1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của cơ quan hợp tác quốc tế nhật bản ( jica) trong giai đoạn quan hệ việt nam nhật bản từ năm 1992 đến nay

107 537 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦU Ngày nay, bằng sức mạnh của nguồn khoa học công nghệ, với tiềm lực kinh tế hùng hậu lại có trình độ quản lý tiên tiến và giàu kinh nghiệm trong sản xuất, kinh doanh, Nhật Bản

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LÊ THỊ LOAN

VAI TRÕ CỦA CƠ QUAN HỢP TÁC QUỐC TẾ NHẬT BẢN (JICA)

TRONG QUAN HỆ VIỆT NAM – NHẬT BẢN

TỪ NĂM 1992 ĐẾN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LÊ THỊ LOAN

VAI TRÕ CỦA CƠ QUAN HỢP TÁC QUỐC TẾ NHẬT BẢN (JICA)

TRONG QUAN HỆ VIỆT NAM – NHẬT BẢN

TỪ NĂM 1992 ĐẾN NAY

Chuyên ngành: Quan hệ Quốc tế

Mã số: 60 31 02 06

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM QUÝ LONG

Hà Nội - 2015

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 4

DANH MỤC BẢNG BIỂU 6

PHẦN MỞ ĐẦU 7

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Mục tiêu nghiên cứu 8

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 8

4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

6 Phương pháp nghiên cứu 10

7 Cấu trúc của luận văn 10

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VIỆN TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA) VÀ CƠ QUAN HỢP TÁC QUỐC TẾ NHẬT BẢN (JICA) 11

1.1 Một số lý luận chung về ODA 11

1.1.1 Khái niệm 11

1.1.2 Đặc điểm của nguồn vốn ODA 11

1.1.3 Các hình thức của ODA 13

1.2 Một số đặc điểm chủ yếu về ODA của Nhật Bản 15

1.3 Khái quát về JICA 16

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA JICA Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 1992 ĐẾN NAY 21

2.1 Khái quát về quan hệ hợp tác Nhật Bản – Việt Nam 21

Trang 4

2.2 Khái quát về JICA tại Việt Nam 26

2.2.1 Sự ra đời và phát triển của JICA tại Việt Nam 26

2.2.2 Đi ̣nh hướng ODA Nhật Bản dành cho Viê ̣t Nam 28

2.2.3 Chính sách của JICA tại Việt Nam 29

2.3 Cơ cấu và hình thức cung cấp ODA của Nhật Bản vào Việt Nam 30

2.3.1 Viện trợ không hoàn lại 30

2.3.2 Hợp tác kỹ thuật 32

2.3.3 Hợp tác vốn vay 33

2.4 Tình hình thực hiện ODA Nhật Bản tại Việt Nam 35

2.5 Các lĩnh vực ưu tiên hợp tác 40

2.5.1 Hợp tác phát triển cơ sở hạ tầng 41

2.5.2 Hỗ trợ phát triển nông nghiệp, cơ sở hạ tầng nông thôn 44

2.5.3 Hợp tác trong lĩnh vực y tế 47

2.5.4 Hợp tác về văn hóa, giáo dục – đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 49

2.5.5 Cải thiện chế độ chính sách 53

2.5.6 Bảo vệ môi trường 54

2.5.7 Chương trình Tình nguyện viên và Chương trình đối tác phát triển 57

CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA CƠ QUAN HỢP TÁC QUỐC TẾ NHẬT BẢN (JICA) CHO MỐI QUAN HỆ VIỆT NAM – NHẬT BẢN 59

3.1 Đánh giá hoạt động 59

Trang 5

3.1.1 Thành tựu 59

3.1.1.1 Đối với Việt Nam 59

3.1.1.2 Đối với Nhật Bản 67

3.1.1.3 Đối với quan hệ hợp tác giữa Việt Nam – Nhật Bản 68

3.1.2 Hạn chế 69

3.1.2.1 Về phía Nhật Bản 70

3.1.2.2 Về phía Việt Nam 73

3.2 Triển vọng và một số kiến nghị cho các hoạt động của JICA tại Việt Nam 79

3.2.1 Triển vọng 79

3.2.2 Một số kiến nghị và giải pháp 83

3.2.2.1 Hoàn thiện môi trường pháp lý 84

3.2.2.2 Nhận thức đúng đắn về bản chất của ODA Nhật Bản 86

3.2.2.3 Xây dựng và nâng cao quy hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA

87

3.2.2.4 Tăng cường công tác giám sát, theo dõi và đánh giá dự án 88

3.2.2.5 Phát triển nguồn nhân lực trong đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về thu hút và sử dụng vốn ODA 90

3.2.2.6 Khuyến khích sự tham gia của tư nhân vào các dự án ODA 92

3.2.2.7 Nâng cao nhận thức và mở rộng quan hệ đối tác 93

KẾT LUẬN 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

PHỤ LỤC: MỘT SỐ DỰ ÁN TIÊU BIỂU 102

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

doanh – chuyển giao

Built – Operation –Transfer

Trang 7

PPP Mô hình hợp tác công – tư Public Private Partnerships

đối tác kinh tế

Special Terms for Economic

Partnership

xuyên Thái Bình Dương

Trans – Pacific Strategic Economic Partnership Agreement

Trang 8

Bảng 2.3: Viện trợ phát triển của Nhật Bản cho Việt Nam giai đoạn 2009 –

2013 (đơn vị: triệu Yên) (Nguồn: Bộ Ngoại giao Nhật Bản)

Bảng 2.4: Những nhà máy điện đã được xây dựng bằng nguồn vốn ODA của Nhật Bản từ năm 1992 đến nay (Nguồn: JICA)

Bảng 3.1: Tỉ lệ hộ nghèo ở Việt Nam tính đến năm 2013 (Nguồn: Tổng cục Thống kê)

Bảng 3.2: Tình hình nợ công của Việt Nam trong những năm gần đây và

dự báo (Nguồn: MOF/VinaCapital)

Bảng 3.3 Nợ công và vốn vay ODA của Nhật Bản (2010-2014) (Nguồn: JICA)

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

Ngày nay, bằng sức mạnh của nguồn khoa học công nghệ, với tiềm lực kinh tế hùng hậu lại có trình độ quản lý tiên tiến và giàu kinh nghiệm trong sản xuất, kinh doanh, Nhật Bản đang duy trì việc cung cấp các khoản viện trợ phát triển (ODA) như một phần quan trọng của chính sách ngoại giao nhằm tạo dựng cho Nhật Bản một vị thế kinh tế và chính trị tương xứng tại khu vực

và trên thế giới Cơ quan Hợp tác Quốc Tế Nhâ ̣t Bản (JICA) là cơ quan duy nhất thực hiê ̣n viê ̣n trợ ODA của Chính phủ Nhâ ̣t Bản thông qua 3 hình thức hợp tác: Hợp tác kỹ thuâ ̣t , Hợp tác vốn vay và Viê ̣n trợ khôn g hoàn la ̣i , tiến hành triển khai các hoạt động từ hỗ trợ xây dựng và trang bị cơ sở hạ tầng cơ bản của xã hội vớ i quy mô lớn cho tới hợp tác cấp cơ sở ta ̣i cô ̣ ng đồng đáp ứng với những nhu cầu đa dạng của các nước đang phát triển

Kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 21/9/1973, quan

hệ Nhật Bản – Việt Nam đã có những bước phát triển ngoạn mục.Với mu ̣c đích hỗ trợ Viê ̣t Nam, tháng 11/1992, Nhâ ̣t Bản đã đi trước các nước khác nối lại ODA cho Việt Nam Trong những năm gần đây, Nhật Bản là quốc gia cung cấp viện trợ phát triển lớn nhất cho Việt Nam Điều này có ý nghĩa vô cùng to lớn, không những giúp Việt Nam giải quyết những khó khăn về vốn, kỹ thuật nhằm hỗ trợ Việt Nam trong việc xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển nguồn nhân lực mà còn giúp Việt Nam rất nhiều trong việc xóa đói giảm nghèo tại nông thôn, miền núi và góp phần bảo vệ môi trường

Có thể nhận ra rằng, quan hệ Việt Nam – Nhật Bản đang phát triển rất tốt đẹp, đó không chỉ là thành công của công tác ngoại giao mà còn là thành quả của những chính sách ODA mà Nhật Bản thực hiện suốt thời gian qua ODA của Nhâ ̣t Bản thông qua JICA sẽ tiếp tu ̣c đóng góp vào sự phát triển bền

Trang 10

vững của Viê ̣t Nam, góp phần tăng cường hơn nữa tình hữu nghị và mối quan

hê ̣ hợp tác chiến lược giữa Viê ̣t Nam và Nhâ ̣t Bản

Chính vì những lý do trên mà tác giả chọn đề tài: “Vai trò của Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) đối với mối quan hệ Việt Nam – Nhật Bản

từ năm 1992 đến nay” để viết luận văn thạc sỹ chuyên ngành Quan hệ quốc

tế

Trước hết, nghiên cứu nhằm đánh giá vai trò của tổ chức JICA để thấy được mặt tích cực cũng như những hạn chế còn tồn tại đối với quan hệ hợp tác Việt Nam – Nhật Bản Từ đó, người viết sẽ đưa ra một số kiến nghị và giải pháp trong việc sử dụng hiệu quả, giữ vững và phát huy tối đa tiềm lực to lớn của ODA mà Nhật Bản viện trợ cho Việt Nam đồng thời nâng mối quan hệ hợp tác chiến lược giữa hai nước lên một tầm cao mới

Ý nghĩa khoa học: Nghiên cứu về vai trò của JICA đối với quan hệ Việt

Nam – Nhật Bản sẽ cung cấp nguồn thông tin mới nhất, tập trung, tin cậy, đầy

đủ và toàn diện hơn về mô hình hợp tác quốc tế này

Ý nghĩa thực tiễn: Bài nghiên cứu hy vọng sẽ cung cấp một cái nhìn toàn

diện về những thuận lợi, khó khăn trong việc cung cấp, triển khai các dự án ODA mà Nhật Bản thực hiện ở Việt Nam Từ đó, đưa ra những bài học kinh nghiệm để góp phần xây dựng chính sách, biện pháp nhằm thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA mà JICA cung cấp cho Việt Nam

Cho đến nay, có rất nhiều bài viết cũng như nhiều bài nghiên cứu nói

về nguồn viện trợ ODA của Nhật Bản dành cho Việt Nam cũng như các hoạt

Trang 11

động hỗ trợ của JICA tại Việt Nam Ví dụ như “ Tổng quan ODA ở Việt Nam

15 năm (1993 – 2008)” của Cao Viết Sinh, “Mấy nét về nguồn viện trợ ODA

Nhật Bản dành cho Việt Nam” của Hồ Công Lưu,…Đồng thời cũng có rất

nhiều bài viết trên tạp chí chuyên ngành như:“Huy động và sử dụng nguồn vốn ODA của Nhật Bản tại Việt Nam: Thực trạng và một số giải pháp” của

Đỗ Đức Bình, Nguyễn Đông Hải, “Vai trò của Viện trợ phát triển chính thức (ODA) của Nhật Bản cho Việt Nam và những vấn đề đang đặt ra” Nguyễn Duy Dũng, “Vai trò của viện trợ phát triển chính thức (ODA) cho Việt Nam

và những vấn đề đặt ra” của Trần Quang Minh,“Vai trò ODA của Nhật Bản đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam” của Nguyễn Quang Thuấn,

Phạm Thị Hiếu đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á;

“Viện trợ phát triển chính thức (ODA) của Nhật Bản dành cho Việt Nam từ sau khi Việt Nam trở thành thành viên của tổ chức WTO đến nay (2010)” của Bùi Thị Kim Thu trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ…Tuy nhiên, không có

nhiều công trình quy mô tập trung đi sâu vào nghiên cứu về vai trò và những đóng góp của tổ chức JICA đối với mối quan hệ Việt Nam – Nhật Bản Chính

vì vậy, dựa trên những tài liệu được công bố của chính Cơ quan Hợp tác quốc

tế Nhật Bản (JICA), kết hợp với các bài viết đăng tải trên các tạp chí, website, người viết xin được đưa ra những phân tích, tổng hợp và đánh giá ban đầu về những hoạt động và ảnh hưởng, tác động của tổ chức JICA đối với quan hệ Việt Nam – Nhật Bản từ năm 1992 đến nay

- Đối tƣợng nghiên cứu: Vai trò của Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) đối với mối quan hệ Việt Nam – Nhật Bản

- Phạm vi nghiên cứu:

Thời gian: Năm 1992 đánh dấu một mốc quan trọng trong quan hệ Việt

Nam – Nhật Bản, Nhật Bản chính thức nối lại ODA cho Việt Nam, mở đầu

Trang 12

một giai đoạn mới (từ năm 1992 đến nay) trong đó quan hệ hai nước được thúc đẩy một cách tích cực nhất và phát triển nhanh nhất trong lịch sử bang giao hai nước

Không gian: Tất cả các hoạt động, dự án của JICA thực hiện trên phạm vi

cả nước

Trong luận văn này, thông qua việc tìm hiểu, phân tích số liệu của các dự

án, hiệu quả thực hiện cũng như vai trò của nguồn vốn ODA Nhật Bản được thực hiện thông qua JICA, tác giả đã thực hiện đánh giá tình hình, bối cảnh khu vực, nội dung chính sách xung quanh vấn đề hợp tác giữa hai quốc gia Đồng thời, tác giả đã sử dụng một số biện pháp nghiên cứu mà chủ yếu là phương pháp nghiên cứu lịch sử, phương pháp phân tích tổng hợp và phương pháp thực địa để tìm hiểu lịch sử hình thành, cơ cấu tổ chức và hoạt động chính của JICA đang thực hiện tại Việt Nam, qua đó đánh giá được vai trò của JICA trong quan hệ Việt – Nhật Cuối cùng, dựa trên những kết quả thu được, tác giả xin phép đưa ra một số phân tích về thành tựu, hạn chế của Việt Nam khi tiếp nhận nguồn vốn ODA từ JICA cũng như đưa ra một số nhận định về triển vọng quan hệ hợp tác giữa hai bên trong thời gian tới thông qua các hoạt động của JICA

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn bao gồm có 3 chương chính

Trang 13

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VIỆN TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA) VÀ CƠ QUAN HỢP TÁC QUỐC TẾ NHẬT BẢN (JICA)

1.1 Một số lý luận chung về ODA

1.1.1 Khái niệm

ODA là tên gọi tắt của ba chữ tiếng Anh: Official Development

Assistance, có nghĩa là Hỗ trợ phát triển chính thức hay còn gọi là Viện trợ phát triển chính thức

Năm 1972, OECD, Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển đã đưa ra khái niệm ODA là “một giao dịch chính thức được thiết lập với mục đích chính là thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của các nước đang phát triển Điều kiện tài chính của giao dịch này có tính chất ưu đãi và thành tố viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất 25%”

Theo Quy chế quản lý và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ban hành kèm theo Nghị định 131/2006/NĐ–CP ngày 09/11/2006 của Chính phủ Việt Nam thì ODA được định nghĩa như sau: “Hỗ trợ phát triển chính thức (gọi tắt là ODA) được hiểu là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính Phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Nhà tài trợ là Chính phủ nước ngoài, các tổ chức tài trợ song phương và các

tổ chức liên quốc gia hoặc liên chính phủ

1.1.2 Đặc điểm của nguồn vốn ODA

Vốn ODA là nguồn vốn có tính ưu đãi của các nước phát triển, các tổ

chung khi cấp ODA đều nhằm những lợi ích nhất định (thường là lợi ích kinh

tế và lợi ích chính trị) ODA được các nhà tài trợ sử dụng như một công cụ

Trang 14

buộc các nước tiếp nhận thay đổi chính sách kinh tế, xã hội và đối ngoại cho phù hợp với lợi ích chính trị Viện trợ ODA để phát triển cơ sở hạ tầng chính

là biện pháp gián tiếp để chuẩn bị cho đầu tư nước ngoài, mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa và giành được sự cung cấp những vật tư chiến lược chủ yếu của các nước tài trợ Đây cũng là công cụ ngoại giao để góp phần tăng cường,

mở rộng vai trò, vị thế của các nước viện trợ ở khu vực và trên thế giới

Với mục tiêu trợ giúp các nước đang và chậm phát triển, vốn ODA mang tính ưu đãi hơn bất cứ nguồn tài trợ nào khác ODA giúp bổ sung cho nguồn vốn trong nước để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, y tế, giáo dục, môi trường tạo nền tảng lâu dài cho phát triển kinh tế Đồng thời, ODA giúp các nước đang phát triển tiếp thu những thành tựu khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại và phát triển nguồn nhân lực thông qua hợp tác kỹ thuật Ngoài ra, ODA cũng là động lực để hoàn thiện cơ cấu kinh tế cũng như tăng khả năng thu hút FDI và tạo điều kiện để mở rộng đầu tư phát triển trong nước của các nước đang phát triển

ODA đúng như tên gọi của nó là nguồn vốn từ các cơ quan chính thức bên ngoài cung cầp (hỗ trợ) cho các nước đang và kém phát triển, hoặc các nước đang gặp khó khăn về tài chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc phát triển kinh tế – xã hội của các nước này Măc dù có nhiều ý kiến khác nhau nhưng ODA có các đặc điểm chính đó là: Do chính phủ của một nước hoặc các tổ chức quốc tế cấp cho các cơ quan chính thức của một nước; không cấp cho những chương trình dự án mang tính chất thương mại, mà chỉ nhằm mục đích nhân đạo, giúp phát triển kinh tế, khắc phục khó khăn về tài chính hoặc nâng cao lợi ích kinh tế – xã hội của nước nhận viện trợ; tính ưu đãi chiếm trên 25% giá trị của khoản vốn vay Quá trình cung cấp ODA đem lại lợi ích cho cả hai phía: bên các nước đang và kém phát triển có thêm khối lượng lớn vốn đầu tư từ bên ngoài để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế trong

Trang 15

quy mô nền kinh tế còn nhỏ bé của mình Phía còn lại cũng đạt được những lợi ích trong các điều kiện bắt buộc kèm theo các khoản viện trợ cho vay, đồng thời gián tiếp tạo điều kiện thuận lợi cho họat động của các công ty của mình khi thực hiện đầu tư tại các nước nhận viện trợ Mặt khác viện trợ ODA mang tính nhân đạo, thể hiện nghĩa vụ đồng thời là sự quan tâm giúp đỡ của các nước giàu đối với các nước nghèo, tăng cường thúc đẩy mối quan hệ đối ngoại tốt đẹp giữa các quốc gia với nhau, giữa các tổ chức quốc tế với các quốc gia Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực đó, nguồn vốn ODA cũng

có những tác động tiêu cực tới các nước tiếp nhận Nếu không quản lý hợp lý, việc sử dụng lãng phí, đầu tư tràn lan thì ODA sẽ trở thành gánh nặng nợ nần trong tương lai Với những điều kiện tiếp nhận từ các nước phát triển cùng với những khoản nợ khổng lồ, hệ quả khó tránh khỏi là tình trạng lệ thuộc phát triển, đánh mất quyền độc lập, tự chủ về kinh tế, chính trị

1.1.3 Các hình thức của ODA

Phân loại theo phương thức hoàn trả thì có:

Viện trợ không hoàn lại là bên nước ngoài cung cấp viện trợ (mà bên

nhận không phải hoàn lại) để bên nhận thực hiện các chương trình, dự án theo

sự thoả thuận giữa các bên;

Viện trợ có hoàn lại (còn gọi là tín dụng ưu đãi): nhà tài trợ cho nước

cần vốn vay một khoản tiền (tuỳ theo quy mô và mục đích đầu tư) với mức lãi suất ưu đãi và thời gian trả nợ thích hợp;

ODA cho vay hỗn hợp là các khoản ODA kết hợp một phần ODA

không hoàn lại và một phần tín dụng thương mại theo các điều kiện của Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển, thậm chí có loại ODA vốn vay kết hợp tới

3 loại hình gồm một phần ODA không hoàn lại, một phần ưu đãi và một phần tín dụng thương mại

Phân loại theo nguồn cung cấp thì có:

Trang 16

ODA song phương là các khoản viện trợ trực tiếp từ nước này đến

nước kia (nước phát triển viện trợ cho nước đang và kém phát triển) thông qua hiệp định được ký kết giữa hai chính phủ

ODA đa phương là viện trợ phát triển chính thức của một tổ chức quốc

tế, hay tổ chức khu vực hoặc của chính một nước dành cho Chính phủ một nước nào đó, nhưng có thể được thực hiện thông qua các tổ chức đa phương như UNDP (Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc)…có thể các khoản viện trợ của các tổ chức tài chính quốc tế được chuyển trực tiếp cho bên nhận viện trợ

Phân loại theo mục tiêu sử dụng có: Hỗ trợ cán cân thanh toán; tín

dụng thương nghiệp; viện trợ chương trình; viện trợ dự án

Hỗ trợ cán cân thanh toán là các khoản ODA cung cấp để hỗ trợ ngân

sách của Chính phủ, thường được thực hiện thông qua các dạng: chuyển giao tiền tệ trực tiếp cho nước nhận ODA và Hỗ trợ nhập khẩu (viện trợ hàng hoá)

Tín dụng thương nghiệp tương tự như viện trợ hàng hoá nhưng có kèm

theo các điều kiện ràng buộc Chẳng hạn nước cung cấp ODA yêu cầu nước nhận phải dùng phần lớn hoặc hầu hết vốn viện trợ để mua hàng ở nước cung cấp

Viện trợ dự án chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn thực hiện ODA

Điều kiện để được nhận viện trợ dự án là “phải có dự án cụ thể, chi tiết về các hạng mục sẽ sử dụng ODA”

Viện trợ chương trình là nước viện trợ và nước nhận viện trợ ký hiệp

định cho một mục đích tổng quát mà không cần xác định chính xác khoản viện trợ sẽ được sử dụng như thế nào

1.1.4 Phương thức cung cấp

Hỗ trợ ngân sách: là phương thức cung cấp ODA theo đó các khoản hỗ

trợ ODA không gắn với một hay một số dự án cụ thể mà được chuyển trực

Trang 17

tiếp vào ngân sách của Nhà nước và được quản lý và sử dụng theo các quy định và thủ tục ngân sách

Hỗ trợ chương trình:Cho vay theo chương trình định hướng vào lĩnh vực then chốt

Hỗ trợ dự án: chủ yếu cho vay để đầu tư mua sắm máy móc, thiết bị, thuê vận hành, tư vấn kĩ thuật và các nhu cầu khác có liên quan

Viện trợ phi dự án: Bao gồm cho vay nhập khẩu hàng hóa, cho vay để tiến hành tái cơ cấu lại ngành, lĩnh vực

1.2 Một số đặc điểm chủ yếu về ODA của Nhật Bản

Trong “Cương lĩnh ODA” soạn thảo năm 1992, Nhật Bản đã làm rõ những khái niệm và nguyên tắc trong hỗ trợ ODA, theo đó: “Hỗ trợ ODA của Nhật Bản là để đóng góp cho hòa bình và sự phát triển của cộng đồng quốc tế, nhờ đó đảm bảo an ninh và sự phồn vinh cho đất nước Nhật Bản” Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của Nhật Bản là một khoản tiền của ngân sách Nhật Bản trích từ tiền thuế đóng góp của người dân Nhật Bản Chính vì vậy, Nhật Bản đã hình thành một cơ quan Hợp tác quốc tế trực thuộc Chính phủ làm nhiệm vụ theo dõi, đánh giá hiệu quả nguồn vốn ODA Do đó, để đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA, Cơ quan này đã đưa ra quan điểm như sau: “Để hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội cho các nước đang phát triển, Chính phủ, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ (NGOs), các doanh nghiệp tư nhân v.v , đã và đang thực hiện các hoạt động hợp tác quốc tế Trong các hoạt động này, hỗ trợ về kinh phí và hợp tác kỹ thuật của Chính phủ dành cho các nước đang phát triển được gọi là Viện trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance gọi tắt là ODA)”

Như vậy, khác với nguồn vốn ODA của các nước khác, vốn ODA của Nhật Bản có đặc điểm sau:

Thứ nhất, ODA của Nhật Bản thực hiện trên nguyên tắc tiếp nhận yêu

Trang 18

cầu từ các nước tiếp nhận ODA

Thứ hai, ít mang tính điều kiện ngặt nghèo về áp lực chính trị so với

các nước khác, thường thiên về hỗ trợ theo công trình Nhưng nguồn vốn đó thường kèm theo những điều kiện nhất định liên quan đến hỗ trợ chính sách đối ngoại của Nhật Bản; hoặc nhằm phục vụ cho lợi ích của các doanh nghiệp Nhật Bản, kích thích xuất khẩu hàng hóa Nhật Bản

Thứ ba, trong cơ cấu ODA với tỷ lệ cao là ODA vốn vay (tín dụng

đồng Yên) và một mức thấp dành cho ODA không hoàn lại, trong đó, chú trọng tới hỗ trợ theo dạng trợ giúp kỹ thuật Sử dụng ODA vốn vay trong nguồn vốn ODA của Nhật Bản là để hỗ trợ phần nào những trì trệ của nền kinh tế Nhật Bản, duy trì thế cân bằng và phát triển kinh tế, góp phần nhất định làm chậm lại quá trình giảm sút sức tăng trưởng

1.3 Khái quát về JICA

JICA là chữ viết tắt của Văn phòng Hợp tác quốc tế Nhật Bản (The Japan International Cooperation Agency) JICA là cơ quan triển khai viện trợ phát triển chính thức (ODA) của Nhật Bản cho các dự án hợp tác mang tính

kỹ thuật Được thành lập từ năm 1974, mục tiêu của JICA là đóng góp một phần vào việc tái thiết các nước đang phát triển Từ tháng 10 năm 2003, JICA chuyển thành một Cơ quan hành chính độc lập Với mục đích giúp cho các nước đang phát triển có thể phát triển kinh tế xã hội một cách tự lực và bền vững, JICA đã thực hiện các hoạt động hợp tác chủ yếu là đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho công cuộc xây dựng đất nước

Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) và bộ phận Hoạt động hợp tác kinh tế hải ngoại Nhật Bản (OECOs) của Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC) kể từ ngày 1/10/2008 đã hợp nhất thành tổ chức “JICA mới”

Trang 19

JICA mới có nguồn tài chính khoảng 10 tỷ USD, với 1.600 nhân viên cùng hàng ngàn chuyên gia, tư vấn và tình nguyện viên, sẽ trở thành một cơ quan phát triển song phương lớn nhất thế giới JICA hiện đang hoạt động tại trên

152 quốc gia và khu vực với khoảng 100 văn phòng tại nước ngoài JICA mới thực hiện cả 3 hình thức viện trợ ODA: Hợp tác kỹ thuật, Hợp tác vốn vay và Viện trợ không hoàn lại, vì vậy, các hoạt động viện trợ sẽ được tiến hành hiệu quả hơn, từ xây dựng cơ sở hạ tầng với quy mô lớn tới hợp tác kỹ thuật cấp cơ

sở tại cộng đồng phù hớp với nhu cầu đa dạng của các nước đang phát triển

Mục tiêu và trọng tâm viện trợ của JICA là chia sẻ các kinh nghiệm và kiến thức của Nhật Bản đối với các nước đang phát triển, nhằm cải cách hoạt động và thực hiện hợp tác quốc tế một cách toàn diện với chất lượng cao ở những nước nhận viện trợ, nhằm giúp họ có thể dần dần độc lập giải quyết những vấn đề kinh tế – xã hội của riêng mỗi nước Từ mục tiêu đó, phương thức viện trợ của JICA dựa trên các nguyên tắc 3S: Speed – up (đẩy nhanh hợp tác viện trợ từ khâu chuẩn bị đến khi thực hiện); Scale – up (mở rộng quy

mô viện trợ); Spread – out (nhân rộng các kết quả viện trợ)

Hoạt động hợp tác của JICA được thực hiện dưới các hình thức sau:

Hợp tác vốn vay là chương trình hỗ trợ cho các nước đang phát triển

những khoản vay dài hạn với lãi suất thấp Lĩnh vực ưu tiên thường tập trung

hỗ trợ trang bị kết cấu hạ tầng (điện, giao thông), cải thiện môi trường cho các

đô thị, phát triển nông thôn, phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, giáo dục (đại học và sau đại học)

Điều kiê ̣n vay vốn (năm tài khóa 2011):

- Điều kiện chuẩn: Lãi suất 1,4%/năm, thời hạn trả nợ 30 năm (trong đó thời gian ân ha ̣n 10 năm), điều kiê ̣n không ràng buô ̣c

Trang 20

- Vốn vay điều khoản đă ̣c biê ̣t dành cho các đối tác kinh tế STEP : Lãi suất 0,2%/năm, thời hạn trả nợ 40 năm (trong đó thời gian ân ha ̣n 10 năm), điều kiê ̣n ràng buô ̣c là phải có sự tham gia của Nhâ ̣t Bản

Viện trợ không hoàn lại là chương trình cung cấp vốn không phải

hoàn trả nhằm hỗ trợ cho các nước đang phát triển Các dự án viện trợ không hoàn lại được thực hiện để cải thiện những nhu cầu cơ bản của con người như dịch vụ y tế, phát triển nông thôn, cung cấp nước sinh hoạt

Hợp tác kỹ thuật thông qua việc cử chuyên gia Nhật Bản đến làm việc

với các cơ quan đối tác ở các nước đang phát triển, JICA tiến hành thực hiện các dự án phát triển hạ tầng kỹ thuật, đào tạo nguồn nhân lực và chuyển giao

kỹ thuật Đối với những chương trình đào tạo tại Nhật Bản, JICA căn cứ nhu cầu của từng nước và nội dung theo chủ đề, nhằm đào tạo kỹ năng và chuyên môn kỹ thuật, đồng thời kết hợp thực hiện chương trình đối tác phát triển, phát huy kinh nghiệm và công nghệ của các trường đại học, các tổ chức phi chính phủ của Nhật Bản

Ngoài ra, JICA còn triển khai một số chương trình hợp tác khác như:

Cứu trợ thiên tai khẩn cấp

Trong trường hợp xảy ra thiên tai quy mô lớn ở nước ngoài, JICA sẽ phái cử các nhóm Cứu trợ thiên tai Nhật Bản theo đề nghị từ Chính phủ các nước bị ảnh hưởng hoặc các tổ chức quốc tế dựa trên quyết định của Chính phủ Nhật Bản Các nhóm này sẽ tìm kiếm những người bị mất tích, tham gia vào các hoạt động cứu hộ, tiến hành cấp cứu và điều trị cho các nạn nhân bị thương hay bị bệnh cũng như hướng dẫn cách thức hồi phục tốt nhất JICA cũng cung cấp hàng cứu trợ khẩn cấp như màn, lều và thuốc

Hợp tác Nghiên cứu

Trang 21

Viện Nghiên cứu JICA tiến hành các nghiên cứu nhằm mục đích giải quyết những vấn đề phát triển mà các nước đang phát triển đang đối mặt và đóng góp cho các chiến lược hỗ trợ của JICA để giải quyết các vấn đề này

Những nghiên cứu theo định hướng chính sách dựa trên cơ sở khoa học cũng như những đóng góp đáng kể cho lĩnh vực phát triển quốc tế

Những phân tích về vấn đề của các nước đang phát triển và những đóng góp cho các chiến lược hỗ trợ của JICA

Tăng cường sự chia sẻ thông tin tại Nhật Bản, tại nước ngoài và tăng cường hình ảnh của Nhật Bản

Hợp tác công tƣ

Những nỗ lực của JICA trong việc thúc đẩy hợp tác công tư (PPP) chủ yếu tập trung vào cải thiện môi trường kinh doanh tại các nước đang phát triển và hỗ trợ cải thiện cơ sở hạ tầng cũng như tăng cường các dịch vụ công thông qua PPP mà theo đó, Chính phủ và khu vực tư nhân cùng tham gia và chia sẻ trách nhiệm Khi nhận thức về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ngày càng được nâng cao thì số doanh nghiệp Nhật Bản tham gia thực hiện các chương trình đóng góp xã hội ngày càng tăng tại các nước đang phát triển Điều này đòi hỏi sự tham gia của các đối tác mới cho các dự án của JICA trong sự kết nối với hoạt động của các doanh nghiệp tư nhân

Hợp tác theo đề xuất của các doanh nghiệp Nhật Bản

Chương trình được thiết kế để hỗ trợ giải quyết các vấn đề phát triển

mà các nước đang phát triển phải đối mặt bằng cách tận dụng các sản phẩm

và công nghệ của doanh nghiệp Nhật Bản Chương trình nhằm đem lại lợi ích cho nước tiếp nhận thông qua sự hỗ trợ trực tiếp từ các doanh nghiệp Nhật

Trang 22

Bản cũng như trợ giúp các doanh nghiệp Nhật Bản trong việc mở rộng hoạt

động kinh doanh tại thị trường các nước đang phát triển

Hợp tác thông qua sự tham gia của người dân

Đáp lại yêu cầu từ các nước đang phát triển, JICA thúc đẩy các chương trình mà trong đó, các tổ chức và cá nhân tại Nhật Bản tham gia các hoạt động hợp tác quốc tế hỗ trợ người dân địa phương nước sở tại

+ JICA phái cử tình nguyện viên như các Tình nguyện viên Hợp tác Hải ngoại Nhật Bản (JOCV) và Tình nguyện viên cao cấp (SV), quản lý các

dự án từ thiện thông qua Quỹ JICA và thúc đẩy giáo dục phát triển (giáo dục cho sự hiểu biết quốc tế) nhằm hỗ trợ nâng cao nhận thức về những vấn đề mà hiện nay các nước đang phát triển gặp phải JICA hợp tác bằng nhiều cách thức khác nhau với các tổ chức phi Chính phủ, chính quyền địa phương, các trường đại học và các tổ chức khác có tham gia vào các hoạt động hợp tác quốc tế

+ Chương trình Đối tác Phát triển của JICA (JPP) là chương trình hợp tác kỹ thuật cấp cơ sở do JICA thực hiện nhằm đóng góp cho sự phát triển kinh tế xã hội ở cấp địa phương của các nước đang phát triển thông qua sự phối hợp với các “Đối tác tại Nhật Bản” như các tổ chức phi Chính phủ, Chính quyền địa phương, trường đại học và tổ chức pháp nhân công tại Nhật Bản Chương trình nhằm phát huy những kiến thức và kinh nghiệm đã tích lũy của các tổ chức này trong các hoạt động hợp tác nhằm mục đích đem lại các lợi ích trực tiếp cho những người dân địa phương tại các nước đang phát triển

Trang 23

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA JICA Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 1992 ĐẾN NAY

2.1 Khái quát về quan hệ hợp tác Nhật Bản – Việt Nam

Chiến tranh Lạnh kết thúc, thế giới có những biến động sâu sắc, tất cả các quốc gia, dân tộc, nhất là các cường quốc lớn, trong đó có Nhật Bản đã điều chỉnh đường lối, chính sách đối ngoại của mình phù hợp với tình hình mới của quốc tế và khu vực, đáp ứng lợi ích cao nhất của mỗi nước Dựa vào nền tảng kinh tế mạnh của mình, sau Chiến tranh Lạnh, Nhật Bản đã từng bước điều chỉnh chính sách đối ngoại hết sức khôn khéo, mềm dẻo, nhằm xây dựng một vị thế vững mạnh, độc lập và toàn diện hơn trên trường quốc tế Nhật Bản thực hiện chính sách đa phương hoá trong quan hệ đối ngoại, giảm bớt phụ thuộc vào chính sách đối ngoại của Mỹ, tăng cường quan hệ với các nước từ trước đến nay chưa có tiền sử quan hệ, đặc biệt là Châu Á Đồng thời thực hiện chính sách ngoại giao dựa trên đối thoại, hợp tác, cạnh trạnh, hai bên cùng có lợi, làm cho thế giới biết đến Nhật Bản như một quốc gia chuộng hoà bình, không mưu cầu chiến tranh Mặt khác, từ những năm 1990, Nhật Bản cũng tích cực viện trợ ODA và đưa ODA lên thành quốc sách Hiến chương “ODA của Nhật Bản đã trở thành một trụ cột quan trọng trong nhiệm

vụ đóng góp quốc tế và là một phương sách có ý nghĩa trong chính sách ngoại giao” Chính sách đối ngoại trên với mục tiêu khẳng định mạnh mẽ hơn vị trí, vai trò của Nhật Bản trong quan hệ quốc tế sao cho tương xứng với tiềm năng

và tiềm lực của mình, đồng thời bảo đảm một môi trường khu vực ổn định, hướng tới khẳng định vị trí tiên phong, lãnh đạo trong khu vực

Cùng nằm ở châu Á – Thái Bình Dương, lại có sự tương đồng về văn hóa và những liên hệ lịch sử lâu đời, trong hành trình phát triển của mình, hai dân tộc Việt Nam và Nhật Bản gắn kết với nhau một cách tự nhiên Đây là

Trang 24

nền tảng vững bền cho sự phát triển của quan hệ giữa hai nước Bên cạnh đó, Việt Nam có vị trí chiến lược quan trọng ở khu vực Đông Nam Á Việt Nam nằm trên các tuyến giao thông biển ở khu vực Tây Thái Bình Dương có nhiều cửa ngõ thông thương ra biển, những hải cảng lớn như Hải Phòng, Cam Ranh,

Đà Nẵng, Vũng Tàu… đều rất có ý nghĩa lớn về mặt quân sự, có thể được xem như một yếu tố tác động đến chiến lược an ninh của Nhật Bản và các nước ASEAN Chính phủ Việt Nam đã có nhiều chính sách thực tiễn trong việc cải thiện môi trường đầu tư và thiết lập chính sách ưu đãi với Nhật Bản trên nhiều lĩnh vực Trong con mắt của các nhà đầu tư Nhật Bản , Việt Nam là thị trường có triển vọng đứng thứ tư toàn cầu , chỉ sau Trung Quốc, Thái Lan

và Ấn Độ Là một nền kinh tế đang trên đà phát triển và hứa hẹn gặt hái nhiều thành công mới trong tương lai, Việt Nam chính là điểm đến giàu tiềm năng trong mắt giới doanh nhân Nhật Bản Lực lượng lao động trẻ tuổi, siêng năng

và có trình độ cũng là yếu tố quan trọng tạo nên sức hút cho môi trường kinh doanh Ngoài ra, một đất nước Việt Nam hòa bình và ổn định chính là môi trường đầu tư an toàn mà các nhà đầu tư đang hướng đến trong khu vực châu

Á – Thái Bình Dương Hơn nữa, từ lâu, Nhật Bản đã nhận thức rõ tầm quan trọng của Việt Nam trong chiến lược Đông Nam Á của mình Sự ổn định chính trị và hợp tác quốc gia trong khu vực có ý nghĩa tích cực đối với mục tiêu và lợi ích chiến lược của Nhật Bản đồng thời vị trí và tầm quan trọng của Việt Nam trong ASEAN sẽ là nhân tố quan trọng cho sự phát triển nhiều mặt của Nhật Bản Trong cuộc chạy đua tìm kiếm đồng minh, viện trợ ODA là một trong những biện pháp tỏ ra rất hiệu quả Hơn thế nữa, sự ảnh hưởng của Trung Quốc cũng khiến Nhật Bản phải vùng lên tạo thế cân bằng Điều này cho thấy tham vọng và mục đích của Nhật Bản là thiết lập một trật tự thế giới mới trên cơ sở tạo lập được niềm tin và sự đồng tình ủng hộ của các nước mang tính cách mạng theo ý muốn của họ Mặt khác, Việt Nam và Nhật Bản

Trang 25

có nhiều tiếng nói chung và điểm tương đồng Con người, đất nước Việt Nam

và Nhật Bản đều cần cù, chịu khó, tiết kiệm và tinh thần phấn đấu vươn lên,

có lối sống cộng đồng chặt chẽ, có nhiều đặc điểm văn hoá hàng nghìn năm cùng tồn tại trong điều kiện văn minh nông nghiệp lúa nước, cùng tiếp thu ảnh hưởng của Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo, và tâm lý tương tự ODA bản chất là tiền đóng thuế của nhân dân nước tài trợ thông qua cơ quan Chính phủ Nhật Bản và người dân Việt Nam ở các vùng quê đang được hưởng lợi trong việc sử dụng các công trình công cộng xây dựng bằng ODA

Và thực tế trong suốt 40 năm qua, kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao song phương, quan hệ giữa hai nước Việt Nam và Nhật Bản không ngừng đổi mới và phát triển toàn diện Kể từ chuyến thăm Nhật Bản của Thủ tướng Võ Văn Kiệt (tháng 04/1993), hầu hết các lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ đều đến thăm Nhật Bản Chuyến thăm Nhật Bản của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vào tháng 10/2006 đã đánh dấu bước tiến mới trong quan hệ Việt Nam – Nhật Bản, với việc hai bên ký kết Tuyên bố chung “Hướng tới quan hệ đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á” Tiếp đó, với quyết tâm thúc đẩy và làm sâu sắc hơn nữa quan hệ hợp tác toàn diện, năm 2007, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và Thủ tướng Nhật Bản Yasuo Fukuda đã thông qua “Chương trình hợp tác hướng tới quan hệ đối tác chiến lược giữa Việt Nam và Nhật Bản” Tháng 04/2009, Chính phủ hai nước nhất trí nâng quan hệ Việt Nam - Nhật Bản lên tầm “Đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á”, nhân chuyến thăm Nhật Bản của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh Đây được coi là cột mốc quan trọng đánh dấu giai đoạn phát triển mới toàn diện và sâu sắc hơn giữa hai nước Sau các chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Nhật Bản Naoto Kan (tháng 10/2010)

và chuyến thăm Nhật Bản của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (tháng 10/2011),

Trang 26

hai nước ký các Tuyên bố chung về “Phát triển toàn diện quan hệ đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á” và “Triển khai hành động trong khuôn khổ đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á”

Năm 2013, đúng vào dịp hai nước kỷ niệm 40 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao (21/09/1973 – 21/9/2013) và chào mừng Năm Hữu nghị Việt Nam – Nhật Bản 2013, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe và Phu nhân thăm hữu nghị chính thức Việt Nam Chuyến thăm thể hiện chính sách nhất quán của Nhật Bản luôn coi trọng, ưu tiên cao quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam, mong muốn thúc đẩy hợp tác song phương trên mọi lĩnh vực, cũng như thúc đẩy quan hệ với các nước Đông Nam Á Đây cũng là chuyến thăm nước ngoài đầu tiên của Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe sau khi được bầu làm Thủ tướng Nội các Nhật Bản (tháng 12/2012) và là chuyến thăm Việt Nam lần thứ hai trên cương vị Thủ tướng Đặc biệt, trong chuyến thăm Nhật Bản của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang (tháng 03/2014), hai bên đã thông qua Tuyên bố chung về việc thiết lập quan hệ “Đối tác chiến lược sâu rộng vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á”, mở ra một giai đoạn hợp tác mới trong quan hệ Việt Nam – Nhật Bản, cả về chiều rộng và chiều sâu Ngày 15/06/2015, quan hệ song phương càng được củng cố, thắt chặt và làm sâu sắc hơn nữa bởi chuyến thăm chính thức Nhật Bản của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, nhằm khẳng định sự coi trọng và mong muốn không ngừng phát triển quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng Việt Nam – Nhật Bản Chuyến thăm được thực hiện hơn một năm sau khi hai nước thiết lập quan hệ “Đối tác chiến lược sâu rộng vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á” có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng phát triển quan hệ song phương trong thời gian tới, thúc đẩy các mặt hợp tác song phương, làm sâu sắc thêm quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng giữa Việt Nam và Nhật Bản

Trang 27

Bên cạnh đó, không chỉ dừng lại ở quan hệ song phương, Việt Nam và Nhật Bản còn đẩy mạnh hợp tác trong các vấn đề quốc tế Trong thời gian qua, Chính phủ hai nước luôn nhất quán chủ trương cùng phối hợp chặt chẽ, ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, như Diễn đàn hợp tác Á – Âu (ASEM), Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng (ADMM+), Liên hợp quốc và nhiều cơ chế khác… Ngoài kênh chính thức, Việt Nam và Nhật Bản cũng phối hợp chặt chẽ trong các cơ chế ngoại giao kênh II, như: Đối thoại ba bên Việt Nam – Nhật Bản – Mỹ, Hội đồng Hợp tác

an ninh châu Á – Thái Bình Dương (CSCAP),… trong nhiều vấn đề an ninh nguồn nước, chống biến đổi khí hậu… Năm 2009, hai nước xác lập khuôn khổ “Quan hệ đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á”, mở ra một giai đoạn mới trong quan hệ song phương, thúc đẩy quan hệ hai nước phát triển mạnh mẽ và thực chất trên nhiều lĩnh vực Từ đó đến nay, tinh thần đối tác chiến lược đã lan tỏa sâu rộng trong hợp tác hữu nghị không chỉ giữa các cấp, các ngành ở trung ương mà cả giữa các địa phương, hiệp hội và doanh nghiệp hai nước; đồng thời đi vào tình cảm và hoạt động giao lưu giữa các tầng lớp nhân dân, trí thức và thanh niên Việt Nam và Nhật Bản Trong lĩnh vực kinh tế, Nhật Bản đã xác lập vững chắc vị thế là đối tác kinh tế quan trọng hàng đầu, là nước cung cấp ODA lớn nhất, nhà đầu tư nước ngoài số một, đối tác thương mại lớn thứ tư của Việt Nam Phần lớn các tập đoàn hàng đầu Nhật Bản đã có mặt và đang kinh doanh hiệu quả, ổn định và lâu dài tại thị trường Việt Nam, góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế – xã hội và công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam Nhiều lĩnh vực hợp tác giữa hai nước đã và đang được mở ra và thúc đẩy phát triển mạnh mẽ, theo hướng bền vững và lâu dài, như ODA, đầu tư, chiến lược công nghiệp hóa, nông nghiệp,

Trang 28

giáo dục – đào tạo, y tế Nhật Bản đã trở thành đối tác hàng đầu và quan trọng trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam Với những lợi thế so sánh quan trọng như vị trí địa – chiến lược thuận lợi, chính trị – xã hội ổn định, lực lượng lao động dồi dào với cơ cấu dân số “vàng” và giá nhân công hợp lý, Việt Nam đã và sẽ tiếp tục là điểm đến quan trọng, lâu dài của các nhà đầu tư Nhật Bản

2.2 Khái quát về JICA tại Việt Nam

2.2.1 Sự ra đời và phát triển của JICA tại Việt Nam

Bắt đầu từ năm 1992, JICA bắt đầu các hoạt động hợp tác tại Việt Nam bằng cách gửi các chuyên gia Nhật Bản và nhận đại biểu của Việt Nam để đào

vòng 30 năm, trong đó 10 năm đầu không phải trả lãi Quyết định của Nhật Bản khôi phục viện trợ ODA cho Việt Nam có một ý nghĩa quan trọng trong quan hệ Việt Nam – Nhật Bản, mở ra một thời kỳ mới trong quan hệ hợp tác trên rất nhiều lĩng vực giữa hai quốc gia Về phía Nhật Bản, quyết định này phản ánh ý chí mạnh mẽ của Nhật nhằm đóng vai trò lớn hơn và độc lập hơn trong việc tạo lập một hệ thống mới những mối quan hệ quốc tế trong khu vực

và trên thế giới, một vai trò tương ứng với tầm vóc kinh tế của Nhật Bản trong thời kỳ sau chiến tranh lạnh Quyết định này cũng được xem như một dấu hiệu về việc công khai sự ủng hộ của Nhật đối với chính sách đổi mới toàn diện của Việt Nam, giúp Việt Nam nhanh chóng hoà nhập với cộng đồng quốc tế mà trước hết là với tổ chức ASEAN, thúc đẩy quá trình bình thường hoá quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam; thiết lập các mối quan hệ về thương mại

và đầu tư lâu dài với giới kinh doanh Nhật Bản Về phía Việt Nam, trong thực

tế việc Nhật Bản quyết định viện trợ ODA trở lại cho Việt Nam vào thời điểm khi Mỹ vẫn chưa xoá bỏ lệnh cấm vận của họ với Việt Nam và tiếp tục gây áp

Trang 29

lực ngăn cản Nhật Bản mở rộng viện trợ cho Việt Nam, do vậy nối lại viện trợ

là một nguồn động viên hết sức to lớn cho Việt Nam Nhật Bản viện trợ ODA trở lại không những chỉ giúp kích thích sự phát triển trên các mặt kinh tế, xã hội của Việt Nam, thu hút nhiều nguồn viện trợ và đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho việc củng cố và phát triển mở rộng quan hệ thương mại cũng như hợp tác kinh tế giữa hai nước, mà còn đóng góp vào việc khái thác các nguồn viện trợ đa phương, tạo ra những cơ hội cho liên doanh với nước ngoài ở Việt Nam và tạo ra động lực để cải thiện và mở rộng các mối quan hệ quốc tế của Việt Nam

Năm 1994, Quỹ Hợp tác Kinh tế Hải ngoại Nhật Bản (OECF) đă ̣t Văn phòng đại diện tại Hà Nội , hai bên ký văn bản hợp tác, trao đổi với Chương trình Tình nguyện viên hải ngoại của Nhật Bản (JOCV)

Đến năm 1995, nhằm phục vụ nhu cầu phát triển tại Việt Nam, văn phòng JICA Việt Nam đã chính thức được thành lập, lô hàng đầu tiên của các thành viên hội Tình nguyện viên Hợp tác Hải ngoại Nhật Bản đã được gửi đến Việt Nam Trụ sở đặt tại tầng 16, Trung tâm Thương ma ̣i Daeha , 360 Kim Mã, Ba Đình, Hà Nội,

Vào năm 1998, Hiệp định hợp tác kỹ thuật giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Nhật Bản được ký kết

Đến năm 2006, để phục vụ nhu cầu phát triển ngày càng sâu rộng ở Việt Nam, Văn phòng liên lạc JICA tại Thành phố Hồ Chí Minh chính thức được thành lập tại tầng 9, Tòa nhà Sài Gòn Riverside, 2A – 4A Đường Tôn Đức Thắng, Phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh

Từ tháng 10/2008, theo chương trình cải cách thể chế thực hiê ̣n ODA của Chính ph ủ Nhật Bản, mô ̣t trong những cơ quan thực hiê ̣n viê ̣n trợ ODA của Chính phủ Nhật Bản trước đó chỉ phụ trách thực hiê ̣n về Hợp tác kỹ thuâ ̣t – Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhâ ̣t Bản (JICA) đã đổi mới , thực hiê ̣n cả phần

Trang 30

vốn vay ODA của Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC), và trở thành

cơ quan duy nhất thực hiê ̣n viê ̣n trợ ODA của Chính phủ Nhâ ̣t Bản bao gồm

cả Hợp tác kỹ thuật và Hỗ trợ kinh phí

2.2.2 Đi ̣nh hướng ODA Nhật Bản dành cho Viê ̣t Nam

Trước đây, hỗ trợ của JICA cho Việt Nam tập trung vào năm lĩnh vực

ưu tiên như xây dựng cơ chế và phát triển năng lực; hệ thống điện, hệ thống giao thông và các loại hình kết cấu hạ tầng khác; phát triển nông nghiệp và

Nam tập trung vào các lĩnh vực chính đó là:

Thúc đẩy tăng trưởng và tăng cường năng lực cạnh tranh quốc tế

Trong bối cảnh Viê ̣t Nam phải chi ̣u ảnh hưởng ca ̣nh tranh quốc tế khốc liê ̣t

do gia nhâ ̣p WTO và o tháng 01/2007, để trở thành nước công nghiệp , trước hết Việt Nam cần phải thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tăng cường hợp tác quốc tế Để hỗ trợ mu ̣c tiêu này , JICA triển khai hỗ trợ mô ̣t cách tổng hợp gồm các hoa ̣t đô ̣ng ph ần mềm với trọng tâm là xây dựng và thực hiện các cơ chế chính sách kinh tế, đào ta ̣o nguồn nhân lực phu ̣c vu ̣ các ngành kinh tế ; và các hoạt động phần cứng với trọng tâm là xây dựng và vận hành cơ sở hạ tầng phục vụ cho các ngành kinh tế Cụ thể, JICA hỗ trợ cải cách doanh nghiê ̣p Nhà nước, phát triển ngành công nghiệp phụ trợ và các doanh nghiệp vừa và nhỏ, phát triển đô thị, tăng cường ha ̣ tầng giao thông vận tải, cung cấp điê ̣n ổn

đi ̣nh

Cải thiê ̣n điều kiê ̣n sống và thu hẹp khoảng cách phát triển

Để vừa phát triển kinh tế vừa xây dựng xã hô ̣i công bằng , Viê ̣t Nam cần phải thực hiện các chương trình để cải thiện mức sống và thu hẹp khoảng cách phát triển JICA hợp tác hỗ trợ cải thiện các dịch vụ xã hội như y tế và giáo dục; phát triển địa phương thông qua việc tăng cường năng lực cho các

Trang 31

hợp tác xã, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn như đường nông thôn , hê ̣ thống cấp nước, hê ̣ thống thủy lợi và phát triển ngành nghề thủ công Bên ca ̣nh đó, nhằm đối phó với những thiê ̣t ha ̣i do thiên tai gây ra , JICA cũng hỗ trợ tăng cường năng lực phòng chống thiên tai trên cơ sở kinh nghiê ̣m của Nhâ ̣t Bản

Bảo vệ môi trường

Tại Việt Nam , cùng với sự phát triển của công nghiệp và đô thị hóa , các vấn đề môi trường như ô nhiễm nguồn nước và không khí đang trở nên

nghiêm tro ̣ng Vì vậy, phát huy những kinh nghiệm của Nhật Bản về phòng chống ô nhi ễm và bảo vệ môi trường , JICA hợp tác nhằm cải thiê ̣n hê ̣ thống thoát nước , xử lý nước thải đô thi ̣ , quản lý rác thải , trồng rừng, tăng cường quản lý rừng và nguồn nước

Tăng cường quản tri ̣ Nhà nước

Trong nền kinh tế th ị trường và phân cấp quản lý cho địa phương , viê ̣c cải thiê ̣n hê ̣ thống pháp lý và tăng cường năng lực hành chính là vấn đề cần giải quyết Hơn nữa, Chính phủ Việt Nam đã xem phòng chống tham nhũng là một vấn đề quan tro ̣n g Do vâ ̣y, tăng cường quản tri ̣ nhà nước là nền tảng cho sự phát triển của Việt Nam và JICA cũng xem đây là lĩnh vực cơ bản để thực hiê ̣n hiê ̣u quả 3 lĩnh vực ưu tiên nêu trên

2.2.3 Chính sách của JICA tại Việt Nam

Chính sách ODA của Nhật Bản chủ yếu được thực hiện thông qua 2 tổ chức là Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC) và Cơ quan hợp tác và phát triển Nhật Bản (JICA) được thành lập vào tháng 10 năm 1999 trên cơ sở việc sát nhập hai tổ chức Quỹ hợp tác Kinh tế Hải ngoại Nhật Bản (OECF) và Ngân hàng Xuất Nhập khẩu Nhật Bản (JEXIM)

Trang 32

Chính sách cơ bản về ODA của Nhật Bản

- Hỗ trợ tinh thần tự lực của các nước phát triển

- Tăng cường an ninh, an toàn cho con người

- Đảm bảo sự công bằng

- Tận dụng kinh nghiệm, chuyên môn

- Hợp tác với cộng đồng quốc tế

Về thời hạn và điều kiện vay vốn ODA của Nhật Bản

ODA cung cấp với lãi suất rất ưu đãi, thời gian vay dài, có khoảng 45% khoản vay có lãi suất dưới 1%/năm, thời hạn vay từ 30 – 40 năm; khoảng 40% khoản vay có lãi suất 1–3%/năm, thời hạn vay 12 – 30 năm, tuy nhiên kèm theo đó là những điều kiện nhất định từ phía nhà tài trợ và cuối cùng khoản vay phải được trả nợ gốc và lãi Thông thường, các nhà tài trợ đều đòi hỏi phải ưu tiên (có khi bắt buộc) dùng chuyên gia, nguyên vật liệu, nhà thầu, thiết kế… của họ với giá cao hơn nhiều giá thị trường

2.3 Cơ cấu và hình thức cung cấp ODA của Nhật Bản vào Việt Nam

2.3.1 Viện trợ không hoàn lại

Từ khi nối lại viện trợ phát triển năm 1992 đến nay, Chính phủ Nhật Bản đã thực hiện nhiều loại hình viện trợ không hoàn lại khác nhau cho Việt Nam như: Viện trợ không hoàn lại chung; Hợp tác kỹ thuật dạng dự án; Nghiên cứu phát triển; Cử chuyên gia; Đào tạo cán bộ Việt Nam tại Nhật Bản; Cung cấp trang thiết bị; Viện trợ phi dự án Nguồn vốn viện trợ không hoàn lại của Chính phủ Nhật Bản dành cho Việt Nam không nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế, mà nhằm mục tiêu nâng cao đời sống người dân, nhất là dân nghèo thông qua các lĩnh vực viện trợ giáo dục nghiên cứu, y tế sức khỏe, giao thông liên lạc, phát triển nông lâm nghiệpvà cải thiện môi trường sống

Trang 33

Bộ Ngoại giao Nhật Bản quyết định và thực hiện dự án viện trợ không hoàn lại, JICA chịu trách nhiệm khảo sát, thiết kế cơ sở cho việc xây dựng cơ sở vật chất và mua sắm trang thiết và nguyên vật liệu, hỗ trợ thực hiện dự án và sau dự án Tuy nhiên, quy mô viện trợ không hoàn lại của Nhật Bản cho Việt Nam đang có xu hướng giảm dần do mức sống của người dân đã được cải thiện nhanh chóng trong những năm vừa qua Những năm gần đây, tổng kinh phí cho viện trợ không hoàn lại còn khoảng 3 tỷ Yên/năm

Ngày 01/08/2014, Lễ ký Công hàm trao đổi hai khoản viện trợ không hoàn lại của Nhật Bản cho Việt Nam với tổng giá trị 850 triệu Yên đã diễn ra tại Hà Nội Theo đó, khoản viện trợ phi dự án thứ nhất được ký kết giữa Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam Bùi Quang Vinh và Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản Kishida Fumio trị giá 500 triệu Yên để đảm bảo an toàn hàng hải cho Việt Nam Thông qua khoản viện trợ này, Nhật Bản sẽ hỗ trợ cung cấp tàu thủy và thiết bị cho cơ quan chấp pháp trên biển của Việt Nam Khoản viện trợ thứ hai trị giá 350 triệu Yên dành cho Chương trình học bổng phát triển nguồn nhân lực Việt Nam năm 2014, được ký kết giữa Bộ trưởng

Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam Phạm Vũ Luận và Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản Kishida Fumio

Trong hợp tác hỗ trợ về kinh phí, hợp tác viện trợ không hoàn lại được kết hợp với hợp tác kĩ thuật, đặt trọng tâm vào việc năng cao mức sống cho người dân (nhu cầu cơ bản của con người) tập trung hỗ trợ cho lĩnh vực y tế sức khỏe và phát triển nông thôn.Viện trợ không hoàn lại được nối lại vào năm 1992 bằng Dự án cải tạo Bệnh viện Chợ Rẫy, sau đó liên tục triển khai nhằm hỗ trợ nâng cấp các bệnh viện trọng điểm tại Hà Nội, Huế và Hòa Bình; xây dựng trường học tại các vùng khó khăn; xây dựng cầu và đường nông thôn; cấp nước; trồng rừng với mức hỗ trợ khoảng 6 – 9 tỷ Yên/năm Hơn

Trang 34

nâng cao năng lực hải quan

2.3.2 Hợp tác kỹ thuật

Việt Nam hiện đứng thứ 3 trong số các nước nhận viện trợ hợp tác kỹ thuật của Nhật Bản Nguồn vốn vay là nhằm phục vụ các công trình, dự án lớn Nhật Bản ưu tiên cho vay vốn sử dụng trong các lĩnh vực: cơ sở hạ tầng, cầu đường, viễn thông, xử lý nước, môi trường, thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp Về khoản viện trợ hợp tác kỹ thuật, Việt Nam đang đứng thứ 3 với 107,4 triệu USD và đây cũng là một phần của viện trợ không hoàn lại

Trong các dự án hợp tác kỹ thuật, phía Việt Nam quản lý dự án bằng cách bổ nhiệm Giám đốc dự án, quản đốc dự án và các nhân viên đối tác khác Phía JICA sẽ tuyển chọn và cử chuyên gia Nhật bản, đưa ra khuyến nghị tổng thể hướng dẫn kỹ thuật và tư vấn thực hiện dự án Thông qua chương trình hợp tác kỹ thuật, Chính phủ Nhật Bản hỗ trợ lập các quy hoạch tổng thể phát triển các ngành như điện, giao thông, nghiên cứu khả thi, lập thiết kế chi tiết, khảo sát về môi trường , đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật, quản lý tại Nhật Bản, cử chuyên gia tư vấn, người tình nguyện sang Việt Nam làm việc… Các nghiên cứu quy hoạch phát triển (gồm các quy hoạch tổng thể và nghiên cứu khả thi) như Quy hoạch phát triển giao thông khu vực phía Bắc, Nghiên cứu cải thiện môi trường nước ở Hà Nội , JICA đã hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội cho Việt Nam một cách tổng thể Những nghiên cứu phát triển sau đó về chiến lược phát triển giao thông vân tải quốc gia ở Việt Nam, quy hoạch tổng thể phát triển năng lượng điện, tổng quan về tiết kiệm năng lượng, quy hoạch phát triển đô thị hoặc phát triển giao thông cho Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, quy hoạch tổng thể an toàn giao thông toàn quốc, quy hoạch tổng thể phát triển khu cực Tây Bắc, chiến lược phát triển liên kết Đà Nẵng và vùng phụ cận đã hỗ trợ xây dựng các Quy hoạch có mức ưu tiên cao phục vụ cho công

Trang 35

cuộc xây dựng đất nước của Việt Nam Các nghiên cứu này trở thành cơ sở cho việc hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn vay ODA của Nhật Bản

2.3.3 Hợp tác vốn vay

Hợp tác vốn vay tập trung chủ yếu vào xây dựng các công trình quy mô lớn, quy mô các dự án thường từ 40 triệu USD trở lên Đồng thời, việc cam kết vốn cho dự án thường được tách ra thành nhiều hiệp định và thời gian thực hiện từ 5 năm trở lên Vốn vay ưu đãi của Chính phủ Nhật Bản thường chiếm tối đa là 85% tổng vốn dự án Điều kiện vay trả cho các dự án tùy thuộc vào từng lĩnh vực cũng như thay đổi tùy theo mức thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam Mặc dù Việt Nam đã trở thành quốc gia có mức thu nhập trung bình vào năm 2010, nhưng Nhật Bản vẫn đang áp dụng mức lãi suất thấp đối với các khoản vay ODA cho xây dựng cơ sở hạ tầng là 0,1 – 1,4%, và đặc biệt giảm xuống chỉ còn 0,3% cho lĩnh vực môi trường, xây dựng bệnh viện, trường đại học Thời gian trả nợ là 40 năm, trong đó có 10 năm ân hạn cũng là một điều kiện rất ưu đãi Trong khi đó, trái phiếu Chính phủ có lãi suất thấp nhất là 5%, với thời gian trả nợ trung bình thường ngắn hơn 5 năm Như vậy, có thể thấy, việc sử dụng vốn vay ODA Nhật Bản, so với trái phiếu Chính phủ, cho đầu tư công là cách tốt nhất để giảm nợ công trong tương lai Việc trả nợ ODA do đó cũng được coi là góp phần giảm khối lượng đầu tư cần phải có vào các lĩnh vực quan trọng như y tế, giáo dục và bảo trợ xã hội trong tương lai Nhiều dự án thuộc các lĩnh vực nói trên hoàn thành và đưa vào sử dụng, góp phần tích cực cho sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam

Các ngành chủ yếu trong các lĩnh vực nhận viện trợ là:

Trang 36

- Các ngành phát triển cơ sở hạ tầng gồm chủ yếu là giao thông vận tải

và điện lực

- Giao thông đô thị, cải thiện môi trường nước

- Cơ sở ha ̣ tầng nông thôn, hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ

- Đảm bảo chất lượng và an toàn công trình

Vào ngày 26/1/2009, tại Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc và Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Nhật Bản tại Việt Nam Sakaba Mitsuo đã ký Công hàm trao đổi về việc Chính phủ Nhật Bản cung cấp tín dụng ưu đãi thuộc đợt 1 tài khóa 2009 của Nhật Bản (kết thúc vào ngày 31/3/2010) cho Chính phủ Việt Nam trị giá 64,891 tỷ Yên (tương đương khoảng 704 triệu USD)

Khoản tín dụng ưu đãi này nhằm giúp Chính phủ Việt Nam triển khai 5

dự án, bao gồm: Dự án xây dựng đường tránh Quốc lộ 1 (4,141 tỷ yên); Dự án Xây dựng Nhà máy Điện Thái Bình 1 (20,737 tỷ yên); Dự án Phát triển cơ sở

hạ tầng quy mô nhỏ (Chương trình tín dụng chuyên ngành 6 - 17,952 tỷ yên); Chương trình sử dụng hiệu quả, bảo toàn năng lượng và sản xuất năng lượng tái tạo (4,682 tỷ yên) và Dự án vay 2 bước tài trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn III (17,379 tỷ yên) Công hàm trao đổi này quy định các điều kiện khung cho việc cung cấp và sử dụng khoản 64,891 tỷ Yên tín dụng ưu đãi trên Trên cơ sở các điều kiện khung này, trong thời gian tới, đại diện Bộ Tài chính Việt Nam và đại diện JICA sẽ ký 5 hiệp định tín dụng cụ thể cho 5 dự

án này

Ngoài ra, Chính phủ Nhật Bản cam kết tín dụng ưu đãi 2 lần trong 1 năm bắt đầu từ tài khóa 2009 nhằm hỗ trợ kịp thời cho Chính phủ Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội Đồng thời, nỗ lực đó còn chứng tỏ

Trang 37

sự đánh giá cao của Nhật Bản đối với quan hệ đối tác chiến lược Nhật Bản – Việt Nam, cũng như đối với các nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trong việc cải thiện môi trường pháp lý, gia tăng các biện pháp cụ thể để tăng cường hơn nữa việc quản lý và sử dụng hiệu quả các dự án ODA, bao gồm cả công tác phòng chống tham nhũng

2.4 Tình hình thực hiện ODA Nhật Bản tại Việt Nam

Từ khi áp du ̣ng chính sách Đổi mới vào năm 1986, Viê ̣t Nam đã tiến hành hiện đại hóa đất nước trên cơ sở nền kinh tế thị trường và hội nhập với

cô ̣ng đồng quốc tế , nhưng tình hình kinh tế xã hô ̣i trong nước gă ̣p nhiều khó khăn Hầu hết các lĩnh vực cần phải cải thiê ̣n là các di ̣ch vu ̣ xã hô ̣i cơ bản như giáo dục toàn dân , y tế sức khỏe ; xây dựng ha ̣ tầng như giao thông , điê ̣n lực, Với mục đích hỗ trợ Viê ̣t Nam, tháng 11/1992, Nhâ ̣t Bản đã đi trước các nước khác nối la ̣i ODA cho Viê ̣t Nam Từ năm 1993, tiếp theo Nhâ ̣t Bản , Ngân hàng thế giới và Ngân hàng phát triển Châu Á cùng với các nước phát triển khác đã bắt đầu viê ̣n trợ cho Viê ̣t Nam , và Hội nghị các nhà tài trợ (CG) đầu tiên đã được tổ chức vào tháng 10/1993 Trong hơn 20 năm, Nhâ ̣t Bản luôn là nước cung cấp viê ̣n t rợ nhiều nhất cho Viê ̣t Nam và Việt Nam cũng là

mô ̣t trong những nước quan tro ̣ng mà Nhâ ̣t Bản hỗ trợ ODA Mô ̣t đă ̣c điể m nổi bâ ̣t của ODA Nhâ ̣t Bản dành cho Viê ̣t Nam là sự liên kết chă ̣t chẽ giữa hợp tác hỗ trợ về kinh phí để xây dựng cơ sở hạ tầng vốn không thể thiếu được cho sự phát triển đất nước và hợp tác kỹ thuâ ̣t để đào ta ̣o nguồn nhân lực

và cải thiện cơ chế chính sách

Nhật Bản là nước tài trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam, chiếm khoảng 30% tổng cam kết ODA của cộng đồng quốc tế đối với Việt Nam.ODA của Nhật Bản đa phần là các khoản vay (chiếm khoảng 87,05%) Đây là điểm khác biệt rất lớn so với các nhà tài trợ khác của Việt Nam như Canada, Anh,

Trang 38

hầu hết đều là viện trợ không hoàn lại và hỗ trợ kỹ thuật Được bắt đầu bằng vốn vay hàng hóa với khoản vay trị giá 45,5 tỷ Yên vào tháng 11/1992, tiếp

đó vào năm 1993 bắt đầu thực hiện vốn vay theo dự án, hợp tác vốn vay luôn đặt trọng tâm hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng – nền tảng cho phát triển kinh tế của Việt Nam Ngay từ đầu, Việt Nam đã được xác định là quốc gia trọng tâm

và được tiếp nhận vốn vay hàng năm (quốc gia liên tục được cho vay mỗi

viện trợ phát triển (ODA) lớn nhất với 170,930 triệu Yên, và cũng là nước nhận được viện trợ đứng đầu khu vực Đông Nam Á

Bảng 2.1: ODA Nhật Bản dành cho khu vực Đông Nam Á năm 2013 (Nguồn: Sách Trắng Nhật Bản năm 2013)

Trang 39

Nhật Bản cam kết cho Việt Nam liên tục tăng với quy mô năm sau cao hơn năm trước, có xu hướng tăng theo kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam qua từng thời kỳ

Bảng 2.2: Viện trợ ODA của Nhật Bản cho Việt Nam từ 1992 đến

Trang 40

mạnh, mặc dù do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á năm 1997 nhưng ODA của Nhật Bản cho Việt Nam không những không giảm

mà ngược lại đạt vượt ngưỡng hơn 100 tỷ Yên Đặc biệt năm 1998, năm 1999 lần lượt đạt 100,8 tỷ Yên và 112 tỷ Yên, con số này đã phản ánh sự hảo tâm cũng như vai trò của Nhật Bản đối với quốc tế ngày càng lớn hơn Đây cũng

là thời điểm mà Nhật Bản thực hiện kế hoạch Miyazama do cựu thủ tướng Nhật Bản đề xướng năm 1999 nhằm giúp các nước Đông Nam Á phục hồi nhanh nền kinh tế đã bị sụp đổ bởi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu

Á Giai đoạn 1997 – 1999 là thời gian mà Việt Nam đã được Nhật Bản cung cấp khối lượng ODA lớn nhất từ trước đó cho đến thời đi ểm đó Điều đó chứng tỏ Việt Nam đã chiếm vị trí , vai trò quan trọng trong sự quan tâm của chính sách ODA Nhật Bản Mặc dù sau đó vào năm 2000, ODA Nhâ ̣t Bản dành cho Việt Nam đột ngột giảm mạnh do họ thi hành chính sách cắt giảm

2009 Từ năm 2010 đến 2013, ODA Nhật Bản vào Việt Nam tiếp tục giữ ở mức cao và đạt kỉ lục cao nhất vào năm 2011 là 2,700.38 triệuYên (cao nhất từ trước đến nay)

Ngày đăng: 21/05/2016, 22:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ngô Xuân Bình, Trần Quang Minh, (2005),Quan hệ Việt Nam – Nhật Bản: Quá khứ, hiện tại và tương lai, Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Việt Nam – Nhật Bản: Quá khứ, hiện tại và tương lai
Tác giả: Ngô Xuân Bình, Trần Quang Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 2005
2. Khoa Đông phương học, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, (2013), Quan hệ Việt Nam – Nhật Bản (những vấn đề lịch sử và hiện đại), Kỷ yếu hội thảo quốc tế Kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam – Nhật Bản, Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Việt Nam – Nhật Bản (những vấn đề lịch sử và hiện đại)
Tác giả: Khoa Đông phương học
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2013
3. Kiruma Hiroshi và cộng sự, (2005), Những bài học về quan hệ Việt Nam – Nhật Bản, Hà Nội: Nhà xuất bản thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bài học về quan hệ Việt Nam – Nhật Bản
Tác giả: Kiruma Hiroshi, cộng sự
Nhà XB: Nhà xuất bản thống kê
Năm: 2005
4. Kỷ yếu hội thảo khoa học, (2014), 40 năm quan hệ Việt Nam – Nhật Bản, thành quả và triển vọng, Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội thảo khoa học
Tác giả: Kỷ yếu hội thảo khoa học
Nhà XB: Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2014
5. Hồ Công Lưu, (2009), Mấy nét về nguồn viện trợ ODA Nhật Bản dành cho Việt Nam, Khoa Việt Nam học, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy nét về nguồn viện trợ ODA Nhật Bản dành cho Việt Nam
Tác giả: Hồ Công Lưu
Nhà XB: Khoa Việt Nam học, Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2009
6. Phan Hải Linh chủ biên, (2010), Bài giảng chuyên đề nghiên cứu Nhật Bản: Lịch sử văn hóa xã hội, Hà Nội: Nhà xuất bản thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng chuyên đề nghiên cứu Nhật Bản: Lịch sử văn hóa xã hội
Tác giả: Phan Hải Linh
Nhà XB: Nhà xuất bản thế giới
Năm: 2010
7. Phạm Văn Quân, (2003), Tình hình viện trợ ODA của Nhật Bản dành cho Việt Nam từ năm 1992 đến nay và một số kiến nghị, Đại học Ngoại thương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình viện trợ ODA của Nhật Bản dành cho Việt Nam từ năm 1992 đến nay và một số kiến nghị
Tác giả: Phạm Văn Quân
Nhà XB: Đại học Ngoại thương
Năm: 2003
8. Cao Viết Sinh, (2009), Tổng quan ODA ở Việt Nam 15 năm (1993 – 2008), Bộ Kế hoạch và Đầu tư Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan ODA ở Việt Nam 15 năm (1993 – 2008)
Tác giả: Cao Viết Sinh
Nhà XB: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Năm: 2009
9. Đỗ Đức Thịnh (1996), Quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản đang phát triển, Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Đức Thịnh
Tác giả: Đỗ Đức Thịnh
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 1996
10. Nguyễn Quang Thuấn, Trần Quang Minh, (2014), Quan hệ Việt Nam – Nhật Bản : 40 năm nhìn lại và định hướng tương lai, Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Việt Nam – Nhật Bản : 40 năm nhìn lại và định hướng tương lai
Tác giả: Nguyễn Quang Thuấn, Trần Quang Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 2014
1. Đỗ Đức Bình, Nguyễn Đông Hải, (2003), “Huy động và sử dụng nguồn vốn ODA của Nhật Bản tại Việt Nam: Thực trạng và một số giải pháp”, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số 1/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huy động và sử dụng nguồn vốn ODA của Nhật Bản tại Việt Nam: Thực trạng và một số giải pháp
Tác giả: Đỗ Đức Bình, Nguyễn Đông Hải
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á
Năm: 2003
2. Nguyễn Duy Dũng, (2003), “Vai trò của Viện trợ phát triển chính thức (ODA) của Nhật Bản cho Việt Nam và những vấn đề đang đặt ra”, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số 4/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của Viện trợ phát triển chính thức (ODA) của Nhật Bản cho Việt Nam và những vấn đề đang đặt ra
Tác giả: Nguyễn Duy Dũng
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á
Năm: 2003
3. Hoàng Thị Minh Hoa, Nguyễn Thị Thu Huyền, (2013), “ODA của Nhật Bản dành cho Lào, Campuchia và Việt Nam giai đoạn 1991-2005:Thành tựu và những đặc điểm”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 1/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ODA của Nhật Bản dành cho Lào, Campuchia và Việt Nam giai đoạn 1991-2005:Thành tựu và những đặc điểm
Tác giả: Hoàng Thị Minh Hoa, Nguyễn Thị Thu Huyền
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á
Năm: 2013
4. Phùng Thị Vân Kiều, (2012), “Phát triển quan hệ thương mai Việt Nam – Nhật Bản tương xứng với tầm quan hệ đối tác chiến lược”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 1/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển quan hệ thương mai Việt Nam – Nhật Bản tương xứng với tầm quan hệ đối tác chiến lược
Tác giả: Phùng Thị Vân Kiều
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á
Năm: 2012
1. Cổng thông tin ODA Việt Nam, http://oda.mpi.gov.vn/odavn/Trangch%E1%BB%A7/tabid/124/Default.aspx 2. Đầu tư cơ sở hạ tầng từ nguồn vốn vay JICA,http://baodientu.chinhphu.vn/home/dau-tu-co-so-ha-tang-tu-nguon-von-vay-jica/200911/24312.vgp Link
3. Họp báo thường niên: Nhìn lại tài khoá 2014, http://www.jica.go.jp/vietnam/english/office/topics/c8h0vm000001sp1a-att/150401.pdf Link
5. JICA (Nhật Bản) cam kết tiếp tục hỗ trợ Việt Nam trong phát triển kinh tế – xã hội,http://oda.mpi.gov.vn/odavn/Tint%E1%BB%A9c/tabid/126/ArticleType/ArticleView/ArticleID/1313/Default.aspx Link
6. JICA tại Việt Nam, http://www.jica.go.jp/vietnam/english/index.html 7. JICA thúc đẩy các dự án hợp tác Việt Nam – Nhật Bản,http://oda.mpi.gov.vn/odavn/Tint%E1%BB%A9c/tabid/126/ArticleType/ArticleView/ArticleID/545/Default.aspx Link
15. Thành quả mới từ chương trình tài trợ giáo dục của JICA, http://baodientu.chinhphu.vn/home/thanh-qua-moi-tu-chuong-trinh-tai-tro-giao-duc-cua-jica/20118/96745.vgp Link
16. Tránh lệ thuộc vào vốn ODA, http://oda.mpi.gov.vn/Tint%E1%BB%A9c/tabid/126/articleType/ArticleView/articleId/1452/Trnh-l-thuc-vo-vn-ODA.aspx Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  2.2:  Viện  trợ  ODA  của  Nhật  Bản  cho  Việt  Nam  từ  1992  đến - Vai trò của cơ quan hợp tác quốc tế nhật bản ( jica) trong giai đoạn quan hệ việt nam   nhật bản từ năm 1992 đến nay
ng 2.2: Viện trợ ODA của Nhật Bản cho Việt Nam từ 1992 đến (Trang 39)
Bảng 2.4: Những nhà máy điện đã được xây dựng bằng nguồn vốn  ODA của Nhật Bản từ năm 1992 đến nay (nguồn: JICA) - Vai trò của cơ quan hợp tác quốc tế nhật bản ( jica) trong giai đoạn quan hệ việt nam   nhật bản từ năm 1992 đến nay
Bảng 2.4 Những nhà máy điện đã được xây dựng bằng nguồn vốn ODA của Nhật Bản từ năm 1992 đến nay (nguồn: JICA) (Trang 46)
Bảng  3.1.  Tỉ  lệ  hộ nghèo  ở  Việt  Nam  tính  đến 2013  (Nguồn:  Tổng  cục Thống kê) - Vai trò của cơ quan hợp tác quốc tế nhật bản ( jica) trong giai đoạn quan hệ việt nam   nhật bản từ năm 1992 đến nay
ng 3.1. Tỉ lệ hộ nghèo ở Việt Nam tính đến 2013 (Nguồn: Tổng cục Thống kê) (Trang 65)
Bảng  3.2.  Tình  hình  nợ  công  của  Việt  Nam  trong  những  năm  gần  đây và dự báo (Nguồn: MOF/VinaCapital) - Vai trò của cơ quan hợp tác quốc tế nhật bản ( jica) trong giai đoạn quan hệ việt nam   nhật bản từ năm 1992 đến nay
ng 3.2. Tình hình nợ công của Việt Nam trong những năm gần đây và dự báo (Nguồn: MOF/VinaCapital) (Trang 79)
Bảng  3.3.  Nợ  công  và  vốn  vay  ODA  của  Nhật  Bản  (2010-2014)  (Nguồn: JICA) - Vai trò của cơ quan hợp tác quốc tế nhật bản ( jica) trong giai đoạn quan hệ việt nam   nhật bản từ năm 1992 đến nay
ng 3.3. Nợ công và vốn vay ODA của Nhật Bản (2010-2014) (Nguồn: JICA) (Trang 80)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w