nước

+ Khả năng tiếp cận và đáp ứng các yêu cầu của các nhà đầu tư còn thấp + Lực lượng quản lý mỏng, thiếu khả năng và môi trường phối hợp với

cơ quan chuyên môn khác (chủ yếu do huyện tự đặt cho cơ chế hoạt động, không có sự thống nhất)

Do vậy, cần thiết phải nghiên cứu để hoàn thiện và củng cố mô hình tổ chức quản lý đối với cụm công nghiệp Bắc Ninh

- KCN: Các KCN đã được quy hoạch, xây dựng và ra đời góp phần làm phân bố lại khu vực kinh tế, tạo thành hai khu vực phát triển công nghiệp và

nông nghiệp rõ rệt KCN Tiên Sơn được thành lập theo Quyết định số

1129/QĐ-TTG ngày 19/12/1998 của Thủ tướng Chính phủ do Tổng Công ty thuỷ tinh và Gốm xây dựng (Vigracera) làm chủ đầu tư KCN được khởi công

tháng 12/2000 Với vị trí thuận lợi, nằm giữa Quốc lộ 1A và Quốc lộ 1 mới,

cách thủ đô Hà Nội 20 km, cách sân bay Quốc tế Nội Bài 30 km, cách cảng biển Cái Lân 120 km Đây là KCN đầu tiên được thành lập

Ngay sau khi tái lập tỉnh (1997) đến năm 2000, với chủ trương phát triển KCN mà Đảng đề ra, tỉnh Bắc Ninh đã triển khai tập trung đầu tư xây dựng và phát triển KCN xác định là giải pháp quan trọng hàng đầu để thực hiện CNH,HĐH Trong 3 năm xây dựng và bước đầu thí điểm các cụm công nghiệp, bên cạnh những vấn đề đặt ra phải giải quyết thì những thành tựu mà tỉnh Bắc Ninh đạt được đã tạo tiền đề cho Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh quán triệt và cụ thể hoá đường lối của Đảng phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn địa phương, tạo tiền

đề cho ngành công nghiệp Bắc Ninh phát triển nhanh trong thời kỳ CNH,HĐH

1.2 Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về phát triển khu công nghiệp trong những năm 2000-2005

Ngày đăng: 21/05/2016, 23:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Chiều dài quốc lộ - Đảng bộ tỉnh bắc ninh lãnh đạo phát triển khu công nghiệp từ năm 2000 đến năm 2010
Bảng 1.1. Chiều dài quốc lộ (Trang 21)
Bảng 1.2. Chiều dài tỉnh lộ - Đảng bộ tỉnh bắc ninh lãnh đạo phát triển khu công nghiệp từ năm 2000 đến năm 2010
Bảng 1.2. Chiều dài tỉnh lộ (Trang 22)
Bảng 1.3. Bảng phụ lục các tuyến đường đô thị - Đảng bộ tỉnh bắc ninh lãnh đạo phát triển khu công nghiệp từ năm 2000 đến năm 2010
Bảng 1.3. Bảng phụ lục các tuyến đường đô thị (Trang 24)
Bảng 1.5. Dự báo dân số tỉnh Bắc Ninh - Đảng bộ tỉnh bắc ninh lãnh đạo phát triển khu công nghiệp từ năm 2000 đến năm 2010
Bảng 1.5. Dự báo dân số tỉnh Bắc Ninh (Trang 27)
Bảng 2.1: Quy hoạch phát triển các KCN đến năm 2010 - Đảng bộ tỉnh bắc ninh lãnh đạo phát triển khu công nghiệp từ năm 2000 đến năm 2010
Bảng 2.1 Quy hoạch phát triển các KCN đến năm 2010 (Trang 71)
Bảng 3.1. Hiện trạng quy hoạch khu công nghiệp đến năm 2006 - Đảng bộ tỉnh bắc ninh lãnh đạo phát triển khu công nghiệp từ năm 2000 đến năm 2010
Bảng 3.1. Hiện trạng quy hoạch khu công nghiệp đến năm 2006 (Trang 86)
Bảng 3.2.  Hiện trạng các khu công nghiệp đến hết năm 2007 - Đảng bộ tỉnh bắc ninh lãnh đạo phát triển khu công nghiệp từ năm 2000 đến năm 2010
Bảng 3.2. Hiện trạng các khu công nghiệp đến hết năm 2007 (Trang 88)
Bảng 3.3. Tổng hợp vốn đầu tư thực hiện đến hết tháng 12.2007 - Đảng bộ tỉnh bắc ninh lãnh đạo phát triển khu công nghiệp từ năm 2000 đến năm 2010
Bảng 3.3. Tổng hợp vốn đầu tư thực hiện đến hết tháng 12.2007 (Trang 90)
Bảng 3.4: Thống kê lao động trong các khu công nghiệp - Đảng bộ tỉnh bắc ninh lãnh đạo phát triển khu công nghiệp từ năm 2000 đến năm 2010
Bảng 3.4 Thống kê lao động trong các khu công nghiệp (Trang 94)
Bảng 3.5: Hiện trạng lao động theo trình độ học vấn - Đảng bộ tỉnh bắc ninh lãnh đạo phát triển khu công nghiệp từ năm 2000 đến năm 2010
Bảng 3.5 Hiện trạng lao động theo trình độ học vấn (Trang 104)
Bảng 3.6: Hiện trạng lao động theo trình độ đào tạo - Đảng bộ tỉnh bắc ninh lãnh đạo phát triển khu công nghiệp từ năm 2000 đến năm 2010
Bảng 3.6 Hiện trạng lao động theo trình độ đào tạo (Trang 105)
Bảng 3.7: Số lao động được đào tạo hàng năm trong thời gian qua - Đảng bộ tỉnh bắc ninh lãnh đạo phát triển khu công nghiệp từ năm 2000 đến năm 2010
Bảng 3.7 Số lao động được đào tạo hàng năm trong thời gian qua (Trang 106)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w