Nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Yên đối với phong trào đấu tranh cách mạng trong giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1960, đặc biệt là lãnh đạo phong trào đồng khởi năm 1960 là tiế
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ YÊN LÃNH ĐẠO CUỘC ĐẤU TRANH GIỮ GÌN LỰC LƯỢNG CÁCH MẠNG TRONG NHỮNG NĂM 1954-1959 7
1.1 Tình hình tỉnh Phú Yên sau ngày Hiệp định Giơnevơ được ký kết 7
1.1.1 Đặc điểm tự nhiên và xã hội tỉnh Phú Yên 7
1.1.2 Sự thay đổi so sánh lực lượng sau Hiệp định Giơnevơ 9
1.1.3 Âm mưu và thủ đoạn của địch 11
1.2 Đảng bộ tỉnh Phú Yên lãnh đạo cuộc đấu tranh chính trị nhằm thi hành Hiệp định Giơnevơ 14
1.2.1 Chủ trương của Đảng chuyển hướng đấu tranh ở miền Nam 14
1.2.2 Sự chỉ đạo của Đảng bộ Phú Yên trong cuộc đấu tranh giữ gìn lực lượng cách mạng 17
1.3 Đảng bộ tỉnh Phú Yên lãnh đạo cuộc đấu tranh chính trị có vũ trang tự vệ chống khủng bố của địch 19
1.3.1 Duy trì tổ chức và hoạt động của tổ chức đảng ở Phú Yên 19
1.3.2 Các phong trào đấu tranh cách mạng 22
Chương 2 ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ YÊN LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC CHUẨN BỊ VÀ TIẾN HÀNH ĐỒNG KHỞI 27
2.1 Quán triệt Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng 27
2.1.1 Hội nghị 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1-1959) 27
2.1.2 Những chủ trương của Xứ ủy Nam Bộ và Liên Khu ủy V 30
2.1.3 Đảng bộ tỉnh Phú Yên chỉ đạo công tác chuẩn bị đồng khởi 34
2.2 Lãnh đạo phong trào Đồng khởi 38
2.2.1 Lãnh đạo Đồng khởi Hòa Thịnh (Tuy Hòa-Phú Yên) - điểm mở đầu cho phong trào đồng khởi ở đồng bằng Liên Khu V 38
2.2.2 Lãnh đạo đồng khởi trong toàn tỉnh 42
2.2.3 Đặc điểm và ý nghĩa của phong trào Đồng khởi Phú Yên 46
Trang 3Chương 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT TỔNG QUÁT VÀ KINH NGHIỆM 54
3.1 Nhận xét tổng quát 54
3.1.1 Ưu điểm 55
3.1.2 Hạn chế 59
3.2 Một số kinh nghiệm 60
KẾT LUẬN 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
PHỤ LỤC 78
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sau Hiệp định Giơnevơ (1954), đế quốc Mỹ lợi dụng sự suy yếu của thực dân Pháp nhảy vào miền Nam, gạt thực dân Pháp và mọi thế lực thân Pháp, lập chính quyền tay sai, thực hiện mưu đồ biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ, lập phòng tuyến để ngăn chặn ảnh hưởng của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới ở Đông Nam Á, bao vây và uy hiếp các nước xã hội chủ nghĩa khác Để thực hiện âm mưu đó, Mỹ
và chính quyền tay sai dùng biện pháp chủ yếu: “tố cộng, diệt cộng”, ra sức
tiêu diệt lực lượng cách mạng và những người yêu nước, xóa mọi ảnh hưởng của Đảng Cộng sản trong nhân dân
Trong kháng chiến chống Pháp, Phú Yên là một tỉnh có phong trào kháng chiến mạnh của vùng tự do Liên Khu V, nên ngay từ những ngày đầu tiếp quản, đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai đã ráo riết đánh phá phong trào cách mạng Trong những năm đầu sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, chính sách độc tài phát xít, hiếu chiến của Mỹ và chính quyền tay sai đã làm cho đời sống của nhân dân miền Nam nói chung và nhân dân Phú Yên nói riêng vô cùng đau khổ và căng thẳng Cho đến năm 1959, trải qua 4 năm thi hành các thủ đoạn quân sự, chính trị, bè lũ tay sai của Mỹ không tiêu diệt được phong trào yêu nước, phong trào cách mạng miền Nam Ở Phú Yên chúng dùng đủ loại thủ đoạn lừa bịp, mị dân chuyển sang thủ đoạn đàn áp, khủng bố man rợ Chúng tiến hành các vụ thảm sát, các đợt “tố cộng”, “lập ấp chiến lược”, càn quét, đốt phá, bắn giết, cưỡng bức đồng bào Luật 10/59 ra đời, đặt cộng sản ngoài vòng pháp luật, mở các phiên tòa lưu động xét xử và đưa lên máy chém những người yêu nước tham gia cách mạng Chính điều đó
đã làm cho mâu thuẫn giữa nhân dân với chế độ Mỹ - Diệm ngày càng sâu sắc hơn Nhiều người trong bộ máy ngụy quân, ngụy quyền trong các tầng lớp
Trang 5trên cũng bất bình Đó là nguyên nhân sâu xa dẫn đến việc bùng nổ các phong
trào đấu tranh cách mạng của quần chúng nhân dân
Tháng 1 năm 1959, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 15 để xác định đường lối và phương pháp cách mạng cho cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới Nghị quyết 15 ra đời đã đáp ứng đúng nhu cầu và nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân, thực sự là bước ngoặt về đường lối cách mạng miền Nam Nghị quyết nhấn mạnh con đường phát triển
cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là con đường bạo lực cách mạng Giữa tháng 11 năm 1959 Liên Khu ủy V triệu tập Hội nghị phổ biến Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng đến các tỉnh thuộc Khu V Tiếp đến Khu
ủy đề ra phương châm đấu tranh là nắm vững hình thức đấu tranh chính trị là
chủ yếu đồng thời kết hợp với hình thức đấu tranh võ trang để hỗ trợ cho đấu tranh chính trị Sau khi xem xét tình hình chung lúc bấy giờ, Tỉnh ủy Phú
Yên đồng ý với phương án huyện Tuy Hòa I đưa ra là chọn xã Hòa Thịnh (thuộc huyện Tuy Hòa I) làm điểm để phát động phong trào nổi dậy giành chính quyền ở vùng đồng bằng
Đêm 22-12-1960, đông đảo lực lượng quần chúng nhân dân cùng với lực lượng vũ trang của huyện vừa tấn công, vừa nổi dậy, nhanh chóng giành quyền làm chủ tại xã Hòa Thịnh Tiếp theo Đồng khởi Hòa Thịnh, một số địa phương khác trong tỉnh đồng loạt nổi dậy giành quyền làm chủ, mở ra một thời kỳ mới, thời kỳ nổi dậy khởi nghĩa từng phần, giành quyền làm chủ, mở rộng vùng giải phóng
Đồng khởi Hòa Thịnh (Tuy Hòa - Phú Yên) không chỉ là điểm đột phá
mở đầu cho phong trào đồng khởi ở đồng bằng tỉnh Phú Yên mà còn là điểm
mở đầu cho phong trào đồng khởi ở đồng bằng Khu V Thắng lợi của phong
trào đồng khởi ở đồng bằng Nam Trung Bộ mà mở đầu là phong trào Đồng khởi Hòa Thịnh đã đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của phong trào cách mạng Khu V nói riêng và cách mạng miền Nam nói chung
Trang 6Nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Yên đối với phong trào đấu tranh cách mạng trong giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1960, đặc biệt là lãnh đạo phong trào đồng khởi năm 1960 là tiếp tục làm sáng rõ nội dung, diễn biến, và ý nghĩa của phong trào đấu tranh cách mạng của quân và dân Phú Yên Đặc biệt là làm rõ vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Yên đối với phong trào đấu tranh cách mạng đó Từ đó, rút ra những kinh nghiệm lịch
sử quý báu của Đảng trong việc lãnh đạo phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân
Xuất phát từ những lý do đó, tôi mạnh dạn chọn đề tài: Đảng bộ tỉnh Phú Yên lãnh đạo phong trào đấu tranh cách mạng từ năm 1954 đến năm
1960 làm đề tài luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng
Cộng sản Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu vấn đề
Phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân miền Nam sau năm 1954
vô cùng khó khăn, ác liệt Ở Phú Yên, Đảng bộ tỉnh Phú Yên đã từng bước lãnh đạo cuộc đấu tranh giữ gìn lực lượng cách mạng trong giai đoạn 1954-
1959, tiến tới lãnh đạo phong trào đồng khởi năm 1960 Đồng khởi Hòa Thịnh (Phú Yên) là cuộc khởi nghĩa từng phần, khởi nghĩa cục bộ lớn, đầu tiên ở một xã nông thôn đồng bằng Phú Yên và Khu V Là ngọn cờ tiêu biểu
mở đầu cho phong trào Đồng khởi ở đồng bằng Khu V Cho đến nay vẫn chưa
có nhiều công trình nghiên cứu một cách đầy đủ về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Yên đối với phong trào đấu tranh cách mạng từ năm 1954 đến năm
1960, đặc biệt là đối với Đồng khởi Hòa Thịnh (Tuy Hòa - Phú Yên) Có thể khái quát một số công trình nghiên cứu đã xuất bản như:
- Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Phú Yên: Lịch sử Phú Yên kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy xuất bản 1996
- Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Yên: Đồng khởi Hòa Thịnh, Sở Khoa học
và Công nghệ xuất bản 2007
Trang 7- Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Yên: Kỷ yếu Đồng khởi Hòa Thịnh
(22-12-1960), Sở Khoa học và Công nghệ xuất bản 2005
- Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Phú Yên: Phú Yên 30 năm chiến tranh giải
phóng (1945-1975), xuất bản 1993
- Viện Lịch sử Đảng - Hội đồng biên soạn lịch sử Nam Trung bộ kháng
chiến: Nam Trung Bộ kháng chiến 1945-1975, Hà Nội, 1992
- Đảng Cộng sản Việt Nam: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Phú Khánh thời kỳ
chống Mỹ, cứu nước, sơ thảo, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh Phú Khánh
xuất bản 1986
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đều tập trung nghiên cứu nội dung, diễn biến, và ý nghĩa của các phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng nhân dân mà chưa đi sâu làm nổi bật vai trò lãnh đạo của Liên Khu ủy
V và Đảng bộ tỉnh Phú Yên đối với phong trào đấu tranh cách mạng ở địa phương
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu:
Làm rõ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Yên đối với phong trào đấu tranh cách mạng từ năm 1954 đến năm 1960 Đồng thời qua đó rút ra một số kinh nghiệm quý báu trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng bộ
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Trình bày một cách hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Phú Yên vận dụng sáng tạo đường lối của Đảng về cách mạng miền Nam trong việc lãnh đạo nhân dân nổi dậy đấu tranh giành chính quyền
- Làm rõ nội dung, diễn biến và ý nghĩa của phong trào cách mạng ở tỉnh Phú Yên dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh
- Rút ra một số kinh nghiệm từ quá trình lãnh đạo phong trào cách mạng của của Đảng bộ tỉnh Phú Yên
Trang 84 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Những chủ trương và biện pháp lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Yên đối với phong trào đấu tranh cách mạng từ năm 1954 đến năm 1960 và quá trình
tổ chức thực hiện những chủ trương, biện pháp đó
* Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Đề tài nghiên cứu những yếu tố có ảnh hưởng đến việc xác định chủ trương và biện pháp lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Yên đối với phong trào đấu tranh cách mạng từ năm 1954 đến năm 1960
- Về thời gian: Đề tài giới hạn nghiên cứu chủ yếu từ năm 1954 đến năm 1960
- Về không gian: Nghiên cứu chủ yếu trên địa bàn tỉnh Phú Yên Ngoài
ra còn nghiên cứu tới phong trào đấu tranh cách mạng ở khu vực Nam Trung
Bộ và Nam Bộ để có sự so sánh, đánh giá đầy đủ hơn
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
* Nguồn tài liệu:
- Những tư liệu thể hiện quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân
- Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Các văn kiện của Khu ủy Khu V trong thời kỳ kháng chiến cống Mỹ, cứu nước
- Các văn kiện của Đảng bộ tỉnh Phú Yên, huyện ủy Tuy Hòa I trong thời kỳ kháng chiến cống Mỹ, cứu nước
- Nguồn tài liệu lưu tại Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Phú Yên; viện Lịch sử Đảng
- Nguồn tài liệu về lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Viện lịch sử quân sự Việt Nam
- Một số công trình nghiên cứu, khảo sát, đánh giá có liên quan
Trang 9* Phương pháp nghiên cứu:
- Cơ sở phương pháp luận: Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa
Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng kết hợp các phương
pháp lịch sử-logic và các phương pháp khác như: so sánh, thống kê, phân tích, tổng hợp…
6 Đóng góp của luận văn
- Góp phần khẳng định tính đúng đắn của đường lối cách mạng miền Nam của Đảng và sự vận dụng sáng tạo của Đảng bộ tỉnh Phú Yên vào thực tiễn địa phương
- Khẳng định những giá trị của phong trào Đồng khởi Hòa Thịnh - Phú Yên đối với phong trào đồng khởi ở vùng đồng bằng Nam Trung Bộ và trên toàn miền Nam
- Nêu ra một số kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo phong trào đấu tranh cách mạng của Đảng bộ tỉnh Phú Yên
- Luận văn bảo vệ thành công sẽ là tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương
Chương 1 Đảng bộ tỉnh Phú Yên lãnh đạo cuộc đấu tranh giữ gìn lực
lượng cách mạng trong những năm 1954-1959
Chương 2 Đảng bộ tỉnh Phú Yên lãnh đạo công tác chuẩn bị và tiến
hành đồng khởi
Chương 3 Một số nhận xét tổng quát và kinh nghiệm
Trang 10Chương 1 ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ YÊN LÃNH ĐẠO CUỘC ĐẤU TRANH GIỮ GÌN LỰC LƯỢNG CÁCH MẠNG TRONG NHỮNG NĂM 1954-1959
1.1 Tình hình tỉnh Phú Yên sau ngày Hiệp định Giơnevơ được ký kết
1.1.1 Đặc điểm tự nhiên và xã hội tỉnh Phú Yên
Phú Yên là một tỉnh thuộc vùng ven biển Nam Trung Bộ Phía Bắc giáp tỉnh Bình Định Phía Nam giáp tỉnh Khánh Hoà Phía Tây giáp tỉnh Đắc Lắc
và tỉnh Gia Lai Phía Đông giáp Biển Đông Toàn tỉnh có diện tích 5223km2
Chiều dài nhất là 116km, chiều ngang chỗ rộng nhất khoảng 78km, chỗ hẹp nhất khoảng 46km
Phú Yên nằm dọc theo dãy Trường Sơn, địa hình phức tạp, có những nhánh núi tách ra chạy theo hướng đông đến sát biển tạo thành những đèo tương đối cao và hiểm trở như: Đèo Cù Mông, Dốc Găng, Đèo Quán Cau, Đèo Cả; đồng thời chia cắt Phú Yên thành những đồng bằng hẹp Phần lớn đất đai Phú Yên là rừng núi hiểm trở kín đáo, là địa bàn quân sự có tầm chiến lược
Địa hình Phú Yên có thể chia làm 3 khu vực lớn, đó là vùng núi, bán sơn địa và đồng bằng
Miền núi của tỉnh là địa bàn hiểm trở, lại liên kết với vùng núi non trùng điệp Tây Nguyên nên có một thế đứng chiến lược về quân sự Dân cư miền núi thưa thớt, trình độ kinh tế-xã hội chưa phát triển, nhưng đồng bào các dân tộc Phú Yên có truyền thống đấu tranh cách mạng chống ngoại xâm, một lòng theo Đảng, theo cách mạng Suốt 30 năm kháng chiến, miền núi là căn cứ địa vững chắc của chiến tranh nhân dân trên địa bàn tỉnh
Tiếp giáp với vùng núi là vùng bán sơn địa (hay còn gọi là vùng Trung Du) tương đối bằng phẳng chạy dọc theo các con sông lớn của tỉnh Ở đây có nhiều đồng cỏ tự nhiên, bãi bồi rất thuận lợi cho việc phát triển chăn nuôi đàn
Trang 11gia súc, trồng hoa màu và các loại cây nông nghiệp ngắn ngày; đồng thời có thể khai phá thành đất canh tác nông nghiệp
Vùng đồng bằng ven biển Phú Yên dài và hẹp ở phía Bắc Bờ biển của tỉnh dài hơn 200km Do địa bàn dài và hẹp nằm dọc ven biển nên việc bảo vệ vùng đồng bằng ven biển rất phức tạp, dễ bị chia cắt Trong kháng chiến chống Pháp, quân dân Phú Yên đã sáng tạo nhiều cách phát hiện địch và đánh địch từ biển đổ bộ vào đất liền Đường biển còn được sử dụng để tiếp tế cho các tỉnh bạn và tiếp nhận chi viện từ hậu phương lớn miền Bắc
Phú Yên có mạng lưới giao thông khá phát triển Nối liền từ Bắc vào Nam có Quốc lộ 1A và đường sắt Bắc-Nam Cùng với mạng lưới giao thông đường bộ, Phú Yên còn có sân bay quân sự dùng cho các laọi máy bay phản lực, có cảng biển Vũng Rô cận kề với đường cơ sở, mực nước sâu, kín gió thuận lợi cho các loại tàu biển Mạng lưới giao thông này hợp thành một mạng lưới hoàn chỉnh cả trên bộ, trên không, trên biển rất có ý nghĩa về quốc phòng và phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội
Cộng đồng cư dân Phú Yên có một thời kỳ hội cư lớn Đó là cuộc hội
cư vào những năm giữa thế kỷ XVI, lúc “vua Lê (Quang Hưng) cử ông Lương Văn Chánh làm quan chấn biên, chiêu tập lưu dân miền Thuận - Quảng vào khẩn hoang lập ấp” [1, tr.15] Cuộc hội cư này gắn liền với công cuộc mở rộng lãnh thổ vào phía Nam của chúa Nguyễn suốt hàng chục năm Phú Yên
là địa bàn sinh sống của nhiều đồng bào dân tộc khác nhau Đông nhất là người Kinh, sau đó đến Ê-đê, Chăm, Bana
Phú Yên là vùng đất có lịch sử phát triển từ rất sớm Quá trình dựng nước và giữ nước, chinh phục thiên nhiên, chống ngoại xâm đã tạo nên truyền thống anh dũng, kiên cường, bất khuất của người dân Phú Yên
Từ thế kỷ XVIII nhân dân Phú Yên đã tham gia phong trào nông dân khởi nghĩa của Tây Sơn, lập nên chiến thắng Xuân Đài (1773) và gần 30 năm độc lập, phát triển kinh tế-xã hội tự chủ dưới chiều Quang Trung hiển hách
Trang 12Từ khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, cùng với nhân dân cả nước, nhân dân Phú Yên đã liên tục đứng lên đấu tranh chống xâm lược Tiêu biểu
là phong trào Cần Vương do các ông Lê Thành Phương, Nguyễn Hào Sự, Võ Trứ, Trần Cao Vân… lãnh đạo
Do những hạn chế về lịch sử, chưa có đường lối và phương pháp đấu tranh đúng đắn nên tất cả các cuộc khởi nghĩa và nổi dậy theo đường lối của phong kiến và tư sản đều lần lượt thất bại Khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (1930) đánh dấu bước phát triển vượt bậc của cách mạng Việt Nam Từ
đó, nhân dân Phú Yên cũng như nhân dân cả nước đã thoát khỏi sự bế tắc về đường lối đấu tranh, tích cực tham gia các phong trào cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, tạo nên thắng lợi hết sức vẻ vang trong cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành độc lập cho dân tộc, thoát khỏi ách thống trị của thực dân và phong kiến
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Phú Yên nằm trong vùng tự do Khu V, phát triển vững mạnh về mọi mặt, là hậu phương trực tiếp của các chiến trường Khánh Hoà, Nam Tây Nguyên Các chính sách về cải cách dân chủ được thi hành rộng rãi, nhân dân có trình độ giác ngộ chính trị cao, xây dựng thành công nền kinh tế tự chủ, có lực lượng cán bộ đông đảo, trung thành với cách mạng Bởi vậy, ngay sau khi hiệp định Giơnevơ được ký kết và co hiệu lực bè lũ Mỹ và tay sai của chúng đã đàn áp phong trào cách mạng Phú Yên một cách tàn khốc Từ đây lịch sử Đảng bộ và nhân dân Phú Yên bước sang một giai đoạn mới hết sức gian khổ, nhưng cũng rất hào hùng
và oanh liệt, viết nên những trang sử vẻ vang trong 21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
1.1.2 Sự thay đổi so sánh lực lượng sau Hiệp định Giơnevơ
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam kết thúc, với chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông
Trang 13Dương Tuy nhiên, đất nước bị chia cắt làm hai miền Nam-Bắc Với việc ký kết và thi hành Hiệp định Giơnevơ, so sánh lực lượng ở miền Nam thay đổi không có lợi cho cách mạng Việt Nam Đối tượng và nhiệm vụ cách mạng miền Nam đã thay đổi Đế quốc Mỹ, từ chỗ là kẻ thù tiềm tàng, trở thành đối tượng trực tiếp của cách mạng Việt Nam Mỹ đã nhảy vào miền Nam Việt Nam thay chân Pháp, thi hành chính sách thực dân mới, nhằm chia cắt lâu dài Việt Nam, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của
Mỹ Đó là một tên đế quốc đầu sỏ, có tiềm lực kinh tế và quân sự mạnh nhất thế giới, có chiến lược toàn cầu phản cách mạng Mục tiêu trực tiếp của đế quốc Mỹ trong hành động can thiệp vào Việt Nam là muốn xóa bỏ một chế độ chính trị trong hệ thống thế giới mới đang hình thành Mỹ đã chuyển dần từ vai trò viện trợ cho Pháp với mức độ ngày càng tăng, đến vai trò người chủ trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương Ở miền Nam, Mỹ lập chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm Bộ máy chính quyền và quân đội Sài Gòn trở thành công cụ tay sai đắc lực của chủ nghĩa thực dân mới Dưới sự chỉ huy của cố vấn Mỹ, chính quyền Ngô Đình Diệm đã tập trung lực lượng vừa dụ
dỗ, lừa bịp, vừa đàn áp, khủng bố cách mạng bằng nhiều thủ đoạn thâm độc
Theo Hiệp định Giơnevơ, lực lượng vũ trang cách mạng phải tiến hành việc tập kết chuyển quân ra miền Bắc Do đó, tương quan lực lượng ở miền Nam có sự thay đổi lớn, không có lợi cho phong trào cách mạng Chúng ta tuy
có ưu thế về chính trị và lực lượng quần chúng nhân dân đông đảo nhưng không còn lực lượng vũ trang, không còn chính quyền Trong khi đó, kẻ thù
có đủ trong tay sức mạnh về kinh tế và quân sự Chúng thẳng tay đàn áp, tiêu diệt phong trào cách mạng, gây nên nhiều tổn thất nặng nề
Trong kháng chiến chống Pháp, Phú Yên là tỉnh tự do với gần 30 vạn dân, nhiều căn cứ du kích, là địa bàn đứng chân của các lực lượng vũ trang và bán vũ trang, có gần hai vạn đảng viên hoạt động công khai trong quần chúng Nhân dân vùng tự do và căn cứ, được Đảng giáo dục, giác ngộ đã chiến đấu
Trang 14kiên cường, đóng góp nhiều sức người, sức của cho kháng chiến, đồng thời được hưởng những quyền lợi về ruộng đất và văn hoá, xã hội dưới chính quyền cách mạng Trong giai đoạn cách mạng mới, cán bộ, đảng viên và nhân dân Phú Yên là một lực lượng chính trị to lớn, đồng thời cũng là đối tượng mà
Mỹ và tay sai tập trung khủng bố, trả thù hết sức dã man Do việc phải tập kết chuyển quân ra miền Bắc, vùng tự do và cả căn cứ du kích, căn cứ miền Tây của tỉnh trở thành vùng đối phương kiểm soát, nhân dân phải sống dưới ách thống trị tàn bạo của đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai Tuy vậy, cán bộ và nhân dân Phú Yên vẫn tin tưởng sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, tin tưởng ở thắng lợi cuối cùng của cách mạng nên đều nghiêm chỉnh chấp hành chủ trương của Đảng, sẵn sàng tiếp tục cuộc đấu tranh trong giai đoạn mới
1.1.3 Âm mưu và thủ đoạn của địch
Thực hiện ý đồ của Mỹ, chính quyền Ngô Đình Diệm đã khước từ hiệp thương tổng tuyển cử với miền Bắc để thống nhất đất nước Chúng tổ chức
“trưng cầu dân ý” để phế truất Bảo Đại, đưa Ngô Đình Diệm lên làm tổng thống, tổ chức bầu cử riêng ở miền Nam, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ Chúng ráo riết thi hành chính sách “tố cộng”, “diệt cộng” nhằm đánh vào cơ sở của Đảng Cộng sản, trả thù những người yêu nước, nhất là những người kháng chiến cũ và những gia đình có người thân đi tập kết ở miền Bắc; thẳng tay đàn áp phong trào đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ của các tầng lớp nhân dân Chúng đã gây ra nhiều vụ thảm sát đẫm máu ở miền Nam nói chung và Phú Yên nói riêng như: Mỏ Cày, Bình Đại (Bến Tre), Chợ Được (Quảng Nam), Ngân Sơn, Chí Thạnh (Phú Yên)… Ngô Đình Diệm tuyên bố đặt cộng sản ngoài vòng pháp luật, ban hành Luật 10/59 (6-5-1959), lê máy chém khắp miền Nam để giết hại những người yêu nước
Những chính sách khủng bố tàn bạo, dã man của đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai đã làm cho mâu thuẫn của các tầng lớp nhân dân miền Nam với
Trang 15đế quốc Mỹ xâm lược và tay sai thêm gay gắt, và tất yếu sẽ dẫn đến những hành động đấu tranh quyết liệt của quân chúng nhân dân
Sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, thực hiện sự chỉ đạo trực tiếp của Khu uỷ Khu V, Tỉnh uỷ Phú Yên triệu tập Hội nghị Tỉnh uỷ mở rộng trong 2 ngày 10 và 11-8-1954, nhanh chóng triển khai thực hiện những điều khoản của Hiệp định Giơnevơ trên địa bàn Phú Yên Theo đó, Phú Yên hoàn thành việc chuyển quân tập kết ra Bắc trong tháng 8-1954, giao lại địa bàn cho đối phương tạm thời quản lý, chờ ngày tổ chức tổng tuyển cử thống nhất đất nước sau hai năm như nội dung Hiệp định Tuy nhiên, tình hình thực tế ở Phú Yên sau Hiệp định Giơnevơ cũng như tình hình toàn miền Nam lúc bấy giờ đã biến đối trái ngược so với những nội dung mà phía đối phương đã ký kết, chính quyền Mỹ - Diệm đã vi phạm nghiêm trọng Hiệp định Giơnevơ
Ở Phú Yên, trong những năm đầu sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, chính sách độc tài phát xít, hiếu chiến của Mỹ và chính quyền tay sai đã làm cho đời sống của nhân dân Phú Yên vô cùng đau khổ và căng thẳng Chúng dùng đủ loại thủ đoạn lừa bịp, mị dân chuyển sang thủ đoạn đàn áp, khủng bố man rợ Chúng tiến hành các vụ thảm sát, các đợt “tố cộng”, lập ấp chiến lược, càn quét, đốt phá, bắn giết, cưỡng bức đồng bào Chúng tổ chức truy lùng, bắt bớ những cán bộ, đảng viên, những người yêu nước đã tham gia hoạt động cách mạng trước đó để đánh đập, tra tấn, giam cầm Nhiều cán bộ trung kiên đã bị chúng sát hại, tra tấn, đánh đập cho đến chết hoặc tàn phế suốt đời Địch tiến hành khủng bố trắng các cuộc đấu tranh của nhân dân Điển hình như, ngày 7-9-1954, đế quốc Mỹ và tay sai đã gây nên vụ thảm sát đẫm máu tại Ngân Sơn-Chí Thạnh (Tuy An-Phú Yên) làm 64 người chết và
76 người bị thương Sau vụ Ngân Sơn-Chí Thạnh, chúng còn thực hiện nhiều đợt khủng bố khác Có nhiều trường hợp chúng bắn giết cán bộ, đảng viên một cách trắng trợn “Từng đoàn, từng toán công an, cảnh sát, hội đồng hương chính lùng sục trong nhà, ngoài vườn, đón đường, đón chợ, bắt được
Trang 16cán bộ là bắn tại chỗ, cho vào bao tải thả trôi sông, chôn sống một hầm bốn, năm người” [11, tr.17-18] Trong hai tháng 9 và 10 năm 1954, số cán bộ, đảng viên và dân thường bị bắt, bị giết ở Phú Yên lên đến 721 người Riêng tại nhà lao tỉnh, địch giam giữ đến 1000 người, “không giường, không chiếu, nằm chồng lên nhau, dơ bẩn, dịch bệnh, ngày đêm đều có người bị tra tấn kêu
la thảm thiết” [11, tr.18]
Kẻ thù ra sức đánh phá ác liệt, bọn ác ôn ở các nơi trong tỉnh Phú Yên ngày càng lên mặt hống hách, điên cuồng giết hại cán bộ đảng viên, bắt bớ, tra tấn, hãm hiếp, quản thúc, tịch thu tài sản của những gia đình có chồng, con
đi tập kết hoặc thoát ly Chúng bắt những người vợ của cán bộ đi tập kết phải
ly dị chồng, người thân có con em đi tập kết phải làm giấy ly khai, nói xấu cộng sản
Ở trong tỉnh, bọn phản động đội lốt Thiên Chúa giáo đã tổ chức xây dựng các “pháo đài chống cộng” bằng cách thành lập các đơn vị vũ trang do linh mục trực tiếp chỉ huy Chúng gây chia rẽ giữa Thiên Chúa giáo và Phật giáo, giữa giáo và lương, nhất là giữa Thiên Chúa giáo với cộng sản Trong khi đó, chính quyền Ngô Đình Diệm thực hiện chủ trương “tố cộng”, “diệt cộng” Chúng chọn những xã có phong trào kháng chiến chống Pháp mạnh để làm nơi “tố cộng điển hình” Cụ thể, ở Tuy Hoà chúng chọn 3 xã: Hoà Trị, Hoà Kiến, Hoà Hiệp Ở huyện Tuy An, chúng chọn 2 xã An Thạch và An Ninh Ở huyện Đồng Xuân, chúng chọn 2 xã Xuân Phương và Xuân Lộc Khi
“tố” chúng triệu tập bọn tề các xã trong huyện đến dự lễ để học tập rút kinh nghiệm Trước khi “tố”, chúng bắt đồng bào viết khẩu hiệu treo trước cửa:
“Tố cộng là an dân, dung cộng là phản quốc”, đồng thời bắt bớ, đánh đập cán
bộ để gây tâm lý sợ hãi trong nhân dân, buộc dân phải đi “tố cộng” Địch chia cán bộ, đảng viên và những người kháng chiến cũ ra làm ba loại: A, B, C để
có đối sách phân hoá, xử trí:
Trang 17Loại A là loại quan trọng gồm cán bộ cơ sở chỉ đạo các cấp từ xã trở lên thì bắt tra tấn, khai thác, kết án hoặc thủ tiêu
Loại B là chi uỷ viên, tổ trưởng đảng, chiến sĩ thi đua, cá nhân xuất sắc, chúng dùng hình thức tra tấn, khai thác, phân hoá đưa lên hạng trên hoặc xuống hạng dưới
Loại C là đảng viên thường, quần chúng tích cực thì tra tấn, khai thác, giam giữ và đưa đi hành dịch
Ở mỗi xã, chúng tập trung dân tại trường học, trụ sở hoặc đình làng để tham gia “tố cộng” Nơi đây gọi là “đấu trường” Hai bên “đấu trường” bố trí lưu manh chờ đảng viên bị đưa lên “tố” chúng đánh đập Có nơi chúng chất hàng đống đá cho bọn côn đồ ném vào mặt, vào lưng đảng viên, có người bị ném vỡ đầu chảy máu Chúng còn phát cho mỗi người “tố” một cái mõ để vừa
hô khẩu hiệu vừa đánh mõ, ai không hô, không đánh mõ thì bị chúng đánh đập Có nhiều người không chịu hô bị chúng đánh chết tại chỗ Chúng còn bắt đảng viên xé cờ Đảng, hô khẩu hiệu chống Đảng
Chính điều đó đã làm cho mâu thuẫn giữa nhân dân Phú Yên với đế quốc Mỹ và tay sai ngày càng sâu sắc hơn Nhiều người trong bộ máy chính quyền và quân đội Sài Gòn trong các tầng lớp trên cũng bất bình Đó là nguyên nhân sâu xa dẫn đến việc bùng nổ các phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng nhân dân tỉnh Phú Yên
1.2 Đảng bộ tỉnh Phú Yên lãnh đạo cuộc đấu tranh chính trị nhằm thi hành Hiệp định Giơnevơ
1.2.1 Chủ trương của Đảng chuyển hướng đấu tranh ở miền Nam
Đặc điểm cơ bản của tình hình đất nước sau tháng 7-1954 đòi hỏi Đảng phải có một đường lối chiến lược đúng đắn để đưa cách mạng Việt Nam tiến lên Trải qua nhiều hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, chủ trương chiến lược cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới của Đảng đã từng bước được hình thành
Trang 18Do nắm vững âm mưu, thủ đoạn của đế quốc Mỹ, nên trước ngày ký Hiệp định Giơnevơ, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (từ
15 đến 17-7-1954) đã chỉ rõ: “Hiện nay đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân dân thế giới, và nó đang trở thành kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Đông Dương, cho nên mọi việc của ta đều nhằm chống đế quốc Mỹ” [26, tr.319]
Đảng quyết định thay đổi phương thức đấu tranh quân sự sang đấu tranh chính trị, đòi Mỹ và chính quyền Sài Gòn phải thi hành Hiệp định, phải
tổ chức hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước và đòi thực hiện các quyền dân sinh, dân chủ, chống mọi hành động khủng bố, đàn áp
Chỉ ít ngày sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, trong chỉ thị của Ban Bí thư, Trung ương Đảng xác định: Đế quốc Mỹ, hiếu chiến Pháp và bọn tay sai của chúng vẫn chưa chịu bỏ âm mưu phá hoại việc lập lại hoà bình ở Đông Dương Cho nên toàn Đảng, toàn quân, toàn dân cần phải tiếp tục đấu tranh gian khổ, lâu dài để củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ trong toàn quốc Nhân dân Đông Dương cần luôn luôn đề cao cảnh giác, đập tan mọi âm mưu phá hoại hoà bình, xâm phạm những hiệp định đã ký kết Đảng cũng xác định: “cuộc kháng chiến trường kỳ của ta đã chuyển sang hình thức đấu tranh chính trị để củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn toàn độc lập, dân chủ trong toàn quốc” [12, tr.241]
Sau Hiệp định Giơnevơ, ngày 27 và 28 tháng 7-1954, Liên Khu uỷ V họp Hội nghị mở rộng có bí thư các tỉnh uỷ về dự Hội nghị đề ra một số công tác cấp bách:
- Tổ chức tuyên truyền, giáo dục chuyển hướng tư tưởng và nhận thức
về đường lối, phương châm, phương pháp đấu tranh cho đảng viên, cán bộ và quần chúng nhân dân trong giai đoạn mới, lấy đấu tranh hợp pháp và nửa hợp pháp làm chính
- Củng cố cấp uỷ đảng các cấp, tổ chức các chi bộ nhỏ, gọn, tinh, hợp
lý, bí mật Chọn những đảng viên trung kiên, có sức khoẻ tốt, chịu đựng gian
Trang 19khổ, có năng lực hoạt động để củng cố các cấp uỷ đảng Còn lại đa số đảng viên sống hợp pháp và nửa hợp pháp để tập hợp lực lượng và lãnh đạo đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ, đòi hiệp thương tổng tuyển cử, thống nhất nước nhà như hiệp định quy định
- Chọn các khu có địa thế quân sự lập căn cứ, cất giấu một số vũ khí cần thiết, để lại một số cán bộ, chiến sĩ đặc công bảo vệ cơ quan, bảo vệ Đảng
Thực hiện chỉ đạo của Liên Khu uỷ V, đầu tháng 9-1954, Tỉnh uỷ Phú Yên triệu tập Hội nghị mở rộng, khẩn trương triển khai quán triệt Nghị quyết của Trung ương và những chủ trương mới của Liên Khu uỷ Hội nghị đề ra nhiều biện pháp để chuyển hướng tư tưởng, củng cố hệ thống tổ chức đảng từ tỉnh xuống cơ sở tinh gọn và rút vào hoạt động bí mật
Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 9-1954 chỉ rõ: Đế quốc Mỹ và tay sai Ngô Đình Diệm đang mưu tính phá hoại Hiệp định Giơnevơ nhằm chia cắt lâu dài Việt Nam Cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam phải chuyển từ đấu tranh vũ trang sang đấu tranh chính trị Đồng thời, Bộ Chính trị nêu lên ba nhiệm vụ cụ thể trước mắt của cách mạng miền Nam là: đấu tranh đòi thi hành Hiệp định; chuyển hướng công tác cho phù hợp điều kiện mới; tập hợp mọi lực lượng dân tộc, dân chủ, hoà bình, thống nhất, độc lập, đấu tranh nhằm lật đổ chính quyền bù nhìn thân Mỹ, hoàn thành thống nhất Tổ quốc
Thực hiện chủ trương chuyển hướng của Đảng, các đảng bộ và quân dân miền Nam nói chung và Đảng bộ, nhân dân Phú Yên nói riêng đã nhanh chóng chuyển hướng đấu tranh từ vũ trang sang chính trị, nghiêm chỉnh chấp hành Hiệp định Giơnevơ Hàng trăm tổ chức quần chúng công khai, trong đó
có các uỷ ban đấu tranh đòi hoà bình được thành lập ở miền Nam Phong trào đấu tranh đòi hiệp thương tổng tuyển cử, chống bầu cử lừa bịp, chống cướp đất, đuổi nhà, dồn dân, đòi công ăn việc làm, chống khủng bố, chống sa thải, chống bắt lính v.v được phát triển mạnh mẽ cả ở nông thôn và thành thị với hàng triệu lượt người tham gia
Trang 201.2.2 Sự chỉ đạo của Đảng bộ Phú Yên trong cuộc đấu tranh giữ gìn lực lượng cách mạng
Do việc tập kết chuyển quân ra Bắc, tương quan lực lượng ở miền Nam
có sự thay đổi lớn, không có lợi cho phong trào cách mạng Trong tương quan lực lượng đó, cần phải thay đổi phương thức đấu tranh ở miền Nam: từ đấu tranh quân sự sang đấu tranh chính trị
Để giữ gìn lực lượng và duy trì hoạt động trong điều kiện quân thù khủng bố dã man, các đảng bộ ở miền Nam đã sắp xếp lại tổ chức và rút vào hoạt động bí mật Nhiều địa phương đã chủ trương “điều” (cán bộ đã bị lộ đi hoạt động ở địa phương khác) và “lắng” (cán bộ tạm thời rút vào hoạt động bí mật), kiên trì bám dân, bám đất, lãnh đạo phong trào Cán bộ và nhân dân miền Nam đã chiến đấu kiên cường và hy sinh vô cùng anh dũng Sôi nổi, mạnh mẽ và rộng rãi nhất là phong trào chống quân dịch, chống bắt lính Qua thực tiễn đấu tranh, cùng với lực lượng chính trị được bảo tồn, lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng được xây dựng lại ở nhiều nơi Đó là điều kiện cần thiết để có thể tiếp tục đưa cách mạng miền Nam tiến lên
Trong giai đoạn cách mạng mới, cán bộ, đảng viên và nhân dân Phú Yên là một lực lượng chính trị to lớn, đồng thời cũng là đối tượng mà Mỹ và tay sai tập trung khủng bố, trả thù hết sức dã man Trong khí thế quân và dân
ta đang lên cao, lực lượng vũ trang đang chiến thắng giòn giã ở Điện Biên Phủ, Bắc Tây Nguyên, trong đó quân dân Phú Yên tham gia đã đánh bại cuộc hành quân Át - Lăng, thì Hiệp định đình chiến ký kết Quân đội phải tập kết chuyển quân ra miền Bắc Vùng tự do và cả căn cứ du kích, căn cứ miền Tây của tỉnh trở thành vùng đối phương kiểm soát, nhân dân phải sống dưới ách thống trị tàn bạo của Mỹ và tay sai Do đó, tư tưởng, tình cảm trong cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân có nhiều day dứt, một mặt mừng hòa bình được lập lại, mặt khác lo âu vì đất nước còn bị chia cắt, nhân dân còn bị kẻ thù thống trị Tuy vậy, “cán bộ và nhân dân vẫn tin tưởng sự lãnh đạo của
Trang 21Đảng và Bác Hồ, tin tưởng ở thắng lợi cuối cùng của cách mạng nên ai nấy đều nghiêm chỉnh chấp hành chủ trương của Đảng sẵn sàng tiếp tục cuộc đấu tranh trong giai đoạn mới” [34, tr.17-18]
Theo quy định của Hiệp định Giơnevơ thì Phú Yên phải hoàn thành chuyển quân ra vùng tập kết ở Quy Nhơn (Bình Định) trong vòng ba mươi ngày Công việc sắp xếp chưa xong, nhưng ở thị xã Tuy Hòa và các thị trấn, địch đã đàn áp trắng trợn những cuộc biểu tình hoan nghênh hiệp định đình chiến, mừng hòa bình của nhân dân Địch tiếp quản đến đâu chúng thiết quân luật, bắt giam, giết người gây tang tóc đến đó Chúng điều về đây những đơn
vị quân đội và bọn tay sai gian ác, chia quân ra từng tiểu đội đóng tại các làng, các vùng trọng yếu, giao quyền cho tay sai thẳng tay đàn áp bất cứ cuộc đấu tranh nào của nhân dân
Trước tình hình khó khăn, Liên Khu uỷ V đã tăng cường cán bộ cho tỉnh Giữa tháng 5-1956, Hội nghị Tỉnh uỷ mở rộng được triệu tập Hội nghị vạch rõ công tác tư tưởng lớn nhất lúc này là không ngừng giữ vững lòng tin
ở cách mạng nhất định thắng lợi, giữ vững phẩm chất đạo đức người cán bộ cách mạng, đề cao khí tiết cộng sản, chống ảnh hưởng xấu của một số phần tử khai báo, kịp thời vạch trần những âm mưu, thủ đoạn của địch nhằm sử dụng
số đảng viên đã thoái hoá để đánh vào Đảng và cơ sở cách mạng Về tổ chức, Tỉnh uỷ chủ trương ra sức bảo đảm sự liên lạc giữa Tỉnh uỷ với cấp trên và các cấp huyện, xã Tích cực xây dựng cơ sở, thực hiện phương châm “khéo công tác, khéo che giấu”, giữ đúng nguyên tắc bí mật Bổ sung một số đồng chí đã được rèn luyện, thử thách vào Tỉnh uỷ Xây dựng miền Tây thành vùng căn cứ của tỉnh [11, tr.24]
Trong những năm đầu, cán bộ và quần chúng chưa lường hết sự tàn ác
dã man của địch, còn lúng túng trong việc sử dụng các phương thức hoạt động
ở vùng tạm bị chiếm “Nhưng thực tế sáng dần, các huyện đã xây dựng được chỗ đứng chân ở vùng ven biển, ven núi” [11, tr.25]
Trang 22Vào giữa năm 1956, khi đã thiết lập được bộ máy cai trị đến thôn, xã ở đồng bằng, đế quốc Mỹ và tay sai tiến lên đánh phá miền núi, thực hiện dồn dân, vì chúng cho rằng có dồn dân mới thi hành được các chính sách của chúng và mới tiêu diệt được cơ sở cách mạng Chúng ra sức tuyên truyền luận điệu bịp bợm “dồn dân là để cải thiện đời sống”
Trước tình hình đó, Tỉnh uỷ chỉ đạo các huyện miền tây của tỉnh vận động nhân dân chống lại kế hoạch dồn dân của địch bằng những hình thức đấu tranh hợp pháp dựa vào phong tục tập quán và luận điệu tuyên truyền dân chủ giả hiệu của địch, kéo đến quận đấu tranh Có một số thôn, đồng bào cương quyết không chịu tập trung, chạy vào rừng sản xuất, tổ chức canh gác
để làm ăn Còn cán bộ thì lợi dụng hình thức nửa hợp pháp, địch đến thì đi vào rừng, địch đi lại trở về sống trong buôn làng Có nhiều vùng đồng bào, không chịu dồn dân, tích cực cất giấu tài sản, tổ chức bỏ làng đi nơi khác và
vũ trang bố phòng tự vệ
Trước những thử thách ác liệt, “cán bộ, đảng viên vẫn quyết tâm bám phong trào, bám dân xây dựng tổ chức đảng và cơ sở cách mạng” [34, tr.28] Nhiều vùng trong một năm phải xây dựng chi bộ mới đến hai, ba lần, nhiều Huyện ủy như Đồng Xuân, Tuy An, Tuy Hòa trong một năm thay mới gần hết Nhờ đó, hệ thống tổ chức đảng và cơ sở cách mạng được củng cố và tăng cường, lực lượng cách mạng được duy trì
1.3 Đảng bộ tỉnh Phú Yên lãnh đạo cuộc đấu tranh chính trị có vũ trang tự vệ chống khủng bố của địch
1.3.1 Duy trì tổ chức và hoạt động của tổ chức đảng ở Phú Yên
Sau vụ Ngân Sơn - Chí Thạnh, các vụ đàn áp, khủng bố diễn ra liên tiếp Các tổ chức ở thôn, xã đến huyện, tỉnh đều bị phá vỡ Cơ sở quần chúng cũng tan rã gần hết theo cơ sở đảng Ở mỗi huyện chỉ còn vài ba đồng chí len lỏi trong rừng núi, vùng giáp ranh giữa Đăk Lăk - Phú Yên Ngoài ra còn một
Trang 23số ít cán bộ tỉnh, huyện sống hợp pháp, chưa bị lộ nhưng không hoạt động được Nhiều cán bộ được tổ chức hoặc tự động lánh ra vùng tự do Bình Định
Trước tình hình đó, Tỉnh uỷ Phú Yên chủ trương tranh thủ thời gian, tranh thủ tối đa thời gian thực hiện việc tập kết theo quy định để tập hợp cán
bộ, mở những lớp ngắn ngày bồi dưỡng về đường lối, chính sách và phương châm, phương pháp công tác, giáo dục tư tưởng, đề cao khí tiết và phẩm chất đạo đức người cộng sản Những đồng chí tỉnh uỷ viên và cán bộ cốt cán được
dự lớp bồi dưỡng do đồng chí Võ Chí Công, đại diện Liên Khu uỷ triệu tập Qua những lớp bồi dưỡng và hội nghị học tập, Tỉnh uỷ chọn những đồng chí vững vàng, có tinh thần trách nhiệm cao bố trí đưa về tỉnh hoạt động Cơ quan tỉnh, huyện được tổ chức gọn nhẹ, chỉ còn năm, sáu đồng chí để bảo đảm bí mật lúc khó khăn, bám vào cơ sở Tại xã chỉ để một hoặc hai đồng chí chuyên trách lãnh đạo phong trào Một mặt, Tỉnh uỷ liên lạc bắt mối với các đồng chí còn bám lại địa phương Mặt khác, tổ chức phổ biến tình thần Hiệp định Giơnevơ và đường lối, chính sách của Đảng cho số quần chúng thường đi ra,
đi vào giữa Phú Yên và Bình Định, hàng ngày có đến vài trăm người
Cuối tháng 11-1954, theo chỉ thị của Liên Khu uỷ V, Văn phòng Tỉnh
uỷ rút ra Diêu Trì - Bình Định Tại đây một số cán bộ của tỉnh được dự cuộc họp nghe đại diện Khu uỷ phổ biến tình hình, nhiệm vụ và phương trâm, phương pháp hoạt động bí mật, đồng thời chỉnh đốn tổ chức Nhiệm vụ của Tỉnh uỷ lúc này là phát triển cơ sở, tổ chức các chi bộ đảng lãnh đạo nhân dân đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, đòi hiệp thương tổng tuyển cử tự do để thống nhất đất nước Thực hiện nhiệm vụ quan trọng đó, Tỉnh uỷ ra sức chỉ đạo phục hồi phong trào, phục hồi hệ thống tổ chức của Đảng Đường dây liên lạc
từ căn cứ của tỉnh đến một số huyện và xã được tổ chức lại Tháng 5-1955, một số đồng chí được cử đi đường biển vào căn cứ Bãi Xếp (thuộc xã Hoà Hiệp) hoạt động ở các huyện Tuy Hoà I, Tuy Hoà II Một số đồng chí khác
Trang 24được cử đi đường núi vào các huyện Đồng Xuân, Tuy An, Sơn Hoà để hoạt động Một số cơ sở Đảng và cơ sở quần chúng nhanh chóng được phục hồi
Trước sự khủng bố dã man và thủ đoạn thâm độc của Mỹ và tay sai, một số cán bộ đảng viên nằm im không thể hoạt động, một số chạy vào Sài Gòn, Nha Trang để tránh sự khủng bố của địch Trong thời điểm này, Tỉnh uỷ
Phú Yên cho ra tờ báo “Đoàn kết” để thông báo chủ trương, nghị quyết của
Đảng, hướng dẫn phương châm, phương pháp đấu tranh, động viên phong trào, đưa đường lối, chủ trương của Đảng đến với quần chúng nhân dân Tờ
báo “Đoàn kết” đã được phát hành rộng rãi đến tận cơ sở
Mặc dù địch khủng bố, trả thù những người kháng chiến rất dã man, nhưng quần chúng vẫn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ Cơ sở đảng từng bước được phục hồi, truyền đơn, khẩu hiệu đòi hiệp thương tổng tuyển cử được rải ở nhiều nơi trong tỉnh, kể cả “ở trụ sở Hội đồng hương chính nguỵ” (như ở các xã: Hoà Mỹ, Hoà Định, Hoà Tân) Ở Tuy Hoà, dù trước tình hình khó khăn bị địch khủng bố ác liệt vẫn tiến hành thành lập huyện uỷ vào tháng 4-1955 Và đây là “huyện uỷ đầu tiên trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Đảng bộ Tuy Hoà” [1, tr.40]
Trong lúc phong trào ở đồng bằng xuống thấp, cơ sở đảng và cơ sở quần chúng bị thiệt hại nặng nề thì ở miền núi, nhất là vùng đồng bào dân tộc,
tổ chức của Đảng chưa bị xáo trộn nhiều, xã nào cũng có chi bộ hoặc cơ sở đảng Cán bộ người địa phương và cán bộ người Kinh được phân công bám dân, bám phong trào Giữa cán bộ thoát ly hoạt động bất hợp pháp và cán bộ bên trong, chủ yếu là cán bộ người dân tộc, hoạt động hợp pháp giữ được sự liên hệ chặt chẽ, thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng Sử dụng tập quán
vũ trang chống thú rừng, nhân dân một số nơi bắt đầu dùng những vũ khí thô
sơ để chống địch, bảo vệ cơ sở cách mạng, bảo vệ đời sống nhân dân
Đứng trước sự khủng bố ác liệt của kẻ thù, “nhiều cơ sở Đảng ở trong tỉnh vẫn kiên trì đường lối đấu tranh của Đảng, bắt mối liên lạc, tổ chức nhiều
Trang 25cuộc họp để chấn chỉnh tư tưởng, tìm kiếm biện pháp đấu tranh thích hợp” [1, tr.44]
1.3.2 Các phong trào đấu tranh cách mạng
Sự hung bạo của đế quốc Mỹ và tay sai không chỉ làm tăng lòng căm thù của nhân dân đối với chúng lên đến tột đỉnh, mà còn làm cho họ thấy được bản chất độc tài phát xít của chế độ do đế quốc Mỹ lập nên
Trong hoàn cảnh khó khăn ấy, lòng dân càng hướng về Đảng Không ít quần chúng đã giả đi buôn bán đến vùng căn cứ của ta bắt mối liên lạc với Đảng, nhiều thanh niên tình nguyện gia nhập vào Đảng Trong hoàn cảnh địch thực hiện khủng bố trắng nhưng Đảng bộ Phú Yên vẫn lãnh đạo nhân dân đứng lên chống cuộc “trưng cầu dân ý” tháng 10-1955 và cuộc bầu cử quốc hội bù nhìn của đế quốc Mỹ và tay sai vào tháng 3-1956
Cuộc đấu tranh chống bầu cử quốc hội của Mỹ và tay sai được tiến hành dưới nhiều hình thức Ở huyện Tuy Hoà, chỉ trong một đêm, truyền đơn được tung ra khắp các xã, tẩy chay cuộc bầu cử và vạch trần âm mưu, thủ đoạn của Ngô Đình Diệm nhằm chia cắt vĩnh viễn Việt Nam Địch ra sức trả thù, ở nhiều xã chúng bắt hàng trăm người, có cả một số đồng chí lãnh đạo huyện, tỉnh
Để chống âm mưu “tố cộng”, “diệt cộng” của địch, Tỉnh uỷ Phú Yên đề
ra chủ trương đối phó bằng nhiều cách: viện lý do đau yếu không đi “tố” và bắt
đi thì không tới, không hô khẩu hiệu, không xé cờ Đảng, làm ồn ào mất trật tự, hoặc “tố” những tên đầu hàng phản bội làm tay sai cho giặc Mặc dù bị địch khủng bố dã man “nhưng quần chúng nhân dân vẫn kiên cường, bền bỉ đấu tranh từng bước làm thất bại âm mưu “tố cộng, “diệt cộng” của địch” [1, tr.49]
Qua thực tiễn phong trào đấu tranh chính trị ở miền Nam đòi hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước cho thấy những hạn chế của hình thức này, nếu ta chỉ đấu tranh chính trị đơn thuần, trong khi kẻ địch ngay từ
Trang 26đầu đã bộc lộ rõ dã tâm dùng bạo lực phản cách mạng để tiêu diệt lực lượng cách mạng Hàng loạt vụ thảm sát dã man mà kẻ địch tiến hành trên khắp miền Nam và tiếp đến là các chính sách “tố cộng”, “diệt cộng” đã gây ra bao tổn thất cho phong trào cách mạng miền Nam Với bàn tay trắng thì dù có chính nghĩa, có pháp lý của Hiệp định Giơnevơ, có phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, cũng không thể tự bảo vệ, chứ chưa nói tiến công địch Rõ ràng, qua thực tế cách mạng ở miền Nam những năm 1954-1956 đòi hỏi Đảng phải tiếp tục tìm kiếm những hình thức, biện pháp đấu tranh mới từng bước tạo thế và lực cho cách mạng tiếp tục tiến lên
Trước yêu cầu bức xúc phải bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân, bảo vệ phong trào cách mạng, một số nơi ở miền Nam đã xuất hiện tình hình quần chúng bí mật thủ tiêu ác ôn gây nhiều nợ máu Nhiều nơi nhân dân kéo đến chất vấn cán bộ cách mạng, rằng tại sao lại khoanh tay để địch thả sức hoành hành như vậy
Từ thực tế đó, Hội nghị Bộ Chính trị tháng 6-1956 có quyết định mới về hình thức đấu tranh cách mạng ở miền Nam Bộ Chính trị khẳng định: “Hình thức đấu tranh của ta trong toàn quốc hiện nay là đấu tranh chính trị, không phải đấu tranh vũ trang Nói như thế không có nghĩa là tuyệt đối không dùng
vũ trang tự vệ trong những hoàn cảnh nhất định hoặc không tận dụng những lực lượng vũ trang của các giáo phái chống Diệm Chúng ta chủ trương duy trì
và phát triển các lực lượng vũ trang đó đến một mức độ nhất định, nhưng nó phải do Đảng lãnh đạo thì mới có thể duy trì và phát triển được” [13, tr.225].Nghị quyết Bộ Chính trị cũng chỉ rõ: “Cần củng cố các lực lượng vũ trang và bán vũ trang hiện có và xây dựng căn cứ làm chỗ dựa Đồng thời xây dựng cơ
sở quần chúng vững mạnh làm điều kiện căn bản để duy trì và phát triển lực lượng vũ trang Tổ chức tự vệ trong quần chúng nhằm bảo vệ các cuộc đấu tranh của quần chúng và giải thoát cán bộ khi cần thiết” [13, tr.228]
Trang 27Nghị quyết Bộ Chính trị là sự bổ sung cần thiết về đường lối cách mạng miền Nam Nghị quyết đã bật đèn xanh cho đảng bộ và nhân dân miền Nam
có quyền vũ trang tự vệ, chống địch khủng bố
Từ thực tiễn cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân miền Nam, tháng
8-1956, Xứ uỷ Nam Bộ đã ra bản Đề cương cách mạng miền Nam, nêu rõ chế
độ thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai ở miền Nam là một chế độ độc tài, phát xít, hiếu chiến Để chống Mỹ và tay sai, nhân dân miền Nam “chỉ có con đường cứu nước và tự cứu mình, là con đường cách mạng Ngoài con đường cách mạng không có một con đường khác” [13, tr.785] Đây là một trong những cơ sở quan trọng, góp phần vào sự hình thành đường lối của Đảng về
cách mạng miền Nam Bản Đề cương đã được đón nhận một cách tích cực ở
Nam Bộ và Khu V
Chủ trương mới của Đảng và bản Đề cương cách mạng miền Nam đã
được triển khai nghiên cứu học tập trong nhiều đảng bộ miền Nam và một số tỉnh Khu V Thực hiện chủ trương của Đảng, Tỉnh uỷ Phú Yên đề ra chủ trương phải tiến hành diệt một số tên ác ôn có nợ máu với nhân dân để cảnh cáo kẻ địch và thức tỉnh quần chúng Tên ác ôn được xác định để tiêu diệt đầu tiên là tên đại diện xã Xuân Phước, huyện Đồng Xuân Một tổ vũ trang được thành lập do đồng chí Phó bí thư Tỉnh uỷ trực tiếp chỉ đạo đã hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt tên ác ôn này vào đêm 15-11-1958 Tiếp sau đó, một số tên
ác ôn có nợ máu với nhân dân khác cũng đã bị tiêu diệt
Các tên ác ôn lần lượt bị tiêu diệt đã làm cho hệ thống tề nguỵ hoang mang, dao động, đã có một số tên xin trả việc đi nơi khác hoặc nằm im Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn chấn tĩnh lại chúng đã bắt hơn 50 người tra tấn rất dã man, cơ sở cách mạng ở xã Xuân Phước huyện Đồng Xuân đã bị phá vỡ
Đứng trước tình hình đó, Tỉnh uỷ nhận định và thông báo cho các cấp trong công văn mật lấy ký hiệu “CT8 gởi các chú” Thông báo của Tỉnh uỷ
Trang 28vạch rõ: “Tháng 11-1958 vừa qua, lần đầu tiên trong tỉnh, ta tiến hành vụ trừ gian, đánh dấu bước ngoặt của cuộc đấu tranh chính trị chuyển sang diệt ác là hình thức đấu tranh võ trang Nó mới đối với ta, mới đối với nhân dân và cả đối với địch Sự kiện này đã gây nên một luồng phấn khởi cho cán bộ đảng viên và cơ sở cách mạng, ta phải biết nhân đà này đưa khí thế cách mạng của quần chúng tăng lên” [31].
Với việc tiêu diệt một số tên ác ôn, “một cuộc thử nghiệm đã thành công sau nhiều năm đấu tranh chính trị đơn thuần, mở ra một phương hướng hoạt động mới” [11, tr.37], góp phần tạo ra thế và lực mới cho phong trào cách mạng trong tỉnh
* Sau Hiệp định Giơnevơ, đế quốc Mỹ lợi dụng sự suy yếu của thực dân Pháp đã nhảy vào miền Nam Việt Nam, gạt thực dân Pháp và mọi thế lực thân Pháp, lập chính quyền tay sai, thực hiện mưu đồ biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ Để thiết lập chủ nghĩa thực dân mới
ở miền Nam, đế quốc Mỹ đã dựng lên bộ máy nguỵ quyền phát xít Ngô Đình Diệm và xây dựng một bộ máy quân đội gần nửa triệu quân làm tay sai cho chúng Cùng với những thủ đoạn lừa bịp mị dân, Mỹ - Diệm vừa tiến hành phá hoại việc thực hiện Hiệp định Giơnevơ, vừa tiến hành chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng”, đàn áp khủng bố lực lượng yêu nước và cách mạng của nhân dân miền Nam
Trong kháng chiến chống Pháp, Phú Yên là một tỉnh có phong trào kháng chiến mạnh của vùng tự do Liên Khu V, nên ngay từ những ngày đầu tiếp quản, đế quốc Mỹ và tay sai đã ráo riết đánh phá phong trào cách mạng Địch đã tiến hành nhiều vụ thảm sát đẫm máu, truy lùng, đánh phá các tổ chức cơ sở đảng ở nhiều địa phương trong tỉnh Chúng tổ chức truy lùng, bắt
Trang 29bớ những cán bộ, đảng viên, những người yêu nước đã tham gia hoạt động cách mạng trước đó để đánh đập, tra tấn, giam cầm Nhiều cán bộ trung kiên của ta đã bị chúng sát hại, tra tấn, đánh đập cho đến chết hoặc tàn phế suốt đời Địch tiến hành khủng bố trắng các cuộc đấu tranh của nhân dân ta
Đứng trước sự khủng bố ác liệt của kẻ thù, cán bộ, đảng viên còn lại đã phải vượt qua mọi khó khăn thử thách để bám quần chúng, lãnh đạo phong trào Các cấp uỷ đảng trong tỉnh vẫn kiên trì đường lối đấu tranh của Đảng, đẩy mạnh lãnh đạo cuộc đấu tranh giữ gìn lực lượng, chống đàn áp, khủng bố của địch, tìm kiếm biện pháp đấu tranh thích hợp
Trang 30Chương 2 ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ YÊN LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC CHUẨN BỊ
VÀ TIẾN HÀNH ĐỒNG KHỞI
2.1 Quán triệt Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
2.1.1 Hội nghị 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1-1959)
Theo Hiệp định Giơnevơ, nhân dân miền Nam đã tiến hành cuộc đấu tranh đòi hoà bình, hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất nước nhà Tuy nhiên, đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm đã phá hoại Hiệp định Giơnevơ, thẳng tay đàn áp những người yêu nước; khủng bố, bắt giam
và mở các chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng”, ban hành Luật 10/59, lê máy chém khắp miền Nam, công khai tiến hành cuộc chiến tranh để chống lại nhân dân miền Nam, chống lại cách mạng, chống lại nguyện vọng hoà bình, thống nhất nước nhà của nhân dân hai miền Nam - Bắc Lúc này, “nhân dân ta đứng trước tình thế phải đấu tranh một mất một còn với địch, nhưng đấu tranh bằng con đường nào, bằng phương pháp nào và với hình thức nào để giành thắng lợi? Đó là những vấn đề hết sức cấp bách mà cách mạng miền Nam cần phải giải đáp” [29, tr.118]
Thực hiện đường lối, phương pháp đấu tranh của Đảng sau tháng
7-1954, hình thức đấu tranh chính trị đã được sử dụng ở miền Nam, thay thế cho hình thức đấu tranh quân sự Các tổ chức quần chúng công khai được thành lập, các phong trào đấu tranh đòi tự do, dân chủ, đấu tranh chống âm mưu chia cắt đất nước, chống quân dịch v.v đã lan rộng, thu hút sự tham gia của đông đảo quần chúng Phong trào đấu tranh ngày càng phát triển, đặc biệt
là cuộc đấu tranh chống “tố cộng”, “diệt cộng”, song trong bầu không khí nghẹt thở, cách mạng miền Nam vẫn đứng trước những khó khăn chưa từng thấy
Trang 31Trải qua quá trình tìm tòi, trên cơ sở phân tích điều kiện cách mạng cả nước, điều kiện cụ thể ở miền Nam, tình hình thế giới, nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo và bằng bản lĩnh, trí tuệ của mình, Đảng đã tập trung trí lực, từng bước xác định chủ trương, đường lối và biện pháp đúng đắn đưa cách mạng phát triển Một trong những văn kiện quan trọng, tạo bước phát triển nhảy vọt về chất của phong trào cách mạng miền Nam là Nghị quyết lần thứ 15 (mở rộng) tháng 1-1959 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Nghị quyết 15 phân tích đặc điểm tình hình đất nước từ sau năm 1954,
từ đó nêu ra hai mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt Nam lúc đó: mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc xâm lược, giai cấp địa chủ phong kiến, bọn tư sản mại bản quan liêu thống trị ở miền Nam với toàn thể nhân dân Việt Nam; mâu thuẫn giữa con đường xã hội chủ nghĩa với con đường tư bản chủ nghĩa ở miền Bắc Từ đó Nghị quyết xác định: cách mạng Việt Nam do Đảng lãnh đạo và có hai nhiệm vụ chiến lược song song tiến hành là cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam Hai nhiệm vụ đó tuy tính chất khác nhau nhưng có quan hệ hữu cơ với nhau, cùng tác động, ảnh hưởng và hỗ trợ lẫn nhau Nghị quyết nhấn mạnh: hai miền tiến hành hai nhiệm vụ khác nhau, nhưng đánh đổ chế độ thống trị của
đế quốc Mỹ và tay sai, giải phóng miền Nam là “nhiệm vụ chung, vì lợi ích và yêu cầu chung của nhân dân cả nước”
Phân tích đặc điểm tình hình miền Nam (tính chất xã hội miền Nam, thái độ các giai cấp ở miền Nam), Nghị quyết nêu rõ:
“1 Nhiệm vụ cơ bản là giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế
quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh
2 Nhiệm vụ trước mắt là đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh
chống đế quốc Mỹ xâm lược và gây chiến, đánh đổ tập đoàn thống trị độc tài
Trang 32Ngô Đình Diệm, tay sai của đế quốc Mỹ, thành lập một chính quyền liên hợp dân tộc dân chủ ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc và các quyền tự do dân chủ, cải thiện đời sống của nhân dân, giữ vững hoà bình, thực hiện thống nhất nước nhà ” [14, tr.81-82]
Về phương hướng phát triển của cách mạng miền Nam, Nghị quyết chỉ rõ: “Con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là
khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân lấy sức mạnh của quần
chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang trong nhân dân để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân” [14, tr.82]
Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng còn vạch rõ, tiến lên khởi nghĩa giành chính quyền là một quá trình đấu tranh lâu dài, gian khổ, phải tích cực xây dựng, củng cố và phát triển lực lượng cách mạng thì mới có thể có điều kiện nắm lấy thời cơ thuận lợi và giành lấy thắng lợi cuối cùng Nghị quyết cũng dự báo, đế quốc Mỹ là tên đế quốc hiếu chiến nhất, chúng có thể tăng lực lượng quân sự vào miền Nam “Trong tình hình đó, cuộc đấu tranh sẽ chuyển sang một cục diện mới: đó là chiến tranh trường kỳ giữa ta và địch, và thắng lợi cuối cùng nhất định về ta” [14, tr.85]
Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra đời có phần chậm so với yêu cầu thực tế, bởi vì: “trong bối cảnh quốc tế vô cùng phức tạp, trong hoàn cảnh cách mạng miền Nam đang chuyển giai đoạn đấu tranh, ta lại chưa nắm vững hết tình hình âm mưu địch cũng như so sánh lực lượng giữa ta
và địch, thì việc xác định đường lối cách mạng và phương pháp đấu tranh không phải là điều giản đơn, có thể giải quyết trong một sớm một chiều” [2, tr.48] Tuy nhiên, Nghị quyết ra đời là một quyết định hết sức quan trọng và
có tác dụng chỉ đạo vô cùng to lớn đối với phong trào cách mạng miền Nam
Nghị quyết 15 đã khẳng định dứt khoát: con đường cách mạng miền Nam là con đường khởi nghĩa giành chính quyền Điều đặc biệt là chủ trương
Trang 33khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân (khởi nghĩa bằng lực lượng chính trị của quần chúng, có sự hỗ trợ của đấu tranh vũ trang) đã được quyết định trong bối cảnh lực lượng cách mạng ở miền Nam đang bị tổn thất lớn Điều đó cho thấy tầm nhìn, sự sáng suốt của Hồ Chí Minh và Đảng ta trong thời khắc khó khăn của lịch sử, đồng thời khẳng định niềm tin của Người và Trung ương Đảng vào sức mạnh nội lực, tinh thần đấu tranh cách mạng của đồng bào miền Nam
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
ra đời có tầm quan trọng và có ý nghĩa lớn lao trong sự phát triển của cách mạng miền Nam, phản ánh đúng và giải quyết kịp thời yêu cầu của cách mạng miền Nam trong tình thế cách mạng và những điều kiện cho cuộc khởi nghĩa từng phần tại các địa phương đã chín muồi Khẳng định phương pháp đấu tranh là bạo lực cách mạng, từ đấu tranh chính trị tiến lên kết hợp đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang Nghị quyết đã đáp ứng nguyện vọng thiết tha của cán bộ, chiến sĩ và đông đảo nhân dân miền Nam Vì vậy, ánh sáng của Nghị quyết đã thổi bùng ngọn lửa đấu tranh cách mạng của đồng bào miền Nam Nhân dân miền Nam đã nhất tề nổi dậy tiến hành Đồng khởi làm tan rã hàng loạt bộ máy kìm kẹp của chính quyền địch ở thôn, xã, từng bước giành quyền làm chủ, tạo tiền đề cho phong trào cách mạng phát triển lên một nấc thang mới
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá II - Nghị quyết lịch sử bàn về cách mạng miền Nam, làm xoay chuyển tình thế cách mạng miền Nam trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ
2.1.2 Những chủ trương của Xứ ủy Nam Bộ và Liên Khu ủy V
Từ thực tiễn của cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân miền Nam, tháng 8-1956, đồng chí Lê Duẩn, uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Xứ uỷ Nam Bộ
đã viết bản đề cương Đường lối cách mạng miền Nam Bản đề cương đã được
Trang 34đưa ra thảo luận tại Hội nghị Xứ uỷ Nam Bộ họp tháng 12-1956 Đề cương
Đường lối cách mạng miền Nam “là một trong những văn kiện quan trọng,
góp phần vào sự hình thành đường lối cách mạng Việt Nam ở miền Nam của Đảng” [33, tr.122]
Tháng 12-1965, Xứ uỷ Nam Bộ đã quyết định phải tích cực xây dựng lực lượng vũ trang tuyên truyền, lập các đội vũ trang bí mật, xây dựng căn cứ
ở rừng núi Theo phương hướng đó, các đảng bộ đã xúc tiến xây dựng lực lượng vũ trang, tiến hành vũ trang tuyên truyền mang tính chất tự vệ
Bản Đề cương Đường lối cách mạng miền Nam và Nghị quyết của Xứ
uỷ Nam Bộ bước đầu giải đáp được yêu cầu của cách mạng miền Nam, góp phần đưa chủ trương của Bộ Chính trị tháng 6-1956 về đấu tranh chính trị có
vũ trang tự vệ đi vào cuộc sống, hạn chế những tổn thất do địch gây ra
Tháng 1-1959, Nghị quyết 15 của Đảng ra đời đã chỉ rõ con đường đấu tranh của cách mạng miền Nam, đáp ứng được yêu cầu cấp bách của cách mạng Nghị quyết đã góp phần đưa phong trào cách mạng phát triển lên một nấc thang mới
Tháng 11-1959, Xứ uỷ Nam Bộ nhận được toàn văn Nghị quyết Trung ương lần thứ 15 Ngay sau đó, Xứ uỷ họp Hội nghị lần thứ IV để bàn biện pháp thực hiện Nghị quyết Trung ương lần thứ 15 Xứ uỷ nhấn mạnh những nhiệm vụ trước mắt của Đảng: “Đẩy lùi từng bước đến mức chuyển biến làm lay chuyển đến tận gốc chính quyền địch và cuối cùng phát động quần chúng khởi nghĩa đánh đổ Mỹ - Diệm khi có thời cơ thuận lợi” [14, tr.986] Xứ uỷ cũng chủ trương: “Trong quá trình đấu tranh hiện nay phương châm chính là: lấy đấu tranh chính trị rộng rãi và mạnh mẽ của quần chúng làm chính có kết hợp đúng mức với hoạt động võ trang” [14, tr.987]
Tháng 7-1960, Xứ uỷ họp Hội nghị lần thứ V rút kinh nghiệm và quyết định đồng khởi đợt 2 vào tháng 9-1960 Đồng thời Xứ uỷ kiến nghị với Trung
Trang 35ương về phương châm nâng cao mức đấu tranh vũ trang lên song song mức đấu tranh chính trị nhằm bảo vệ, phát triển những thành quả đã đạt được
Tại Liên Khu V, đối chiếu với thực tiễn tình hình trong Khu, giữa năm
1958, Liên Khu uỷ V họp Hội nghị kiểm điểm tình hình phong trào và sự chỉ đạo của Khu uỷ từ sau Hiệp định Giơnevơ Từ đó, Hội nghị đã đề ra phương hướng:
“1- Xây dựng Tây Nguyên và miền núi các tỉnh thành căn cứ địa cách mạng 2- Bước đầu xây dựng lực lượng vũ trang và nửa vũ trang ở miền núi
để làm nhiệm vụ tự vệ, bảo vệ căn cứ, bảo vệ cán bộ
3- Khôi phục phong trào đồng bằng
Phương châm đấu tranh là: Dùng vũ trang bộ phận để phối hợp với đấu tranh chính trị, tiêu diệt bọn Mỹ để khơi động tinh thần dân tộc chống Mỹ, diệt bọn phản động để tranh thủ bọn lưng chừng, diệt đầu sỏ bên trên để lay chuyển bọn bên dưới” [10]
Mùa hè năm 1959, đồng chí Võ Chí Công, Bí thư Liên Khu uỷ V đã truyền đạt tinh thần của Nghị quyết 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá II) cho cuộc họp của Khu ủy Khu V mở rộng
Cuối tháng 11-1959, Nghị quyết 15 được Khu uỷ V quán triệt và chấp hành từ trên xuống dưới, từ trong đảng ra quần chúng một cách phấn khởi và nhanh chóng Tháng 12-1959, hầu hết các tỉnh của Khu V được quán triệt Nghị quyết 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Về tình hình đồng bằng Khu V, Khu ủy nhận định: "Hiện nay ở đồng bằng mới bắt đầu gượng dậy, miền núi đang được củng cố và phát triển Ta có khả năng xây dựng cơ sở ở đồng bằng nhưng chưa thể làm nhanh được cho nên nôn nóng và ào ạt sẽ bị thất bại, nhưng nếu mai phục một cách máy móc, co vòi lại cũng sẽ bị thất bại nặng không thể làm nhanh một đêm mà phải có thời gian phát động cao trào quần chúng" [14, tr.1027]
Tháng 4-1960, Liên Khu uỷ V họp kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết 15, Khu uỷ nhận định: Tương quan lực lượng lúc này căn bản chưa thay
Trang 36đổi, thực lực địch còn mạnh nhưng tình hình đã bắt đầu chuyển biến có lợi cho cách mạng hơn Cuộc đấu tranh đang trong giai đoạn giằng co quyết liệt, vừa vận dụng mọi khả năng đấu tranh chính trị, vừa tích cực chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa cướp chính quyền Hội nghị phê phán tư tưởng rụt rè, hữu khuynh không dám tiến công địch Hội nghị quyết định mở rộng hoạt động vũ trang trong toàn Liên Khu, tăng cường xây dựng lực lượng vũ trang, nhanh chóng xây dựng Tây Nguyên thành căn cứ địa vững mạnh, chỗ dựa cho cuộc kháng chiến trong Liên Khu và phát động nhân dân miền núi vũ trang vùng lên chống địch, khôi phục và phát triển phong trào ở đồng bằng , chú ý các đô thị Hội nghị quyết định:
“- Mạnh dạn phát động quần chúng ở căn cứ miền núi vũ trang chống địch càn quét
- Đẩy mạnh xây dựng lực lượng vũ trang tập trung
- Khẩn trương xây dựng căn cứ địa miền núi, khôi phục và phát triển phong trào đồng bằng, chú ý công tác thành phố” [38, tr.283]
Ngày 4-5-1960, Khu ủy Khu V họp Hội nghị mở rộng kiểm điểm quá trình thực hiện Nghị quyết 15 của Trung ương Vận dụng Nghị quyết 15 vào
hoàn cảnh cụ thể của Liên Khu V, Khu uỷ xác định: “Nắm vững hình thức
đấu tranh chính trị là chủ yếu, đồng thời kết hợp hình thức đấu tranh vũ trang
để hỗ trợ cho đấu tranh chính trị; tuỳ nơi tuỳ lúc mà chủ động linh hoạt sử
dụng lực lượng vũ trang tuyên truyền, vũ trang tự vệ phục vụ cho đấu tranh của quần chúng, bảo vệ phong trào với mức độ cần thiết và tuỳ theo khả năng” [15, tr.1111]
Ánh sáng Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng cùng với sự chỉ đạo của Xứ uỷ Nam Bộ và Liên Khu uỷ V đã làm cho phong trào cách mạng của Nam Bộ và Khu V chuyển lên thế tiên công, từng bước phá vỡ
âm mưu của địch, tăng cường thế và lực cho cách mạng miền Nam, tạo ra cục diện mới
Trang 372.1.3 Đảng bộ tỉnh Phú Yên chỉ đạo công tác chuẩn bị đồng khởi
Trước sự khủng bố điên cuồng của địch và qua kinh nghiệm bản thân, cán bộ, đảng viên và nhân dân Phú Yên đều mong cấp trên cho thay đổi phương pháp đấu tranh Vì vậy, khi được nghe truyền đạt Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, lấy đấu tranh vũ trang hỗ trợ cho đấu tranh chính trị, cán bộ, đảng viên và nhân dân vô cùng phấn khởi
Đầu tháng 12-1959, Tỉnh ủy tổ chức Hội nghị tại Suối Heo xã Bầu Bèng (nay là xã Phước Tân huyện Sơn Hoà tỉnh Phú Yên) để phổ biến nghị
quyết Vận dụng Nghị quyết 15, Tỉnh ủy Phú Yên chủ trương: Diệt một số tên
ác ôn đầu sỏ có nợ máu với nhân dân để trấn áp địch và xây dựng căn cứ miền núi, rút thanh niên tổ chức lực lượng vũ trang, phát triển phong trào đồng bằng, kiện toàn tổ chức, phát triển đảng, lập thêm một số chi bộ xã
Cũng sau Nghị quyết 15, Trung ương Đảng điều động một số cán bộ từ miền Bắc vào miền Nam Ở Phú Yên, giữa tháng 10-1959, trạm giao liên Thồ Lồ-
Ma Dú được Tỉnh ủy giao trách nhiệm đón tiếp đoàn cán bộ chính trị quân sự gồm 29 người Điều này đã tăng thêm nguồn sức mạnh cho đảng bộ và nhân dân trong tỉnh
Sau Hội nghị, Tỉnh uỷ chỉ đạo các huyện tranh thủ xây dựng cơ sở nòng cốt, phát triển đảng viên, rút thanh niên ra căn cứ, củng cố lại các chi bộ
cũ, xây dựng thêm chi bộ mới Xây dựng căn cứ đứng chân, mở ra các điểm sản xuất tự túc khắp các vùng giáp ranh Đây là một chủ trương có tính chiến lược của Tỉnh uỷ, không chỉ để giải quyết vấn đề lương thực mà còn là nơi tiếp nhận cán bộ từ miền Bắc vào và ở đồng bằng lên, từ đây sẽ bổ sung về các địa phương, các chiến trường trong tỉnh
Thực hiện chủ trương diệt ác của Tỉnh uỷ, Ngày 27-7-1960, đội công tác xã Phước Tân huyện Sơn Hoà tỉnh Phú Yên diệt 2 tên ác ôn, có nợ máu với nhân dân Đêm 19-8-1960, đội công tác huyện Sơn Hoà phối hợp với du
Trang 38kích xã Suối Trai diệt bọn tề nguỵ thôn Nghĩa Phú, buôn Xã Năm, tiếp đến ta đánh tan tổng đoàn dân vệ ở Trà Kê xã Sơn Hội huyện Sơn Hòa
Tháng 9 năm 1960, tình hình đã có nhiều chuyển biến tốt, Tỉnh ủy Phú Yên đã quyết định triệu tập Đại hội để quán triệt tinh thần Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và bầu Ban Chấp hành mới Đại hội đề ra chủ trương biện pháp ra sức hoạt động để giải phóng trước các xã miền Tây làm bàn đạp để tiến xuống giải phóng đồng bằng, xây dựng căn cứ địa ở vùng giáp ranh giữa đồng bằng và miền núi, rút thanh niên xây dựng các đơn vị lực lượng vũ trang tình nguyện và bán vũ trang xã Ra sức xây dựng chi, đảng bộ trong sạch, vững mạnh, hình thành các tổ chức đoàn thể quần chúng và các ban ngành chuyên môn để phục vụ đắc lực cho công cuộc kháng chiến Tiếp tục củng cố và mở rộng hành lang vận chuyển và các đường dây liên lạc từ tỉnh xuống huyện, xã, từ tỉnh về khu đảm bảo vận chuyển hàng hoá của Trung ương chi viện, đưa đón cán bộ và bảo đảm tài liệu bí mật, nhanh chóng, kịp thời Ra sức phát động quần chúng vùng ta kiểm soát, vùng sắp làm chủ, giúp
đỡ cán bộ, động viên nhân tài, vật lực phục vụ cho cách mạng
Sau Đại hội, Tỉnh uỷ nhận được chỉ thị mới của Liên Khu uỷ V, bổ sung kinh nghiệm thực hiện Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trong đó có kinh nghiệm Đồng khởi ở Bến Tre Trên cơ sở đó, Tỉnh uỷ chủ trương giải phóng dứt điểm miền Tây của tỉnh
Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy Phú Yên, đến cuối tháng 11-1960,
về cơ bản, miền tây Phú Yên được giải phóng mở ra một vùng rộng lớn, chiếm hơn nửa diện tích đất đai toàn tỉnh, nối liền với các tỉnh Khánh Hòa, Đắk Lắk, Gia Lai, Bình Định Miền tây Phú Yên là ngọn cờ giải phóng đầu tiên của tỉnh, là chỗ dựa của các huyện nông thôn đồng bằng, là chỗ đứng chân và xuất kích lực lượng để xuống giải phóng nông thôn đồng bằng “Giải phóng miền Tây là niềm tự hào của đồng bào Phú Yên, đã làm đảo lộn thế của
Trang 39địch trong tỉnh vì chúng bị mất một địa bàn chiến lượng trọng yếu nối liền đồng bằng Duyên hải với Tây Nguyên” [34, tr.52]
Miền Tây Phú Yên được giải phóng cùng với những vụ vũ trang tuyên truyền diệt ác đã làm cho bạn tề nguỵ trong tỉnh hoang mang dao động Chớp thời cơ đó, Tỉnh uỷ chủ trương phát động quần chúng ở đồng bằng nổi dậy giành chính quyền Tỉnh ủy quyết định chọn huyện Tuy Hòa I làm điểm đồng khởi ở đồng bằng Sau khi xem xét tình hình chung của tỉnh lúc bấy giờ, Tỉnh
ủy Phú Yên đồng ý với phương án huyện Tuy Hòa I đưa ra là chọn xã Hòa Thịnh (thuộc huyện Tuy Hòa I) làm điểm để phát động phong trào nổi dậy giành chính quyền ở vùng đồng bằng trong tỉnh
Dưới sự chỉ đạo của Huyện ủy Tuy Hòa I và Tỉnh uỷ Phú Yên, tại xã Hoà Thịnh, nơi được chọn để phát động Đồng khởi đã tổ chức được lực lượng
cơ sở của 9 thôn, chọn những cán bộ đảng viên đã qua đấu tranh thử thách để làm cán bộ đảng viên cốt cán, làm hạt nhân lãnh đạo phong trào Đồng khởi khi có lệnh Năm 1960 phong trào cách mạng của nhân dân Hòa Thịnh được Tỉnh ủy Phú Yên, Huyện ủy Tuy Hòa I hết sức quan tâm, đào tạo, bồi dưỡng biết cách móc nối cơ sở, phát động các bước công tác Chỉ trong thời gian ngắn ta đã lựa chọn được hạt nhân xuất sắc, tổ chức thành lập được 4 chi bộ
và 5 ban cán sự đảng trong xã Tổ chức cơ sở đến đâu khẩn trương giao nhiệm
vụ đến đó, đảm bảo đông đảo số lượng và chất lượng để cuộc Đồng khởi giành thắng lợi
Tháng 11-1960, chủ trương của Tỉnh ủy Phú Yên chỉ đạo cho Huyện ủy Tuy Hòa I khẩn trương điều tra để phân loại nắm chắc địch và tay sai ở xã, số lượng từng thôn, tốt, xấu và số có cảm tình với cách mạng, phân làm 4 loại để cảm hoá họ Loại có nợ máu với nhân dân phải diệt hay bắt cải tạo Loại chưa phải cải tạo thì viết thư cảnh cáo buộc phải ngừng hoạt động, nếu không cách mạng sẽ trừng trị hoặc bắt đưa đi cải tạo Loại sợ chết, sợ cải tạo hay cầu an nằm yên và đi gặp cơ sở ta để thanh minh rồi giúp đỡ cách mạng thì viết thư
Trang 40trấn áp làm tan rã tại chỗ và lôi kéo họ về phía cách mạng để giúp đỡ về vật chất, tiền bạc và đưa con của họ tham gia cách mạng
Chấp hành chỉ thị của Tỉnh ủy Phú Yên, Huyện ủy Tuy Hòa I đã chuẩn
bị tốt cho ngày đồng khởi, tranh thủ đưa được nhiều thanh niên để bổ sung cho các lực lượng vũ trang huyện, tỉnh, tỉnh bạn Rà soát lại toàn bộ lực lượng nòng cốt của 9 thôn trong xã Hoà Thịnh Phân công cán bộ, đảng viên cơ sở cốt cán trực tiếp vận động từng gia đình hội viên cơ sở, gia đình binh lính cùng với nhân dân khi có lệnh kéo nhau đi hưởng ứng phong trào đồng khởi Bên cạnh đó, Huyện ủy cũng chủ trương đẩy mạnh công tác binh vận, viết thư dùng cơ sở của ta đưa trực tiếp gia đình, cha mẹ, vợ con kêu gọi đào ngũ, bỏ ngũ mang súng về nộp cho cách mạng, chống bắt lính đi làm bia đỡ đạn cho địch, đi càn quét không được đốt nhà, cướp của của nhân dân và không bắt, giết người vô tội, đứng về phía cách mạng chống lại địch Phân công chị em
có uy tín, gây tình cảm để cảm hoá và vận động binh lính làm binh biến và theo quân giải phóng Tổ chức cơ sở phụ nữ, thanh niên thành hệ thống thông tin liên lạc để phục vụ lãnh đạo đồng khởi Lực lượng thanh niên chuẩn bị tập trung đến địa điểm mít tinh và sẵn sàng khi có lệnh sẽ lên đường ra căn cứ tham gia các lực lượng vũ trang Đối với lực lượng phụ nữ, nông dân, phụ lão trước một, hai ngày đã chuẩn bị lương thực, thực phẩm để tiếp tế cho cách mạng nhưng bảo đảm hoàn toàn bí mật
Từ sau Hội nghị Đảng bộ huyện tháng 10-1960, Huyện ủy Tuy Hòa I ra sức xây dựng lực lượng vũ trang cùng cơ sở cách mạng và quần chúng cốt cán Tháng 11-1960, 3 đội vũ trang công tác ở miền Tây, miền Trung và miền Đông huyện được thành lập, các đội công tác và cơ sở cách mạng được phát triển Ở xã Hòa Thịnh, nơi được chọn làm điểm Đồng khởi, đội vũ trang giải phóng xã được hình thành, các cơ sở cách mạng và quần chúng cốt cán được tăng cường phát triển, cách mạng nắm được trung đội dân vệ tại địa phương
do đã binh vận được Trung đội trưởng của trung đội này Trước khi nổ ra