Từ sự phân tích công phu, nghiêm túc cơ sở lý luận và thưc tiễn những vấn đề cơ bản về xây dựng Đảng nói chung, các TCCSĐ nói riêng, cuốn sách đã đề xuất phương hướng và giải pháp cấp bá
Trang 1HÀ NỘI - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả, số liệu nêu trong luận án là khách quan, trung thực
có nguồn gốc rõ ràng, đáng tin cậy
Tác giả luận án
Vũ Thị Duyên
Trang 4Trang
MỞ ĐẦU .1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 6
1.1 Những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 6
1.2 Kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án đã được giải quyết và những nội dung luận án tập trung nghiên cứu 20
CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG Ở TỈNH HƯNG YÊN TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU TÁI LẬP TỈNH (1997 - 2000) 22
2.1 Tổ chức cơ sở đảng và những yếu tố tác động đến công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên 22
2.2 Chủ trương và quá trình xây dựng tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên (1997 - 2000) 33
CHƯƠNG 3: ĐẢNG BỘ TỈNH HƯNG YÊN XÂY DỰNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐẨY MẠNH CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010 58
3.1 Đảng bộ tỉnh Hưng Yên quán triệt chủ trương của đảng về xây dựng tổ chức cơ sở đảng trước tình hình mới (2001 - 2005) 58
3.2 Chủ trương và quá trình xây dựng tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên (2006 - 2010) 84
CHƯƠNG 4: NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM 109
4.1 Nhận xét về quá trình lãnh đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên (1997 - 2010) 109
4.2 Một số kinh nghiệm chủ yếu 131
KẾT LUẬN 148
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 151 PHỤ LỤC
Trang 5Trang
Biểu đồ 2.1: Phân loại tổ chức cơ sở đảng của tỉnh Hưng Yên (1997-2000) 46 Biểu đồ 2.2: Kết quả công tác phát triển đảng viên của tỉnh Hưng Yên
(1997 - 2000) .50 Biểu đồ 3.1: Phân loại tổ chức cơ sở đảng của tỉnh Hưng Yên (2001-2005) 75 Biểu đồ 3.2: Phân loại chất lượng tổ chức cơ sở đảng của tỉnh Hưng Yên
(2006- 2010) 98 Biểu đồ 4.1: Phân loại tổ chức cơ sở đảng tỉnh Hưng Yên (1997-2010) 114 Biểu đồ 4.2: So sánh chất lượng tổ chức cơ sở đảng tỉnh Hưng Yên với một
số tỉnh lân cận qua hai nhiệm kỳ (2001-2005), (2006-2010) .115 Biểu đồ 4.3: Phân tích số lương đảng viên kết nạp (1997-2010) .116 Biểu đồ 4.4: So sánh số lượng đảng viên kết nạp qua 2 nhiệm kỳ (2001-2005),
(2006-2010) của tỉnh Hưng Yên với một số tỉnh lân cận 117 Biểu đồ 4.6: Thi hành kỷ luật tổ chức cơ sở đảng tỉnh Hưng Yên (1997-2010) 120 Biểu đồ 4.7: Thi hành kỷ luật đảng viên vi phạm (1997-2010) .120
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trải qua hơn 80 năm hoạt động, lãnh đạo cách mạng Việt Nam, một trong năm bài học quan trọng quyết định đến mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, chính là sự lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện của Đảng Vì vậy, công tác xây dựng Đảng nói chung và xây dựng tổ chức cơ sở đảng nói riêng luôn được xác định là nhiệm vụ then chốt trong các thời kỳ cách mạng
Thấm nhuần quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Để lãnh đạo cách mạng, Đảng phải mạnh, Đảng mạnh là do chi bộ tốt, chi bộ tốt là do các đảng viên tốt” [64, tr.113], trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã rất chú trọng công tác xây dựng Đảng, nhất là về tổ chức cơ
sở đảng Đặc biệt, bước vào công cuộc đổi mới đất nước, đứng trước thời cơ
và vận hội lớn nhưng cũng có không ít những khó khăn, thách thức đối với công tác xây dựng Đảng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định “xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt” Trong công tác xây dựng Đảng, vấn đề xây dựng, củng cố, kiện toàn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng (TCCSĐ) ngang tầm với đòi hỏi của tình hình, nhiệm vụ mới được Đảng hết sức quan tâm Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) chỉ rõ: TCCSĐ là nền tảng của Đảng, là cầu nối giữa Đảng với dân, có
vị trí rất quan trọng trong hệ thống tổ chức của Đảng Toàn Đảng phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ; bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội
ở cơ sở, nhất là những địa bàn, lĩnh vực trọng yếu, có nhiều khó khăn
Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, trong sự nghiệp đổi mới, cấp ủy Đảng các cấp đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng TCCSĐ giữ vững và phát huy được vai trò hạt nhân chính trị ở cơ sở, lãnh đạo cán bộ, đảng viên, nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị ở địa phương, cơ quan, đơn vị Đội ngũ cán bộ, đảng viên từng bước được nâng cao
Trang 8cả về số lượng và chất lượng, trình độ kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn Tuy nhiên, trước yêu cầu, nhiệm vụ của tình hình mới, vẫn còn nhiều TCCSĐ chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đặt ra: Do nhận thức hạn chế, nhiều cấp ủy chưa chỉ đạo thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của TCCSĐ ở
cơ sở Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu ở nhiều TCCSĐ còn yếu, chưa đủ sức giải quyết những vấn đề phức tạp xảy ra ở địa phương Một bộ phận
không nhỏ cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí phấn đấu, suy
thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống Tệ quan liêu, lãng phí, tiêu cực còn xảy ra ở nhiều nơi, chậm được phát hiện ngăn chặn, đẩy lùi Việc đánh giá chất lượng TCCSĐ và đảng viên hằng năm còn mang tính hình thức, kết quả chưa phản ánh đúng thực chất, chất lượng ở cơ sở Đặc biệt trong quá trình Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa XI về vấn đề cấp bách trong xây dựng Đảng hiện nay
Đối với Hưng Yên, một trong những tỉnh trọng điểm nông nghiệp của đồng bằng sông Hồng và đang trong quá trình chuyển dịch sang công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì vấn đề xây dựng Đảng càng phải được chú trọng Để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, việc củng cố kiện toàn công tác xây dựng TCCSĐ, nhằm nâng cao năng lực và sức chiến đấu của TCCSĐ trở thành yêu cầu khách quan giữ vị trí quyết định trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của tỉnh TCCSĐ có vững mạnh thì sự nghiệp CNH, HĐH mới diễn ra đúng hướng và có kết quả như mong muốn, đời sống nhân dân mới được ấm no hạnh phúc, giữ vững ổn định chính trị TCCSĐ yếu kém, nội bộ mất đoàn kết, lòng dân bất ổn, ổn định chính trị có nguy cơ không được giữ vững, niềm tin của nhân dân với Đảng và Chính phủ giảm sút…
Trong sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH, việc xây dựng, củng cố, kiện toàn phát triển các loại hình TCCSĐ trở thành nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên Kể từ khi tái lập tỉnh năm 1997 đến Đại hội Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lần thứ XVII (2010) là thời kỳ phát triển đáng ghi nhận có nhiều biến đổi tích cực về kinh tế - xã
Trang 9hội và công tác xây dựng TCCSĐ Thực tiễn trong công tác xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên giai đoạn này đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, đồng thời cũng gặp không ít khó khăn, hạn chế Chính vì vậy, cần thiết phải có sự nghiên cứu một cách hệ thống, nhằm đánh giá đúng thực trạng, kết quả và hạn chế; góp phần làm sáng tỏ một
số vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác xây dựng TCCSĐ ở một địa phương cụ thể trong điều kiện lịch sử mới, đúc rút những kinh nghiệm, góp phần nâng cao chất lượng công tác xây dựng TCCSĐ ở tỉnh Hưng Yên trong các giai đoạn tiếp theo
Xuất phát từ những lý do trên, nghiên cứu sinh quyết định chọn đề tài:
“Công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên từ năm 1997 đến năm 2010” làm đề tài luận án tiến sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.2 Nhiệm vụ
- Làm rõ khái niệm về TCCSĐ và khái quát những yếu tố tác động đến quá trình xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên từ năm 1997 đến năm 2010
- Hệ thống hóa chủ trương của Trung ương Đảng về TCCSĐ từ năm
1996 đến năm 2010 và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên từ khi tái lập tỉnh (năm 1997) đến năm 2010
- Làm rõ quá trình chỉ đạo thực hiện xây dựng TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên từ năm 1997 đến năm 2010 trên các nội dung
Trang 10chủ yếu: về tư tưởng chính trị; về tổ chức; về phát triển đảng viên; về công tác cán bộ; về công tác kiểm tra
- Khảo sát kết quả xây dựng TCCSĐ (xã, phường, thị trấn) của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên từ năm 1997 đến năm 2010, từ đó nhận xét thành công, hạn chế khuyết điểm và đúc kết những kinh nghiệm có giá trị tổng kết thực tiễn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu chủ trương và chỉ đạo thực hiện xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên từ năm 1997 đến năm 2010
- Về không gian: Địa bàn nghiên cứu là tỉnh Hưng Yên
- Về thời gian: Thời gian từ năm 1997 đến năm 2010
4 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu, nguồn tư liệu của luận án
4.1 Cơ sở lý luận
Luận án được tiến hành trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Đảng nói chung và xây dựng TCCSĐ nói riêng
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng một số phương pháp chuyên ngành như: Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic, ngoài ra còn kết hợp các phương pháp khác, như khảo sát thực tiễn, tổng hợp, phân tích, thống kê, so sánh, tổng kết, phỏng vấn nhân chứng lịch sử…
Trang 114.3 Nguồn tư liệu
- Các văn kiện của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội từ năm 1996 đến năm 2011 về xây dựng Đảng và xây dựng TCCSĐ
- Các văn kiện của đảng bộ các cấp, các ban, ngành, đoàn thể, lịch sử đảng bộ địa phương về xây dựng Đảng và xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên
- Các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến đề tài Luận án
- Tư liệu phỏng vấn từ các nhân chứng lịch sử
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Góp phần làm sáng rõ hơn tầm quan trọng của TCCSĐ nhằm đảm bảo
sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng trên tất cả các lĩnh vực, địa bàn, nhất là ở cấp cơ sở
- Đánh giá một cách khách quan quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên về công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng từ khi tái lập năm 1997 đến năm 2010, góp phần tổng kết thực tiễn một nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng thời kỳ đổi mới trên một địa bàn cụ thể
- Những kinh nghiệm đúc kết được có thể vận dụng vào quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên nói riêng, các địa phương khác nói
chung về xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong giai đoạn tới có hiệu quả hơn
6 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận án gồm 4 chương, 8 tiết
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Là một trong những nội dung quan trọng của công tác xây dựng Đảng, xây dựng TCCSĐ đã được các giới, các ngành và nhiều tổ chức, cá nhân quan tâm nghiên cứu Đặc biệt, từ khi đất nước bước vào sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH, đã có rất nhiều công trình khoa học đề cập đến vấn đề này
Có thể chia thành mấy nhóm công trình nghiên cứu sau:
1.1.1 Những công trình đề cập tới những vấn đề chung về tổ chức
cơ sở đảng
Có thể kể đến các công trình khoa học sau: Để nâng cao năng lực lãnh
đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, nhóm tác giả Hồ Thanh Khôi,
Pham Thị Thiểu [51] Nội dung cuốn sách giới thiệu vai trò của TCCSĐ trong
hệ thống chính trị, quy chế hoạt động của TCCSĐ; nội dung và năng lực lãnh đạo, trách nhiệm của lãnh đạo; vấn đề lãnh đạo các cơ sở kinh tế ngoài quốc doanh và liên doanh với nước ngoài; các quy định mới của Ban Chấp hành Trung ương về chức năng, nhiệm vụ của TCCSĐ; hướng dẫn thực hiện các quy định của Trung ương;
Xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt của Lê Đức Bình [8] Cuốn
sách góp phần tuyên truyền đường lối, quan điểm của Đảng về xây dựng Đảng, nêu nhiệm vụ cụ thể cần xây dựng, chỉnh đốn các tổ chức đảng; đồng thời, nêu lên những kinh nghiệm, bài học trong thực tiễn công tác xây dựng Đảng;
Xây dựng Đảng về tổ chức của Ngô Đức Tính [97] Cuốn sách trình
bày các nguyên lý, quan điểm, nội dung cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng về xây dựng hệ thống tổ chức bộ máy của Đảng;
Trang 13một số vấn đề cơ bản về khoa học tổ chức, hệ thống tổ chức bộ máy của Đảng; những nguyên tắc cơ bản trong xây dựng Đảng Cuốn sách cũng giới thiệu một số bài học kinh nghiệm bước đầu về công tác xây dựng Đảng đã được tổng kết ở một số địa phương;
Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong thời
kỳ mới, tập thể tác giả, Nguyễn Phú Trọng và cộng sự [146] Nội dung
chủ yếu của cuốn sách đề cập một cách khái quát, có hệ thống những vấn
đề cơ bản về đảng cầm quyền, về tình hình đổi mới, chỉnh đốn Đảng Cuốn sách, đã giành một phần quan trọng luận giải về chất lượng các TCCSĐ Từ sự phân tích công phu, nghiêm túc cơ sở lý luận và thưc tiễn những vấn đề cơ bản về xây dựng Đảng nói chung, các TCCSĐ nói riêng, cuốn sách đã đề xuất phương hướng và giải pháp cấp bách để không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong thời
Một số vấn đề về xây dựng tổ chức cơ sở đảng hiện nay của Nguyễn Đức Hà [45] Nội dung cuốn sách đề cập đến những vấn đề: nâng cao chất lượng TCCSĐ và đội ngũ cán bộ, đảng viên; nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ trong các loại hình TCCSĐ; đánh giá đúng chất lượng TCCSĐ và đảng viên hàng năm; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở xã, phường, thị trấn vững mạnh; nâng cao vai trò lãnh đạo của TCCSĐ trong Tập đoàn kinh
Trang 14tế, Tổng công ty Nhà nước; xây dựng và phát triển TCCSĐ trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài…Những nội dung cuốn sách đề cập đến vừa mang tính nghiên cứu lý luận, vừa là sự tổng kết thực tiễn về công tác xây dựng củng cố TCCSĐ trong những năm gần đây, cung cấp nhiều tư liệu có giá trị thực tiễn về xây dựng Đảng và xây dựng TCCSĐ;
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng chi bộ Đảng gắn với xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh của Trần Minh Trưởng [144] Nội
dung cuốn sách đã đề cập đến cơ sở hình thành, vị trí vai trò, nhiệm vụ và nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về chi bộ Đảng Qua đó nêu nên năm yêu cầu cần thiết và sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh đối công tác xây dựng TCCSĐ trong tình hình mới: Triệt để thực hành dân chủ, đó là biện pháp hàng đầu để xây dựng chi bộ trong sạch vững mạnh; nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng gắn với đổi mới nội dung, hình thức sinh hoạt chi bộ Đảng; quán triệt nghị quyết Trung ương lần thứ 4 (Khóa XI) về phê bình và tựu phê bình trong công tác xây dựng chi bộ; tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên; tư tưởng Hồ Chí Minh về đổi mới công tác kiểm tra giám sát trong điều kiện hiện nay…
Bên cạnh các công trình chuyên khảo, trên các tạp chí khoa học có một
số bài viết về tổ chức cơ sở đảng như:
Về nâng cao chất lượng của các tổ chức cơ sở đảng của Đức Lượng
[58] Trên cơ sở phân tích vị trí, vai trò của TCCSĐ, tác giả đã khẳng định tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng các TCCSĐ, nhất là ở những vùng có địa bàn trọng yếu Trước thực trạng chất lượng TCCSĐ và đảng viên còn nhiều hạn chế, tác giả đã nêu một số biện pháp nâng cao chất lượng TCCSĐ và đảng viên: tiếp tục bổ sung, cụ thể hóa chất lượng sinh hoạt Đảng; tăng cường giáo dục, kiểm tra và quản lý đội ngũ đảng viên; phát huy dân chủ, giữ vững kỷ cương, kỷ luật
Trang 15Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội X của Dương Trung Ý [162] Tổng kết số lượng TCCSĐ, tác
giả cho rằng tính đến tháng 12-2005, cả nước có 47.000 TCCSĐ, xấp xỉ gần 200.000 chi bộ trực thuộc, hơn 3,1 triệu đảng viên Các TCCSĐ có vị trí, vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của Đảng và chế độ XHCN ở nước ta
Từ sự phân tích khách quan, khoa học, việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khoá VII) và Nghị quyết Đại hội VIII, IX, tác giả đi đến khẳng định các TCCSĐ đã có nhiều chuyển biến tích cực, thể hiện trên một số lĩnh vực chủ yếu
Về năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng ở xã của
Dương Trung Ý [163] Tác giả cho rằng, sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn có trở thành thực tiễn sinh động hay không, đem lại diện mạo và bước phát triển mới cho nông nghiệp, nông thôn và nông dân hay không, phần rất lớn là do vai trò, trách nhiệm và khả năng lãnh đạo của các đảng bộ xã Tác giả chỉ rõ, để có cơ sở đề ra các giải pháp sát thực, đồng bộ, trước hết các cấp ủy, tổ chức đảng cần hiểu đúng khái niệm năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của đảng bộ xã: Năng lực lãnh đạo của đảng bộ xã là khả năng đề ra những mục tiêu, nhiệm vụ chính trị đúng đắn, sát hợp của đảng bộ trong từng thời kỳ, đồng thời là khả năng tổ chức thực hiện thắng lợi những mục tiêu, nhiệm vụ đó trên địa bàn xã Sức chiến đấu của đảng bộ xã là sức mạnh, khả năng vượt qua những khó khăn, thách thức, những trở lực và chống lại có hiệu quả sự phá hoại của các thế lực thù địch trong quá trình lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị ở xã
Giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng của Ngô Kim Ngân [71] Theo tác giả, để nâng cao năng lực lãnh đạo và
sức chiến đấu của các TCCSĐ hiện nay cần tập trung vào một số giải pháp sau: Xác định đúng nhiệm vụ chính trị, chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng; Đổi mới phương thức, phong cách làm việc của tổ chức đảng; Cải tiến, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, chi ủy, đảng ủy,
Trang 16mở rộng dân chủ trong sinh hoạt Đảng; Coi trọng công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; Đẩy mạnh công tác kiểm tra, kỷ luật Đảng; Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy cấp trên đối với cơ sở
Bốn kinh nghiệm thực hiện đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng
và đảng viên của Phúc Sơn [88] Tác giả cho rằng, đánh giá đúng chất
lượng TCCSĐ và đảng viên luôn được coi là một nhiệm vụ quan trọng
trong công tác xây dựng Đảng; Công trình Tổ chức cơ sở đảng với nhiệm
vụ phòng, chống tham nhũng, lãng phí của Nguyễn Minh Tuấn [147] Tác giả
cho rằng, thiếu sót, khuyết điểm trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí thì
cơ bản đều do sự yếu kém của các TCCSĐ trong lãnh đạo hệ thống chính trị; vai trò của người đứng đầu cơ quan
Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên của Nguyễn Đức Hà [44] Trong bài viết,
tác giả đi sâu phân tích một số nhiệm vụ và giải pháp nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên đối với từng loại hình TCCSĐ, từ đó xây dựng mô hình tổ chức phù hợp với những TCCSĐ có tính đặc thù, vừa tạo sự thống nhất chung, vừa phù hợp với đặc điểm cụ thể của từng địa phương, đơn vị
Nhiệm vụ và giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của
tổ chức cơ sở đảng của Trương Thị Thông [92] Theo tác giả, để nâng cao năng
lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng cần thực hiện các giải pháp cơ bản: Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên vững mạnh về mọi mặt; Tập trung chỉ đạo giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc mới nảy sinh; Nâng cao chất lượng, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, chất lượng sinh hoạt của các loại hình TCCSĐ; Tăng cường công tác chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, quản lý đảng viên, dựa vào dân để xây dựng Đảng
Trang 17Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở
đảng của Vũ Văn Phúc [78] Trong báo cáo, tác giả đã khái quát quan điểm của
C.Mác và Ph.Ăng-ghen, V.I.Lênin và Đảng Cộng sản Việt Nam về TCCSĐ từ ngày đầu thành lập Đặc biệt, việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ được kiểm chứng trên thực tiễn cách mạng Việt Nam và thế giới Đồng thời, tác giả đã khái quát thực trạng năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số loại hình TCCSĐ ở nông thôn; doanh nghiệp; đơn vị sự nghiệp (cơ quan nghiên cứu khoa học, các cơ sở giáo dục đào tạo, y tế); từ cơ sở lý luận, thực tiễn của quá trình nghiên cứu, tác giả đã đưa ra 6 giải pháp tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ Tác giả đi đến kết luận: Đảng muốn thực sự mạnh, phải chăm lo công tác xây dựng, nâng cao chất lượng của TCCSĐ, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, phải thực thi đồng bộ mới nâng cao được chất lượng của TCCSĐ ở cơ sở và đảm bảo cho các TCCSĐ thực sự là nền tảng, hạt nhân chính trị của Đảng
Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, lời Ban Biên tập [2], tổng hợp ý kiến tham luận của các nhà khoa học
trên các vấn đề: Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ - thực tế và những vấn đề đặt ra Khẳng định: Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ là nhiệm vụ cơ bản, then chốt của Đảng, quyết định vai trò lãnh đạo của Đảng, vị trí và uy tín của Đảng trong nhân dân Nhiệm vụ này cần được tiến hành thường xuyên, có sự tham gia của cả hệ thống chính trị, của
toàn thể nhân dân và xã hội
1.1.2 Các công trình đề cập đến thực tiễn xây dựng tổ chức cơ sở đảng của các Đảng bộ ở một số vùng, miền và các địa phương trong cả nước
Đó là các công trình: Một số vấn đề đổi mới tổ chức và hoạt động
của tổ chức đảng ở nông thôn và đường phố do Lưu Minh Trí chủ nhiệm
[143] Nhóm tác giả khẳng định: Đổi mới TCCSĐ là khâu cực kỳ quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng sau Đại hội Đảng toàn quốc
Trang 18lần thứ VII, đặc biệt sau Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương
lần thứ 3 (khoá VII) Công trình gồm hai phần: Phần I, Đổi mới tổ chức và
hoạt động của tổ chức cơ sở đảng ở nông thôn Phần II, Đổi mới tổ chức hoạt động của tổ chức cơ sở đảng ở đường phố Từ kết quả nghiên cứu,
nhóm tác giả đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ đổi mới TCCSĐ cấp phường và mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân cấp phường trong điều kiện kinh tế thị trường
Thực trạng và những yêu cầu xây dựng tổ chức cơ sở đảng ở nông thôn một số tỉnh miền núi, vùng cao phía Bắc nước ta hiện nay, do Nguyễn Thị
Minh Bích làm chủ nhiệm [5] Tập thể tác giả đánh giá thực trạng và yêu cầu đặt ra đối với xây dựng TCCSĐ ở nông thôn miền núi vùng cao phía Bắc, từ đó đưa ra một số kiến nghị, đề xuất và giải pháp xây dựng dựng TCCSĐ ở nông thôn một số tỉnh miền núi, vùng cao phía Bắc trong những năm tiếp theo
Đổi mới phương thức lãnh đạo của các đảng bộ xã ở khu vực Đồng bằng Bắc Bộ trong giai đoạn hiện nay, do Nguyễn Văn Biều làm chủ
nhiệm [6] Đề tài bước đầu đề cập đến phương thức, cách thức lãnh đạo của các đảng bộ xã đối với chính quyền, mặt trận và các đoàn thể nhân dân Trên cơ sở sở nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, đề tài đã góp phần làm rõ thực trạng phương thức lãnh đạo của các đảng bộ xã vùng đồng bằng sông Hồng, từ đó đề xuất các giải pháp tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của đảng bộ xã khu vực này
Tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp nhà nước - những vấn đề đặt
ra và phương hướng giải quyết (qua các xí nghiệp ở Hà Nội, Hải Phòng), do
Trần Trung Quang làm chủ nhiệm [84] Nhóm tác giả nghiên cứu làm rõ thực trạng TCCSĐ trong các doanh nghiệp Nhà nước và những vấn đề đặt ra trong việc xây dựng TCCSĐ trong các doanh nghiệp Nhà nước qua khảo sát thực tiễn các xí nghiệp ở Hà Nội, Hải Phòng, từ đó, đề ra phương hướng và giải pháp thực
hiện vấn đề này trong trong thời gian tiếp theo
Trang 19Một số luận án, luận văn:
Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng nông thôn (cấp xã) vùng
đồng bằng sông Hồng của Đỗ Ngọc Ninh [69], Luận án đã phân tích, đánh
giá thực trạng chất lượng TCCSĐ nông thôn (cấp xã) vùng đồng bằng sông Hồng và đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng TCCSĐ vùng này có tính khả thi
Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng ở các trung đoàn không quân chiến đấu hiện nay của Cao Xuân Thưởng [93],
Luận án làm rõ những vấn đề cơ bản, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ ở các trung đoàn không quân chiến đấu; phân tích đánh giá đúng thực trạng, xác định nguyên nhân, những yêu cầu lớn đặt ra ở các trung đoàn không quân chiến đấu hiện nay cần phải nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ ở các đơn vị nói trên, từ đó kiến nghị đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ ở các trung đoàn không quân chiến đấu;
Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng nông thôn vùng cao phía Bắc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của Nguyễn Đức Ái [1] Nội dung luận án đã làm rõ một số vấn đề cơ
bản về lý luận và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ nông thôn vùng cao phía Bắc; Phân tích, đánh giá đúng thực trạng năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ được coi là nhân tố cơ bản quyết định thành công của sự nghiệp CNH, HĐH Từ đó, đưa ra những giải pháp chủ yếu, đồng bộ, tương đối toàn diện và có tính thực tiễn cao nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ ở vùng này;
Công tác vận động giáo dân của tổ chức cơ sở đảng (cấp xã) ở đồng
bằng Bắc Bộ nước ta hiện nay của Hoàng Mạnh Đoàn [40], Luận án làm rõ
Trang 20chất lượng, nội dung, phương thức vận động giáo dân, những nhân tố tác động đến công tác vận động giáo dân, thực trạng công tác vận động giáo dân, một số kinh nghiệm và phương hướng, giải pháp vận động giáo dân của TCCSĐ (cấp xã) đồng bằng Bắc Bộ hiện nay Tác giả cũng cho rằng, việc nâng cao hơn nữa công tác vận động giáo dân của TCCSĐ (cấp xã) đồng bằng Bắc Bộ không chỉ
là yêu cầu cấp bách mà còn là vấn đề có ý nghĩa chiến lược
Sự lãnh đạo của tổ chức cơ sơ đảng đối với Đoàn Thanh niên Cộng sản
Hồ Chí Minh trong các trường đại học và cao đẳng ở Hà Nội hiện nay của
Ngô Bích Ngọc [73] Tác giả làm rõ, thực trạng, nguyên nhân và kinh nghiệm lãnh đạo của TCCSĐ đối với Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong các trường đại học và cao đẳng trên địa bàn Hà Nội Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đã đề ra phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng lãnh đạo của TCCSĐ đối với Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong các trường đại học và cao đẳng trên địa bàn Hà Nội trong thời gian tới;
Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng đồn biên phòng tuyến biên giới đất liền Việt Nam trong thời kỳ mới của Hoàng Văn
Đồng [41], Luận án đã phân tích vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của TCCSĐ đồn biên phòng biên giới phía Bắc nước ta; đánh giá rõ thực trạng chất lượng, nguyên nhân và một số kinh nghiệm, đề ra những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng các TCCSĐ đồn biên phòng biên giới phía Bắc nước ta trong thời kỳ mới
Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng
ở doanh nghiệp Nhà nước hiện nay của Nguyễn Minh Tuấn [149] Luận án đã
nghiên cứu, phân tích, làm rõ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của TCCSĐ trong doanh nghiệp Nhà nước nói chung và khu vực kinh tế trọng điểm của các tỉnh phía Bắc Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh nói riêng; làm
rõ thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với TCCSĐ trong các doanh nghiệp Nhà nước; phân tích nguyên nhân, rút ra những kinh nghiệm, đưa ra những
Trang 21giải pháp thiết yếu góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ trong các doanh nghiệp Nhà nước nói chung và ở Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh nói riêng; góp phần nâng cao nhận thức và ý thức xây dựng Đảng của các TCCSĐ trong doanh nghiệp Nhà nước thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước;
Chất lượng tổ chức cơ sở Đảng ở các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc Tập đoàn dầu Dầu khí Việt Nam trong giai đoạn hiện nay của Hà Duy Dĩnh [12],
Luận án đã làm rõ quan niệm và tiêu chí đánh giá chất lượng TCCSĐ ở các đơn vị sản xuất kinh doanh; đánh giá thực trạng, kinh nghiệm và những vấn
đề đang đặt ra; xác định rõ mục tiêu, quan điểm và đưa ra một hệ thống giải pháp nhằm nâng cao chất lượng TCCSĐ ở các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc Tập đoàn dầu Dầu khí Việt Nam
Xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa ở các tỉnh Trung Trung bộ giai đoạn hiện nay của
Trương Thị Mỹ Trang [141], Luận án đã phân tích, làm rõ nội dung xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa ở các tỉnh Trung Trung bộ, thực trạng, nguyên nhân, kinh nghiệm Đồng thời, dự báo những nhân tố tác động, phương hướng xây dựng, củng
cố tổ chức cơ sở đảng và đề ra những giải pháp chủ yếu để tiếp tục xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa ở các tỉnh Trung Trung bộ đến năm 2020
Công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ thành phố Hà Nội
từ năm 1996 đến năm 2005 của Trần Thị Thu Hằng [47] Luận án đi sâu phân
tích thực trạng, đặc điểm TCCSĐ của thành phố Hà Nội trước năm 1996; trình bày những chủ trương chính sách của Đảng, những giải pháp của Đảng bộ thành phố Hà Nội trong công tác xây dựng TCCSĐ, quá trình thực hiện công tác xây dựng TCCSĐ của thành phố Hà Nội từ năm 1996 đến năm 2005; đúc rút một số kinh nghiệm trong công tác xây dựng TCCSĐ của thành phố Hà
Trang 22Nội, góp phần đổi mới công tác xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ thành phố Hà Nội nói riêng và một số địa bàn khác;
Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng cấp xã ở tỉnh Vĩnh Long hiện nay của Nguyễn Văn Bé Tư [147] Tác giả luận văn đã bước đầu phân
tích, làm rõ vị trí, vai trò của TCCSĐ nông thôn, từ đó khẳng định việc nâng cao chất lượng TCCSĐ nông thôn là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới, đặc biệt là trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Theo tác giả, chất lượng của TCCSĐ cấp xã là: chất lượng lãnh đạo xây dựng HTCT ở cơ sở vững mạnh, chống quan liêu, cửa quyền, ức hiếp nhân dân, tham nhũng, buôn lậu, xa hoa lãng phí; lãnh đạo hoàn thành các nhiệm vụ kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh đã được đảng bộ đề ra và thực hiện có hiệu quả; thực hiện công tác xây dựng đảng bộ theo quy định của Điều lệ Đảng Trên cơ sở phân tích thực trạng chất lượng của các đảng bộ cấp xã ở tỉnh Vĩnh Long, xác định nguyên nhân của mặt mạnh, mặt yếu, tác giả đề xuất một giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng các đảng bộ cấp xã ở Vĩnh Long;
Nâng cao chất lượng đảng bộ xã, thị trấn ở huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn hiện nay của Phạm Thị La [55] Tác giả đã bước
đầu làm rõ vị trí, vai trò của đảng bộ cơ sở, từ đó khẳng định việc nâng cao chất lượng các đảng bộ cơ sở là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, góp phần bảo đảm thành công của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn hiện nay Chất lượng của TCCSĐ chính là năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các đảng bộ cơ sở và chi bộ cơ sở đối với việc tiến hành các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh đã được nêu ra ở cơ sở, chống tham nhũng, buôn lậu, xa hoa, lãnh phí và thực hiện có hiệu quả công tác xây dựng Đảng Trên cơ sở quan điểm đó, đề xuất một số giải
Trang 23pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng các Đảng bộ xã, thị trấn ở Kim Sơn trong những năm tiếp theo
Đảng bộ Hải Dương lãnh đạo công tác xây dựng tổ chức cơ sơ đảng
xã, phường, thị trấn từ năm 1997 đến 2005 (qua khảo sát ở Thành phố Hải Dương và một số huyện) của Bùi Hữu Hanh [48] Nội dung luận văn đề cập
đến việc đổi mới nhận thức, chủ trương, biện pháp xây dựng TCCSĐ xã, phường, thị trấn ở Hải Dương (1997-2000) và quá trình Đảng bộ Hải Dương vận dụng quan điểm đường lối của Trung ương vào thực tiễn lãnh đạo đổi mới công tác xây dựng TCCSĐ xã, phường, thị trấn từ năm (2001-2005), qua đó rút ra một số kinh nghiệm lãnh đạo xây dựng TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn của Đảng bộ Hải Dương
Ngoài ra, một số công trình, luận án khác đề cập đến công tác xây dựng
Đảng như: Viện Mác - Lênin, Công trình Vấn đề xây dựng Đảng ở một số
vùng đồng bào theo đạo Thiên chúa ở miền Bắc hiện nay [157]; Chất lượng tổ chức cơ sở đảng nông thôn ở tỉnh Sơn La, thực trạng và giải pháp của Phạm
Văn Minh [66]; Chất lượng công tác tư tưởng của tổ chức cơ sở đảng (cấp
xã) vùng đồng bào dân tộc ít người ở các tỉnh Bắc Trung Bộ trong giai đoạn hiện nay của Cao Văn Định [39]; Nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình ở tổ chức cơ sở đảng trong quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay của
Trần Văn Bộ [11]; Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ
chức cơ sở đảng nông thôn tỉnh Long An hiện nay của Nguyễn Văn Dũng
[42]; Sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong việc thực thi quyền lực của
nhân dân ở nông thôn Đồng bằng sông Cửu Long của Lê Tiến Lập [57]; Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các loại hình tổ chức cơ sở đảng
xã ở các tỉnh miền núi Tây Bắc Việt Nam - thực trạng và giải pháp …
Các bài viết đăng trên tạp chí: Đồng Nai nâng cao vai trò tổ chức cơ sở
đảng trong vùng đồng bào theo đạo Thiên Chúa, của Phan Thanh Kiều [54]; Công tác quần chúng của tổ chức cơ sở đảng ở nông thôn trong thời kỳ hiện nay
Trang 24của Nguyễn Văn Biều [7]; Xây dựng củng cố tổ chức cơ sở đảng ở Quảng Nam -
thực trạng và giải pháp của Nguyễn Văn Nam [68]; Đảng bộ phường Vĩnh Ninh
nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, phát huy vai trò hạt nhân chính trị
của Thành Lâm [56]; Để nâng cao năng lực lãnh đạo sức chiến đấu của tổ chức
cơ sở đảng ở Tây Nguyên, của Phạm Quang Vinh [159]; Đảng bộ thành phố Nam Định xây dựng tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên của Nguyễn Khắc Hưng
[50]; Để nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng ở một số tỉnh miền núi phía Bắc của Lê Ngọc Thắng [90]; Nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng ở
Hà Nội của Nguyễn Công Soái [86]; Giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các đảng bộ xã ở tỉnh Phú Yên của Nguyễn Thành Sơn [87]; Đổi mới phương thức lãnh đạo của đảng bộ xã ở huyện Châu Thành, An Giang của
Nguyễn Thị Hai [46]; Đổi mới phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng ở
Phú Thọ của Ngô Đức Vượng [160]; Công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng vùng
đồng bằng dân tộc Khmer ở Sóc Trăng, của Lê Thành Quân…
Các công trình trên đã khảo sát về xây dựng TCCSĐ ở các địa phương khác nhau, đề ra các phương hướng giải pháp nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo
và sức chiến đấu của TCCSĐ trên mọi phương diện
1.1.3 Các công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến tổ chức cơ
sở đảng của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên
So với các công trình nghiên cứu về TCCSĐ nói chung và nghiên cứu về TCCSĐ địa phương, vùng miền, nghiên cứu TCCSĐ trên địa bàn Hưng Yên còn hạn chế Liên quan đến nội dung đề tài luận án, trước hết có
thể kể đến là công trình: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hưng Yên, tập 3
(1975-2005) [16] Cuốn sách trình bày khá chi tiết quá trình Đảng bộ tỉnh Hưng
Yên quán triệt quan điểm, đường lối chỉ thị của Đảng vào điều kiện cụ thể của địa phương trong lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ chính trị, KT-XH suốt 30 năm từ 1975 đến 2005 Trong điều kiện đất nước vừa mới hòa bình, thống nhất còn rất nhiều khó khăn, cũng như qua 20 năm thực hiện đường
Trang 25lối đổi mới của Đảng, bên cạnh các công tác khác, Đảng bộ tỉnh Hưng Yên chú trọng công tác xây dựng TCCSĐ và đã thu được những kết quả to lớn,
từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo công tác xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ địa phương
Công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng ở nông thôn tỉnh Hưng Yên trong những năm 1997-2005 của Nguyễn Thị Thu Hương [51] Tác giả khái quát tình
hình KT-XH nông thôn tỉnh Hưng Yên, thực trạng TCCSĐ những năm đầu tái thành lập tỉnh; trình bày những chủ trương lớn của công tác xây dựng TCCSĐ, quá trình chỉ đạo công tác xây dựng TCCSĐ ở nông thôn Hưng Yên (1997 - 2000) và đẩy mạnh xây dựng TCCSĐ (2001-2005) Tác giả phân tích, khách quan khoa học thực trạng công tác lãnh đạo xây dựng TCCSĐ ở nông thôn tỉnh Hưng Yên, từ đó rút ra một số kinh nghiệm trong lãnh đạo xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên;
Công tác phát triển đảng viên của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên từ năm 1997 đến năm 2010 của Nguyễn Thị Thấm [81] Nội dung luận văn trình bày
những chủ trương của Đảng trong công tác phát triển đảng viên; phân tích quá trình Đảng bộ tỉnh Hưng Yên chỉ đạo thực hiện công tác phát triển đảng viên;
từ những kết quả đạt được của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên trong 10 năm từ 2001 đến 2010, tác giả nêu rõ những thành tựu, hạn chế, từ đó rút ra các kinh nghiệm trong công tác phát triển đảng viên
Nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng - Nhân tố then chốt thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của Đức Nhuận [74] Tác giả cho
rằng, trong những năm qua, thực hiện Nghị quyết Trung ương (khóa X) về
“Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên”, các nghị quyết của Tỉnh ủy về công tác xây dựng Đảng, công tác xây dựng, củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ trong toàn tỉnh Hưng Yên nói chung và TCCSĐ
Trang 26nông thôn có nhiều chuyển biến tích cực Chất lượng hoạt động và năng lực lãnh đạo của TCCSĐ, cấp ủy từng bước được nâng lên, tỷ lệ TCCSĐ trong sạch vững mạnh tăng…Đến năm 2013, Đảng bộ tỉnh Hưng Yên có hơn 600 TCCSĐ với hơn 60 nghìn đảng viên, trong đó có 161 đảng bộ xã, phường, thị trấn Nhìn chung, các đảng bộ cơ sở xã, phường, thị trấn giữ vững, phát huy vai trò hạt nhân chính trị ở cơ sở, lãnh đạo cán bộ, đảng viên và nhân dân thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ chính trị của địa phương Nhiều TCCSĐ tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao chất lượng sinh hoạt Đảng, giữ nghiêm kỷ luật Đảng, đồng thời chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nêu cao vai trò tiền phong gương mẫu của đảng viên
1.2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC GIẢI QUYẾT VÀ NHỮNG NỘI DUNG LUẬN ÁN TẬP TRUNG NGHIÊN CỨU
1.2.1 Những nội dung liên quan đến luận án đã được giải quyết
- Các công trình trên đã hệ thống, khái quát những quan điểm, đường lối của Đảng được thể hiện qua các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Đảng trong vấn đề chỉ đạo công tác xây dựng TCCSĐ
- Các công trình đã nêu khá rõ quá trình hiện thực hóa quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về công tác xây dựng TCCSĐ vào điều kiện cụ thể của các ngành, địa phương, đơn vị…trong đó có những giải pháp quan trọng trong công tác xây dựng TCCSĐ ở địa bàn nông thôn những năm qua
- Qua việc quán triệt thực hiện quan điểm, đường lối của Đảng về công tác xây dựng TCCSĐ, các công trình đã đúc kết được một số bài học kinh nghiệm bổ ích, quý báu của các Đảng bộ ngành, địa phương, đơn vị…trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo công tác xây dựng TCCSĐ
Các công trình nghiên cứu trên đã góp phần bổ sung nguồn tư liệu quý
về thực tiễn cho việc triển khai nghiên cứu đề tài Tuy vậy, nhìn một cách tổng
Trang 27thể cho đến nay chưa có công trình nào đề cập một cách đầy đủ, hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo công tác xây dựng TCCSĐ từ năm 1997 đến năm 2010
1.2.2 Những nội dung luận án tập trung nghiên cứu
- Làm rõ những yếu tố tác động đến công tác xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên, những vấn đề đặt ra đối với công tác xây dựng TCCSĐ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, nhất là CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Hưng Yên
- Làm rõ quá trình hoạch định chủ trương xây dựng TCCSĐ của Đảng
bộ tỉnh Hưng Yên từ năm 1997 đến năm 2010
- Làm rõ quá trình chỉ đạo thực hiện xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên (trên các nội dung chủ yếu: về tư tưởng chính trị; về tổ chức; về phát triển đảng viên; về công tác cán bộ; về công tác kiểm tra)
- Khảo sát, đánh giá khách quan kết quả, hạn chế và nguyên nhân của quá trình Đảng bộ tỉnh Hưng Yêu lãnh đạo xây dựng TCCSĐ
- Đúc kết những kinh nghiệm từ quá trình lãnh đạo xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên từ năm 1997 đến năm 2010
Trang 28CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG Ở TỈNH HƯNG YÊN TRONG
NHỮNG NĂM ĐẦU TÁI LẬP TỈNH (1997 - 2000)
2.1 TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG VÀ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CÔNG TÁC XÂY DỰNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HƯNG YÊN
2.1.1 Tầm quan trọng của công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng đối với sự nghiệp cách mạng
Ngay trong những ngày đầu lãnh đạo phong trào công nhân quốc tế C.Mác và F.Ăngghen đã coi trọng xây dựng các chi bộ đảng, coi đó là nền tảng của Đảng C.Mác và F.Ăngghen chưa sử dụng thuật ngữ “tổ chức cơ sở đảng”, nhưng quan điểm, tư tưởng của hai ông đều thể hiện rõ tầm quan trọng của vị trí, vai trò của chi bộ cơ sở, là tổ chức hạt nhân của Đảng, nơi tuyên truyền, giác ngộ quần chúng, là một trong những bộ phận tạo thành hệ thống
tổ chức của Đảng, bảo đảm cho hoạt động của Đảng thông suốt từ Trung ương tới cơ sở, làm cho mỗi cơ sở trở thành trung tâm, là hạt nhân của các hiệp hội công nhân, lãnh đạo giai cấp công nhân đấu tranh chống lại giai cấp
tư sản giành chính quyền
Là người tiếp tục kế thừa và phát triển học thuyết về xây dựng Đảng cách mạng của C.Mác và F.Ăngghen, Lênin đã coi xây dựng TCCSĐ là nhiệm vụ cấp bách Lần đầu tiên trong bài viết “Về việc cải tổ Đảng” Lênin
đã chính thức sử dụng thuật ngữ “tổ chức cơ sở đảng”, chỉ rõ các chi bộ cơ sở
là các TCCSĐ Lênin cho rằng “Hình thức tổ chức mới, hay nói đúng hơn hình thức mới của tổ chức cơ sở của đảng công nhân phải giải quyết tuyệt đối rộng rãi hơn so với những tiểu tổ cũ” [154, tr.107] Trong nhiều tác phẩm Lênin đã khẳng định TCCSĐ là “điểm tựa”, là hạt nhân, là nơi gần gũi quần chúng nhất, nơi liên hệ chặt chẽ với quần chúng, nơi tuyên truyền, giáo dục, dẫn dắt quần chúng thực hiện đường lối chủ trương, chính sách của Đảng
Trang 29Cách mạng tháng Mười Nga thành công, Đảng Cộng sản (b) Nga trở thành đảng cầm quyền, Lênin nhấn mạnh vai trò, tầm quan trọng của TCCSĐ trong xây dựng CNXH, phải thành lập tất cả các địa bàn, các lĩnh vực KT-
XH, ở tất cả các tổ chức, các hội các hiệp hội những “chi bộ đảng”, phải liên
hệ, hỗ trợ lẫn nhau
Những chi bộ ấy liên hệ chặt chẽ với nhau và với Trung ương Đảng, phải trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau, phải làm công tác cổ động, tuyên truyền, công tác tổ chức, phải thích nghi với mọi lĩnh của đời sống xã hội, với tất cả mọi loại và mọi tầng lớp quần chúng lao động, những chi bộ ấy phải thông qua công tác muôn hình muôn vẻ
đó mà rèn luyện bản thân mình, rèn luyện đảng, giai cấp, quần chúng một cách có hệ thống [155, tr.232-233]
Đối với TCCSĐ ở nông thôn, Lênin chỉ rõ:
Về công tác nông thôn thì không còn nghi ngờ gì cả, khó khăn ở đó rất lớn và tại Đại hội VIII của Đảng chúng ta đã đặt vấn đề đó một cách đầy đủ, coi đó là một trong những vấn đề chủ yếu nhất Ở nông thôn cũng như ở thành thị, chỗ dựa của chúng ta chỉ có thể là đại biểu của quần chúng lao động bị bóc lột [156, tr.352]
Đảng Cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh sáng lập, rèn luyện và lãnh đạo đã vận dụng những quan điểm của Mác - Ăngghen và Lênin về đảng cộng sản một cách sáng tạo, phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam và không ngừng phát triển, làm phong phú thêm kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng Đảng
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh “để lãnh đạo cách mạng Đảng phải mạnh Đảng mạnh là do chi bộ tốt Chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt” [64, tr.113]
và “Chi bộ là nền móng của Đảng, chi bộ tốt thì mọi việc sẽ tốt” [64, tr.278] Vai trò nền móng của TCCSĐ còn được thể hiện trong mối quan hệ chặt chẽ giữa Đảng với quần chúng Theo Người: “mỗi chi bộ của Đảng phải là một hạt nhân lãnh đạo quần chúng ở cơ sở, đoàn kết chặt chẽ, liên hệ mật thiết với quần
Trang 30chúng, phát huy được trí tuệ và lực lượng vĩ đại của quần chúng” [64, tr.28] Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh vai trò của TCCSĐ được thể hiện ở chất lượng TCCSĐ TCCSĐ mạnh thì mọi công việc ở cơ sở sẽ thực hiện tốt; TCCSĐ mạnh thì tổ chức đảng cấp trên và toàn Đảng mới mạnh Chất lượng TCCSĐ ảnh hưởng đến chất lượng của toàn Đảng
Quán triệt sâu sắc tư tưởng của Hồ Chí Minh về TCCSĐ, qua các chặng đường lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam chú trọng xây dựng TCCSĐ về tư tưởng, chính trị, tổ chức Nhờ có những chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, công tác chỉ đạo xây dựng TCCSĐ được chú trọng, TCCSĐ được coi là nền tảng của Đảng Qua thực tế đấu tranh cách mạng không ngừng, các TCCSĐ đã khẳng định được vai trò là tổ chức nền tảng của Đảng, là lực lượng nòng cốt lãnh đạo nhân dân giành chính quyền Đặc biệt, khi đất nước đang tiến hành sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng TCCSĐ được xác định là một nhiệm vụ quan trọng để xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh Vì vậy, khái niệm về TCCSĐ được xác định rõ trong Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Chương V “Tổ chức cơ sở đảng”, Điều 21:
1.Tổ chức cơ sở đảng (chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở) là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở
2 Ở xã, phường, thị trấn có từ ba đảng viên chính thức trở lên, lập
tổ chức cơ sở đảng (trực thuộc cấp uỷ cấp huyện) Ở cơ quan, doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp, đơn vị quân đội, công an và các đơn vị khác có từ ba đảng viên chính thức trở lên, lập tổ chức đảng (tổ chức cơ sở đảng hoặc chi bộ trực thuộc đảng
uỷ cơ sở); cấp uỷ cấp trên trực tiếp xem xét, quyết định việc tổ chức đảng đó trực thuộc cấp uỷ cấp trên nào cho phù hợp; nếu chưa đủ ba đảng viên chính thức thì cấp uỷ cấp trên trực tiếp giới thiệu đảng viên sinh hoạt ở tổ chức cơ sở đảng thích hợp
3 Tổ chức cơ sở đảng dưới ba mươi đảng viên, lập chi bộ cơ sở, có các tổ đảng trực thuộc
Trang 314 Tổ chức cơ sở đảng có từ ba mươi đảng viên trở lên, lập đảng bộ
cơ sở, có các chi bộ trực thuộc đảng uỷ
5 Những trường hợp sau đây, cấp uỷ cấp dưới phải báo cáo và được cấp uỷ cấp trên trực tiếp đồng ý mới được thực hiện: Lập đảng bộ cơ sở trong đơn vị cơ sở chưa đủ ba mươi đảng viên; Lập chi bộ trực thuộc đảng uỷ cơ sở có hơn ba mươi đảng viên; Lập đảng bộ bộ phận trực thuộc đảng uỷ cơ sở [38, tr.32-33-34]
Theo quy định trên, có thể thấy khái niệm TCCSĐ được gọi chung cho
cả Chi bộ cơ sở, Đảng bộ cơ sở căn cứ theo số lượng đảng viên và yêu cầu cụ thể của nhiệm vụ từng đơn vị ở cơ sở để thực hiện
Về chức năng, nhiệm vụ của TCCSĐ theo Quy định số 95 – QĐ/TW ngày 3/3/2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ chi bộ cơ sở xã như sau:
Chức năng: Đảng bộ, chi bộ cơ sở xã là hạt nhân chính trị, lãnh đạo thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng hệ thống chính trị ở xã vững mạnh, nông thôn giàu đẹp, văn minh; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, động viên nhân dân làm tròn nghĩa vụ đối với nhà nước
Nhiệm vụ: Lãnh đạo nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng; Lãnh đạo công tác tư tưởng; Lãnh đạo công tác tổ chức, cán bộ; Lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân; Xây dựng tổ chức đảng
Như vây, Đảng bộ, chi bộ cơ sở xã là hạt nhân chính trị, lãnh đạo thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; lãnh đạo phát triển KT-XH, xây dựng hệ thống chính trị ở xã vững mạnh, nông thôn giàu đẹp, văn minh; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, động viên nhân dân làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước
Từ lý luận đến thực tiễn đã chứng minh, dù ở bất kỳ giai đoạn nào trên con đường phát triển của cách mạng Việt Nam do Đảng lãnh đạo, với vị trí
Trang 32nền tảng, các đảng bộ, chi bộ cơ sở luôn là hạt nhân chính trị, là nơi trực tiếp đưa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước tới quần chúng, tuyên truyền, giáo dục và vận động quần chúng thực hiện đường lối, chính sách, kịp thời kiểm tra uốn nắn những lệch lạc trong nhận thức và hành động của quần chúng
2.1.2 Những yếu tố tác động đến công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên
2.1.2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Hưng Yên tác động đến công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng
Trước yêu cầu về điều chỉnh địa giới hành chính các tỉnh phù hợp với tình hình phát triển KT-XH, sau 29 năm hợp nhất với tỉnh Hải Dương (từ tháng 1-1968), ngày 06-11-1996, Quốc hội khoá IX kỳ họp thứ 10 ra Nghị quyết về việc chia tỉnh Hải Hưng thành hai tỉnh: Hải Dương và Hưng Yên Ngày 01-01-1997, tỉnh Hưng Yên chính thức được tái lập, với diện tích tự nhiên 894,79km2, dân số 1.075.517 người, với 6 đơn vị hành chính cấp huyện gồm: thị xã Hưng Yên và các huyện Mỹ Văn, Châu Giang, Phù Tiên, Kim Động, Ân Thi, tỉnh lỵ được đặt tại thị
xã Hưng Yên Ngày 24-02-1997 Chính phủ ra Nghị định số 17/NĐ-CP chia huyện Phù Tiên thành huyện Phù Cừ và Tiên Lữ Ngày 24-07-1999 Nghị định số 60/1999/NĐ-CP điều chỉnh địa giới hành chính của huyện Mỹ Văn thành Mỹ Hào, Văn Lâm; huyện Châu Giang thành Khoái Châu, Văn Giang
Ngay khi tái lập tỉnh, ngày 1-1-1997 Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra quyết định thành lập Đảng bộ tỉnh gồm 36 đồng chí, Ban Thường vụ Tỉnh ủy lâm thời gồm 11 đồng chí, đồng chí Đặng Văn Cảo được chỉ định làm Bí thư Tỉnh ủy Ngày 2-1-1997, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 01/TTg thành lập Uỷ ban nhân dân lâm thời tỉnh Hưng Yên gồm 7 đồng chí, trong đó đồng chí Trần Đình Phú được chỉ định làm Chủ tịch
Hưng Yên là một tỉnh nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Hưng Yên nằm cách thủ đô Hà Nội 64 km về phía Đông Nam, cách thành phố Hải Dương 50 km về phía Tây
Trang 33Nam Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Ninh, phía Đông giáp tỉnh Hải Dương, phía Tây
và Tây Bắc giáp thủ đô Hà Nội, phía Nam giáp tỉnh Thái Bình và phía Tây Nam giáp tỉnh Hà Nam
Hưng Yên là một tỉnh nông nghiệp, mang đậm nét đặc trưng của nông thôn Việt Nam Tài nguyên thiên nhiên khá phong phú, ngoài đất đai phì nhiêu mầu mỡ, thuận lợi cho canh tác nông nghiệp, Hưng Yên còn có mỏ than nâu (thuộc bể than vùng đồng bằng sông Hồng) trữ lượng lớn nhất (hơn 30 tỷ tấn) chưa được khai thác, đây là tiềm năng cho ngành công nghiệp than, phục
vụ cho sản xuất, tiêu dùng và xuất khẩu
Hưng Yên có mạng lưới giao thông đa dạng: đường bộ, đường sắt, đường thủy, trong đó có những tuyến quan trọng chạy qua như tuyến đường sắt Hà Nội - Hải Phòng và tuyến Quốc lộ 5A, 5B…
Là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ kề cận với tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, Hưng Yên có nhiều ưu thế để
phát triển kinh tế công nghiệp và dịch vụ Tận dụng điều kiện địa lý, đất đai
thuận lợi, từ xa xưa Hưng Yên đã nổi tiếng với nhiều ngành nghề: trồng trọt, đánh bắt thủy sản, trồng dâu nuôi tằm Nghề thương mại buôn bán của Hưng Yên phát triển mạnh mẽ Trên địa bàn tỉnh có nhiều làng buôn bên sông, có nhiều người buôn bán khắp nơi bằng nghề thuốc bắc, thuốc lào Thời Lê - Trịnh, Phố Hiến là thương cảng nổi tiếng sầm uất
Trên địa bàn tỉnh hiện tại có nhiều khu công nghiệp lớn như Phố Nối A, Phố Nối B, khu công nghiệp Thăng Long II (Mitsutomo Nhật Bản), khu công nghiệp Như Quỳnh, khu công nghiệp Minh Đức, khu công nghiệp nhỏ Kim Động, khu công nghiệp Quán Đỏ Sản phẩm công nghiệp của tỉnh là dệt may, giày da, ô
tô, xe máy, công nghiệp thực phẩm Cơ cấu theo hướng phát triển kinh tế công nghiệp và dịch vụ đang là chủ đạo, khu đô thị Ecopark (Văn Giang), khu đô thị Phố Nối B, khu đô thị đại học Phố Hiến Hưng Yên cũng là nơi tập trung một số
cơ sở giáo dục lớn như trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên, trường Đại học Chu Văn An, trường Cao đẳng Bách khoa Hưng Yên…
Trang 34Hưng Yên là địa bàn quần cư của người Kinh, tỷ lệ dân số làm nông nghiệp cao, ước tính 80-90% Tuy nhiên, gần đây tỷ lệ này thay đổi một cách nhanh
chóng do tốc độ phát triển của công nghiệp, dịch vụ có xu hướng tăng nhanh hơn
Hưng Yên nổi tiếng về truyền thống văn hiến, là một trong những tỉnh
có nhiều lễ hội đặc sắc và nhiều di tích văn hoá, lịch sử, tín ngưỡng, trong đó,
có 172 di tích được Nhà nước xếp hạng Đặc biệt là di tích Phố Hiến - trung tâm giao thương sầm uất, phồn hoa bậc nhất vào thế kỷ XVI, XVII
Hưng Yên còn là nơi sinh thành của nhiều anh hùng hào kiệt, đã đi vào
lịch sử oai hùng chống ngoại xâm của dân tộc như: Triệu Quang Phục, Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Thiện Thuật…Nơi đây là vùng đất hội tụ của nền văn minh sông Hồng, nơi giao lưu của ba vùng văn hóa: xứ Đông, xứ Bắc và Sơn Nam,
có nhiều người đỗ đạt, quê hương của nhiều danh nhân văn hóa được sử sách ghi danh như: Nguyễn Trung Ngạn, Đoàn Thị Điểm, Lê Hữu Trác Hưng Yên còn là quê tổ của bà Hoàng Thị Loan - thân mẫu của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Là quê hương của nhiều nhà văn, nhà hoạt động văn hóa nghệ thuật có tên tuổi như Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Tô Ngọc Vân, Dương Quảng Hàm Trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hưng Yên cũng là quê hương của nhiều cán bộ cách mạng tiền bối, nhiều nhà chính trị có tên tuổi như Tô Hiệu, Nguyễn Bình…cùng bao tấm gương chiến đấu hi sinh khác đã góp phần tô đẹp cho truyền thống quê hương, làm rạng danh Tổ quốc Đặc biệt, người con ưu tú của quê hương – đồng chí Nguyễn Văn Linh, một trong những người góp phần kiến tạo đường lối đổi mới; Tổng Bí thư nhiệm kỳ đầu của thời kỳ đổi mới đất nước (1986-1991)
Như vậy, sau tái lập tỉnh, Hưng Yên có thuận lợi: là vùng đất văn hiến,
giàu truyền thống yêu nước và cách mạng, cùng với cả nước sau hơn mười năm đổi mới, Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh đã xây dựng được những nền tảng nhất định về nguồn nhân lực, về cơ sở vật chất, tạo đà cho những bước phát triển mạnh mẽ
Trang 35Đất đai trù phú, đa dạng, người dân có truyền thống cần cù lao động sản xuất Đảng bộ, chính quyền đã có một số kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác KT-XH Với vị trí nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, là cửa ngõ phía Đông của Thủ đô Hà Nội, có 23 km đường quốc lộ 5, có tuyến đường sắt chạy qua, Hưng Yên có thế mạnh lớn thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài, phát triển công nghiệp và dịch vụ Việc tái lập tỉnh hoàn toàn phù hợp với nguyện vọng của cán bộ và nhân dân toàn tỉnh và đáp ứng nhu cầu thời kỳ đổi mới [Phụ lục 12]
Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, Hưng Yên đã phát huy nội lực, với chính sách cởi mở, thông thoáng thu hút đầu tư nước ngoài, tình hình KT-XH sau những năm đầu tái lập đã có nhiều khởi sắc Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Nông nghiệp, nông thôn có nhiều chuyển biến tích cực, tỷ trọng giữa chăn nuôi và trồng trọt ngày càng cân đối Người nông dân bước đầu quan tâm đến sản xuất hàng hoá Công nghiệp dịch vụ có bước phát triển khá Công nghiệp địa phương tuy phải đối mặt với nhiều khó khăn, nhưng vẫn đạt được những thành tích đáng khích lệ Một số ngành hàng tiếp tục được củng cố, phát triển, đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ tạo ra những sản phẩm chất lượng cao Khối công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng nhanh, số dự án đi vào hoạt động tăng lên, sản phẩm được thị trường chấp nhận và có xu thế phát triển tốt
Từ điểm xuất phát thấp, trải qua nhiều khó khăn thử thách của một tỉnh mới tái lập, Hưng Yên đã nỗ lực vươn lên, hoàn thành tương đối toàn diện những nhiệm vụ mục tiêu chủ yếu của năm 1997 Năm 1997, một số chỉ tiêu chủ yếu về phát triển KT-XH của tỉnh đều đạt và vượt so với kế hoạch đề ra Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) tăng 13,58% so với năm 1996 (Kế hoạch đề ra trên 10%)
Bên cạnh những thuận lợi và thế mạnh cơ bản, Hưng Yên vẫn còn không ít khó khăn: Khó khăn lớn nhất là điểm xuất phát của tỉnh sau tái lập
còn thấp GDP bình quân đầu người năm 1996 khoảng 180 USD, thu nhập ngân sách trên địa bàn tỉnh chỉ đáp ứng 1/3 so với yêu cầu Trong nông
Trang 36nghiệp, cùng với việc chuyển dịch cơ cấu, việc khảo nghiệm, đánh giá các loại cây trồng từng vùng, từng vụ chưa tốt, chưa gắn với quy trình kỹ thuật đã hạn chế đến sản xuất; hệ thống cơ sở hạ tầng nông nghiệp chưa phát triển đồng bộ; lực lượng lao động dư thừa lớn, tỷ lệ lao động được đào tạo có trình
độ kỹ thuật, tay nghề còn thấp; bình quân đất nông nghiệp trên đầu người thấp (đạt 580m2/người), ruộng đất đa phần còn manh mún
Công nghiệp còn nhỏ bé, chưa tạo sức bật lớn cho kinh tế phát triển, nhiều chỉ tiêu kinh tế thấp hơn mức bình quân của các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ Ngành thương mại, dịch vụ và du lịch của tỉnh kém phát triển do chưa được quan tâm đầu
tư đúng mức Cơ sở vật chất của ngành giáo dục còn nghèo nàn, thiết bị dạy và học còn thiếu, đặc biệt là đối với ngành học mầm non Đội ngũ giáo viên thiếu và chưa đồng bộ Nhu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân chưa được đáp ứng đầy đủ Bộ máy và đội ngũ cán bộ cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan sự nghiệp, các đơn vị kinh doanh của tỉnh vừa thiếu, vừa ít kinh nghiệm trên một số lĩnh vực
Do phân hoá kinh tế không đồng đều gây khó khăn cho việc thu hút đầu
tư và phát triển kinh tế ở những vùng, khu vực còn chậm phát triển trong tỉnh Tình trạng ô nhiễm môi trường, thiếu việc làm cho người lao động bị thu hồi đất, tiêu cực trong xã hội nảy sinh
Qua khảo sát thực tế tỉnh Hưng Yên cho thấy những khó khăn của Đảng bộ tỉnh trong những năm đầu tái lập:
Sự chuyển đổi từ cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường còn lúng túng, trình độ cán bộ, đảng viên chưa tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới Khi tỉnh mới tái lập, lực lượng cán bộ, đảng viên mỏng, một số cán bộ, đảng viên yếu về năng lực, kém về phẩm chất đạo đức, sách nhiễu, phiền hà gây trở ngại cho công việc, tệ quan liêu, tham nhũng, thiếu dân chủ
ở một số nơi chậm được khắc phục gây bất bình trong nhân dân Một
bộ phận cán bộ, đảng viên giảm sút ý chí chiến đấu, chưa thẳng thắn
Trang 37trong đấu tranh tự phê bình và phê bình, chưa nghiêm túc tiếp thu, sửa chữa khuyết điểm, còn có biểu hiện mất đoàn kết, kèn cựa, cá nhân chủ nghĩa Cũng do điều kiện mới tái lập tỉnh nên cơ sở vật chất còn thiếu thốn, còn tình trạng phổ biến làm việc ghép, chung địa điểm giữa các phòng, ban trong các đơn vị, các tổ chức cơ sở đảng, gây ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả công việc [Phụ lục 13]
Những thuận lợi và khó khăn trên đã đặt ra cho công tác xây dựng Đảng nói chung và TCCSĐ nói riêng của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên trong nhiệm kỳ đầu tái lập tỉnh Trong đó, trước hết là khẩn trương kiện toàn và ổn định tổ chức, lãnh đạo nhân dân vượt qua khó khăn ban đầu, nhanh chóng ổn định và phát triển KT-XH
2.1.2.2 Thực trạng công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng khi tái lập tỉnh Hưng Yên (1997)
Trước khi tái lập tỉnh Hưng Yên, TCCSĐ trên địa bàn tỉnh trực thuộc Đảng bộ tỉnh Hải Hưng, lúc đó trên địa bàn tỉnh Hưng Yên có khoảng trên 44.000 đảng viên với trên 400 TCCSĐ [15, tr.12]
Đến khi tái lập tỉnh (năm 1997), Đảng bộ tỉnh Hưng Yên có hệ thống TCCSĐ là: 10 Đảng bộ cấp huyện, thị xã và 3 Đảng bộ trực thuộc với 44.129 đảng viên sinh hoạt ở 451 TCCSĐ Trong đó bao gồm các loại hình: xã, phường, thị trấn có 140 TCCSĐ, chiếm 31%; khối sản xuất kinh doanh 90 TCCSĐ, chiếm 19,9%; quân đội, công an 40 TCCSĐ, chiếm 8,86%; Cơ sở đảng trong các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp và loại hình khác 181 TCCSĐ, chiếm 40,1% [102, tr.1]
Những năm đầu tái lập: Toàn tỉnh có các loại hình chi bộ nông thôn
xã, phường, thị trấn, chi bộ hành chính sự nghiệp, chi bộ công an, bộ đội, chi bộ doanh nghiệp Nhà nước Trong đó chi bộ cơ sở xã, phường, thị trấn có ảnh hưởng lớn, vì đây là nơi đưa những chủ trương chính sách của Đảng vào cuộc sống, gần dân nhất, còn các tổ chức đảng thuộc loại hình khác chủ yếu mang tính chất chuyên
Trang 38ngành Từ sau 2005 có thêm loại hình TCCSĐ dân quân tự vệ ở một
số xã và thêm tổ chức đảng thuộc doanh nghiệp tư nhân [Phụ lục 12] Kết quả khảo sát chất lượng TCCSĐ và đảng viên của tỉnh Hưng Yên năm 1997, tổng số TCCSĐ ở tỉnh Hưng Yên có 451, trong đó 295 TCCSĐ đạt trong sạch vững mạnh, chiếm 65,44%; có 29 TCCSĐ được Tỉnh ủy tặng Bằng khen, chiếm 6,4%; có 137 TCCSĐ được tặng Giấy khen, chiếm 30,4%; 129 TCCSĐ được công nhận đạt TSVM, chiếm 28,61%; 134 TCCSĐ đạt loại khá
và 22 TCCSĐ yếu kém; 3 TCCSĐ bị khiển trách, chiếm 0,67%, và 2 TCCSĐ
bị cảnh cáo, chiếm 0,44% Phân tích chất lượng đảng viên năm 1997: Tổng số 45.401 đảng viên trong đó có 41.997 đảng viên dự phân loại chiếm 92,50%;
số đảng viên đủ tư cách loại I là 32.595 đảng viên chiếm 71,79%; đảng viên
đủ tư cách nhưng hạn chế từng mặt loại II là 8.718 đảng viên, chiếm 19,20%,
do trình độ năng lực 2.585 đảng viên, chiếm 5,69%, do hoàn cảnh gia đình khó khăn 2.340 đảng viên, chiếm 5,15%, yếu kém từng mặt 3.793 đảng viên, chiếm 8,35%; đảng viên vi phạm tư cách, đảng viên đăng ký phấn đấu tiếp
291 đảng viên, chiếm 0,64%, bị khiển trách 218 đảng viên, chiếm 0,48%, cảnh cáo 60 đảng viên, chiếm 0,13%, cách chức 13 đảng viên, chiếm 0,03%; đảng viên không đủ tư cách bị khai trừ 59 đảng viên, chiếm 0,13% [102, tr.4]
Nhiều TCCSĐ còn nghèo nàn về nội dung phương thức trong sinh hoạt Đảng Do vậy, cán bộ, đảng viên và quần chúng chưa nhận thức đúng đắn, sâu sắc
về yêu cầu, mục tiêu của phong trào Nhiều tổ chức đảng, nhất là của cấp uỷ cơ sở chưa giành thời gian bàn chuyên đề về công tác thi đua, chưa thực hiện đúng quy trình đăng ký, chỉ đạo thi đua theo tinh thần chỉ thị của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ
Việc cụ thể hoá tiêu chuẩn cơ sở đảng TSVM để xây dựng tiêu chuẩn thi đua cho các tổ chức thuộc hệ thống ở một số Đảng đoàn, Ban cán sự Đảng còn chậm, chưa thật hoàn chỉnh, đồng bộ Công tác kiểm tra, hướng dẫn chưa thường xuyên, kiên quyết Những chủ trương, kế hoạch của Tỉnh uỷ nhằm ngăn chặn yếu kém chưa được thực hiện nghiêm túc, nhất là việc xem xét giải quyết những tồn tại, sai phạm trong quản lý đất đai, huy động và quản lý xây dựng cơ sở hạ
Trang 39tầng v.v Trong khi đó, chất lượng sinh hoạt Đảng, tự phê bình và phê bình ở chi bộ, Đảng bộ còn nhiều hạn chế chậm được khắc phục Một số nơi cấp uỷ cấp trên thiếu sâu sát, nương nhẹ với cơ sở, xử lý không kiên quyết, không tập trung giải quyết để cơ sở yếu kém kéo dài, có nơi nghiêm trọng hoặc phát sinh mới
Bên cạnh những bất cập khó khăn trên, công tác xây dựng TCCSĐ ở Hưng Yên những năm đầu tái lập tỉnh còn khó khăn về những điều kiện cơ sở vật chất, đặc biệt về đội ngũ cán bộ:
Nhiều địa phương chỉ có duy nhất một phòng họp là phòng sinh hoạt chung với các tổ chức đoàn thể khác, không có cơ sở riêng cho Đảng bộ xã hoạt động, ở các chi bộ thôn còn có hiện tượng sinh hoạt chi bộ tại nhà đồng chí Bí thư chi bộ, khó khăn nhất là khâu con người Do tách tỉnh nên rất thiếu cán bộ, cán bộ huyện thì luân chuyển lên tỉnh, cán bộ xã thì lên huyện, còn lại cán bộ xã thì nói thật là yếu [Phụ lục 14]
Thực trạng công tác xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên trong những năm đầu tái lập phải đối mặt với nhiều thách thức, khó khăn, đòi hỏi sự nỗ lực của toàn Đảng bộ trong công tác xây dựng Đảng nói chung, xây dựng TCCSĐ nói riêng
2.2 CHỦ TRƯƠNG VÀ QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HƯNG YÊN (1997 - 2000)
2.2.1 Chủ trương của Trung ương Đảng về xây dựng tổ chức cơ sở đảng (1997-2000)
Trước yêu cầu của thời kỳ mới, việc xây dựng TCCSĐ trong sạch vững mạnh là một nội dung quan trọng của công cuộc đổi mới và chỉnh đốn Đảng Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (6-1996), Đảng chỉ đạo, trong công tác xây dựng Đảng phải thường xuyên nắm vững và quán triệt, kiện toàn hệ thống tổ chức đảng, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ Nâng cao sức năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ Đại hội cũng nhấn mạnh việc “…khảo sát kỹ từng loại hình tổ chức cơ sở đảng, đánh giá đúng thực
Trang 40trạng và nguyên nhân để có biện pháp đổi mới, chỉnh đốn phù hợp Bảo đảm cho mỗi loại hình hoạt động đúng chức năng và nhiệm vụ của mình” [27, tr.147]
Đại hội chỉ rõ cần phát huy kết quả, kinh nghiệm lãnh đạo thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương (khóa VII), để chỉ đạo tốt cuộc vận động xây dựng TCCSĐ trong sạch, vững mạnh; chấn chỉnh các cơ sở yếu kém; khắc phục việc buông lỏng công tác Đảng; ở những nơi nội bộ Đảng mất đoàn kết, cán bộ chủ chốt có nhiều biểu hiện tiêu cực thì cấp trên phải chỉ đạo, giúp đỡ trực tiếp Nghị quyết Đại hội nêu yêu cầu:
Hướng chủ yếu củng cố, chỉnh đốn các tổ chức cơ sở đảng là phải làm cho các cơ sở này quán triệt đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, đề ra chủ trương, giải pháp đúng và lãnh đạo tổ chức thực hiện tốt các nhiệm vụ của đơn vị, phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống của người lao động, chống tham nhũng, ức hiếp quần chúng, lãnh đạo giải quyết những nguyện vọng chính đáng, thiết thực, bức xúc của nhân dân…Các tổ chức cơ sở đảng phải động viên và tổ chức nhân dân thường xuyên tham gia xây dựng Đảng;
đóng góp ý kiến xây dựng các nghị quyết của Đảng [29, tr.724]
Nghị quyết nhấn mạnh về xây dựng TCCSĐ để khắc phục các tổ chức cơ sở yếu kém, đặc biệt là làm rõ được những nhiệm vụ chủ yếu cụ thể của TCCSĐ
Ngày 19-11-1996, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Quy
định số 12-QĐ/TW, về việc đình chỉ sinh hoạt của đảng viên, đình chỉ sinh
hoạt cấp uỷ, của cấp uỷ viên, đình chỉ sinh hoạt của tổ chức Đảng
Thực hiện tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Quy định số 29-QĐ/TW ngày 2 - 6 -
1997, quy định về thi hành Điều lệ Đảng Quy định cụ thể việc thi hành Điều 10
(điểm 2,3); Điều 21 (điểm 3, 4, 5) khi lập tổ chức đảng ở những nơi có đặc điểm riêng; lập cơ cấu tổ chức ở các cơ sở đảng có đặc điểm khác nhau; lập, hoặc giải thể đảng bộ, chi bộ trực thuộc