Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đạt được, chúng ta cũng đã nhận thấy chất lượng và hiệu quả của quá trình tăng trưởng vẫn chưa có nhiều cải thiện, tăng trưởng vẫn chủ yếu dựa vào khai
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BÀI TẬP NHÓM
Đề tài:
ĐÁNH GIÁ CẤU TRÚC TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ THEO
ĐẦU VÀO CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ 2001 ĐẾN NAY
Sinh viên thực hiện : Bùi Đức Hoàng
Nguyễn Thanh Hà
Đỗ Ngọc Toàn
Phạm Văn Tiệp
Lớp : CH 23M
Hà Nội – 2015
Trang 2MỞ ĐẦU 1
1 Tăng trưởng do các yếu tố đầu vào 4
2 Tăng trưởng do các yếu tố đầu ra……… 5
3 Định hướng tái cấu trúc tăng trưởng kinh tế theo đầu vào thời gian tới 6
4 Thực hiện những định hướng trên……… 9
KẾT
LUẬN………
……… 12
DANH MỤC THAM KHẢO
Trang 3MỞ ĐẦU
Sau 27 năm mở cửa, hội nhập với nền kinh tế thế giới, kinh tế Việt Nam liên tục tăng trưởng với tốc độ cao giúp cho chúng ta thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế kéo dài sau nhiều năm kể từ ngày hòa bình lập lại và thống nhất đất nước So với thời kỳ trước đổi mới, giai đoạn 1976-1985 tăng trưởng đạt khoảng 2%/năm; Sau 5 năm đổi mới giai đoạn 1986-1990 tốc độ tăng trưởng gần gấp đôi xấp xỉ 3,9%; Giai đoạn 1991-1995 tốc độ tăng trưởng trung bình tiếp tục đạt hơn gấp đôi khoảng 8,2%; Giai đoạn 1996-2000 hơi giảm so với 5 năm trước đạt bình quân 7,0%; Giai đoạn 2001-2005 có sự nhích lên đạt trung bình 7,5%; Giai đoạn 2006-2010 giảm xuống mức 7%, thấp hơn so với kế hoạch đặt ra (7,5-8%) nhưng cao hơn mức bình quân khu vực Đông Nam Á; Giai đoạn 2011-2015 dự kiến 2 kịch bản đạt mức trung bình 6,5% hoặc 7% (2 kịch bản cho kinh tế Việt Nam 2011-2015 Chính phủ trình Quốc hội) Nhờ sự tăng trưởng liên tục dương đã đưa nền kinh tế nước ta từ chỗ là quốc gia xếp hạng có thu nhập thấp, chúng ta
đã vươn lên trở thành nhóm nước có thu nhập trung bình thấp của thế giới và đang hướng tới đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại
Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đạt được, chúng ta cũng đã nhận thấy chất lượng và hiệu quả của quá trình tăng trưởng vẫn chưa
có nhiều cải thiện, tăng trưởng vẫn chủ yếu dựa vào khai thác các lợi thế của tự nhiên sẵn có, sự đóng góp của khoa học và công nghệ cho tăng trưởng nhỏ bé, năng lực cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm còn thấp Mới đây theo báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu 2011-2012 tại diễn đàn kinh tế thế giới (WFF), Việt Nam tụt 6 bậc
so với năm 2010-2011, đứng thứ 65/142 các quốc gia được xếp hạng Các chỉ số năng lực cạnh tranh (GCI) có tới 10 trong tổng số 12 chỉ số
Trang 4chính của GCI bị mất điểm Nếu so với các nước trong khu vực Đông Nam Á, nước ta với vị trí thứ 65 trong bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh năm 2011 như Singapore, Malaysia, Indonesia, Brunei khoảng cách của Việt Nam với các nước này càng xa (Singgapore xếp thứ 2, Malaysia xếp thứ 21, Brunei xếp thứ 28 và Indonesia xếp thứ 46)
Sự tụt hậu năng lực cạnh tranh, xét trong điều kiện thu hút đầu tư giữa các nước ngày càng gay gắt đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta cần phải có những điều chỉnh về mặt chính sách nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng, tăng tính hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh
tế thông qua xem xét lại khai thác, sử dụng hiệu quả tài nguyên, tăng hàm lượng khoa học, giảm áp lực môi trường góp phần chuyển đổi mô hình tăng trưởng và tái cấu trúc nền kinh tế phù hợp với xu thế phát triển mới
Tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng được đặt ra như một nhiệm vụ cấp thiết lúc này, bởi mô hình tăng trưởng
mà Việt Nam theo đuổi trong những năm qua đến nay đã bộc lộ rất nhiều hạn chế “Bất cập lớn nhất của nền kinh tế hiện nay, đó là dù tăng trưởng đã được cải thiện nhưng chất lượng tăng trưởng chưa cao
và chưa bền vững”, ông Nguyễn Bích Lâm, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê nhận xét và chứng minh bằng tỷ lệ đóng góp của yếu tố vốn và lao động trong tăng trưởng GDP vẫn ở mức khá lớn
Vốn đầu tư là yếu tố vật chất trực tiếp quyết định tăng trưởng kinh tế, giống như "có bột mới gột nên hồ" Hiệu quả đầu tư không chỉ tác động tới tăng trưởng kinh tế về số lượng, mà còn tăng trưởng với cùng một tốc độ, nhưng với số vốn đầu tư ít hơn, tức là nâng cao chất lượng tăng trưởng, tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu, đổi mới mô hình tăng trưởng Mặt khác, nâng cao hiệu quả đầu tư còn là yếu tố góp phần kiềm chế lạm phát, giảm bội chi ngân sách, giảm nợ công, giảm nhập siêu…
Trang 5Cấu trúc tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia đều phụ thuộc vào các yếu tố đầu vào và đầu ra Nghiên cứu về sự đóng góp của các yếu
tố đầu vào đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam có ý nghĩa về nhiều mặt, không những xác định vị trí của từng yếu tố để có kế hoạch khai thác, mà còn có ý nghĩa xác định được định hướng tái cấu trúc tăng trưởng trong thời gian tới và đề ra các giải pháp, cách thức thực hiện được những định hướng đó một cách tốt nhất, có hiệu quả
Mặc dù đã cố gắng hết sức nhưng bài tiểu luận sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Chúng Em mong nhận được sự thông cảm của Thầy
Chúng Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 61 Tăng trưởng do các yếu tố đầu vào.
Tăng trưởng kinh tế xét ở đầu vào, có ba yếu tố đóng góp đó là:
- Đóng góp của yếu tố số lượng vốn đầu tư;
- Đóng góp của số lượng lao động;
- Đóng góp của yếu tố năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) Theo tính toán ban đầu, yếu tố số lượng vốn đầu tư đã đóng góp khoảng 57%, yếu tố số lượng lao động đóng góp khoảng 20%, yếu tố TFP đóng góp 23% Từ sự đóng góp như trên, có thể rút ra một số nhận xét đáng lưu ý
Một là, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam dựa chủ yếu vào sự đóng góp của yếu tố số lượng vốn đầu tư Tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP từ năm 2004 đến nay đều đã vượt qua mốc 40% (năm 2004 đạt 40,7%, năm 2005 đạt 40,9%, năm 2006 đạt 41%, ước năm 2007 đạt 40,4%), kế hoạch năm 2008 còn cao hơn, lên đến 42%
Đây là tỷ lệ thuộc loại cao nhất thế giới, chỉ sau tỷ lệ trên dưới 44% của Trung Quốc - một tỷ lệ làm cho tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc đạt cao nhất thế giới, đã nhiều năm liền tăng hai chữ số, hiện đang giữ kỷ lục thế giới về số năm tăng trưởng liên tục (28 năm), nhưng Trung Quốc đưa ra mục tiêu giảm độ nóng của tăng trưởng và đẩy mạnh chống lạm phát do tốc độ tăng giá tính theo năm của tháng 2/2008 đã lên đến 8,3%, cao nhất trong 12 năm qua
Hai là, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam hiện còn dựa một phần quan trọng vào yếu tố số lượng lao động, sự quan trọng này được xét trên hai mặt Một mặt, do nguồn lao động hàng năm vẫn còn tăng khoảng 2%, tức là trên 1 triệu người mỗi năm Mặt khác, do tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và tỷ lệ thiếu việc làm ở nông thôn còn cao
Ba là, nếu tính cả sự đóng góp của yếu tố số lượng vốn đầu tư và
sự đóng góp của yếu tố số lượng lao động, thì hai yếu tố này đã đóng góp trên ba phần tư tổng tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam
Trang 7Điều đó chứng tỏ, sự đóng góp của yếu tố TFP đối với tổng tốc độ tăng trưởng kinh tế còn nhỏ, chưa được một phần tư, thấp chỉ bằng hai phần ba tỷ trọng đóng góp của yếu tố này của các nước trong khu vực hiện nay
Điều đó cũng chứng tỏ, nền kinh tế Việt Nam hiện vẫn đi theo hướng tăng trưởng về số lượng, chưa chuyển sang tăng trưởng về chất lượng, vẫn chủ yếu phát triển theo chiều rộng, chưa chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu
Hiệu quả sử dụng vốn chưa cao: TFP là tổng hợp của các nhân
tố hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và năng suất lao động Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư được thể hiện ở nhiều chỉ tiêu Gần đây, trên các diễn đàn hội thảo và trên một số phương tiện thông tin đại chúng, khi đề cập đến hiệu quả đầu tư các chuyên gia thường dùng hệ số ICOR
Chỉ tiêu này được tính bằng nhiều cách, song theo cách tính đơn giản mà các chuyên gia đề cập là lấy tỷ lệ vốn đầu tư/GDP chia cho tốc độ tăng trưởng GDP Hệ số ICOR càng lớn thì hiệu quả đầu tư càng thấp và ngược lại
Một nền kinh tế tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn, mà hiệu quả đầu tư thấp, nhất là hiệu quả đầu tư của khu vực kinh tế Nhà nước còn thấp hơn; năng suất lao động thấp, nên nhu cầu đối với tiền tệ, yêu cầu cung tiền luôn luôn cao, tạo sức ép làm tăng lạm phát Sức ép này cộng hưởng với lạm phát trên thế giới trong khi đồng Việt Nam được neo giá chặt với USD mà USD lại mất giá lớn so với các đồng tiền mà Việt Nam có quan hệ buôn bán lớn nhất lại càng tạo ra sưc ép lạm phát tại Việt Nam lớn hơn các nước
2 Các yếu tố đầu ra
Tăng trưởng kinh tế xét ở yếu tố đầu ra có ba yếu tố đóng góp đó là:
- Đóng góp của tiêu dùng cuối cùng;
Trang 8- Đóng góp của tích lũy tài sản;
- Đóng góp của xuất khẩu ròng;
Có một số nhận xét được rút ra từ đóng góp của các yếu tố đầu
ra đối với tăng trưởng kinh tế:
Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế chủ yếu do tăng trưởng tiêu dùng cuối cùng Điều đó được lý giải là do quy mô GDP của Việt Nam còn thấp, nên tỷ trọng tiêu dùng cuối cùng hiện đang chiếm tỷ trọng lớn trong GDP (trên dưới 70%); mức tiêu dùng bình quân đầu người trong nhiều năm còn thấp nên nhu cầu và tốc độ tăng thường khá cao (mấy năm liên tục tăng trên 7%, gần bằng với tốc độ tăng của GDP)
Một nét quan trọng là tiêu dùng cuối cùng thông qua mua bán trên thị trường ngày một chiếm tỷ trọng lớn, do tốc độ tăng qua các năm (đã loại trừ yếu tố giá) gần đây liên tục tăng hai chữ số (năm
2002 tăng 11,2%, năm 2003 tăng 15,2%, năm 2004 tăng 10,8%, năm
2005 tăng 11,3%, năm 2006 tăng 12,5%, năm 2007 tăng 11,4% ) Khi tiêu dùng cuối cùng thông qua mua bán trên thị trường tăng nhanh
và trở thành động lực của tăng trưởng kinh tế thì một mặt nó hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, mặt khác tạo áp lực tăng cung tiền tệ, tạo
áp lực lạm phát
Cùng với tăng trưởng tiêu dùng chung thì tiêu dùng của một bộ phận dân cư đã tăng rất cao về quy mô, đa dạng về chủng loại, mẫu
mã, chất lượng Cùng với xu hướng này cũng đã xuất hiện tâm lý ưa chuộng hàng hiệu, hàng ngoại, thậm chí mua bán với bất kỳ giá nào
Thứ hai, tăng trưởng kinh tế do tăng trưởng tích lũy tài sản chiếm tỷ trọng khá cao Đây cũng là một tín hiệu tốt thể hiện tâm lý tiết kiệm để dành cho tích lũy của khu vực Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng
Tuy nhiên, bên cạnh việc trực tiếp đầu tư tăng trưởng, có một phần không nhỏ đã được để dành dưới dạng cất trữ hoặc chạy lòng
Trang 9vòng qua các kênh gây ra những cơn sốt nóng hoặc lạnh ở các kênh này mà không được đầu tư trực tiếp cho sản xuất kinh doanh Hiện có hàng trăm tỷ đồng vốn đầu tư đang được chôn vào bất động sản, vàng
Thứ ba, tăng trưởng xuất khẩu ròng hiện đang mang dấu âm do nhập siêu gia tăng mạnh cả về quy mô, cả về tỷ lệ so với xuất khẩu Nhập siêu cả về hàng hóa, cả về dịch vụ
3 Định hướng tái cấu trúc tăng trưởng kinh tế theo đầu vào thời gian tới
Cho đến nay, các nhà khoa học, các nhà quản lý đều nhất trí rằng, cơ cấu lại nền kinh tế, tìm mô hình tăng trưởng mới là công việc rất phức tạp, rất bức bách, phải được thực hiện bằng hàng loạt giải pháp đồng bộ, với một lộ trình chặt chẽ, khoa học Tuy nhiên, phải bắt đầu từ đâu, thì vẫn đang còn ý kiến khác nhau
Phải bắt đầu từ tái cấu trúc đầu tư Bởi lẽ, tái cấu trúc đầu tư thực chất là tái cấu trúc việc phân bổ các nguồn lực toàn xã hội cho đầu tư phát triển đất nước Các nguồn lực dành cho đầu tư phát triển trong từng thời kỳ luôn là một đại lượng nhất định và có giới hạn, thường là thấp xa so với nhu cầu mong muốn Vì vậy, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực này là yêu cầu thường xuyên của mọi cấp quản lý ở mọi giai đoạn phát triển Thực tiễn cho hay, việc phân bổ nguồn lực cho đầu tư phát triển vừa qua của chúng ta không phải lúc nào cũng đúng, cũng hợp lý Hậu quả là đã tạo ra cơ cấu kinh tế không phù hợp, kém hiệu quả, năng suất lao động xã hội thấp, khả năng cạnh tranh quốc gia chưa nâng lên được Vì vậy, chỉ có trên cơ sở tái cấu trúc đầu
tư mới tạo ra được cơ cấu kinh tế hợp lý nhất có thể để đạt năng suất, hiệu quả kinh tế lớn nhất và năng lực cạnh tranh quốc gia cao nhất như mong muốn
Tái cấu trúc đầu tư phải bao gồm cả việc cấu trúc lại các công trình, dự án đã đầu tư không phù hợp để lại hậu quả xấu (bao gồm cả mất ổn định kinh tế vĩ mô; lạm phát cao…) và ngăn ngừa việc tiếp tục
Trang 10sản sinh ra những danh mục đầu tư “ba không” (không rõ mục đích, đầu tư để làm gì và cho ai; không cân đối được nguồn lực, gây chậm trễ việc đưa dự án, công trình vào sử dụng làm triệt tiêu hiệu quả; không xác định được phân kỳ đầu tư phù hợp, gây lãng phí lớn nguồn lực của dân) Đương nhiên, tái cấu trúc đầu tư không thể thực hiện một cách đơn độc, mà phải đặt trong tổng thể các giải pháp cơ cấu lại nền kinh tế Vì vậy, cần phải bắt tay ngay vào thiết kế và tổ chức triển khai thực hiện trong những năm đầu của kế hoạch phát triển kinh tế
-xã hội 5 năm này ít nhất là 3 nhóm giải pháp lớn có liên quan mật thiết với nhau sau đây:
- Thứ nhất, tái cấu trúc đầu tư, trước hết là đầu tư công;
- Thứ hai, tái cấu trúc doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh
tế, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước;
- Thứ ba, tái cấu trúc hệ thống tài chính - ngân hàng
Cả ba nhóm giải pháp này đều nhằm vào cùng một hướng là đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành, theo vùng lãnh thổ và theo thành phần kinh tế hợp lý nhất có thể, để đạt năng suất, hiệu quả kinh lớn nhất và năng lực cạnh tranh quốc gia cao nhất Vấn đề này lâu nay đã nói quá nhiều, nhưng rất tiếc làm còn ít, thậm chí còn làm ngược lại Thí dụ, càng hô “đầu tư phải tập trung”, thì đầu tư càng phân tán, dàn trải… Có tình hình này bên cạnh các nguyên nhân luôn tồn tại như vấn đề chạy theo lợi ích cục bộ; chạy theo cái bóng tăng trưởng nhanh về số lượng, bất chấp chất lượng của sự tăng trưởng…, nhưng quan trọng nhất là vấn đề về điều hành, đặc biệt là các vấn đề
về quy hoạch, về phân cấp quản lý đầu tư… vì vậy phải làm ngay các việc:
Thứ nhất, phải rà soát lại toàn bộ danh mục đầu tư đã được phê
duyệt, nhưng chưa triển khai thực hiện, bao gồm những danh mục đầu tư
do cấp cao phê duyệt Cương quyết loại bỏ các danh mục đầu tư không còn phù hợp với điều kiện và tiêu chí mới
Trang 11Thứ hai, phải xây dựng chương trình đầu tư công cộng (PIP)
cho giai đoạn mới Cho đến nay, chúng ta đã xây dựng và triển khai thực hiện 3 chương trình đầu tư công cộng (PIP I cho 1996-2000; PIP
II cho 2001-2005 và PIP III cho 2006-2010) Cần rút kinh nghiệm những mặt thành công và thất bại của mỗi chương trình đầu tư công cộng nêu trên Chương trình đầu tư công cộng mới phải được tính toán thật hoàn chỉnh, tính toán cân đối thành các chương trình, dự án, phân
ra các ngành, vùng và các nguồn vốn bảo đảm thật cụ thể, chi tiết Và
tổ chức triển khai thực hiện thật nghiêm túc, không nóng vội, không ham tăng trưởng nhanh bằng mọi giá
Thứ ba, phải sửa ngay Nghị định về phân cấp quản lý đầu tư
theo nguyên tắc làm gì, bao giờ làm, làm ở đâu phải do Trung ương quyết định, còn việc ai làm, làm thế nào có thể phân cấp, Trung ương chỉ hướng dẫn Phải thừa nhận rằng, việc phân cấp quản lý đầu tư vừa qua là “quá mức”, vượt tầm kiểm soát của chính các cơ quan quản lý nhà nước, gây lãng phí lớn nguồn lực, làm méo mó cơ cấu kinh tế Phải cắt giảm đầu tư công một cách thực chất, để vừa thực hiện giảm tổng cầu, góp phần chống lạm phát trước mắt, vừa tạo cơ cấu kinh tế hợp lý trong trung và dài hạn Việc thực hiện cắt giảm đầu tư công theo các nguyên tắc: giảm cho được tỷ trọng đầu tư công trong tổng đầu tư toàn xã hội; Nhà nước rút dần ra khỏi lĩnh vực kinh doanh nhằm mục tiêu lợi nhuận để dồn sức làm những thứ rất cần cho phát triển đất nước mà các thành phần kinh tế khác không muốn hoặc không thể làm; doanh nghiệp nhà nước tập trung sức làm cho được việc tạo nền tảng cho phát triển kinh tế - xã hội, chứ không lấy kinh doanh vì lợi nhuận làm mục tiêu Nguyên tắc chung là trừ những khu vực đặc biệt, còn lại cái gì Nhà nước làm tốt nhất cho nền kinh tế để Nhà nước làm; cái gì tư nhân (cả trong và ngoài nước) làm tốt nhất để
tư nhân làm Vì thế, trước mắt, theo quan điểm của tôi, nên xóa những công trình, dự án đã thấy trước là không có hiệu quả, mà bán thì