Với những ý nghĩa đó, tôi chọn đề tài “Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch từ năm 2000 đến năm 2010” làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 3
MỞ ĐẦU 4
1 Tính cấp thiết của đề tài 4
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 9
6 Đóng góp của luận văn 10
7 Kết cấu của luận văn 10
Chương 1 ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2005 11
1.1 Điều kiện phát triển du lịch thành phố Hồ Chí Minh 11
1.1.1 Điều kiện tự nhiên, xã hội và văn hóa 11
1.1.2 Thực trạng ngành du lịch thành phố Hồ Chí Minh trước năm 2000 15 1.2 Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển du lịch 17
1.3 Chủ trương, biện pháp và quá trình chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh 21
1.3.1 Chủ trương và biện pháp 21
1.3.2 Quá trình trình tổ chức thực hiện 24
1.3.3 Kết quả hoạt động kinh tế du lịch 32
Chương 2 ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LÃNH ĐẠO TĂNG CƯỜNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010 38
2.1 Những điều kiện mới tác động tới sự phát triển kinh tế du lịch thành phố Hồ Chí Minh 38
Trang 42.2 Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh với chủ trương đẩy mạnh phát triển
kinh tế du lịch trong những năm 2006 – 2010 43
2.3 Quá trình thực hiện chủ trương của Đảng bộ Thành phố 50
2.3.1 Quá trình chỉ đạo thực hiện 50
2.3.2 Kết quả: 61
Chương 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 67
3.1 Một số nhận xét 67
3.2 Một số kinh nghiệm 82
3.2.1 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ Thành phố trong phát triển kinh tế du lịch địa phương theo hướng đồng bộ, hiện đại, đi vào chiều sâu Nâng nhận thức của các cấp các ngành, của nhân dân Thành phố về vai trò và hiệu quả kinh tế - xã hội của ngành kinh tế du lịch 82
3.2.2 Chú trọng công tác đào tạo và bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực du lịch, có chính sách khuyến khích sự năng động, sáng tạo của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh tế du lịch 84
3.2.3 Thực hiện có hiệu quả công tác quảng bá, xúc tiến du lịch, đảm bảo môi trường du lịch an toàn, thân thiện với du khách 85
KẾT LUẬN 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC 104
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ASEANTA: Hiệp hội du lịch Đông Nam Á
BVHTTDL: Bộ văn hóa thể thao và du lịch
PRESS TOUR: Du lịch khảo sát
UBND: Ủy ban nhân dân
VTV: Đài truyền hình Việt Nam
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xã hội ngày càng phát triển, đời sống con người ngày một được nâng cao, điều này đã khiến cho du lịch trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của con người Du lịch đã và đang trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng và có tốc độ phát triển nhanh của kinh tế thế giới Ở nhiều quốc gia trên thế giới, du lịch được coi là “ngành công nghiệp không khói” mang lại hiệu quả kinh tế cao và đóng góp tỷ trọng không nhỏ vào thu nhập quốc dân
Đối với Việt Nam, nhận thấy vai trò to lớn của kinh tế du lịch, với tiềm năng du lịch to lớn có thể khai thác, kể từ sau đổi mới, Đảng ta đã chú trọng
và giành sự quan tâm nhất định nhằm khai thác tiềm năng du lịch, phát triển ngành du lịch Việt Nam Trong Chỉ thị 46 – CT/TW, ngày 14/10/1994, về lãnh đạo, đổi mới và phát triển du lịch trong tình hình mới, của Ban Bí thư Trung ương (1994) đã xác định: “Phát triển du lịch là một hướng chiến lược quan trọng trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội nhằm góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”[1, tr.1] Nhà nước cũng xác định: “Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao; phát triển du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng của nhân dân và khách
du lịch quốc tế, góp phần nâng cao dân trí, tạo việc làm và phát triển kinh tế
xã hội của đất nước” [97, tr.1]
Như vậy có thể thấy, du lịch không chỉ mang lại giá trị kinh tế cao, tăng thu nhập cho đất nước mà nó còn có giá trị to lớn trong việc nâng cao đời sống cho nhân dân, đảm bảo góp phần tái sản xuất sức lao động cho con người Sự phát triển kinh tế du lịch góp phần kích thích sự phát triển của nhiều ngành, nhiều vùng, nhiều lĩnh vực khác trong đời sống xã hội
Trang 7Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố lớn nhất khu vực phía Nam, là đầu tàu kinh tế của khu vực cũng là trung tâm văn hóa, khoa học giáo dục lớn nhất khu vực Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những thành phố phát triển trong khu vực Đông Nam Á, với vị trí nằm ở trung tâm của khu vực với mạng lưới giao thông đường bộ, hàng không và đường thủy, thành phố Hồ Chí Minh là một trong những cầu nối giữa Việt Nam và quốc tế
Với vị trí ấy, thành phố Hồ Chí Minh cũng là địa phương giàu tiềm năng để phát triển kinh tế du lịch với những sản phẩm du lịch mang tính đặc thù Xuất phát từ những tiềm năng to lớn ấy, Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh
đã xác định kinh tế du lịch là một ngành kinh tế trọng điểm của Thành phố Dưới sự chỉ đạo của Thành uỷ, UBND, Ngành du lịch Thành phố không ngừng phát triển và đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhiều năm liền Thành phố thu hút hơn 50% lượng khách du lịch trong cả nước, du lịch đã mang lại hiệu quả kinh tế cao cũng như giải quyết nhu cầu việc làm và đáp ứng nhu cầu của đông đảo nhân dân Tuy nhiên trong thời gian qua, ngành du lịch Thành phố cũng còn một số yếu kém, khuyết điểm chưa phát huy hết tiềm năng thế mạnh của địa phương về kinh tế du lịch Trong đó, có những nguyên nhân khách quan mang lại, cũng có nguyên nhân chủ quan từ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ Thành phố đối với ngành kinh tế quan trọng này
Từ thực tiễn trên có thể thấy, việc nghiên cứu, đường lối, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế du lịch của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh là cần thiết để tổng kết, đánh giá những thành tựu, hạn chế, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo phát triển ngành kinh tế quan
trọng của Đảng bộ địa phương Với những ý nghĩa đó, tôi chọn đề tài “Đảng
bộ thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch từ năm 2000 đến năm 2010” làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng
sản Việt Nam của mình
Trang 82 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Du lịch được xác định là một ngành kinh tế mũi nhọn mang lại giá trị kinh tế cao Xuất phát từ giá trị to lớn mà ngành du lịch có thể mang lại, cùng với sự đa dạng trong các lĩnh vực du lịch Việt Nam nói chung và du lịch Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Có thể khái quát lại thành các nhóm sau:
- Một là, các tác phẩm, bài nghiên cứu:
“Du lịch và kinh doanh du lịch” (1996) của tác giả Trần Nhạn, Nxb
Văn hóa thông tin Tác phẩm trình bày khái niệm du lịch, nguồn lực để phát
triển du lịch cũng như các loại hình du lịch, kinh doanh du lịch “Tài nguyên
du lịch Việt Nam” (2001) do Phạm Trung Lương chủ biên, Nxb Giáo dục
Cuốn sách trình bày một số kiến thức về tài nguyên môi trường du lịch, sự
ảnh hưởng, tác động của hoạt động du lịch tới môi trường “Một số vấn đề về
du lịch Việt Nam” (2004) của Đinh Trung Kiên, Nxb Đại học Quốc gia Hà
Nội Tác phẩm tìm hiểu những chặng đường du lịch, đào tạo nguồn nhân lực
cho du lịch, tài nguyên du lịch trường hợp cụ thể ở Hà Nam Ninh “Hướng dẫn chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố Hồ Chí Minh” của tập thể tác giả:
Trần Du Lịch, Nguyễn Tấn Thắng, Lê Nguyễn Hải Đăng, Nxb Trẻ, 2002 Tác phẩm trình bày tổng quan về lý thuyết chuyển dịch cơ cấu kinh tế và kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế các nước Đông Nam Á Định hướng sự chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ các ngành công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn TP HCM trong tổng thể sự phát triển kinh tế của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2010, trong đó có đề cập tới ngành du lịch của Thành phố
“Chuyển dịch cơ cấu kinh tế khu vực dịch vụ ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của tác giả Trương Thị Minh Sâm Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2007 “Khai thác lễ hội và các sự kiện góp phần phát triển du lịch tại thành Phố Hồ Chí Minh” tác giả Huỳnh Quốc,
Trang 9T.P Hồ Chí Minh Nxb Trẻ, 2007 Tác phẩm tập trung phân tích tiềm năng, đưa ra giải pháp nhằm khai thác lễ hội và các sự kiện nhằm góp phần phát triển du lịch Thành phố Hồ Chí Minh
Trên một số báo và tạp chí cũng đăng tải nhiều bài viết về du lịch như:
“Sự phát triển du lịch dưới đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam”
(2005) của Trần Đức Thanh, tạp chí du lịch Việt Nam, số 2, tr 20 -21 Bài viết
đã khái quát đường lối phát triển du lịch của Đảng trong thời kỳ đổi mới và
những thành tựu mà du lịch nước ta đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng “Để
du lịch Việt Nam không mãi là tiểm ẩn” (2008) của Phạm Hạnh, tạp chí Tài
chính doanh nghiệp, số 3, tr 36 – 37 Bài viết nêu những đóng góp của du lịch Việt Nam trong sự phát triển kinh tế xã hội, so sánh du lịch Việt Nam với các nước trong khu vực Đông Nam Á Bước tiến của du lịch Việt Nam sau khi ra nhập WTO và những vấn đề đặt ra với các doanh nghiệp du lịch Việt Nam
“Du lịch sinh thái, thực trạng và giải pháp để phát triển ở Việt Nam” của
Nguyễn Đình Hòa (2006), tạp chí Kinh tế và phát triển, số 103, tr11-17…
- Hai là, các luận án, luận văn, đề tài nghiên cứu:
“Một số giải pháp phát triển du lịch bền vững thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010” (luận án tiến sĩ Kinh tế của tác giả Đoàn Liêng Diễm năm
2003) Luận án đã phân tích tổng quan về những vấn đề lý luận và thực tiễn
về phát triển du lịch bền vững ở Thành phố Hồ Chí Minh Thực trạng và tiềm năng phát triển, giải pháp và phác họa mô hình phát triển du lịch bền vững ở
Thành phố “Tiềm năng văn hóa du lịch thành phố Hồ Chí Minh” (luận văn
Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Văn Quế Trường Đại học Văn hóa Hà Nội năm 1998) Tác giả đã phân tích khá sâu sắc những tiềm năng văn hóa du lịch ở Thành phố Hồ Chí Minh, luận giải những giá trị văn hóa có thể đưa vào khai thác, phát triển ngành kinh tế du lịch của Thành phố
Tổng Cục Du Lịch (2005) “Phát triển du lịch địa bàn kinh tế trọng
Trang 10điểm phía Nam” hội thảo do UBND TP.HCM và Tổng Cục Du Lịch tổ chức tháng 5 năm 2005 tại TP.HCM “Chương trình phát triển du lịch Tp Hồ Chí Minh giai đoạn 2001-2005” của tác giả Nguyễn Thị Lập Quốc, Sở du lịch
thành phố Hồ Chí Minh – Tp Hồ Chí Minh năm 2001 Tác giả đánh giá hiện trạng, tiềm năng phát triển du lịch Tp Hồ Chí Minh, nhận diện các thuận lợi, khó khăn, cơ hội thách thức tác động đến quá trình phát triển du lịch; Định hướng phát triển du lịch Thành phố trong giai đoạn 2001-2005, xác định mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể, các nhiệm vụ, biện pháp đẩy mạnh phát triển
du lịch “Chương trình phát triển du lịch Tp Hồ Chí Minh giai đoạn 2010” của tác giả Nguyễn Văn Quang – Viện kinh tế thành phố Hồ Chí Minh
2006-năm 2006 Tác giả đánh giá thực trạng phát triển du lịch Thành phố giai đoạn
2001 – 2005, xác định những yếu tố tác động tới ngành du lịch trong thời gian tiếp theo, xây dựng mục tiêu, nhiệm vụ, biện pháp phát triển du lịch trong giai đoạn 2006 – 2010
Các công trình nghiên cứu trên đây đã đề cập tới vai trò, vị thế của ngành du lịch nói chung trong sự phát triển của kinh tế đất nước Phân tích tiềm năng, thực trạng và đưa ra một số giải pháp để nâng cao hiệu quả kinh tế
du lịch nói chung và du lịch thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, hầu hết các tác phẩm trên đề cập tới du lịch Việt Nam nói chung và du lịch thành phố Hồ Chí Minh nói riêng dưới góc độ kinh tế Chưa có công trình nào nghiên cứu hệ thống chủ trương, đường lối của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế du lịch Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trên là nguồn tư liệu quý giá để tác giả tham khảo phục vụ cho nghiên cứu đề tài của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
*Mục đích
Làm rõ quá trình Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo phát triển du lịch từ năm 2000 đến năm 2010, phân tích những thành tựu và rút
Trang 11ra kinh nghiệm
* Nhiệm vụ:
- Trình bày đường lối, chủ trương phát triển kinh tế du lịch của Đảng
bộ thành phố Hồ Chí Minh trong những năm từ năm 2000 đến năm 2005 và
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
- Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh nhằm phát triển kinh tế du lịch từ năm 2000 đến năm 2010
- Quá trình tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối phát triển kinh tế
du lịch của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh và những kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế du lịch của Thành phố
* Phạm vi nghiên cứu:
- Nội dung: nghiên cứu những chủ trương của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế du lịch, quá trình chỉ đạo của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh trong việc phát triển kinh tế du lịch
- Địa bàn: thành phố Hồ Chí Minh
- Thời gian: nghiên cứu từ năm 2000 đến năm 2010
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
* Nguồn tài liệu:
Nguồn tài liệu luận văn sử dụng bao gồm:
- Các văn kiện, tài liệu của Đảng và Nhà nước có liên quan
- Hệ thống văn kiện của Thành ủy và các văn bản chỉ đạo, điều hành
Trang 12của chính quyền thành phố Hồ Chí Minh
- Các công trình nghiên cứu, tổng kết có liên quan
* Phương pháp nghiên cứu:
- Cơ sở phương pháp luận:
Chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Phương pháp nghiên cứu:
Tác giả sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc là chủ yếu, ngoài ra còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như, phân tích, tổng hợp, thống kê…
6 Đóng góp của luận văn
- Làm rõ quá trình Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch từ năm 2000 đến năm 2010, tổng kết thực trạng phát triển kinh
tế du lịch, những thành tựu đạt được cũng như hạn chế tồn tại, bước đầu tổng kết những kinh nghiệm nhằm góp phần nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng
bộ Thành phố trong lĩnh vực phát triển kinh tế du lịch
- Luận văn là tài liệu góp phần nghiên cứu lịch sử Đảng bộ thành phố
Hồ Chí Minh
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo luận văn gồm có 3 chương, 8 tiết
Chương 1 Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo phát triển kinh tế
Trang 13Chương 1 ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LÃNH ĐẠO
PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2005
1.1 Điều kiện phát triển du lịch thành phố Hồ Chí Minh
1.1.1 Điều kiện tự nhiên, xã hội và văn hóa
Thành phố Hồ Chí Minh có tọa độ 10°10' – 10°38' Bắc và 106°22' – 106°54' Đông, phía bắc giáp tỉnh Bình Dương, phía tây bắc giáp tỉnh Tây Ninh, đông và đông bắc giáp tỉnh Đồng Nai, đông nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, tây và tây nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang Nằm ở miền nam Việt Nam, thành phố Hồ Chí Minh cách Hà Nội 1.730 km theo đường
bộ, trung tâm thành phố cách cách bờ Biển Đông 50 km theo đường chim bay Với vị trí tâm điểm của khu vực Đông Nam Á, thành phố Hồ Chí Minh
là một đầu mối giao thông quan trọng về cả đường bộ, đường thủy và đường không, nối liền các tỉnh trong vùng và còn là một cửa ngõ quốc tế quan trọng của Việt Nam Điều kiện vị trí này tạo điều kiện thuận lợi lớn cho sự phát
triển du lịch
Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, thành phố Hồ Chí Mình có nhiệt độ cao đều trong năm và hai mùa mưa – khô rõ rệt Mùa mưa được bắt đầu từ tháng 5 tới tháng 11, còn mùa khô từ tháng 12 tới tháng 4 năm sau Trung bình, thành phố Hồ Chí Minh có 160 tới
270 giờ nắng một tháng, nhiệt độ trung bình là 27 °C, cao nhất lên tới 40 °C, thấp nhất xuống 13,8 °C Hàng năm, thành phố có 330 ngày nhiệt độ trung bình 25 tới 28 °C Lượng mưa trung bình của thành phố đạt 1.949 mm/năm Một năm, nơi đây có trung bình 159 ngày mưa, tập trung nhiều nhất vào các thàng từ 5 tới 11, chiếm khoảng 90%, đặc biệt hai tháng 6 và 9 Cũng như lượng mưa, độ ẩm không khí ở thành phố lên cao vào mùa mưa, 80%, và
Trang 14xuống thấp vào mùa khô, 74,5% Trung bình, độ ẩm không khí đạt bình quân/năm 79,5% Với đặc điểm thời tiết như vậy cũng tương đối thích hợp cho các hoạt động du lịch, đặc biệt là ít có rủi ro trong hoạt động du lịch liên quan tới thời tiết
Địa hình thành phố Hồ Chí Minh tương đối bằng phẳng, có độ dốc nhỏ theo hướng tây bắc – đông nam, thuận tiện cho việc di chuyển Về thủy văn, nằm ở vùng hạ lưu hệ thống sông Ðồng Nai - Sài Gòn, thành phố Hồ Chí Minh có mạng lưới sông ngòi, kênh rạch đa dạng tạo điều kiện thuận lợi để phát triển loại hình du lịch đường sông
Tài nguyên du lịch tự nhiên của thành phố Hồ Chí Minh nhìn chung có phần hạn chế so với các địa phương khác Trong đó, có giá trị nhất phải kể đến hệ thống sông Đồng Nai – Sài Gòn và khu rừng ngập mặn Cần Giờ Khu
dự trữ sinh quyển Cần Giờ còn gọi là Rừng Sác là một quần thể gồm các loài động, thực vật rừng trên cạn và thuỷ sinh, được hình thành trên vùng châu thổ rộng lớn của các cửa sông Đồng Nai, Sài Gòn và Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây UNESCO đã công nhận đây là khu dự trữ sinh quyển thế giới với hệ động thực vật đa dạng độc đáo điển hình của vùng ngập mặn Nơi đây được công nhận là một khu du lịch trọng điểm của thành phố Hồ Chí Minh nói riêng cũng như của cả nước nói chung Tại một số vùng ngoại thành Thành phố với những sinh hoạt đặc trưng ruộng vườn Nam Bộ thích hợp khai thác loại hình du lịch nông thôn, dã ngoại, sinh thái…
Vào tháng 05/1975 dân số thành phố Sài Gòn - Gia Định (đến tháng 07/1976 đổi tên thành Thành phố Hồ Chí Minh) là 3.498.120 người Đến ngày 1/4/2010, dân số thành phố là 7.382.287 người, là thành phố đông dân nhất Việt Nam
Hệ thống giao thông đô thị của thành phố Hồ Chí Minh cũng phát triển mạnh mẽ bao gồm: hệ thống giao thông đường bộ với nhiều trục đường lớn
Trang 15tỏa ra nhiều hướng trong thành phố, một số tuyến đường hiện đại có ý nghĩa
to lớn với sự phát triển của thành phố Hồ Chí Minh nói riêng cũng như khu vực phía Nam nói chung như đại lộ Nguyễn Văn Linh, cao tốc thành phố Hồ Chí Minh – Trung Lương và hệ thống đường nối với trục đường xuyên Á…
Hệ thống đường hàng không với cảng hàng không Tân Sơn Nhất là một trong những cảng hàng không lớn của cả nước cùng với hệ thống giao thông đường thủy với cảng Sài Gòn có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của kinh tế
Thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn) có lịch sử phát triển hơn 300 năm, với vai trò là trung tâm của khu vực phía Nam, nơi đây cũng là nơi hội tụ của nhiều dòng văn hóa trong lịch sử, hòa quyện tạo nên những nét riêng cho giá trị văn hóa của Thành phố Có thể nói, thành phố Hồ Chí Minh với lịch sử hơn 300 năm, gắn liền với những bước thăng trầm của lịch sử, tạo nên nguồn tài nguyên du lịch nhân văn đa dạng, có thế mạnh so với nhiều địa phương trong nước
Di tích lịch sử văn hóa: Cho đến tháng 9/ 2006 Thành phố có 86 di tích
được xếp hạng: 54 di tích cấp quốc gia trong đó 26 di tích lịch sử, 26 di tích
kiến trúc nghệ thuật, 2 di tích khảo cổ; 32 di tích cấp thành phố
Di tích văn hóa khảo cổ: Hai di tích khảo cổ được công nhận là di tích cấp quốc gia là di tích mộ chum Giồng Cá Vồ và Lò gốm cổ Hưng Lợi và
hàng chục di tích khảo cổ khác mới phát hiện
Di tích lịch sử: Di tích ghi dấu sự kiện chính trị quan trọng, tiêu biểu như: Hội Trường Thống Nhất Di tích ghi dấu chiến công chống xâm lược: khu căn cứ Rừng Sác, Địa đạo Củ Chi, khu dân công hỏa tuyến Mậu Thân
1968 (Bình Chánh), Địa đạo Phú Thọ Hòa (Bình Tân), Mười Tám thôn Vườn Trầu (Hóc Môn) Di tích ghi dấu những kỷ niệm: Bến Nhà Rồng,
Nghĩa trang Liệt Sỹ Tp HCM, Đền tưởng niệm Bến Dược – Củ Chi…
Trang 16Di tích văn hóa nghệ thuật và các cơ sở tôn giáo như: Các chùa, đình, đền, miếu, nhà thờ, nhà cổ, lăng mộ, các tòa thánh, Ủy ban nhân dân Thành phố (Dinh Xã Tây), Bưu Điện Thành phố, Thảo Cầm Viên, Chợ Bến Thành, Lăng Lê Văn Duyệt, Chùa Bà Thiên Hậu (Tuệ Thành Hội Quán),
Chùa Ngọc Hoàng, Chùa Ông (Nghĩa An Hội Quán) Chùa Giác Lâm, Chùa
Giác Viên, Chùa Nam Thiên Nhất Trụ, Chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Xá Lợi, chùa bà Thiên Hậu, Nhà thờ Đức Bà, nhà thờ Tân Định, nhà thờ Cha Tam,
đền Hồi giáo Trung tâm…
Thành phố Hồ Chí Minh cũng là địa phương có nhiều lễ hội, ngoài các
lễ hội cổ truyền như: lễ thờ tổ nghiệp Kim Hoàn, lễ giỗ tổ ngành hát bội và cải lương, lễ hội cúng cá voi ở biển Cần Giờ… còn có các lễ hội mang tính
văn hóa, truyền thống cách mạng cũng như hàng loạt các lễ hội du lịch khác
Thành phố Hồ Chí Minh hiện có một số khu du lịch nhân tạo đặc sắc:
Công viên Văn hoá Đầm Sen: Diện tích 50 hecta gồm 20% là mặt hồ, 60% là cây xanh và vườn hoa Ngoài những khu vui chơi, Đầm Sen còn có những nhà hàng, khách sạn và hàng chục các loại hình khác để phục vụ khách
du lịch
Thảo Cầm Viên Sài Gòn (người dân quen gọi là Sở thú), là nơi bảo tồn động thực vật có tuổi thọ đứng hàng thứ 8 trên thế giới, hiện tọa lạc ở số 2B Nguyễn Bỉnh Khiêm, phường Bến Nghé, quận 1 Sau hơn 130 năm tồn tại, Thảo Cầm Viên đã trở thành một vườn thú lớn với 590 đầu thú thuộc 125 loài, thực vật có 1.800 cây gỗ thuộc 260 loài, 23 loài lan nội địa, 33 loài xương rồng, 34 loại bon sai và đang được bổ sung Trong Thảo Cầm Viên còn
có hai công trình kiến trúc đặc sắc khác, đó là Đền thờ vua Hùng dựng năm
1926 và Bảo tàng Lịch sử Việt Nam - Thành phố Hồ Chí Minh mở cửa từ
năm 1929
Khu Du lịch Văn hóa Suối Tiên là một khu liên hợp vui chơi giải trí tại
Trang 17quận 9 Kiểu cách kiến trúc và các thể loại vui chơi được gắn lồng vào các hình ảnh lịch sử và truyền thuyết Việt Nam Khu du lịch “Một Thoáng Việt Nam” là một quần thể làng nghề thủ công truyền thống, có diện tích 22,5
ha Khu du lịch bao gồm 30 hạng mục với: đền thờ đất nước, sa bàn nước Việt Nam, lầu vọng, ba khu tiêu biểu cho ba miền đất nước Bên cạnh là khu văn hóa ẩm thực, đảo nuôi chim thú tự nhiên, khu chợ hàng tiểu thủ công
nghiệp, chợ trên sông, vườn cây ăn trái
1.1.2 Thực trạng ngành du lịch thành phố Hồ Chí Minh trước năm 2000
Hoạt động du lịch của Thành phố được bắt đầu từ ngay những ngày đầu giải phóng với sự ra đời của Công ty Du lịch thành phố Hồ Chí Minh (Sai Gon Tourist) vào tháng 8 năm 1975 Bên cạnh nhiệm vụ chính trị, ngành du lịch lúc bấy giờ từng bước tìm cách tiếp cận với thị trường quốc tế Năm 1979 Công ty Sai Gon Tourist được phép trực tiếp ký kết hợp đồng phục vụ khách
ở một số thị trường Ấn Độ, Pháp, Nhật, Ý, Canada, Úc và đến năm 1984 lần đầu tiên ngành du lịch thành phố tham gia Hội chợ Du lịch quốc tế ITB tại Cộng hòa Liên Bang Đức
Năm 1990, năm du lịch thành phố Hồ Chí Minh lần đầu tiên được tổ chức nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, giới thiệu hình ảnh một điểm đến mới mẻ đến với bè bạn quốc tế
Đồng hành với sự chuyển động tích cực của du lịch thành phố là quá trình hoàn thiện không ngừng bộ máy quản lý nhà nước về du lịch Cho tới trước năm 2000, đã có 04 lần chuyển đổi tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về
du lịch, từ Sở Ăn uống Khách sạn của những năm cuối thập niên 70 - đầu thập niên 80, chuyển sang Sở Kinh tế Đối ngoại vào đầu thập niên 90 và tháng 8 năm 1993 Sở Du li ̣ch thành phố Hồ Chí Minh được thành lâ ̣p nhằm giúp Ủy ban nhân dân thành phố thực hiê ̣n chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực
du li ̣ch trên đi ̣a bàn thành phố Sau khi Sở Du lịch ra đời, cùng với những điều
Trang 18kiện thuận lợi của đất nước và Thành phố, ngành du lịch đã chính thức bước vào giai đoạn hội nhập quốc tế và tăng tốc phát triển
Từ năm 1996 đến năm 1999, ngành du lịch Thành phố đã có những bước phát triển đáng kể trong đó, lượng khách du lịch quốc tế cũng như trong nước tăng qua các năm Năm 1996 có 925 000 lượt khách quốc tế đến thành phố Hồ Chí Minh đạt tốc độ tăng trưởng 10.7%, đến năm 1999 lượng khách quốc tế đạt 975 000 lượt người, đạt tốc độ tăng trưởng là 12% [30, tr.7]
Với việc ngành du lịch ngày càng mở rộng về quy mô mạng lưới cũng như chất lượng các dịch vụ du lịch khiến doanh thu của ngành cũng có bước tăng Năm 1996, doanh thu du lịch thành phố Hồ Chí Minh đạt 2.830.058.000.000 đồng, đến năm 1999 đạt 3.201.000.000.000 đồng [30, tr.12]
Như vậy, thực trạng du lịch thành phố Hồ Chí Minh trước năm 2000,
đặc biệt là 5 năm trước thềm thế kỷ 21 có thể thấy: Về cơ bản, ngành du lịch
Thành phố đảm bảo tốc độ tăng trưởng tương đối, thu hút lượng khách ngày một tăng dẫn tới doanh thu du lịch tăng, đóng góp vào thành tựu phát triển kinh tế xã hội nói chung của Thành phố Hoạt động tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch từng bước mở rộng góp phần giới thiệu với du khách trong và ngoài nước về hình ảnh, con người Thành phố Ngành du lịch đã có bước phát triển và nâng cao một bước tính cạnh tranh Sản phẩm du lịch, cơ sở vật chất
kỹ thuật phục vụ du lịch từng bước được cải thiện và phát triển Đội ngũ nguồn nhân lực du lịch bước đầu được hình thành và ngày một nâng cao chất lượng Ngành du lịch phát triển góp phần không nhỏ vào việc thúc đẩy hội nhập quốc tế, tăng cường hiểu biết, giao lưu văn hóa giữa Thành phố với nhiều địa phương của các nước khác
Bên cạnh những kết quả đạt được, ngành du lịch cũng còn một số tồn tại như: sản phẩm du lịch còn hạn chế, ít đầu tư theo chiều sâu, chất lượng nhiều nơi chưa đảm bảo; thiếu thông tin thị trường, hiệu quả hoạt động xúc
Trang 19tiến quảng bá chưa cao, vốn đầu tư còn hạn chế, chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu thực tế, công tác quản lý còn nhiều bất cập…
Với tất cả những kết quả đạt được cũng như những điểm tồn tại đặt ra yêu cầu cho Đảng bộ, chính quyền thành phố Hồ Chí Minh cần nhận thức sâu sắc, trên cơ sở đánh giá thực trạng để có chủ trương, giải pháp thích hợp nhằm phát triển ngành kinh tế du lịch trong thời gian tiếp theo
1.2 Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển du lịch
Luật Du lịch Việt Nam xác định: “Du lịch là các hoạt động liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [29, tr.9]
Như vậy du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, gồm nhiều thành phần tham gia tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp Hoạt động du lịch vừa
có đặc điểm của ngành kinh tế, lại có đặc điểm của ngành văn hóa xã hội Trên thực tế, hoạt động du lịch ở nhiều quốc gia trên thế giới không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn mang lại lợi ích chính trị, văn hóa, xã hội
Du lịch cũng như mọi ngành kinh tế khác, muốn khai thác tốt tiềm năng của nó để phát triển cần có đường lối đúng, chính sách phù hợp, đây là một trong những yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy ngành kinh tế này phát triển Một quốc gia dù có nhiều nguồn lực về tài nguyên du lịch, tuy nhiên nếu hệ thống đường lối, chính sách phát triển thiếu đồng bộ thì cũng không thể biến những tiềm năng thành hiện thực về hiệu quả kinh tế Nhận thức sâu sắc vấn đề này, Đảng và Nhà nước ta đã dành sự quan tâm không nhỏ cho ngành kinh tế du lịch, đặc biệt kể từ sau công cuộc đổi mới đất nước Đường lối, chính phát triển du lịch là một bộ phận trong tổng thể của đường lối phát triển kinh tế - xã hội của một địa phương hay một quốc gia Đường lối, chính sách phát triển du lịch thể hiện trong quy hoạch tổng thể phát triển du lịch,
Trang 20các chương trình phát triển du lịch trong mỗi thời kỳ, giai đoạn nhất định của mỗi địa phương, mỗi quốc gia
Đối với nước ta, chủ trương phát triển du lịch của Đảng đã hình thành và phát triển kể từ sau Đổi mới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (1986) là Đại hội đặt nền tảng cho việc giải phóng sức sản xuất, mở đường cho sản xuất phát triển Tại Đại hội này, Đảng đã chủ trương mở rộng các loại hoạt động dịch vụ phục vụ quá trình sản xuất, lưu thông, đời sống và du lịch
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (1991) đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội Việc phát triển đất nước đòi hỏi phải xây dựng một cơ cấu ngành dịch vụ thích hợp, trong đó Đại hội có nhắc tới việc “phát triển du lịch, vận tải hàng không…” [13, tr.74] Như vậy, du lịch đã được Đảng ta nhắc tới nhưng chưa
có chiến lược phát triển cụ thể
Tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (1996), Đảng đã xác định: “Phát triển nhanh du lịch, các dịch vụ hàng không, hàng hải, bưu chính viễn thông…” đồng thời xác định rõ mục tiêu: “Từng bước đưa nước ta trở thành một trung tâm du lịch, thương mại – dịch vụ có tầm cỡ trong khu vực” [14, tr.89] Chủ trương phát triển du lịch tại Đại hội VIII của Đảng đã góp phần định hướng thúc đẩy ngành du lịch Việt Nam phát triển lên một bước
Tiếp tục những thành tựu mà ngành kinh tế du lịch đã đạt được, cùng với những điều kiện mới có thể khai thác để góp phần thúc đẩy ngành kinh tế
du lịch tiếp tục phát triển, chủ trương phát triển du lịch Việt Nam đã được thể hiện rõ nét hơn Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 – 2010 được nêu ra tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (2001), chủ trương phát triển du lịch được nâng lên: “Phát triển nhanh du lịch thật sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn Nâng cao chất lượng, quy mô và hiệu quả hoạt động trên cơ sở khai thác lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền
Trang 21thống văn hóa, lịch sử, đáp ứng nhu cầu du lịch trong nước và phát triển nhanh du lịch quốc tế, sớm đạt trình độ phát triển du lịch của khu vực Xây dựng và nâng cấp cơ sở vật chất, hình thành các khu du lịch trọng điểm và đẩy mạnh hợp tác liên kết với cả nước” [15, tr.178]
Như vậy ngành du lịch không những được quan tâm chú trọng mà thật
sự đã đặt ra yêu cầu đưa nước ta sớm trở thành một trung tâm du lịch có thể
so sánh trong khu vực, đồng thời trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn bên cạnh một số ngành khác Không chỉ xác định mục tiêu, Đảng cũng đưa ra định hướng cụ thể hơn về phát triển du lịch: “Nâng cao chất lượng, quy mô và hiệu quả hoạt động du lịch Liên kết chặt chẽ các ngành liên quan đến hoạt động du lịch để đầu tư phát triển một số khu du lịch tổng hợp và trọng điểm… Phát triển và đa dạng hóa các loại hình và các điểm du lịch sinh thái, văn hóa, lịch sử, thể thao hấp dẫn du khách trong và ngoài nước Xây dựng và nâng cấp cơ sở vật chất và đẩy mạnh hợp tác, liên kết với các nước trong hoạt động
du lịch” [15, tr.287] Ngoài việc đưa ra đường lối phát triển chung cho ngành
du lịch trên phạm vi cả nước, trong “định hướng phát triển các vùng lãnh thổ”, Đại hội Đảng toàn quốc lần IX cũng nêu chủ trương phát triển du lịch gắn với điều kiện của từng vùng lãnh thổ nhằm khai thác tốt hơn lợi thế so sánh của từng vùng trong việc phát triển du lịch Bộ Chính trị ra Thông báo số 179/TB – TW về việc phát triển du lịch trong tình hình mới (11/11/1998) Chương trình Hành động quốc gia về du lịch và các sự kiện du lịch Việt Nam năm 2000 với tiêu đề “Việt Nam – Điểm đến của thiên niên kỷ mới” đã được triển khai trong 2 năm 2000 – 2001
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (4/2006), đã đánh giá thành tựu phát triển của ngành du lịch trong thời gian trước đó: “ngành du lịch phát triển khá cả về lượng khách, loại hình và sản phẩm du lịch” [16, tr.144] Đồng thời Đảng nêu định hướng phát triển du lịch trong thời gian tiếp theo:
Trang 22“Khuyến khích đầu tư phát triển và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động
du lịch, đa dạng hóa sản phẩm và các loại hình du lịch” [16, tr 202]
Chủ trương của Đảng về du lịch đã ngày càng hoàn thiện theo thời gian thể hiện nhận thức ngày càng sâu sắc của Đảng về vai trò, vị trí, giá trị mà ngành kinh tế du lịch mang lại đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung của đất nước Từ chủ trương đúng đắn của Đảng về phát triển du lịch, Nhà nước đề ra những chính sách, biện pháp cụ thể hóa chủ trương ấy nhằm phát triển mạnh kinh tế du lịch, đóng góp vào sự phát triển của cả nước
Nghị quyết số 45 – CP ngày 22/6/1993 của Chính phủ về đổi mới phát triển ngành du lịch đã khẳng định: “Du lịch là một ngành kinh tế mang tính chất tổng hợp, có tác dụng góp phần tích cực thực hiện chính sách mở cửa, thúc đẩy sự đổi mới và phát triển của nhiều ngành kinh tế khác, tạo công ăn việc làm, mở rộng giao lưu văn hóa và xã hội giữa các vùng trong nước và giữa nước ta với nước ngoài, tạo điều kiện tăng cường tình hữu nghị, hòa bình và sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc” Đồng thời khẳng định tiêu chí phát triển của ngành du lịch ở nước ta là: “Phát triển ngành du lịch phải lấy hiệu quả kinh
tế xã hội làm mục tiêu chính Đồng thời, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa, bản sắc dân tộc và nhân phẩm của con người Việt Nam” [5, tr.1 – 2 ]
Nhằm định hướng phát triển lâu dài cho ngành du lịch, Chính phủ đã ra Quyết định số 97/2002/QĐ – TTg ngày 22/07/2002 phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam 2001 – 2010 Trong đó khẳng định “Từng bước đưa nước ta trở thành một trung tâm du lịch có tầm cỡ của khu vực, phấn đấu sau năm 2010 du lịch Việt Nam được xếp vào nhóm quốc gia có ngành du lịch phát triển trong khu vực” [51, tr.1]
Đến năm 2005 trên cơ sở kế thừa những giá trị của Pháp lệnh du lịch năm 1999, đồng thời để đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, ngày 14/06/2005,
Trang 23Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 7 đã thông qua Luật du lịch Luật du lịch năm
2005 gồm 11 chương, 88 điều bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/2006 thực hiện điều chỉnh các quan hệ trong lĩnh vực du lịch ở tầm cao hơn, khẳng định một lần nữa vị thế của ngành du lịch không chỉ ở chủ trương, chính sách mà còn được thể chế hóa một cách cụ thể bằng luật Không chỉ điều chỉnh các mối quan hệ trong lĩnh vực du lịch ở trong nước, luật du lịch năm 2005 còn là
cơ sở pháp lý quan trọng nhằm mở rộng giao lưu, hợp tác giữa du lịch Việt Nam và du lịch quốc tế; tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về du lịch góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; bảo đảm cho việc thực hiện chính sách của nhà nước về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch và
có hoạt động liên quan đến du lịch trên lãnh thổ Việt Nam, góp phần phát triển du lịch trong nước và du lịch quốc tế
Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước là cơ sở quan trọng cho các địa phương đưa ra chủ trương phát triển của địa phương mình
1.3 Chủ trương, biện pháp và quá trình chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh
1.3.1 Chủ trương và biện pháp
Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ Thành phố khóa VI tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố lần thứ VII, ngày 19 tháng 12 năm 2000
đã khẳng định: “Đưa ngành du lịch thành phố thực sự là một ngành công nghiệp với sản phẩm chất lượng cao, có sức cạnh tranh với các trung tâm du lịch của các nước trong khu vực Phát triển mạnh dịch vụ vận tải, kho bãi, dịch vụ cảng, kho vận và vận tải công cộng đô thị” [9, tr.12] Như vậy tại Đại hội lần này, vị thế của ngành du lịch đã được chú trọng hơn một bước so với Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố lần thứ VI năm 1996 với chủ trương:
“Mở rộng và phong phú hoá hoạt động du lịch ngang tầm một ngành kinh tế
Trang 24mũi nhọn” [8, tr.19]
Ngày 02/ 01/ 2001, Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố đã thông qua Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2001 Hội nghị đã ghi nhận những kết quả mà ngành du lịch của Thành phố đạt được trong năm 2000: “Ngành du lịch cũng đã có bước khởi sắc sau nhiều năm liên tiếp sụt giảm, doanh thu du lịch đạt trên 3.800 tỷ đồng, tăng 18,7% so cùng kỳ Lượng khách quốc tế đến thành phố đạt khoảng 1,1 triệu lượt người, tăng 12,3% so cùng kỳ Riêng khách lữ hành quốc tế đạt 800.000 người, tăng 12,8% so với cùng kỳ Công suất phòng bình quân đạt 44%, tăng 3% so cùng kỳ” [40, tr.5] Cùng với đó là sự khẳng định vai trò quan trọng của ngành kinh tế du lịch, trong nhiệm vụ phát triển kinh tế các ngành và lĩnh vực, du lịch được xếp vào một trong bẩy ngành dịch vụ chủ lực trong những năm 2000 - 2005: “Xây dựng và triển khai 7 chương trình mục tiêu các nghành dịch vụ chủ lực là thương mại, du lịch, vận tải, bưu chính- viễn thông, kinh doanh tài sản và tư vấn, tài chính - ngân hàng và công nghiệp phần mềm trong 5 năm 2000-2005” [40, tr.17] Nhằm đa dạng hóa sản phẩm du lịch của Thành phố, cũng như khai thác tài nguyên du lịch nhà vườn, du lịch sinh thái, kết hợp nông nghiệp với du lịch, Hội nghị chủ trương: “Kinh tế vườn kết hợp với du lịch sinh thái
ở ngoại thành nhằm phục vụ cho khách du lịch trong và ngoài nước Xây dựng và bảo vệ khu bảo tồn thiên nhiên rừng ngập mặn Cần Giờ” [40, tr.16] Không chỉ phát huy những giá trị du lịch, sản phẩm du lịch truyền thống, chủ trương đa dạng hóa sản phẩm du lịch là một hướng đi tích cực không chỉ mang lại giá trị kinh tế cho ngành kinh tế du lịch mà còn thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho nhân dân, đặc biệt là các hộ nông dân khu vực ngoại thành
Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh (khoá VII) đã thông qua Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 27 tháng 10 năm
Trang 252002 về “Tiếp tục đẩy mạnh phát triển các ngành dịch vụ - thương mại trên địa bàn thành phố đến năm 2005” Nghị quyết xác định phương hướng chung cho ngành du lịch thành phố giai đoạn 2002 – 2005 là: “Đưa ngành du lịch thành phố thực sự là một trong những ngành kinh tế chủ lực có sức cạnh tranh với các trung tâm du lịch của các nước trong khu vực” [41, tr.2]
Như vậy, mục tiêu của Đảng bộ Thành phố nâng ngành du lịch lên thành ngành kinh tế chủ lực có sức cạnh tranh trong khu vực Vị trí ngành kinh tế du lịch được phấn đấu nâng lên một bước, điều đó khẳng định quyết tâm của Đảng bộ thành phố trong việc phát triển ngành kinh tế có nhiều tiềm năng này Không chỉ đề ra phương hướng chung, Nghị quyết số 09-NQ/TU còn tập trung chỉ đạo phát triển 6 nhóm ngành thương mại trong đó có ngành
du lịch Riêng đối với ngành du lịch, mục tiêu chung được xác định cho tới năm 2005 theo tinh thần Nghị quyết 09-NQ/TU là: “Tập trung phát triển ngành du lịch thành phố thực sự là một ngành kinh tế mạnh, có các sản phẩm chất lượng cao, đủ sức cạnh tranh với các trung tâm du lịch của các nước trong khu vực Phấn đấu tăng doanh thu du lịch bình quân hàng năm từ 10% trở lên, tăng số ngày lưu trú và chi tiêu của khách quốc tế bằng với mức trung bình của các nước trong khu vực” [41, tr.5]
Nghị quyết xác định các giải pháp: “Cần đa dạng hóa các hình thức tổ chức và nâng cao chất lượng các sản phẩm du lịch, phát triển các loại hình du lịch sinh thái, du lịch văn hóa - thể thao, du lịch hội nghị, hội thảo, hội chợ quốc tế, Liên kết với các địa phương trong cả nước và với các nước trong khu vực để xây dựng chương trình du lịch đến các điểm du lịch hấp dẫn du khách trong và ngoài nước Tập trung thực hiện đồng bộ các biện pháp nhằm tạo ra các sản phẩm du lịch đặc trưng, hoàn chỉnh hệ thống quần thể du lịch theo chủ đề, cụ thể là :
+ Nghiên cứu quy hoạch, đầu tư hoàn chỉnh khu du lịch rừng ngập mặn
Trang 26sinh thái Cần Giờ trở thành điểm du lịch hấp dẫn đồng thời vẫn bảo đảm yêu cầu bảo vệ, tôn tạo cảnh quan thiên nhiên, môi trường sinh thái và phát triển bền vững khu vực dự trữ sinh quyển của quốc gia và thế giới
+ Đầu tư hoàn chỉnh khu địa đạo và đền Bến Dược Củ Chi, nâng cấp các bảo tàng di tích lịch sử để phục vụ du lịch tìm hiểu về lịch sử, văn hóa Xây dựng một số chương trình du lịch gắn với hoạt động văn hóa nghệ thuật truyền thống, giàu bản sắc dân tộc để có những sản phẩm du lịch văn hóa mang dấu ấn Việt Nam
+ Hoàn thành đầu tư khu công viên Lịch sử văn hóa dân tộc
+ Đầu tư bến cảng phục vụ du lịch đường sông, biển
+ Tổ chức các trung tâm phục vụ mua sắm, ẩm thực phục vụ khách du lịch + Chuẩn bị cơ sở vật chất để đào tạo đội ngũ phục vụ, các dịch vụ của trung tâm hội nghị, hội thảo quốc tế, các hoạt động thể thao cấp khu vực và cấp quốc tế” [41, tr.6]
Như vậy có thể thấy, từ năm 2000 đến năm 2005, trên cơ sở đánh giá tiềm năng du lịch của địa phương cũng như phân tích bối cảnh trong nước và quốc tế, Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh đã đề ra những chủ trương kịp thời, phù hợp nhằm phát triển ngành kinh tế du lịch của Thành phố
1.3.2 Quá trình trình tổ chức thực hiện
Trên cơ sở những chủ trương về phát triển du lịch của Đảng và Nhà nước, quán triệt sâu sắc chủ trương đã được Đại hội Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh lần thứ VII đề ra, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã chỉ đạo các cơ quan ban ngành có liên quan nhanh chóng triển khai thực hiện chủ trương của Đảng bộ Thành phố Trong những năm 2000 – 2005, trong các kế hoạch điều hành kinh tế - xã hội hàng năm của Thành phố đều giành sự quan tâm chỉ đạo ngành kinh tế du lịch
Ngày 07/08/2001, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ra chỉ thị số:
Trang 2721/2001/CT-UB “Về xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách thành phố năm 2002”, trong đó, xác định nhiệm vụ chủ yếu của kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2002 của thành phố, đồng thời xác định nhiệm vụ cụ thể cho từng ngành trong đó có ngành kinh tế du lịch Chỉ thị nêu
rõ: “Tăng cường công tác xúc tiến thương mại, xúc tiến du lịch; mở rộng các thị
trường truyền thống và xâm nhập các thị trường mới, đặc biệt là các thị trường Bắc Mỹ, EU, Đông Âu, Trung Đông…” [60, tr.2] Như vậy có thể thấy, nhiệm
vụ trọng tâm của ngành du lịch Thành phố trong thời gian này là công tác quảng
bá, xúc tiến du lịch, nhằm giới thiệu và thu hút khách du lịch
Chỉ thị số: 16/2002/CT-UB, ngày 07/ 08/ 2002 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh “Về xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và
dự toán ngân sách thành phố năm 2003” nêu rõ: “Phấn đấu giá trị các ngành dịch vụ tăng từ 9% trở lên; phát triển các loại hình dịch vụ, chú trọng phát triển các dịch vụ trực tiếp phục vụ sản xuất và dịch vụ có giá trị gia tăng lớn như tài chánh, ngân hàng, bưu chính viễn thông, vận tải, du lịch….Tăng cường công tác xúc tiến thương mại, quảng bá du lịch…” [62, tr.2] Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh khẳng định chú trọng phát triển ngành dịch
vụ có giá trị gia tăng cao, trong đó có ngành du lịch, khẳng định công tác quảng bá, xúc tiến du lịch vẫn được quan tâm trong bối cảnh ngành du lịch có dấu hiệu chững lại do ảnh hưởng của khủng bố tại Mỹ năm 2001 Đồng thời tiếp tục thực hiện dự án nâng cấp đường nội khu Lâm viên Cần Giờ nhằm phát triển hạ tầng khu du lịch sinh thái Cần Giờ
Ngày 26 tháng 2 năm 2003, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh chỉ đạo: “Sở Du lịch chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan tập trung đầu
tư phát triển Khu du lịch sinh thái Cần Giờ; mở rộng Khu địa đạo Củ Chi và Đền tưởng niệm Bến Dược; cảng du lịch đường thủy; kết hợp tốt việc tổ chức, khai thác du lịch với việc tổ chức SEA Games 22” Quyết định số:
Trang 2820/2003/QĐ-UB, “Về Kế hoạch chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế - xã hội thành phố năm 2003” [65, tr.3] Nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng và nâng cao của du khách, vấn đề nâng cấp, mở rộng những khu du lịch hiện có của Thành phố là hết sức cần thiết Bên cạnh đó là việc đẩy mạnh khai thác tiềm năng du lịch sinh thái – loại hình du lịch ngày càng được ưa chuộng, khu
du lịch Cần Giờ cũng được quan tâm chỉ đạo đầu tư hoàn thiện, cũng như việc
mở rộng xây dựng cảng du lịch đường thủy nhằm đón một lượng không nhỏ
du khách tới Thành phố bằng đường thủy
Năm 2003 là năm ngành kinh tế du lịch thành phố Hồ Chí Minh gặp nhiều khó khăn, lượng khách đến du lịch có chiều hướng sụt giảm Trước tình hình ấy, trong Kế hoạch chỉ đạo điều hành phát triển kinh tế - xã hội Thành phố năm 2004, Ủy ban nhân dân thành phố nhấn mạnh “Sở Du lịch chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tập trung đầu tư phát triển Khu du lịch sinh thái Cần Giờ; mở rộng Khu địa đạo Củ Chi và Đền tưởng niệm Bến Dược; cảng du lịch đường thủy; tăng cường tuyên truyền quảng bá và xúc tiến
du lịch ở trong và ngoài nước; khai thác có hiệu quả thị trường du lịch quốc tế trọng điểm và thị trường trong nước; đa dạng hóa các hình thức du lịch như
du lịch lữ hành, du lịch sinh thái, du lịch mạo hiểm, du lịch làng quê, Phấn đấu trong năm thu hút 1,725 triệu lượt khách quốc tế, tăng 15% so với thực hiện năm 2003” Quyết định số: 56/2004/QĐ-UB ngày 11/ 3/2004 [69, tr.6]
Nhằm thực hiện tốt chủ chương phát triển du lịch của Đảng bộ Thành phố cũng như sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân Thành phố, trong những năm
2000 – 2005, Sở du lịch thành phố Hồ Chí Minh tập trung triển khai thực hiện
"Chương trình phát triển du lịch thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2001 - 2005" nhằm phát triển ngành du lịch Thành phố theo đúng chủ trương của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh Trong đó mục tiêu tổng quan được xác định: "Đẩy mạnh phát triển và đưa du lịch thành ngành kinh tế quan trọng
Trang 29trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố, góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ môi trường và an ninh quốc phòng Xây dựng thành phố Hồ Chí Minh thành một trung tâm du lịch hấp dẫn với tiện nghi cao, một trung tâm du lịch hàng đầu của cả nước và tầm cỡ khu vực, phấn đấu đạt trình độ phát triển khá về du lịch trong số các nước Đông Nam
Á vào năm 2005 và thực hiện chức năng trung tâm trung chuyển khách du lịch cho các khu vực lân cận… tiếp tục phát huy và thực sự là một ngành kinh
tế trọng điểm trong số 15 ngành kinh tế trọng điểm theo chủ trương của Ủy ban nhân dân Thành phố" [30, tr.43]
Năm 2002, Ủy ban Nhân dân Thành phố đã thành lâ ̣p Ban chỉ đa ̣o Phát triển du li ̣ch do Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố làm Trưởng Ban chỉ
đa ̣o nhằm tăng cường sự chỉ đạo của Thành phố đối với ngành kinh tế du lịch
Thời gian từ năm 2001 đến năm 2005, ngành du lịch tập trung quy hoạch, xây dựng các tuyến, điểm du lịch tại thành phố Hồ Chí Minh như:
Tuyến tổng hợp về thành phố Hồ Chí Minh cung cấp khái quát thông tin về Việt Nam và thành phố Hồ Chí Minh dành cho khách lần đầu tiên tới
du lịch Việt Nam, trong đó đầu tư xây dựng Khu công viên Lịch sử Văn hóa dân tộc tại Thủ Đức, Công viên văn hóa Tao Đàn và Chợ chim, cá cảnh kết hợp vui chơi với tham quan sinh vậy cảnh, quy hoạch khu phố người Hoa ở quận 5, xây dựng tuyến du lịch sông nước và sinh thái nhà vườn, làng nghề truyền thống trên địa bàn quận 9 – 12 – huyện Hóc Môn – Củ Chi Thành phố thực hiện nâng cấp, đầu tư trang thiết bị cho Bảo tàng chứng tích chiến tranh, Hội trường Thống nhất theo mô hình bảo tàng nghe nhìn hiện đại
Đối với các trung tâm mua sắm cho khách quốc tế, thực hiện quy hoạch tập trung tại những tuyến đường gần trung tâm Thành phố như đường Đồng Khởi… Để tránh tình trạng "chặt chém" du khách nước ngoài của các cửa hàng nhằm đảm bảo quyền lợi du khách cũng như tạo môi trường văn hóa tốt
Trang 30để lại ấn tượng đối với du khách Thành phố ban hành "Quy chế xét chọn điểm mua sắm đạt chuẩn du lịch trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” bằng Quyết định số: 203/2005/QĐ-UBND và "Quy chế xét chọn cơ sở ăn uống đạt tiêu chuẩn du lịch trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” Quyết định số: 204/2005/QĐ-UBND, Ngày 18/11/2005
Ngành du lịch cũng thực hiện các tuyến du lịch chuyên về thành phố
Hồ Chí Minh cho khách nước ngoài và trong nước như: tuyến du lịch chuyên
đề lịch sử chiến tranh với các địa điểm: Hội trường Thống Nhất – Tòa Đại sứ
Mỹ - Cảng Nhà Rồng – Địa đạo Củ Chi, tuyến du lịch tìm hiểu cuộc sống đời thường của Thành phố, tiếp tục đầu tư khu du lịch sinh thái Cần Giờ, khu du lịch Thanh Đa – Bình Quới (Bình Thạnh)
Bên cạnh việc quy hoạch các tuyến du lịch Thành phố còn đẩy mạnh đầu tư cơ sở hạ tầng cho phát triển du lịch Hoàn thành quy hoạch tổng thể khu du lịch sinh thái Cần Giờ, trong đó có 4 chương trình hạ tầng tại Cần Giờ
do ngân sách Trung ương đầu tư gồm: Công trình mở rộng và nâng cấp đường rừng Sác – Cần Giờ, đường Lâm Viên – Đồng Đình và bến tàu du lịch Đồng Đình, hệ thống cung cấp nước ngọt cho du lịch sinh thái ven biển, công trình
hệ thống giao thông nội bộ trong khu du lịch rừng Sác
Xây dựng khu phố đi bộ, mua sắm và ẩm thực khu vực trung tâm quận 1 (năm 2002), xây dựng khu phố người Hoa tại quận 5 (năm 2002 – 2003), mở rộng quy mô khu du lịch Địa đạo Củ Chi (16 ha), và phát triển các nội dung hoạt động (năm 2002 – 2003), xây dựng tuyến du lịch trên sông Sài Gòn từ cảng Sài Gòn đến Củ Chi kết hợp với du lịch sinh thái nhà vườn tại Thạnh Lộc (quận 12), và Bình Mỹ (Củ Chi) năm 2003 – 2004 Triển khai xây dựng cảng đón tàu biển du lịch tại Bình Thung (quận 7), triển khai giai đoạn 1 xây dựng Công viên Lịch sử Văn hóa Dân tộc tại quận 9, đầu tư mở rộng sân bay Tân Sơn Nhất, mở rộng đường xá và có biện pháp giải quyết nạn ùn tắc giao thông
Trang 31Là một thành phố có dân số đông, việc mở rộng cơ sở hạ tầng phục vụ giao thông, chống ùn tắc là một trong những bài toán nan giải Chống ùn tắc giao thông đóng vai trò rất quan trọng trong việc quy hoạch các điểm, tour, tuyến du lịch, đặc biệt trong nội đô Thành phố, nhằm giải quyết bài toàn này, ngày 05/10/2001, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định số: 90/2001/QĐ-UB "Về việc ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình chống kẹt xe nội thị giai đoạn 2001-2005" trong đó đưa ra nhiều giải pháp nhằm chống tình trạng kẹt xe trong nội thị, đảm bảo giao thông thông thoáng ổn định Việc thực hiện chương trình chống kẹt xe nội thị có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển ngành kinh tế du lịch nói riêng và phát triển kinh tế - xã nội nói chung của Thành phố
Chương trình xúc tiến, quảng bá du lịch
Bước vào thiên niên kỷ mới, trước những thách thức và khó khăn trong nước cũng như quốc tế đặt ra yêu cầu đối với du lịch Thành phố cần có chiến lược đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, quảng bá du lịch nhằm thu hút khách du lịch quốc tế cũng như kích cầu du lịch trong nước Chính vì vậy, những năm 2000 - 2005, việc xúc tiến, quảng bá du lịch đã được thực hiện cả trong và ngoài nước
Tại thành phố Hồ Chí Minh, phối hợp chặt chẽ với các phương tiện thông tin đại chúng nhằm tuyên truyền quảng bá du lịch Tăng cường thông tin và thời lượng phát sóng chương trình du lịch trên đài truyền hình, đài phát thanh, nâng số lượng, chất lượng bài phóng sự, bài viết về chuyên đề du lịch trên các báo: Sài Gòn giải phóng, Người lao động, Tuổi trẻ… đặc biệt là Tạp chí Du lịch Phối hợp với Sở văn hóa thông tin xuất bản các ấn phẩm tuyên truyền về du lịch như: sách hướng dẫn du lịch, bản đồ du lịch Thành phố, các
tờ gấp thông tin về du lịch, sự kiện du lịch…Thiết lập các trung tâm thông tin
du lịch tại các điểm trung tâm như sân bay, ga tàu…, thiết lập chuyên mục
Trang 32thông tin, hướng dẫn du khách qua tổng đài 1080, tổ chức các chương trình xúc tiến gắn liền với các sự kiện văn hóa, lễ hội, thể dục - thể thao, hội nghị
Ở nước ngoài, lựa chọn thị trường trọng điểm và thị trường mục tiêu để xây dựng các chương trình xúc tiến, tuyên truyền quảng bá du lịch Thành phố như: Thị trường Đông Bắc Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Hồng Kông…), thị trường Đông Nam Á (Thái Lan, Xingapo, Malaixia…), thị trường Châu Âu (Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Ý…), thị trường châu Mỹ (Hoa Kỳ, Canada), thị trường Úc…
Đào tạo nguồn nhân lực:
Thực hiện chủ trương phát triển nguồn nhân lực của Thành phố, hàng năm Sở du lịch tổ chức hô ̣i thảo cùng các trường , khoa đào ta ̣o nghiê ̣p vụ du lịch và các trung tâm ngoại ngữ để thông tin định hướng nhu cầu ngoại ngữ trong viê ̣c đào ta ̣o nguồn nhân lực hoa ̣t đô ̣ ng ngành , phối hợp với trường Đa ̣i học Kinh tế tổ chức lớp đào tạo Giám đốc lữ hành và tổ chức các lớp bồi
dưỡng ngoa ̣i ngữ , kiểm tra ngoa ̣i ngữ để làm cơ sở xem xét cấp thẻ hành nghề cho các hướng dẫn viên ngoa ̣i ngữ hiếm Đồng thời triển khai các chương trình đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn như: bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ quản lý khách sạn, lữ hành, tổ chức các chuyên đề chuyên sâu về lịch sử, văn hóa, khảo cổ Thực hiện các chương trình đào tạo dài hạn như: kết hợp với một số trường Đại học (Đại học KHXH&NV thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Kinh
tế Tp HCM, Đại học Văn Lang, Đại học Văn Hiến…) các trường cao đẳng, trung cấp có đào tạo ngành du lịch… thực hiện định hướng ngành nghề du lịch, cung cấp thông tin về lao động trong lĩnh vực du lịch của Thành phố Thực hiện kế hoạch thành lập trường Cao đẳng khách sạn – du lịch thành phố
Hồ Chí Minh do Sở Du lịch quản lý nhằm đào tạo các chuyên ngành phục vụ
du lịch Thành phố
Thực hiện bảo đảm an toàn cho du khách
Đây là một yêu cầu đặt ra đối với sự phát triển bền vững ngành kinh tế
Trang 33du lịch thành phố Hồ Chí Minh, du khách sẽ cảm thấy hài lòng nếu điểm đến thật sự an toàn, môi trường văn hóa Việc đảm bảo an toàn cho du khách là hoạt động đòi hỏi có sự phối hợp liên ngành, trên cơ sở chỉ đạo của Ủy ban nhân dân Thành phố: "Sở Du lịch và Tổng Công ty Du lịch Sài gòn có kế hoạch chỉ đạo cụ thể cho các đơn vị trực thuộc, các doanh nghiệp du lịch thực hiện nghiêm các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác an ninh trật tự có liên quan đến lĩnh vực du lịch Chủ động phối hợp tổ chức kiểm tra, phát hiện xử lý hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động du lịch
và trong việc quản lý, đưa đón khách Vận động cán bộ, công nhân viên và các chủ doanh nghiệp trực thuộc thường xuyên kiểm tra việc thực hiện các quy ước bảo vệ an ninh trật tự ở các doanh nghiệp làm dịch vụ đưa đón khách nước ngoài, dịch vụ cho thuê phòng; kịp thời phát hiện những sai sót và tố giác tội phạm Đồng thời, tích cực phối hợp với các phòng nghiệp vụ Công an thành phố, Công an quận 1 và Công an phường thuộc quận 1 có kế hoạch đảm bảo an toàn cho các đoàn khách du lịch Ngành du lịch phải thường xuyên thông báo, hướng dẫn cụ thể cho khách người nước ngoài, khi đến lưu trú phải nắm rõ yêu cầu đảm bảo an ninh trật tự thành phố, các quy dịnh cần thiết của luật pháp Việt Nam Trường hợp có người nước ngoài trình báo bị xâm hại, mất tài sản thì chủ doanh nghiệp du lịch, khách sạn phải cử nhân viên của mình thông thạo ngoại ngữ, trực tiếp trao đổi để nắm đủ các yêu cầu, nội dung phải trình báo, tố giác tội phạm theo quy định và cùng họ đến trình báo ngay cho đơn vị công an quản lý địa bàn nơi xảy ra vụ việc” Chỉ thị số: 04/2003/CT-UB, ngày 24/01/2003, Tăng cường công tác bảo vệ an ninh trật
tự ở khu vực trung tâm thành phố [64, tr.2] Để bảo đảm chế độ cho những người tham gia bảo vệ trật tự, an toàn du lịch, ngày 30 tháng 12 năm 2005, Ủy ban nhân dân thanh phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định số: 251/QĐ-
UBND, Về ban hành Quy định chính sách, chế độ đối với đội viên tham gia
công tác bảo vệ trật tự an toàn du lịch trên địa bàn thành phố, trong đó quy
Trang 34định rõ nhiệm vụ, quyền hạn và chế độ chính sách đối với người tham gia bảo
vệ an toàn du lịch trên địa bàn Thành phố
1.3.3 Kết quả hoạt động kinh tế du lịch
Từ năm 2001 – đến năm 2005, lượng khách nội địa tới Thành phố tăng đều qua các năm, năm 2001 có 1.470.000 lượt khách, năm 2003 có 1.917.333 lượt, tới năm 2005 con số tăng lên 2.500.000 lượt người [26, tr 41], lượng khách tăng trung bình trong những năm 2001 – 2005 là 19,8%/năm Trong đó lươ ̣ng khách du lịch nội địa tăng khá mạnh, ngay cả trong năm 2003 dù ảnh hưởng của dịch SARS nhưng do các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn năng động, nhạy bén trong viê ̣c đa da ̣ng hoá sản phẩm , chuyển hướng khai thác thị trường nội địa Bên ca ̣nh đó mô ̣t loa ̣t các hoa ̣t đô ̣ng kích hoa ̣t thương ma ̣i di ̣ch vụ, kích cầu nội
đi ̣a như các Chợ Đêm, Chợ Phiên cuối tuần, khu phố chuyên đề và nhất là các khu vui chơi giải trí lớn trên đi ̣a bàn như Công viên văn hoá Đầm Sen , khu du lịch Suối Tiên, khu di tích đi ̣a đa ̣o Củ Chi, khu du li ̣ch Cần Giờ không ngừng cải tiến, nâng cấp chất lươ ̣ng di ̣ch vụ cùng với thành phố mở nhiều tuyến xe buýt thuâ ̣n lơ ̣i kết nối các điểm vui chơi giải trí với các đầu mối giao thông (Bến xe liên tỉnh, Chợ ) đã thu hút ngày càng nhiều người dân từ các tỉnh lân câ ̣n và trong cả nước đến thành phố Hồ Chí Minh du li ̣ch, vui chơi giải trí
Lượng khách quốc tế tới du lịch Thành phố cũng tăng nhanh chóng qua các năm Năm 2001 có 1.226.400 lượt người, năm 2003 là 1.203.000 người, đến năm 2005 con số đạt 2.000.000 [26, tr.41]
Doanh thu du lịch của thành phố Hồ Chí Minh tăng qua các năm:
Bảng doanh thu du lịch của thành phố giai đoạn 2001 - 2005
Doanh thu
(Tỷ đồng) 2001 2002 2003 2004 2005
Tốc độ tăng bình quân/năm Kết quả 4.556 5.361 5.221 10.812 12.443 33,4%
(Nguồn Sở du lịch thành phố Hồ Chí Minh)
Trang 35Hoạt động lữ hành đã thực hiện tốt việc kết nối sản phẩm du lịch với khách hàng, các doanh nghiệp lữ hành trên địa bàn Thành phố luôn khẳng định được vị thế hàng đầu của mình Số lượng các doanh nghiệp lữ hành không ngừng gia tăng, năm 2001 toàn thành phố mới có 287 đơn vị kinh doanh lữ hành tới năm 2005 con số này đã tăng lên 346, trong đó có 204 doanh nghiệp lữ hành quốc tế trong tổng số 361 doanh nghiệp lữ hành quốc tế
trong cả nước [26, tr.10]
Từ năm 2001 đến năm 2005, do có sự tăng trưởng khá về lượng khách trong nước và quốc tế nên hoạt động kinh doanh lưu trú phát triển thuận lợi hơn, công suất sử dụng phòng bình quân trong ngành đạt 50%, tăng 6,5% so với giai đoạn 1990 – 2000 Cơ sở lưu trú trên địa bàn Thành phố phát triển đa dạng từ những nhà nghỉ bình dân tới những khách sạn đạt chuẩn 5 sao Tới năm 2005, toàn thành phố có 776 cơ sở lưu trú du lịch các loại với 20931
phòng (chưa kể những cơ sở lưu trú do quận - huyện cấp phép)
Số cơ sở lưu trú được phân hạng trên địa bàn Thành phố năm 2005 Loại cơ sở lưu trú Số cơ sở Số phòng
Trang 36phẩm du lịch ngày một phong phú, đa dạng Các tuyến du lịch mới, các điểm vui chơi giải trí, các điểm mua sắm phát triển đều khắp ở khu vực trung tâm Thành phố
Năm 2004, Ủy ban nhân dân Thành phố đã phê duyệt 11 dự án đầu tư của Tổng Công ty Du lịch sài Gòn trong đó có 4 dự án mở rộng và nâng cấp các khách sạn trong trung tâm thành phố Dự án xây dựng khu trung tâm hội nghị, hội chợ triển lãm cũng được triển khai ở Phú Mỹ Hưng, thực hiện hoàn chỉnh quy hoạch khu du lịch sinh thái Cần Giờ Chương trình xét chọn dịch
vụ du lịch đạt chuẩn là một trong những thành công và là điểm nhấn của du lịch Thành phố, tới năm 2005 toàn Thành phố có 41 điểm mua sắm được công nhận đạt chuẩn
Hoạt động tuyên truyền quảng bá , xúc tiến du lịch có sự chuyển biến tích cực trong đó có hoạt động xúc tiến trên địa bàn thành phố thông qua các phương tiê ̣n truyền thông thông tin đa ̣i chúng và tổ chức các sự kiê ̣n trên đi ̣a bàn Hầu hết các báo đài lớn trên đi ̣a bàn thành phố đều có chuyên mục du lịch, chương trình phát thanh du li ̣ch phát sóng đi ̣nh kỳ hàng tuần , chương trình truyền hình du lịch định kỳ trên HTV , VTV
Sở du lịch thực hiê ̣n phương thức phối hợp với các doanh nghiê ̣p du li ̣ch
và các cơ quan ban ngành liên quan tổ chức các sự kiện xúc tiến trên địa bàn thành phố như sự kiện: Vì thành phố du lịch – thành phố SeaGames 2003, Lễ hô ̣i Giao lưu Văn hoá Viê ̣t – Nhâ ̣t 2004, Lễ hô ̣i Văn hoá Du li ̣ch Viê ̣t Đức 2005, Hô ̣i chơ ̣ Du li ̣ch quốc tế ITE 2005, Ngày hội Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ I 2005, Lễ hô ̣i Trái cây Nam bô ̣ 2004 – 2005, Chương trình Ẩm thực về Kinh Bắc 2004, Chương trình đón tiếp đoàn du li ̣ch ô tô Asean – Ấn Độ 2004,
Hô ̣i thi Hướng dẫn viên 2005 Thành phố tham gia các hoa ̣t đô ̣ng xúc tiến trong các sự kiện ở các địa phương bạn: Năm Du li ̣ch Điê ̣n Biên 2003, Du li ̣ch Đồng bằng sông Cửu Long 2004, Năm Du li ̣ch Tây Nguyên 2005 và tổ chức cho các
Trang 37doanh nghiê ̣p du li ̣ch tham gia hoa ̣t đô ̣ng ta ̣i Lễ hô ̣i Du li ̣ch Sắc hoa Đà La ̣t
2004, Liên hoan Du lịch Quốc tế Hà Nô ̣i 2005, thực hiện xúc tiến du lịch ở thị trường nước ngoài thông qua nhiều kênh khác nhau
Nhân lực ngành du lịch: Sở đã tổ chức hô ̣i thảo cùng các trường , khoa đào ta ̣o nghiê ̣p vụ du li ̣ch và các trung tâm ngoa ̣i ngữ để thông tin đi ̣nh hướng nhu cầu ngoa ̣i ngữ trong viê ̣c đào ta ̣o nguồn nhân lực hoa ̣t đô ̣ng ngành , phối
hơ ̣p với trường Đa ̣i ho ̣c Kinh tế tổ chức thí điểm 3 lớp đào ta ̣o Giám đốc lữ hành và tổ chức các lớp bồi dưỡng ngoại ngữ , kiểm tra ngoa ̣i ngữ để làm cơ
sở xem xét cấp thẻ hành nghề cho các hướng dẫn viên ngoa ̣i ngữ hi ếm
Bên cạnh những thành tựu mà ngành du lịch Thành phố đạt được, trong
những năm 2000 – 2005, ngành du lịch cũng còn hạn chế:
Sản phẩm du lịch nhìn chung còn hạn chế cả về số lượng và chất lượng, chưa có sản phẩm du lịch đặc thù có khả năng cạnh tranh với các thành phố ở
các nước trong khu vực
Đầu tư cho cơ sở hạ tầng còn chậm (sân bay, bến cảng du lịch, nhà ga,
hệ thống đường giao thông ), đầu tư cho cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch như nâng cấp khách sạn, trung tâm mua sắm, khu vui chơi giải trí chưa đạt được tầm khu vực làm hạn chế việc thu hút khách quốc tế Công tác trùng
tu, tôn tạo các di tích lịch sử, văn hóa chậm được thực hiện
Tiến độ thực hiện các dự án đầu tư phát triển du lịch như: Công viên Văn hóa Lịch sử Dân tộc, các dự án của Tổng Công ty du lịch Sài Gòn và một
số doanh nghiệp khác chậm, làm ảnh hưởng tới diện mạo du lịch chung của
Thành phố
Công tác quảng bá, xúc tiến du lịch có chuyển biến nhưng chưa tạo được dấu ấn mạnh mẽ, hiệu quả lan tỏa mới dừng ở khu vực Đông Nam Á,
chưa thực sự vươn tới các thị trường lớn như bắc Mỹ, Châu Âu, Châu Úc
Giá cả một số loại dịch vụ vẫn còn cao như, dịch vụ vận chuyển làm
Trang 38ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng cạnh tranh Các loại hình dịch vụ du lịch
bổ sung như: vui chơi giải trí, du lịch y tế, du lịch mua sắm, du lịch hội nghị,
hội thảo chưa được chú trọng đầu tư
Công tác quản lý nhà nước về du lịch còn nhiều bất cập, trình độ của nguồn lao động phục vụ trong lĩnh vực du lịch còn chưa đáp ứng nhu cầu ngày càng cao
du lịch Thành phố nhằm thực hiện mục tiêu phát triển du lịch đề ra
Trên cơ sở những chủ trương chung của Đảng bộ, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã kịp thời chỉ đạo, điều hành phát triển ngành kinh
tế du lịch Thành phố thông qua các kế hoạch chỉ đạo điều hành kinh tế - xã hội Thành phố hàng năm Đồng thời chỉ đạo Sở Du lịch thành phố Hồ Chí Minh thực hiện "Chương trình phát triển du lịch Thành phố giai đoạn 2001 – 2005" với trọng tâm tập trung vào một số lĩnh vực cụ thể như: Chương trình
lữ hành, chương trình sản phẩm du lịch, đào tạo nguồn nhân lực, đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật phát triển du lịch, tuyên truyền, quảng bá xúc tiến du lịch
Như vậy có thể thấy, thành phố Hồ Chí Minh là địa phương giàu tiềm năng phát triển kinh tế du lịch Trong thời gian từ năm 2000 đến năm 2005, Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo, chỉ đạo phát triển ngành kinh tế du
Trang 39lịch với những định hướng đúng, phù hợp với thực tiễn phát triển của địa phương Sự lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh là nhân tố quan trọng trong sự phát triển của ngành kinh tế du lịch Những thành quả ngành kinh tế du lịch thành phố Hồ Chí Minh đạt được trong những năm 2000 –
2005 tạo tiền đề vững chắc để thực hiện thắng lợi mục tiêu, chương trình phát triển du lịch của Thành phố trong thời gian tiếp theo
Tuy nhiên, ngành du lịch Thành phố còn bộc lộ không ít khó khăn, hạn chế, điều đó cho thấy những chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ Thành phố đối với ngành du lịch trong thời gian qua vẫn còn có những khoảng trống, những chỗ chưa phù hợp Thực tế ấy đòi hỏi Đảng bộ Thành phố cần có chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo phù hợp với sự biến đổi của tình hình trong nước và quốc tế nhằm phát triển ngành du lịch Thành phố
Trang 40Chương 2 ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LÃNH ĐẠO TĂNG CƯỜNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH
Trên thế giới, kể từ sau vụ khủng bố ngày 11 tháng 09 năm 2001 tại
Mỹ, cùng với sự kiện chiến tranh I Rắc năm 2003, tình hình an ninh ở nhiều khu vực trên thế giới diễn biến phức tạp Chính vì vậy mà những nơi có nền chính trị, an ninh ổn định như Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng là điểm đến rất hấp dẫn đối với du khách quốc tế
Đồng thời trong khu vực, sự phát triển du lịch Asean đã mở ra cơ hội to lớn cho du lịch Thành phố thu hút nhiều hơn nữa lượng khách quốc tế từ các luồng khách du lịch đổ vào khu vực Sự tăng trưởng nhanh chóng của du lịch tạo ra cơ hội giới thiệu một số loại hình du lịch mới như: du lịch tàu biển, du lịch sinh thái, du lịch hội họp Điều này giúp du lịch Việt Nam cũng như du lịch Thành phố đa dạng hoá hơn nữa các sản phẩm du lịch của mình
Bên cạnh đó, việc Việt Nam tham gia vào các tổ chức du lịch quốc tế như Hiệp hội du lịch Đông Nam Á (ASEANTA), Hiệp hội du lịch châu Á Thái Bình Dương (PATA)…đã tạo ra môi trường cho các tổ chức liên quan đến du lịch như hiệp hội du lịch, các công ty du lịch có cơ hội cùng hợp tác với các tổ chức cùng ngành tại các quốc gia khác trong việc thúc đẩy du lịch Mặt khác, trong quá trình này, các tổ chức du lịch của thành phố cũng sẽ có