Một số đặc điểm tiền sử sử dụng ma túy của bệnh nhân được điều trị thay thế các CDTP bằng Methadone...21 3.2... Những người bỏ trị có nguy cơrất cao quay lại với các CDTP bất hợp phápher
Trang 1Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân em.
Các số liệu, kết quả trong khóa luận này là hoàn toàn trung thực, kháchquan và chưa từng được công bố trên bất cứ tài liệu nào.Nếu có gì sai sót emxin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Sinh viên
Thân Thị Thúy
Trang 2Để hoàn thành khóa luận này em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sự tri
ân sâu sắc đối với Ban giám hiệu, thầy chủ nhiệm cùng các thầy cô khoa Y tếcông cộng trường Đại học Y Dược Hải Phòng đã quan tâm và chỉ bảo tận tình
em trong quá trình thực hiện đề tài
Đặc biệt với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc em xin gửi lời cảm ơnchân thành tới Thạc sỹ, Bác sỹ Trần Thị Bích Hồi đã hết lòng giúp đỡ, dạybảo và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập và hoànthành khóa luận tốt nghệp
Em xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ của cơ sở điều trị Methadone AnLão – Trung tâm Y tế huyện An Lão đã nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trìnhthu thập số liệu tại trung tâm
Cuối cùng, con xin được cảm ơn gia đình đã luôn ủng hộ, động viên vàtạo điều kiện tốt nhất để con hoàn thành khóa luận này
Mặc dù bản thân đã rất cố gắng nhưng trong quá trình thực hiện khóa luậnkhông thể tránh khỏi sai sót, em rất mong nhận được những ý kiến đóng gópcủa quý thầy cô và bạn bè
Sinh viên
Thân Thị Thúy
Trang 3AIDS : Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người
ARV : Antiretroviral (thuốc kháng vius)
UNODC : Cơ quan phòng chống ma túy và tội phạm của Liên Hợp
Quốc
WHO : Tổ chức Y tế thế giới
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Ma túy và tình hình sử dụng ma túy 3
1.2 Tình hình dịch HIV/AIDS ở nhóm nghiện chích ma túy 6
1.3 Thông tin chung về điều trị thay thế các CDTP bằng Methadone 8
1.4 Tình hình thực tế áp dụng điều trị thay thế các CDTP bằng Methadone .13
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1 Đối tượng nghiên cứu 17
2.2 Địa điểm nghiên cứu 17
2.3 Thời gian nghiên cứu 17
2.4 Phương pháp nghiên cứu 17
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 21
3.1 Một số đặc điểm tiền sử sử dụng ma túy của bệnh nhân được điều trị thay thế các CDTP bằng Methadone 21
3.2 Tỷ lệ tuân thủ điều trị và một số yếu tố liên quan đến việc bỏ trị của bệnh nhân được điều trị thay thế các CDTP bằng Methadone 27
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 36
KẾT LUẬN 48
KIẾN NGHỊ 50 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5Hải Phòng là thành phố duyên hải nằm ở hạ lưu của hệ thống sông TháiBình thuộc đồng bằng sông Hồng, là thành phố đông dân thứ 3 ở Việt Nam,sau Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh[7] Do có vị trí địa lý thuận lợi cũngnhư được sự quan tâm và đầu tư của Chính phủ nền kinh tế của Hải Phòngnhững năm qua đã có những bước phát triển vượt bậc và đạt được nhiều thànhtựu lớn Bên cạnh sự phát triển về kinh tế thì Hải Phòng cũng phải đối mặt với
sự gia tăng của các tệ nạn xã hội, đặc biệt là tệ nạn ma túy
Do những hậu quả nghiêm trọng mà ma túy đã gây ra cho chính bản thânngười nghiện, cho gia đình, cho xã hội và đất nước thì việc tổ chức cai nghiệncho người nghiện ma túy là cần thiết nhằm giúp họ từ bỏ sự phụ thuộc vàochất gây nghiện, giảm tác hại do nghiện các CDTP, đồng thời trang bị, phụchồi cho họ các kỹ năng sống và kỹ năng lao động để đảm bảo thực hiện đầy
đủ các vai trò của mình trong gia đình và xã hội Hiện nay, tại nhiều nước trên
Trang 6thế giới một phương pháp được sử dụng rộng rãi và rất hiệu quả, đó làphương pháp điều trị thay thế các dạng thuốc phiện bằng Methadone Phươngpháp này cũng được áp dụng ở Việt Nam từ tháng 4/2008 với 6 cơ sở đầu tiên
ở 2 thành phố TP Hải Phòng và TP Hồ Chí Minh
Tuy nhiên,điều trị thay thế các chất dạng thuốc phiện (CDTP) bằngMethadone là điều trị lâu dài, thời gian điều trị phụ thuộc vào từng ngườibệnh nhưng thường không dưới một năm, điều này làm cho việc duy trì điềutrị của bệnh nhân và cả sự quản lý của nhân viên y tế rất khó khăn Thêm vào
đó, hàng ngày bệnh nhân phải đến cơ sở điều trị để uống thuốc nên nhữngbệnh nhân ở xa sẽ rất vất vả Hơn nữa phải uống thuốc trong giờ hành chínhnên sẽ ảnh hưởng đến công việc của họ Nhiều người sẽ không theo được mà
bỏ dởđiều trị giữa chừng làm điều trị thất bại, không đạt được kết quả mongmuốn, lãng phí thời gian, nhân lực và tiền của Những người bỏ trị có nguy cơrất cao quay lại với các CDTP bất hợp pháp(heroin, ATS…) làm gia tăng tìnhtrạng mất trật tự xã hội và tăng tỷ lệ lây nhiễm các bệnh như HIV, viêm ganB,C… Vì vậy việc tuân thủ điều trị trong điều trị thay thế nghiện các chấtdạng thuốc phiện bằng Methadone là rất quan trọng Do đó em đã chọn và
nghiên cứu đề tài:“Một số đặc điểm tiền sử sử dụng ma túyvà sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân điều trị Methadone tại Trung tâm y tế huyện An Lão từ tháng 1/2012 đến tháng 3/2015” nhằm mục tiêu:
1 Mô tảmột số đặc điểm tiền sử sử dụng ma túy của bệnh nhân được điều trị nghiện các CDTP bằng Methadone từ tháng 1/2012 đến tháng 3/2015.
2 Xác định tỷ lệ tuân thủ điều trị và mô tả một số yếu tố liên quan đến việc
bỏ trị của bệnh nhân điều trị nghiện các CDTP bằng methadone từ tháng 1/2012 đến tháng 3/2015.
Trang 7để có được những hiệu ứng về mặt tâm thần của ma túy và thoát khỏi sự khóchịu, vật vã do thiếu ma túy[31],[32].
Các CDTP như thuốc phiện, morphine, heroin, là những chất gây nghiệnmạnh (gây khoái cảm mạnh), thời gian tác dụng nhanh nên người bệnh nhanhchóng xuất hiện triệu chứng nhiễm độc thần kinh trung ương, thời gian bánhủy ngắn do đó phải sử dụng nhiều lần trong ngày và nếu không sử dụng lạisẽ
bị hội chứng cai Vì vậy, người nghiện CDTP (đặc biệt heroin) luôn dao độnggiữa tình trạng nhiễm độc hệ thần kinh trung ương và tình trạng thiếu thuốc(hội chứng cai) nhiều lần trong ngày, là nguồn gốc dẫn họ đến những hành vinguy hại cho bản thân và những người khác [16]
Từ rất xa xưa các bộ lạc ở châu Á, châu Mỹ, châu Phi, châu Úc đãbiết cách
sử dụng các chất ma túy có nguồn gốc thực vật (thuốc phiện, cần sa, coca…)vào nhiều mục đích khác nhaunhưchữa bệnh, làm vơiđi nỗi đau buồn, vào lễhội… Vì vậy lịch sử của các chất ma túy và nghiện ma túy gắn liền với lịch
Trang 8sử đấu tranh của con người chống lại sự đau đớn của cơ thể, đau khổtâm thần
và lịch sử y học Đầu thế kỷ 19, Morphine được chiết xuấttừ thuốc phiện và
mở đầu cho việc sản xuất các chất ma túy bán tổng hợp và ma túy tổng hợp đadạng như hiện nay [16]
Ở Việt Namtừ xa xưa,người dân cáctỉnh miền núi phía Bắc đã biếttrồng câythuốc phiện và sử dụng thuốc phiện vào các mục đích chữa bệnh, cúng lễ…dầndần hútthuốc phiện trở thành tậptính ở nhiều vùng trong cả nước Sau năm
1975 giải phóng miền Nam và đặc biệt trong thập kỷ 90, các chất ma túy ởViệt Nam cũng đầy đủ các đặc điểm của nghiện ma túy hiện đại của thế giới(đa dạng chất ma túy, đa dạng cách sử dụng) và người nghiện ma túy chủ yếu
là nam giới [16]
1.1.2 Tình hình sử dụng ma túy
Theo báo cáo tình hình ma túy toàn cầu năm 2014 của Cơ quan phòngchống tội phạm và ma túy của Liên Hợp Quốc (UNODC), tỷ lệ sử dụng matúy trên toàn cầu hiện đang ở mức gần 250 triệu người và vẫn không ngừnggia tăng
Lượng ma túy hầu hết đến từ 3 khu vực chính, đó là Tam giác vàng ở Châu
Á và Lưỡi liềm vàng ở khu vực Trung Đông cung cấp tới 80% lượng herointoàn thế giới Kết hợp cùng với 2 khu vực trên, cộng với Tam giác trắng ở
Mỹ -Latinh đã tạo nên hiểm họa về cái chết trắng trên toàn thế giới
Đến cuối tháng 9/2014, cả nước có 204.377 người nghiện ma túy có hồ sơquản lý(trên thực tế số người sử dụng ma túy còn lớn hơn rất nhiều) Kết quảthống kê cho thấy số người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý đã tăng gần 4 lầntrong 20 năm kể từ năm 1994 đến nay (năm 1994 là 55.445 người, trung bìnhmỗi năm tăng khoảng 7.000 người) Những năm gần đây số người nghiện matúy của Việt Nam luôn gia tăng, mức tăng trung bình mỗi năm khoảng 6%
Trang 9Năm 2000, có khoảng 60.000 người nghiện thì năm 2014 có trên 200.000người nghiện [25].
Người nghiện ma túy đã có 100% các tỉnh, thành phố, gần 90% quận,huyện và khoảng 70% số xã, phường, thị trấn Người nghiện cũng đã xuấthiện ở mọi thành phần trong xã hội: học sinh, sinh viên, cán bộ công chức,viên chức, người lao động…[1]
Cơ cấu người nghiện ma túy theo vùng miền cũng đã có những thay đổiđáng kể Nếu như giữa những năm90của thế kỷtrước,nghiện matúychủ yếuphổ biến ở người dân tại các tỉnh miền núi phía Bắc thì từ giữa những năm
2000 đã tăng mạnh xuống vùng đồng bằng sông Hồng và khu vực miền ĐôngNam bộ Năm 1994 cótới hơn 61% người nghiện ma túy ở Việt Nam thuộckhu vực các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc thì tới năm 2009 tỷ lệ này làgần 30% Ngược lại, tỷ lệ người nghiện ma túy thuộc vùng đồng bằng
sông Hồng trong tổng số người nghiện ma túy của cả nước đã tăng từ 18,2%lên 31% trong cùng kỳ Tươngtự,tỷ lệ người nghiện matúythuộc cáctỉnhmiền Đông Nam bộ đã tăng từ 10,2% lên 23% [2]
Theosốliệu khảo sátcủa Bộ Lao độngThương binh và Xã hộitại thời điểmcuối năm2009, đasố người nghiện ma túy có trình độ văn hóa thấp, khoảng10% không biết chữ, 59% có trình độ văn hóatừtiểu học tới trung học cơ sở
Có khoảng 2/3 số người nghiện chưa từng được đào tạo nghề; gần 20% đãđược học nghề nhưng không được cấp bằng, chứng chỉ; khoảng 12% đượcđào tạo nghề một cách chính quy, được cấp bằng, chứng chỉ tốt nghiệp Đa sốngười nghiện ma túy không có nghề nghiệp ổn định, chi tiêu chủ yếu từnguồn hỗ trợ của gia đình, thu nhập hợp pháp chỉ bằng 1/3 số tiền chi cho matúy [2]
Trong số người nghiện ma túy: 96% là nam giới, 4% là nữ giới, 74% ở độtuổi 18 – 35, có 1% dưới tuổi 18[1]
Trang 10Loại ma túy được sử dụng và hình thức sử dụng ma túy cũng có nhiều thayđổi phức tạp Thay cho vai trò của thuốc phiện trong hơn 10 năm trước đây,heroin hiện là loại ma túy được sử dụng chủ yếu ở Việt Nam, có 96,5% ngườinghiện thường xuyên sử dụng heroin trước khi tham gia cai nghiện Mặc dù tỷ
lệ người nghiện thuốc phiện và các chất kích thích dạng Amphetamin (ATShay ma túy tổng hợp) tương đương nhau, khoảng 1,2% - 1,4% nhưng theođánh giá của UNODC, việc lạm dụng ATS, đặc biệt là Methaphetamin, đang
có xu hướng gia tăng trong người nghiện ma túy tại Việt Nam, nhất là khiViệt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á là khu vực chiếm ½ số người lạmdụng loại ma túy này trên toàn thế giới Việc gia tăng lạm dụng các loại matúy tổng hợp khiến cho công tác phòng ngừa và cai nghiện phục hồi cho nhómngười nghiện ma túy gặp rất nhiều khó khăn [2]
Cáchthức sử dụng ma túy cũng có nhiều thay đổi Nếu như năm 1995 chỉ
có chưa đến 8% số người nghiện tiêm chích ma túy và hơn 88% chủ yếu hút,hít thì tới cuối năm 2009 số người chích ma túy chiếm hơn ¾ tổng số ngườinghiện ma túy của cả nước.Hìnhthức sử dụng ma túy chủ yếu là tiêm chíchvới việc dùng chung bơm kim tiêmđãdẫn tới tỷ lệ lây nhiễm HIV cao trongnhómngười nghiệnchíchmatúy(17,2%).Theo số liệutừ Bộ Y tế, người nghiệnchích ma túy cũng là nhóm đối tượng chiếm tỷ lệ cao nhất trong số nhữngngười nhiễm HIV ở Việt Nam (41,1% tính đến cuối tháng6/2011)[2]
1.2 Tình hình dịch HIV/AIDS ở nhóm nghiện chích ma túy
HIV (Human Immunodefiency Virus) là virus gây ra hội chứng suy giảmmiễn dịch mắc phải ở người HIV gây tổn thương hệ thống miễn dich của cơthể và làm cho cơ thể không còn khả năng chống lại các tác nhân gây bệnhdẫn đến chết người [30]
Trang 11AIDS (Acquired Immune Deficiency Syndrome) là giai đoạn cuối cùng củaquá trình nhiễm HIV được thể hiện bởi các bệnh nhiễm trùng cơ hội, ung thư
và các bệnh liên quan đến rối loạn miễn dịch dẫn đến tử vong [30]
Trường hợp nhiễm HIV đầu tiên ở Việt Nam được phát hiện vào tháng12/1990, sau đó dịch đã lan rộng khắp cả nước và tăng lên nhanh chóng Tínhđến hết 30/9/2014, số lũy tích các trường hợp báo cáo hiện nhiễm HIV là224.223 trường hợp, số bệnh nhân AIDS là 69.617 và đã có 70.734 trườnghợp tử vong do AIDS Số người nhiễm HIV phát hiện mới có xu hương giảmtrong 7 năm gần đây, tuy nhiên vẫn ở mức cao khoảng 12.000 – 14.000 camỗi năm Mặc dù số nhiễm HIV phát hiện mới có xu hướng giảm, nhưng tổng
số người đang nhiễm HIV ngày càng gia tăng Hiện đã có 80,3% số xã,phường, thị trấn và 98,9% số quận, huyện đã báo cáocó người nhiễm HIV [8].Phân bố người nhiễm HIV theo các nhóm đối tượng: tỷ lệ người nhiễmHIV là người nghiện chích ma túy vẫn chiếm chủ yếu (10,3%), sau đó lànhóm quan hệ tình dục đồng giới nam (3,9%) và nhóm phụ nữ bán dâm(2,6%) [3]
Kết quả giám sát trọng điểm HIV năm 2013 cho thấy tỷ lệ nhiễm HIVtrong nhóm nghiện chích ma túy tiếp tục có xu hướng giảm, năm 2013 tỷ lệnày là 10,3% giảm 1,3% so với năm 2012 (11,6%) Tất cả các vùng trong cảnước tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy đều giảm, tuy nhiên tỷ
lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy có sự khác nhau giữa các khuvực, tỷ lệ này ở các tỉnh đồng bằng Bắc bộ là 14,9%;khu vực miền núi phíaBắc 12,1%; ở các tỉnh miền Đông Nam bộ là 9,6%; các tỉnh Bắc Trung bộ là7,9%; khu vực đồng bằng sông Cửu Long 9,1%; khu vực Tây Nguyên 5,7%;khu vực duyên hải miền Trung 3,8% Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiệnchích ma túy tập trung cao ở các tỉnh ở khu vực miền núi phía Bắc và đồngbằng Bắc bộ và Tp Hồ Chí Minh (Thái Nguyên 32%; Lai Châu 27,7%; Hà
Trang 12Nội 24%; Quảng Ninh 22,4%; Tp Hồ Chí Minh 18,24%; Cao Bằng 17,2%;Lạng Sơn 15,6%; Hải Phòng 14,67%; Sơn La 14,3%) [3].
Theosố liệu thống kê của Trung tâm phòng chống HIV/AIDS Tp HảiPhòng năm 2014 cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy
là 14%[23] giảm 0,67% so với năm 2013là 14,67%[22], tỷ lệ này cao hơn sovới tỷ lệ chung cả nước 10,3%[3] Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích
ma túy tại Hải Phòng vẫn ở mức cao đứng thứ 8 trong cả nước Tuy nhiên tỷ
lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy có xu hướng giảm trong nhiềunăm gần đây từ 18,7% năm 2011 xuống còn 14% năm 2014
1.3.Thông tin chung về điều trị thay thế các CDTP bằng Methadone
1.3.1 Định nghĩa Methadone
Methadone là một CDTP tổng hợp, có tác dụng dược lý tương tự như cácCDTP khác (đồng vận) nhưng không gây nhiễm độc hệ thần kinh trung ương
và không gây khoái cảm ở liều điều trị, có thời gian bán huỷ dài (trung bình là
24 giờ) nên chỉ cần sử dụng 1 lần trong 1 ngày là đủ để không xuất hiện hộichứng cai Methadone có độ dung nạp ổn định nên ít phải tăng liều khi điềutrị lâu dài[4]
Điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone là một điều trịlâu dài, có kiểm soát, giá thành rẻ, được sử dụng theo đường uống, dưới dạngsiro nên giúp dự phòng các bệnh lây truyền qua đường máu như HIV, viêmgan B, C, đồng thời giúp người bệnh phục hồi chức năng tâm lý, xã hội, laođộng và tái hoà nhập cộng đồng
1.3.2.Mục đích của việc điều trị thay thế bằng Methadone
Hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam, việc điều trị thay thế nghiệncác CDTP bằng thuốc Methadone nhằm 3 mục đích chủ yếu sau[4]:
1 Giảm tác hại do nghiện các CDTP gây ra như: lây nhiễm HIV, viêmgan B, C do sử dụng chung dụng cụ tiêm chích, tử vong do sử dụng quá
Trang 13liều các CDTP và hoạt động tội phạm.
2 Giảm sử dụng các CDTP bất hợp pháp, giảm tỷ lệ tiêm chích CDTP
3 Cải thiện sức khoẻ và giúp người nghiện duy trì việc làm, ổn địnhcuộc sống lâu dài, tăng sức sản xuất của xã hội
1.3.3 Dược lý lâm sàng của Methadone
1.3.3.1 Dược lực học
Methadone là một chất đồng vận với các CDTP, tác động chủ yếu trên cácthụ thể muy (μ) ở não Tương tự như các CDTP khác, Methadone có tác dụnggiảm đau, giảm ho,yên dịu, giảm hô hấp và gây nghiện nhưng gây khoái cảmyếu[4]
b) Thời gian bán hủy trung bình 24 giờ
c) Đặctínhdượcđộng học của Methadone thay đổi theo từng người nghiện.1.3.3.2.3.Chuyển hoá
a) Chuyển hóa chủ yếu ở gan thông qua men cytochrome P450
Trang 14b) Chất chuyển hóa của Methadone không có tác dụng.
có thể vẫn tồn tại trong quá trình điều trị
1.3.3.4.Tương tác thuốc
1.3.3.4.1 Nhiều người bệnh đang điều trị Methadone đồng thời đang đượcđiều trị HIV/AIDS hoặc các bệnh lý khác kèm theo, do vậy cần lưu ý đặc biệtđến các tương tác giữa thuốc Methadone với các thuốc khác như: thuốc khángRetrovirus (ARV), thuốc điều trị lao, điều trị các bệnh nhiễm trùng cơ hội,thuốc an thần, gây ngủ, thuốc giảm đau các loại Tương tác giữa thuốcMethadone với những thuốc tác động vào hệ thống men cytochrome P450(CYP450) có thể dẫn tới:
- Giảm hiệu quả của liệu pháp điều trị duy trì bằng Methadone
- Giảm hiệu quả của liệu pháp điều trị ARV
- Ngộ độc và các tác dụng không mong muốn
- Giảm tuân thủ điều trị
Trang 151.3.3.4.2 Việctiênlượng trước những tương tác có thể xảy ra giữa thuốcMethadone và các thuốc khác là rất quan trọng giúp quyết định đổi loại thuốchoặc thay đổi liều Methadone khi cần thiết.
1.3.3.4.3.Các thuốc có tương tác với thuốc Methadone có thể làm tăng hoặcgiảm chuyển hóa
a) Cácthuốckích thích hệ thống CYP3A có thể gây tăng chuyển hóaMethadone do vậy làm giảm nồng độ Methadone trong máu, hậu quả làxuất hiện các dấu hiệu và triệu chứng của hội chứng cai Những thuốcthuộc nhóm này bao gồm: Efavirenz (EFV); Nevirapine (NVP), Lopinavir/Ritonavir (LPV/R); Ritonavir (RTV); Rifampicine
b) Các thuốc ức chế hệ thống CYP3A có thể làm giảm chuyển hóa Methadone
do vậy làm tăng nồng độ Methadone trong máu, hậu quả là xuất hiện cácdấu hiệu và triệu chứng của ngộ độc Methadone Các thuốcthuộc nhóm nàybaogồm: Fluconazole,Itraconazole, Ketoconazole, Ciprofloxacine,Fluvoxamine (SSRI), Sertraline (SSRI) Mặc dù có thể gây tăng nồng độMethadone trong máu sau khi sử dụng các loại thuốc này nhưng rất hiếmkhi xuất hiện các triệu chứng lâm sàng như buồn ngủ
c) Methadone có thể làm thay đổi nồng độ một số thuốc khác trong máu và lànguyên nhân dẫn đến ngộ độc thuốc (ví dụ như AZT, IMAO và thuốcchống trầm cảm ba vòng) Methadone cũng có thể làm giảm nồng độ một
số thuốc trong máu và là nguyên nhân dẫn đến thiếu liều thuốc (ví dụ nhưDDI) Ngộ độc AZT có thể biểu hiện giống như các dấu hiệu của hội chứngcai
1.3.3.4.4.Nguyên tắc xử trí tương tác thuốc
a) Luôn hỏi người bệnh về những loại thuốc họ đang sử dụng kèm theo vớithuốc Methadone
Trang 16b) Tiên lượng các tương tác thuốc có thể xảy ra, cần lưu ý các loại thuốc cótương tác với Methadone (xem chi tiết tại Phụ lục I ban hành kèm theoHướng dẫn này) Hạn chế tối đa việc sử dụng các loại thuốc có tương tácvới thuốc Methadone Khi có thể, nên dùng các loại thuốc không có tươngtác với Methadone.
c) Sự tương tác thuốc là rất khác nhau ở mỗi người bệnh do vậy rất khó để dựđoán về mức độ và thời gian tương tác để quyết định thay đổi liều thíchhợp.Khi điều chỉnh liều Methadone nên dựa trên đáp ứng lâm sàng củangười bệnh hơn là dựa trên dự đoán về các tương tác có thể xảy ra
d) Không nên bắt đầu liệu pháp điều trị bằng thuốc khác (lao, ARV) trong giaiđoạn khởi liều Methadone (2 tuần đầu) để tránh sự nhầm lẫn giữa ngộ độc,tác dụng không mong muốn và các tương tác thuốc có thể xảy ra Cáctrường hợp bệnh nhân đang mắc các rối loạn tâm thần, cần bắt đầu điều trịrối loạn tâm thần càng sớm càng tốt
e) Phải quan sát và theo dõi chặt chẽ người bệnh đang điều trị Methadone mà
sử dụng đồng thời những thuốc có tương tác với Methadone để phát hiện
và xử trí kịp thời
f) Phải cập nhật và ghi hồ sơ đầy đủ tất cả những thuốc mà người bệnh đang
sử dụng: chẩn đoán, tên thuốc, liều dùng, thời gian sử dụng, cơ sở điều trịcho chỉ định (kể cả thuốc bệnh nhân tự mua), tương tác thuốc và cách xử trí
Trang 17viêm loét đại tràng, co thắt đường tiết niệu và đường mật.
- Các rối loạn tâm thần nặng mà chưa được điều trị ổn định: tâm thần phânliệt, rối loạn cảm xúc lưỡng cực, trầm cảm có ý tưởng và hành vi tự sát
- Đang điều trị bằng thuốc đồng vận, đối vận, hoặc vừa đồng vận vừa đốivận với CDTP (LAAM, naltrexone, buprenorphine)
1.3.3.7 Thận trọng
Thận trọng khi chỉ định cho các đối tượng sau:
Người bệnh nghiện nhiều loại ma túy
Người bệnh nghiện rượu
Người bệnh sử dụng đồng thời các thuốc gây tương tác thuốc
Người bệnh có tiền sử sử dụng naltrexone
Người bệnh tâm thần đang sử dụng các thuốc hướng thần
Người bệnh đau mạn tính, hen phế quản, suy thượng thận, suygiáp, phì đại tuyến tiền liệt, đái tháo đường
1.4 Tình hình thực tế áp dụng điều trị thay thế các CDTP bằng Methadone
Tại Hồng Kông triển khai chương trình điều trị nghiện các CDTP bằngMethadone từ năm 1972, hiện nay Hồng Kông có 20 cơ sở điều trị Methadoneđang hoạt động Tổng số người đăng ký tham gia chương trình Methadone là
Trang 188.159 người Trung bình hàng ngày có khoảng 6.214 trường hợp tham giađiều trị [26].
Tại Trung Quốc từ đầu năm 2004 đã triển khai chương trình Methadone tại
cơ sở điều trị ở 5 tỉnh Đến 30/9/2011, Trung Quốc đã có 716 cơ sở điều trị tại
28 tỉnh, thành phố với khoảng 133.000 bệnh nhân đang điều trị [26]
Tại Malaysia từ tháng 10/2005 bắt đầu triển khai chương trình Methadone.Đến cuối năm 2010 đã điều trị cho gần 20.700 người nghiện tại 211 cơ sởđiều trị bao gồm cả nhà nước và tư nhân [26]
Tại Thái Lan đưa chương trình điều trị nghiện các CDTP bằng Methadonevào hoạt động từ năm 1979 Hiện có khoảng hơn 4000 bệnh nhân đang đượcđiều trị [26]
Indonesia bắt đầu chương trình này từ năm 2003 và hiện có khoảng 1.300bệnh nhân Hiện nay có tổng cộng 7 cơ sở điều trị đang hoạt động tại Jakarta
và hơn 10 cơ sở khác sẽ được triển khai trên toàn quốc trong thời gian tới[26]
1.4.2.Tại Việt Nam
Năm 1996, lần đầu tiên ở Việt Nam, Bộ Y tế đã chấp nhận cho Viện Sứckhỏe Tâm thần nghiên cứu liệu pháp Methadone
Ở Việt Nam được Chính phủ cho phép thí điểm từ tháng 4/2008 với 6 cơ
sở đầu tiên ở 2 thành phố Hải Phòng (Quận Lê Chân, Q Hồng Bàng, Huyện Thủy Nguyên) và Tp Hồ Chí Minh (Q Bình Thạnh, Quận 4, Quận 6) Tínhđến 15/10/2014 Chương trình được triển khai tại 36/63 tỉnh, thành phố trựcthuộc trung ương và điều trị cho 21.613 người nghiện chất dạng thuốc phiện,đạt 27% so với mục tiêu điều trị cho 80.000 người vào cuối năm 2015, chiếm12% số người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý[6]
Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân [13]:
- Người bệnh đang nghiện các chất dạng thuốc phiện theo tiêu chuẩn
Trang 19chẩn đoán nghiện CDTP của Bộ Y tế
- Từ đủ 18 tuổi trở lên (trường hợp đặc biệt, người từ 16 đến dưới 18tuổi,phải có người giám hộ theo quy định của pháp luật)
- Phải có đơn tự nguyện tham gia điều trị bằng thuốc Methadone, cóxácnhận của gia đình người bệnh hoặc người giám hộ
- Không có chống chỉ định dùng thuốc Methadone
- Có giấy giới thiệu của Ủy ban nhân dân xã/ phường nơi nghiện các chấtdạng thuốc phiện cư trú
Tiêu chuẩn ưu tiên [13]:
- Người tham gia tích cực các hoạt động phòng chống HIV/AIDS: nhânviên tiếp cận cộng đồng, giáo viên đồng đẳng từ các dự án, ngườinhiễm HIV đang điều trị thuốc kháng virus (ARV) và tuân thủ tốttrong điều trị từ các phòng khám giới thiệu đến
- Người nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng đường tiêm chích
- Thời gian nghiện ít nhất 3 năm
- Đã cai nghiện, từ bỏ ma túy nhiều lần mà không thành công
Tiêu chuẩn loại trừ [13]:
- Bệnh nhân có bệnh cơ thể nặng
- Bệnh nhân nghiện đồng thời rượu và các loại ma túy khác
- Dị ứng với thành phần của Methadone
1.4.3 Tại Hải Phòng
Chương trình điều trị nghiện các CDTP bằng Methadone được triển khaithí điểm tại tp Hải Phòng từ năm 2008 Đến nay, toàn thành phố có 12 cơ sởđiều trị Methadone tại 8 quận, huyện, điều trị thường xuyên cho gần 3496người nghiện ma túy, đạt 76% kế hoạch chỉnh phủ đặt ra trong năm 2015[9].Qua đánh giá cho thấy không có bệnh nhân HIV mới sau khi được điều trịMethadone, không xảy ra trường hợp bệnh nhân quá liều, ngộ độc khi dùng
Trang 20Methadone Tình hình vi phạm pháp luật và số vụ trộm cắp liên quan đến matúy giảm mạnh so với khi chương trình chưa được triển khai.
Trang 21CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Các bệnh nhân nghiện các chất dạng thuốc phiện được điều trị tại cơ sởđiều trị Methadone An Lão
Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân: Tất cả bệnh nhân bắt đầu điều trị tại cơ sở
từ tháng 1/2012 đến tháng 3/2015
2.2 Địa điểm nghiên cứu
Cơ sở điều trị Methadone An Lão - Trung tâm y tế huyện An Lão, HảiPhòng
2.3 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu thực hiện từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2015
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1.Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả hồi cứu hồ sơ
2.4.2 Chọn mẫu và cỡ mẫu
- Kỹ thuật chọn mẫu
Toàn bộ các bệnh nhân bắt đầu tham gia điều trị bằng Methadone tại cơ
sở điều trị Methadone An Lão – Trung tâm y tế dự phòng huyện An Lão, Hải Phòng từ tháng 1/2012 đến tháng 3/2015
n: cỡ mẫu nghiên cứu cần có
p = 0,898 (tỷ lệ TTĐT Methadone tại Hải Phòng và Tp Hồ Chí Minh
Trang 22sau 12 tháng triển khai theo báo cáo của tổ chức FHI 360 năm 2014 là 89,8%[12]).
α = 0,05 (mức ý nghĩa thống kê), Z= 1,96
∆= 0,05 (sai số mong muốn)
Theo công thức tính cỡ mẫu n = 141 Vậy cỡ mẫu tối thiểu là 141
Ở nghiên cứu này chúng tôi đã nghiên cứu trên 219 bệnh nhân
2.4.3 Các biến số và chỉ số nghiên cứu
Mục tiêu Các biến số và chỉ số
nghiên cứu
Phươngpháp thuthập thôngtin
Công cụ thu thậpthông tin
cơ thểXác định
tỷ lệ tuân Số ngày dừng thuốc/ lần
Trang 23Bỏ trị theo tuổi, giới,NN,học vấn, hôn nhân,GĐ
Bỏ trị theo tác dụng phụ,
số td phụ
2.4.4 Tiêu chuẩn xác định bệnh nhân bỏ trị Methadone
Theo Quy định và Hướng dẫn điều trị của Bộ Y tế, bệnh nhân được xác định
là bỏ trị khi ngừng uống thuốc trên 30 ngày liên tục [4]
2.4.5 Xử lý số liệu
Số liệu được nhập bằng phần mềm Epidata 3.1, xử lý và phân tích bằng phầnmềm SPSS 16.0 Từ đó tính toán xác định các tần số, tỷ lệ, sử dụng test 2,tính tỷ suất chênh OR, khoảng tin cậy CI 95%, giá trị p
Trang 24- Tập huấn điều tra viên.
- Làm sạch số liệu trước khi phân tích
2.4.7.Đạo đức trong nghiên cứu
- Nghiên cứu không gây hại cho đối tượng nghiên cứu.
- Trong quá trình thu thập thông tin, phân tích số liệu, viết báo cáo đảm
bảo thông tin được mã hóa để đảm bảo tính khuyết danh và bảo mậtthông tin
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trang 253.1.Một số đặc điểm tiền sử sử dụng ma túy của bệnh nhân được điều trị thay thế các CDTP bằng Methadone
Bảng 3.1: Tỷ lệ (%) bệnh nhân điều trị theo nhóm tuổi
Nhận xét: Kết quả cho thấy tỷ lệ bệnh nhân được điều trị Methadone nhiều
nhất là 47% ở nhóm tuổi 30 – 39 Tiếp theo là 28,3 % ở nhóm tuổi 40 – 49,nhóm tuổi 20 – 29 chiếm 16,4 %, thấp nhất là nhóm tuổi ≥ 50 chiếm 8,2 %
Bảng 3.2:Tỷ lệ (%) bệnh nhân điều trị theo giới tính
Nhận xét: Kết quả nghiên cứu cho thấy trong 219 bệnh nhân có tới 215 bệnh
nhân là nam, chiếm tỷ lệ 98,2% và bệnh nhân nữ chiếm 1,8%
Bảng 3.3: Tỷ lệ (%) bệnh nhân điều trị theo trình độ học vấn
Trang 26Nhận xét: Từ bảng trên ta thấy số học THCS chiếm tỷ lệ cao nhất với 62,6%,
tiếp theo là nhóm THPT với 24,2 %, nhóm tiểu học 11% Đặc biệt vẫn còn1,8% bệnh nhân mù chữ
Công nhânNông dânLái xeLao động tự doThất nghiệpKhác
Hình 1: Tỷ lệ (%) bệnh nhân điều trị theo nghề nghiệp
Nhận xét: Qua hình trên cho thấy bệnh nhân ở nhóm lao động tự do chiếm tỷ
lệ cao nhất với 63,9%, tiếp theo là nhóm nông dân với 14,2%, nhóm thấtnghiệp chiếm 11%, nhóm nghề khác chiếm thấp nhất là 2,7%
Trang 27Bảng 3.4: Tỷ lệ (%) bệnh nhân điều trị theo tình trạng hôn nhân
Nhận xét: Kết quả nghiên cứu cho thấy,bệnh nhân đã kết hôn chiếm tỷ lệ cao
nhất (65,3%), tiếp theo là nhóm bệnh nhân độc thân chiếm 28,3%, nhóm lyhôn chiếm 5,5%, thấp nhất là nhóm bệnh nhân ly thân chiếm 0,9%
Hình 2: Tỷ lệ (%) bệnh nhân điều trị theo loại ma túy sử dụng
Nhận xét: Từ hình trên cho thấy có 98,2% bệnh nhân sử dụng Heroin, tiếp
theo là sử dụng thuốc phiện chiếm 2,3%, AST và cần sa đều chiếm 1,8%, thấpnhất là Ectasy chiếm 0,9%
Trang 28Bảng 3.5: Tỷ lệ (%) bệnh nhân điều trị theo cách thức sử dụng ma túy Kết quả NC
Nhận xét: Từ bảng 3.5 cho thấy tỷ lệ bệnh nhân sử dụng ma túybằng đường
tiêm tĩnh mạch chiếm cao nhất 74%, sau đó là đường hút chiếm 58,9%,đường uống chiếm 2,7% và thấp nhất là dường hít 0,5%
Bảng 3.6: Tỷ lệ (%) bệnh nhân điều trị theo thời gian sử dụng ma túy Kết quả NC
Thời gian
SD
Số lượng (n = 219)
Tỷ lệ (%)
Thời gian trung bình SD
Nhận xét: Từ bảng kết quả cho thấy, thời gian trung bình sử dụng ma túy của
bệnh nhân là 9,5 năm Bệnh nhân có thời gian sử dụng ma túy từ 5 – 9 năm làcao nhất, chiếm 41,6%, kế tiếp là bệnh nhân có thời gian sử dụng ma túy trên
10 năm, chiếm 33,7% Bệnh nhân có thời gian sử dụng ma túy dưới 5 nămchiếm tỷ lệ thấp nhất (24,7%)
Trang 29Bảng 3.7: Tỷ lệ (%) bệnh nhân điều trị theo số lần đã cai nghiện ma túy Kết quả NC
Nhận xét: Từ bảng 3.7 cho thấy tỷ lệ bệnh nhân đã được cai nghiện bằng các
phương pháp khác nhau từ 1 – 3 lần là cao nhất, chiếm 87,7% Tiếp theo lànhóm chưa cai nghiện lần nào có tỷ lệ 7,8%, nhóm cai nghiện từ 4 – 6 lầnchiếm tỷ lệ thấp nhất là 4,6%
Bảng 3.8:Tỷ lệ (%) bệnh nhân điều trị theo lý do tái nghiện
Nhận xét: Kết quả nghiên cứu cho thấy bệnh nhân tái nghiện do thèm muốn
ma túy không thể kiềm chế được chiếm tỷ lệ cao nhất 48,4%, kế tiếp là 42,9%tái nghiện do bạn bè rủ rê, 13,2% tái nghiện do buồn chán và thấp nhất là2,3% tái nghiện do các nguyên nhân khác
Trang 30AIDS
Viêm
gan B
Hình 3: Tỷ lệ (%) bệnh nhân có tiền sử mắc một số bệnh cơ thể
Nhận xét: Từ hình 3 cho thấy tỷ lệ bệnh nhân nhóm viêm gan C chiếm tỷ lệ
cao nhất với 36,1%, nhóm HIV/AIDS với 17,4%, viêm gan B là 8,2%, laochiếm 6,4%, thấp nhất là da liễu 0,5%
Trang 313.2 Tỷ lệ tuân thủ điều trị và một số yếu tố liên quan đến việc bỏ trị của bệnh nhân được điều trị thay thế các CDTP bằng Methadone
3.2.1 Tỷ lệ tuân thủ điều trị của bệnh nhân
Bảng 3.9: Tỷ lệ (%) bệnh nhân lỡ liều điều trị theo ngày
Nhận xét: Qua bảng trên cho thấy, ở mỗi lần nhỡ liều, tỷ lệ bệnh nhân dừng
thuốc từ 1 – 2 ngày là cao nhất, chiếm 68,9% Bệnh nhân dừng thuốc 3 – 4
ngày là 8,2%, 5 – 30 ngày là 12,8% Quan trọng nhất, tỷ lệ bệnh nhân dừng uống thuốc trên 30 ngày (bệnh nhân bỏ trị) là 88 bệnh nhân, chiếm tới 40,2%.