Trong bối cảnh đó, vấn đề tối đa hóa lợi ích kinh tế của nhóm liên kết, của tập đoàn là một bài toán mới đặt ra đối với các chủ thể kinh doanh và chuyển giá được xem là một trong lời giả
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, các quan hệ kinh tế được thiết lập đa dạng, có sự liên kết, phối hợp giữa các chủ thể kinh doanh, thì việc xác định lợi ích kinh tế đã vượt ra ngoài phạm vi của một chủ thể riêng lẻ,
mà được tính trong lợi ích chung của cả tập đoàn hay nhóm liên kết Trong bối cảnh đó, vấn đề tối đa hóa lợi ích kinh tế của nhóm liên kết, của tập đoàn là một bài toán mới đặt ra đối với các chủ thể kinh doanh và chuyển giá được xem là một trong lời giải cho bài toán đó.Trước xu thế hội nhập và toàn cầu hoá ngày càng tăng cao, các giao dịch thương mại xuyên quốc gia chiếm tỷ trọng ngày càng lớn thì vấn đề quản lý vĩ mô giá chuyển giao là một trong những vấn đề nóng, mang tính thời sự trên các diễn đàn quốc tế
và khu vực
Ở Việt Nam hiện nay, chính sách mở cửa thu hút đầu tư, các doanh nghiệp FDI đã trở thành mộtthành phần tích cực trong nền kinh tế Việt Nam, tạo được công ăn việc làm cho rất nhiều người lao động, góp phần vào tăng trưởng GDP, Tuy nhiên, bên cạnh đó, trong những năm gần đầy, tình trạng doanh nghiệp FDI “lỗ giả, lãi thật” kéo dài nhiều năm làm ảnh hưởng trực tiếp đến số thu Ngân sách Nhà nước, tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh với các doanh nghiệp trong nước Tình hình chuyển giá đang là một thực trạng báo động ở Việt Nam hiện nay, đặt ra thách thức không nhỏ đối với các cơ quan quản lý Nhà nước, đặc biệt là cơ quan quản lý thuế
Trang 3PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Khái niệm “chuyển giá”
Từ trước đến nay, Chuyển giá được hiểu là "việc thực hiện chính sách
giá đối với hàng hóa, dịch vụ và tài sản được chuyển dịch giữa các thành viên trong tập đoàn qua biên giới không theo giá thị trường nhằm tối thiểu
hóa số thuế của các công ty đa quốc gia trên toàn cầu”.
Tuy nhiên, trên thực tế, chuyển giá không chỉ được thực hiện bởi các công ty đa quốc gia, các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (doanh nghiệp FDI), mà nó còn được thực hiện bởi các công ty có nhiều công ty con chỉ hoạt động kinh doanh trong nước hoặc thậm chí được thực hiện bởi các công ty là các chủ thể kinh tế độc lập song chủ sở hữu của chúng lại có mối quan hệ thân nhân với nhau
Như vậy, cần hiểu hành vi chuyển giá theo một nghĩa rộng hơn Theo
đó, chuyển giá là một hành vi do các chủ thể kinh doanh thực hiện bằng cách thay đổi giá trị trao đổi hàng hóa, dịch vụ trong quan hệ với các bên liên kết nhằm tối thiểu hóa tổng số thuế phải nộp của các đối tác liên kết
Các đối tác liên kết ở đây có thể là: các công ty thành viên trong một công
ty đa quốc gia; các công ty hoặc đơn vị thành viên trong một tổng công ty, công ty; các công ty độc lập mà chủ sở hữu của chúng có mối quan hệ đặc biệt, thường là mối quan hệ thân nhân
Trang 42 Phạm vi của chuyển giá.
Như đã đề cập ở điểm 1, hành vi chuyển giá xảy ra khi có giao dịch giữa các bên có mối liên hệ liên kết
Điều 9 Công ước mẫu của OECD về định giá chuyển giao ghi nhận
“Hai doanh nghiệp được xem là liên kết (associated enterprises) khi:
i Một doanh nghiệp tham gia vào quản lý, điều hành hay góp vốn vào doanh nghiệp kia một cách trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc qua trung gian;
ii Hai doanh nghiệp có cùng một hoặc nhiều người hay những thực thể (entities) khác tham gia quản lý, điều hành hay góp vốn một cách trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc thông qua trung gian”
Tại Việt Nam, các bên được xem là có mối quan hệ liên kết được quy định cụ thể tại khoản 4, điều 3, thông tư 66/2010/TT-BTC ngày 22/4/2010 hướng dẫn thực hiện việc xác định giá thị trường trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết:
4 “Các bên có quan hệ liên kết” (sau đây được gọi là "các bên liên
kết") là cụm từ được sử dụng để chỉ các bên có mối quan hệ thuộc một trong các trường hợp dưới đây:
4.1 Một bên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc đầu tư dưới mọi hình thức vào bên kia;
4.2 Các bên trực tiếp hay gián tiếp cùng chịu sự điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc đầu tư dưới mọi hình thức của một bên khác;
4.3 Các bên cùng tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc đầu tư dưới mọi hình thức vào một bên khác
Thông thường, hai doanh nghiệp trong một kỳ tính thuế có quan hệ giao dịch kinh doanh thuộc một trong các trường hợp sau thì xác định là các bên liên kết:
a) Một doanh nghiệp nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp ít nhất 20% vốn đầu tư của chủ sở hữu của doanh nghiệp kia;
b) Cả hai doanh nghiệp đều có ít nhất 20% vốn đầu tư của chủ sở hữu
do một bên thứ ba nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp;
c) Cả hai doanh nghiệp đều nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp ít nhất 20% vốn đầu tư của chủ sở hữu của một bên thứ ba;
d) Một doanh nghiệp là cổ đông lớn nhất về vốn đầu tư của chủ sở hữu của doanh nghiệp kia, nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp ít nhất 10% vốn đầu tư của chủ sở hữu của doanh nghiệp kia;
Trang 5e) Một doanh nghiệp bảo lãnh hoặc cho một doanh nghiệp khác vay vốn dưới bất kỳ hình thức nào với điều kiện khoản vốn vay ít nhất bằng 20% vốn đầu tư của chủ sở hữu của doanh nghiệp đi vay và chiếm trên 50% tổng giá trị các khoản nợ trung và dài hạn của doanh nghiệp đi vay;
f) Một doanh nghiệp chỉ định thành viên ban lãnh đạo điều hành hoặc kiểm soát của một doanh nghiệp khác với điều kiện số lượng các thành viên được doanh nghiệp thứ nhất chỉ định chiếm trên 50% tổng số thành viên ban lãnh đạo điều hành hoặc kiểm soát của doanh nghiệp thứ hai; hoặc một thành viên được doanh nghiệp thứ nhất chỉ định có quyền quyết định các chính sách tài chính hoặc hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thứ hai;
g) Hai doanh nghiệp cùng có trên 50% thành viên ban lãnh đạo hoặc cùng có một thành viên ban lãnh đạo có quyền quyết định các chính sách tài chính hoặc hoạt động kinh doanh được chỉ định bởi một bên thứ ba;
h) Hai doanh nghiệp được điều hành hoặc chịu sự kiểm soát về nhân
sự, tài chính và hoạt động kinh doanh bởi các cá nhân thuộc một trong các mối quan hệ sau: vợ và chồng; bố, mẹ và con (không phân biệt con đẻ, con nuôi hoặc con dâu, con rể); anh, chị, em có cùng cha, mẹ (không phân biệt cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi); ông nội, bà nội và cháu nội; ông ngoại,
bà ngoại và cháu ngoại; cô, chú, bác, cậu, dì ruột và cháu ruột;
i) Hai doanh nghiệp có mối quan hệ trụ sở chính và cơ sở thường trú hoặc cùng là cơ sở thường trú của tổ chức, cá nhân nước ngoài;
j) Một doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sản phẩm sử dụng tài sản vô hình hoặc quyền sở hữu trí tuệ của một doanh nghiệp khác với điều kiện chi phí phải trả cho việc sử dụng tài sản vô hình, quyền sở hữu trí tuệ đó chiếm trên 50% giá vốn (hoặc giá thành) sản phẩm;
k) Một doanh nghiệp cung cấp trực tiếp hoặc gián tiếp trên 50% tổng giá trị nguyên vật liệu, vật tư hoặc sản phẩm đầu vào (không bao gồm chi phí khấu hao đối với tài sản cố định) để sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh sản phẩm đầu ra của một doanh nghiệp khác;
l) Một doanh nghiệp kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp trên 50% sản lượng sản phẩm tiêu thụ (tính theo từng chủng loại sản phẩm) của một doanh nghiệp khác;
m) Hai doanh nghiệp có thỏa thuận hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng
Ngoài ra, có thể thấy, chuyển giá xảy ra khi có sự chênh lệch về thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp giữa các quốc gia khác nhau; có quy định nhiều
Trang 6mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp với những đối tượng khác nhau trong một quốc gia, chẳng hạn như quy định các mức thuế suất ưu đãi thấp hơn thuế suất phổ thông; có các quy định về miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp có thời hạn.
3 Các hình thức của chuyển giá
Thông thường, hành vi chuyển giá được thực hiện qua các hình thức sau:
3.1 Chuyển giá thông qua tăng chi phí đầu vào: Hoạt động này thường được các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (DN FDI) thực hiện thông qua các giao dịch với các công ty mẹ ở nước ngoài như mua thiết bị, máy móc, vật tư với giá cao hơn bình thường hoặc đẩy giá các tài sản sở hữu trí tuệ dưới dạng nhãn hiệu thương mại, nhượng quyền giấy phép sản xuất, phí bản quyền, chi trả lãi vay vốn trong quá trính sản xuất
3.2.Chuyển giá thông qua hạ thấp giá bán sản phẩm: Hoạt động này thường được các DN FDI thực hiện thông qua các hợp đồng xuất khẩu cho công ty mẹ hoặc các đối tác liên kết của công ty mẹ ở nước ngoài
3.3 Chuyển giá thông qua nâng khống giá trị tài sản hữu hình và tài sản vô hình trong quá trình góp vốn liên doanh, liên kết Việc nâng khống giá trị tài sản làm tăng vốn góp không chỉ đem lại cho nhà đầu tư nước ngoài quyền kiểm soát và điều hành DN, từ đó biến DN liên doanh thành
DN 100% vốn nước ngoài mà còn thu lợi ích thông qua khấu hao tài sản, phân chia lợi nhuận
3.4 Chuyển giá thông qua cơ chế giá cung cấp dịch vụ: Hành vi này thường được các tập đoàn áp dụng thông qua hoạt động cung cấp dịch vụ nội bộ của các đơn vị trong một tập đoàn Do dịch vụ thường đa dạng và mang tính đặc thù nên rất khó định giá như dịch vụ kế toán, tài chính, tư vấn… nên các tập đoàn thường tính giá ở mức rất cao để chuyển lợi nhuận
từ DN thành viên tại Việt Nam sang bên liên kết nước ngoài nhằm giảm nghĩa vụ thế thu nhập doanh nghiệp của DN thành viên tại Việt Nam, gây thất thu cho ngân sách nhà nước
3.5 Chuyển giá thông qua các hợp đồng độc quyền về nhập khẩu, phân phối hàng hóa hoặc qua các hợp đồng độc quyền bao tiêu sản phẩm ký với các DN nước ngoài, các DN trong nước đã tiếp tay cho các tập đoàn
Trang 7nước ngoài thực hiện chiến lược kinh doanh tổng thể, tối đa hóa lợi nhuận
do lấy được các nguồn lực trong nước
4 Tác động của chuyển giá:
Khi xảy ra hành vi chuyển giá mà không có quy định pháp luật để xử
lý hoặc không được xử lý theo quy định của pháp luật thì sẽ có hai tác động
cơ bản sau:
Thứ nhất, làm thất thu ngân sách nhà nước Đây có thể coi là tác động
hiển nhiên đầu tiên vì với việc doanh nghiệp được lợi về thuế thì phần thuế
lẽ ra có thể thu được theo Luật đã không được nộp vào ngân sách nhà nước
Thứ hai,tạo ra môi trường cạnh tranh không lành mạnh giữa các chủ
thể kinh tế Mặc nhiên, khi một doanh nghiệp được hưởng lợi về nghĩa vụ thuế thông qua hành vi chuyển giá, doanh nghiệp này sẽ thu lợi cao hơn những doanh nghiệp khác có cùng điều kiện nhưng không thực hiện hành vi chuyển giá Một môi trường cạnh tranh lành mạnh phải tạo ra khả năng hưởng lợi chính đáng từ hoạt động kinh doanh chính đáng Ngoài ra, với việc được lợi nhờ chuyển giá, các doanh nghiệp này có thể mua nguyên liệu đầu vào với giá cao làm cho các doanh nghiệp khác không thể mua được nguyên liệu phục vụ sản xuất, kinh doanh, đẩy các doanh nghiệp khác vào tình trạng phá sản
PHẦN II: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ CHUYỂN GIÁ TẠI VIỆT NAM
1 Tình hình chung về chuyển giá trên thế giới trong giai đoạn hiện nay
Không chỉ riêng tại Việt Nam, vấn đề chuyển giá đang là vấn đề nhức nhối tại nhiều quốc gia trên thế giới Càng các nước phát triển, nhiều tập
Trang 8đoàn lớn, xây dựng được mạng lưới chân rết rộng lớn tại nhiều nước thì hành vi chuyển giá càng phổ biến, tinh vi, hình thức ngày càng đa dạng gây khó khăn không nhỏ cho các cơ quan quản lý Nhà nước trong kiểm soát, phát hiện và xử lý.
Một trong những trường hợp điển hình về chuyển giá là của tập đoàn Google của Mỹ
Trụ sở của Google tại các thị trường ngoài Mỹ được đặt tại trung tâm thủ đô Dublin của Ireland Năm 2009, tòa nhà văn phòng là nơi làm việc của 2.000 nhân viên Google này, được cho là nơi đóng góp 88% vào doanh thu 12,5 tỷ USD tại thị trường nước ngoài của hãng này Sau đó, phần lớn số lợi nhuận
từ doanh thu này đã được chuyển sang “thiên đường thuế” Bermuda (nơi có thuế suất thuế TNDN 0% trong khi thuế suất thuế TNDN tại Mỹ là 35% Hàng năm chiến thuật này khiến chính phủ Mỹ hàng tỷ USD tiền thuế
2 Tình hình chung về chuyển giá tại Việt Nam hiện nay
2.1 Tình hình chuyển giá tại Việt Nam hiện nay
Nếu cách đây 5 năm “chuyển giá” vẫn là một khái niệm mới lạ ở Việt Nam thì hiện nay nó đã là hiện tượng phổ biến không chỉ đối với các doanh nghiệp FDI mà còn xuất hiện cả các doanh nghiệp trong nước.Một số dấu hiệu thường gặp đối với các doanh nghiệp chuyển giá:
- Giá bán sản phẩm cho một vài doanh nghiệp luôn thấp hơn giá bán cho các doanh nghiệp khác, thậm chí có khi giá bán thấp hơn giá mua và ngược lại
- Doanh nghiệp lỗ nhiều năm nhưng vẫn liên tiếp mở rộng quy mô sản xuất
- Doanh thu tăng cao theo từng năm nhưng doanh nghiệp lại lỗ liên tục
- Cho vay không tính lãi
Tổng cục Thuế cũng đã có cuộc tổng rà soát kết quả kinh doanh những năm gần đây đối với 5.531 doanh nghiệp FDI, chiếm khoảng gần 60% số doanh nghiệp FDI cả nước đang hoạt động trên cả nước Qua đó, bức tranh lãi lỗ của các DN này cho thấy nhiều dấu hiệu đáng lo ngại
Tính theo địa bàn, nhiều tỉnh, thành phố tuy thu hút vốn FDI khá nhưng tỷ lệ FDI báo lỗ qua các năm cũng luôn luôn trên dưới 50%
Trang 9Tại TP.HCM, hiện tượng báo lỗ phổ biến nhất là ở các doanh nghiệp FDI hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, gia công hàng xuất khẩu Hiện, địa bàn này có 3.281 doanh nghiệp FDI đang hoạt động thì trên 50% số doanh nghiệp kê khai thua lỗ.
Ở Đà Nẵng, tính đến ngày 31/12/2012, trong 157 doanh nghiệp FDI đang hoạt động ở thành phố này thì đã có 69 doanh nghiệp thường xuyên kê khai thua lỗ Các DN báo lỗ này hoạt động đa dạng các ngành nghề từ gia công may mặc, giày dép, đồ điện tử, sản phẩm cơ khí, điện tử, gậy đánh bóng chày, cần câu cá đến kinh doanh dịch vụ khách sạn, nhà hàng ăn uống
Dù lỗ vượt quá vốn chủ sở hữu nhưng DN mở rộng quy mô đầu tư ngày càng lớn
Tại Hải Phòng, tính đến hết năm 2012, trong số 247 doanh nghiệp FDI đang hoạt động thì có 109 doanh nghiệp thường xuyên kê khai thua lỗ, chiếm 44% Năm 2011 số lỗ của 109 doanh nghiệp này là trên 1.200 tỷ đồng
Ở nhiều địa phương, số DN FDI báo lỗ còn tăng tỷ lệ thuận theo số
DN FDI đăng ký mới
Hiện tượng giao dịch liên kết hiện nay không bó hẹp trong các doanh nghiệp FDI mà còn lan tràn sang cả doanh nghiệp đầu tư trong nước Đối với các doanh nghiệp trong nước, chủ doanh nghiệp cũng thành lập 2, 3 công ty cùng một lúc, việc kê khai thuế của các công ty này đều do một ông chủ điều hành, từ đó có thể cho doanh thu của công ty này lãi hoặc cho doanh thu của công ty kia lỗ, như vậy cũng cùng một lúc có thể đạt được 02
mục tiêu, Một là: Điều tiết lỗ, lãi của các công ty thành viên để giảm thu nhập chịu thuế hoặc giảm lỗ bình quân; Hai là: Có thể đánh bóng cho
doanh nghiệp thành viên lãi giả, lỗ thật nhằm đưa công ty đó lên sàn để thu hút vốn đầu tư thông qua cổ phiếu hoặc công ty này hết hạn mức tín dụng thì đẩy doanh thu cho doanh nghiệp khác để tăng hạn mức tín dụng v.v
Một số trường hợp chuyển giá tại Việt Nam:
* Công ty Coca Cola Việt Nam:
Hoạt động tại Việt Nam đã được 20 năm, chiếm lĩnh thị phần nước giải khát khá lớn nhưng Công ty Coca-Cola VN (gọi tắt Coca-Cola) chưa năm nào kê khai có lãi Theo số liệu từ Cục Thuế TP.HCM, số lỗ lũy kế của Coca-Cola từ khi hoạt động vào năm 1994 đến năm 2006 là 2.736 tỉ đồng Các năm sau đó, số lỗ của Công ty này vẫn tiếp tục tăng thêm và đến năm
Trang 102008, lỗ lũy kế vượt qua con số 3.000 tỉ đồng, lên 3.066 tỉ đồng và đến năm
2011, số lỗ lũy kế của đơn vị này lên khoảng 3.700 tỉ đồng Đầu năm 2012,
cơ quan thuế đã thực hiện thanh tra năm tài chính 2006, đơn vị này đã giảm
lỗ 72 tỉ đồng, giảm trừ chuyển lỗ quá thời hiệu 889 tỉ đồng Số lỗ âm cả vào vốn đầu tư nhưng Coca-Cola vẫn liên tục mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh Tập đoàn này còn tuyên bố sẽ đầu tư mới 300 triệu USD vào VN trong vòng 3 năm tới, nâng tổng vốn đầu tư của tập đoàn và các đối tác đóng chai tại VN trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2015 lên 500 triệu USD
Chuyên gia phân tích, thủ đoạn Coca Cola dùng thủ đoạn cổ điển là nâng giá nhập hương liệu cao hơn thực tế sẽ làm tăng giá thành, dẫn đến kinh doanh thua lỗ và DN không thực hiện nghĩa vụ nộp thuế Lỗ hổng để
DN lợi dụng là do nền công nghiệp hỗ trợ của VN chậm phát triển, nên hầu hết các nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất của các DN FDI đều phải nhập khẩu từ công ty mẹ hoặc đối tác do công ty mẹ chỉ định, với giá cao hơn giá thực tế
Hành vi chuyển giá của Công ty Coca Cola tuy đã được phát hiện và đấu tranh tuy nhiên mới chỉ đạt kết quả ở mức độ nhất định và chưa đi đến hồi kết do còn gặp nhiều khó khăn khách quan và chủ quan
* Công ty TNHH một thành viên Keangnam-Vina (100% vốn nước ngoài thuộc Tập đoàn Keangnam của Hàn Quốc.
Tháng 5/2007, khi thực hiện đầu tư dự án căn hộ cao cấp Keangnam Hanoi Landmark Tower tại huyện Từ Liêm (Hà Nội), Công ty Keangnam-Vina vay vốn từ ngân hàng Kookmin bank (Hàn Quốc)-thành viên trong cùng tập đoàn-với tổng vốn vay 400 triệu USD Nhưng Công ty Keangnam-Vina phải trả lãi vay bình quân các năm tới 12%/năm, cao hơn cả lãi vay USD ngân hàng Việt Nam (khoảng 5-7%/năm) Khoản lãi vay, chi phí tài chính đã được hạch toán là 2.030 tỷ đồng Công ty Keangnam-Vina đã vay vốn của ngân hàng cùng tập đoàn với lãi suất cao, trả trước chi phí dàn xếp vốn vay cho công ty mẹ, tức là có giao dịch giữa 3 đơn vị cùng tập đoàn Đây là một căn cứ để cơ quan thuế nghi vấn dấu hiệu chuyển giá
* Công ty Metro Việt Nam:
Tập đoàn Metro có mặt tại thị trường Việt Nam từ năm 2002 với lĩnh vực kinh doanh bán sỉ (thời điểm này Việt Nam chưa cho phép nhà đầu tư
nước ngoài tham gia vào lĩnh vực bán lẻ) 12 năm có mặt tại Việt Nam,
Trang 11Metro không ngừng mở rộng thị trường với quy mô hiện nay lên đến 19 trung tâm với hơn 4.000 nhân viên.
Trái ngược với việc mở rộng mạng lưới, Metro lại là doanh nghiệp kinh doanh lỗ, số lỗ lũy kế lên đến 598 tỉ đồng vào năm 2012 và chưa năm nào phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp Nguyên nhân lỗ được Metro lý giải là
do phải tập trung mở rộng đầu tư
Gần đây, Metro Cash&Carry Việt Nam đã đạt được thỏa thuận bán lại cho
Tập đoàn Berli Jucker (BJC) của Thái Lan với giá 879 triệu USD.Nghi án
về chuyển giá đang được cơ quan chức năng đặt ra đối với Metro Việt Nam tuy nhiên có kết luận được hành vi chuyển giá của Metro Việt Nam không
là một câu hỏi chưa có câu trả lời
Không chỉ Cola Cola và Metro, nhiều DN FDI tại Việt Nam cũng đang báo lỗ, có dấu hiệu chuyển giá Theo Tổng cục Thuế, tình trạng chuyển giá của các DN FDI đã xuất hiện tại Việt Nam trong nhiều năm qua
và ngày càng tinh vi, phức tạp Từ quý IV-2013, Tổng cục Thuế đã trực tiếp
và hỗ trợ cho 17 cục thuế thực hiện thanh tra hoạt động chuyển giá đối với
47 DN hoạt động trong lĩnh vực dệt may; sản xuất, gia công giày dép, ba-lô, túi xách xuất khẩu, thiết bị điện tử; xây dựng
Đến nay, cơ quan thuế đã hoàn thành công tác thanh tra tại 25 DN, đã điều chỉnh tăng doanh thu, giảm chi phí do điều chỉnh giá sản phẩm trong giao dịch liên kết được hơn 6.488 tỷ đồng Sự điều chỉnh này dẫn đến các điều chỉnh bù đắp số lỗ phát sinh trước giai đoạn thanh tra được chuyển vào giai đoạn thanh tra giá chuyển nhượng hơn 231 tỷ đồng; điều chỉnh giảm số
lỗ phát sinh theo kê khai của DN là hơn 1.116 tỷ đồng; truy thu thuế TNDN hơn 380,6 tỷ đồng; phạt vi phạm hành chính số tiền hơn 15,6 tỷ đồng
Kết quả thanh tra hoạt động chuyển giá tại 25 doanh nghiệp FDI này cho thấy hành vi chuyển giá tại các DN đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến số thu ngân sách nhà nước Nếu không tích cực kiểm soát hoạt động chuyển giá của các DN FDI thì ngân sách nhà nước sẽ còn bị thất thu lớn Phó Trưởng ban Cải cách thủ tục thuế (Tổng cục Thuế) Nguyễn Thị Hánh cho biết, DN FDI sử dụng rất nhiều hình thức để chuyển giá
Bên cạnh hình thức chuyển giá thông qua lãi suất tiền vay, còn có các hình thức như chuyển giá thông qua chuyển giao tài sản hữu hình, vô hình giữa các bên liên kết; qua chuyển giao dịch vụ giữa các bên có quan hệ liên kết Chính vì thế, phát hiện được các hình thức chuyển giá này là công việc không hề dễ dàng