PHẦN MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài.Trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của con người cũng như trong cáchoạt động sản xuất thì đều phát sinh ra các loại chất thải như là rác thải côn
Trang 1LỜI CÁM ƠN
Để hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp trước hết em xin gửi lời cảm ơn chânthành đến Ths Trần Anh Tuấn Thầy đã hướng dẫn tận tình cho em ngay từ khimới hình thành lên đề tài và trong suốt quá trình thực hiện chuyên đề tốt nghiệp
Em cũng xin cảm ơn các thầy cô trong Viện Môi Trường - Trường ĐạiHọc Hàng Hải Việt Nam đã có quá trình theo dõi, góp ý và đánh giá cho nhữngchuyên đề tốt nghiệp để chúng em có thể hoàn thành nội dung của mình mộtcách tốt nhất
Tiếp theo, em xin cảm ơn UBND thị trấn Trường Sơn, cán bộ quản lý môitrường thị trấn Trường Sơn đã cung cấp cho em các số liệu cần thiết và tạo điềukiện khảo sát nghiên cứu phục vụ cho chuyên đề tốt nghiệp
Trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp, bản thân
em đã cố gắng học hỏi thêm nhiều kĩ năng Tuy nhiên chắc chắn sẽ còn nhữngthiếu sót Em rất mong nhận được sự góp ý từ các thầy cô để bài làm của emđược hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cám ơn
Hải Phòng, ngày 30 tháng 11 năm 2015 Sinh viên thực hiện
Trần Thị Hoa
Trang 2M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC
1.Tính cấp thiết của đề tài i
2.Mục đích của đề tài i
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ii
4.Phương pháp nghiên cứu khoa học ii
5.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ii
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1
1.1.Thực trạng ô nhiễm môi trường nông thôn Việt Nam hiện nay 1
1.1.1 Ô nhiễm môi trường do lạm dụng hóa chất trong nông nghiệp 1
1.1.2 Ô nhiễm môi trường do chất thải chăn nuôi, trồng trọt 3
1.1.3 Ô nhiễm môi trường do hoạt động của làng nghề 5
1.1.4 Ô nhiễm môi trường do chất thải sinh hoạt 6
1.2 Một số biện pháp xử ly rác thải nông thôn Việt Nam hiện nay 8
1.2.1.Tổ chức thu gom và tập kết rác 8
1.2.2.Chôn lấp rác thải 9
1.2.3.Xây dựng lò đốt rác 9
1.2.4.Phương pháp 3R 9
1.2.5.Công nghệ xử lý chất thải rắn bằng phương pháp yếm khí tùy nghi A.B.T .10
1.2.6.Xử lý rác thải bằng công nghệ vi sinh 12
CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU VỀ THỊ TRẤN TRƯỜNG SƠN - AN LÃO - HẢI PHÒNG VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG 13
2.1.Vị trí địa lý, cơ cấu kinh tế - văn hóa – xã hội – môi trường 13
2.1.1.Vị trí, đặc điểm địa lý 13
2.1.2.Tình hình dân cư 13
2.1.3.Tình hình kinh tế 14
Trang 32.1.3 Đặc điểm văn hóa – xã hội 14
2.1.4.Thực trạng môi trường tại địa phương 15
2.2 Cơ sở lý luận của quản lý chất thải dựa vào cộng động và một số mô hình tiêu biểu về cộng đồng tham gia quản lý chất thải tại Việt Nam 19
2.2.1.Khái niệm, cơ sở lý luận về mô hình cộng đồng 19
2.2.2 Một số mô hình tiêu biểu về “cộng đồng tham gia quản lý chất thải” tại Việt Nam……… 30
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG MÔ HÌNH CỘNG ĐỒNG THAM GIA QUẢN LÝ CHẤT THẢI NÔNG THÔN TẠI THỊ TRẤN TRƯỜNG SƠN-AN LÃO - HẢI PHÒNG 25
3.1.Các bước xây dựng mô hình 25
3.1.1.Giai đoạn 1: Khảo sát ý kiến cộng đồng tại địa phương, tổ chức tuyên truyền và thực hiện tốt công tác thu gom 27
3.1.2.Giai đoạn 2 : Thực hiện phân loại rác thải tại nguồn 37
3.1.3.Giai đoạn 3: tổng kết đánh giá rút kinh nghiệm giai đoạn 1,2 và lên kế hoạch cho giai đoạn tiếp theo 41
3.1.4 Giai đoạn 4: Hướng dẫn cộng đồng cách ủ phân vi sinh bằng rác hưu cơ và chế phẩm sinh học 34
3.1.5.Giới thiệu đến cộng đồng một số loại chế phẩm sinh học để sử dụng trong quá trình làm phân hữu cơ 37
3.1.6.Lợi ích của việc sử dụng phân vi sinh đối với đất đai ,cây trồng và môi trường: 38
3.2.Ý nghĩa của mô hình 39
3.3 Đánh giá những thuận lợi và khó khăn mô hình gặp phải 40
3.3.1 Thuận lợi .40
3.3.2 Khó khăn .41
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 42
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU
UBND Uỷ Ban Nhân Dân
Trang 53.1 Sơ đồ tổng quát về mô hình cộng đồng tham gia quản
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài.
Trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của con người cũng như trong cáchoạt động sản xuất thì đều phát sinh ra các loại chất thải như là rác thải côngnghiệp, rác thải nông nghiệp, rác thải sinh hoạt tại các khu đô thị và vùng nôngthôn
Hiện nay, đi cùng với sự phát triển kinh tế, thì lượng chất thải ra môitrường cũng không ngừng gia tăng, đặc biệt là rác thải sinh hoạt của các hộ giađình tại khu vực nông thôn và những vùng ven đô Đối với việt nam là một đấtnước đang phát triển, với "tỉ lệ dân số thành thị tại Việt Nam chỉ đạt 32,45%",còn thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực [9], tỉ lệ dân số nông thônchiếm đến 67,55% thì rác thải nông thôn chiếm một phần lớn trong tổng lượngrác thải ra Tuy nhiên, tại những khu vực này tiềm lực kinh tế chưa đủ mạnh,cuộc sống của cộng đổng chưa đảm bảo thì các vấn đề về chất thải và môitrường chưa nhận đựơc sự quan tâm đúng mực, dẫn đến tình trạng ô nhiễm môitrường ngày một gia tăng, gây ảnh hưởng đến đời sống và sức khoẻ của conngười từ nơi được cho là an toàn về chỉ số môi trường thì ngày nay, nông thônviệt nam đang trong tình trạng báo động về ô nhiễm Chính vì vậy, rất cần sựvào cuộc và chung tay của mọi cá nhân, tổ chức cộng đồng và toàn xã hội đểmôi trường nông thôn ngày một xanh - sạch - đẹp
2.Mục đích của đề tài.
Nhiều cá nhân, hộ gia đình trong một khu vực sinh sống sẽ tạo nên mộtcộng đồng Cộng đồng dân cư là người thải ra lượng chất thải hàng ngày, cũngchỉ có chính cộng đồng dân cư mới có thể điều chỉnh được lượng chất thải đó.Tại các vùng nông thôn, những nơi chưa có phương pháp xử lý chất thải thì sựchung tay của cả cộng đồng nhằm quản lý chất thải có ý nghĩa rất lớn Vì vậy,
mục đích của đề tài " Xây dựng mô hình cộng đồng tham gia quản lý chất thải nông thôn, nghiên cứu và áp dụng tại thị trấn Trường Sơn - An Lão - Hải Phòng" là xây dựng được mô hình có sự tham gia của cộng đồng, giúp mỗi
cá nhân, hộ gia đình hiểu được vai trò, trách nhiệm của mình trong việc quản lýchất thải, đồng thời đề ra những phương pháp giúp giảm thiểu, xử lý một phần
Trang 7lượng thải ra, giúp giảm bớt tình trạng ô nhiễm môi trường, góp phần nâng caochất lượng cuộc sống.
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu của mình, em xin đưa ra những thực trạng
về rác thải nông thôn tại Việt Nam, qua đó xây dựng mô hình cộng động cùngtham gia quản lý chất thải nông thôn, nghiên cứu và áp dụng tại chính địaphương em đang sinh sống là thị trấn Trường Sơn - huyện An Lão - thành phốHải Phòng
4.Phương pháp nghiên cứu khoa học.
* Phương pháp điều tra thực địa:
Thu thập thông tin cần thiết từ các cơ quan chức năng (số liệu thống kê)kết hợp với việc quan sát thực tế các đối tượng tự nhiên, kinh tế - xã hội trên địabàn thành thị trấn Trường Sơn Điều tra khảo sát tại các hộ gia đình ở địaphương để thu thập những thông tin chi tiết khác thông qua việc phỏng vấn
* Phương pháp phân tích, đánh giá tổng hợp:
Trên cơ sở các kết quả có được do điều tra, thu thập tài liệu liên quan từcác nguồn khác nhau, phân tích đánh giá tổng hợp các thông tin thu thập được
để đưa ra các giải pháp và kết luận
5.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
Ý nghĩa khoa học
Xây dựng, nhân rộng thêm mô hình xử lý chất thải tại nông thôn
Nghiên cứu sâu về phương pháp phân loại rác thải tại nguồn, sử dụng ráchữu cơ làm phân bón cho cây trồng
Ý nghĩa thực tiễn
Qua đề tài nghiên cứu, sẽ giúp cộng đồng dân cư hiểu thêm được tầmquan trọng của môi trường sống, biết cách xử lý và giảm thiểu chất thải tại hộgia đình, nâng cao ý thức trách nhiệm trong vấn đề bảo vệ môi trường
Trang 8CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1.Thực trạng ô nhiễm môi trường nông thôn Việt Nam hiện nay.
“Nông thôn là nơi sinh sống làm việc của một cộng đồng bao gồm chủ yếu
là nông dân, là vùng sản xuất nông nghiệp là chính Môi trường nông thôn baogồm có nhà ở, vườn tược, ruộng đồng, ao hồ, đầm lầy hoặc các làng xóm,thị xã,thị trấn Cơ cấu hạ tầng, trình độ tiếp cận thị trường, trình độ sản xuất hàng hóa,mức sống thấp hơn so với thành thị” [13]
Trong những năm qua, nhờ những đường lối, chính sách mới của Đảng vàNhà nước thì đời sống của nông dân và bộ mặt của nông thôn Việt Nam đã cónhiều chuyển biến tích cực Đất nước Việt Nam đã vượt qua thời kỳ khủnghoảng kinh tế, ổn định xã hội, tạo điều kiện tiền đề cho việc tiến hành những cảicách sâu rộng khác để bước vào thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa Hiệnnay, với những quá trình chuyển đổi kinh tế, nông thôn Việt Nam đã có nhữngbước chuyển quan trọng tạo ra hướng phát triển mới phù hợp với nền kinh tế thịtrường Những phương pháp sản xuất tiên tiến được áp dụng trong nông nghiệp
đã nâng cao năng suất, nâng cao chất lượng sản phẩm Bên cạnh đó là quá trình
đô thị hóa và công nghiệp hóa đang diễn ra nhanh chóng, tạo điều kiện thuận lợicho việc phát triển nhiều ngành kinh tế mới, mở rộng sản xuất, tận dụng đượchết những lợi thế của nông thôn Tuy nhiên kéo theo đó là không ít những vấn
đề mà đặc biệt là tình trạng ô nhiễm môi trường “ Người dân nông thôn vốn xưanay còn phải quan tâm nhiều hơn đến cuộc sống mưu sinh Khi đời sống chưađảm bảo thì việc bảo vệ môi trường chỉ là thứ yếu” [13] Các nguồn chủ yếu gây
ra hiện tượng ô nhiễm môi trường ở nông thôn đầu tiên là việc lạm dụng và sửdụng không hợp lý các loại hóa chất trong nông nghiệp, chất thải trong chănnuôi trồng trọt, ô nhiếm làng nghề và sau đó đến nhận thức về môi trường chưacao dẫn đến rác thải sinh hoạt không được thu gom, xử lý thậm chí là vứt bừabãi Tiếp đó là sự quan tâm chưa đúng mực của các cấp các ngành, vậy nên ônhiễm môi trường nông nghiệp nông thôn đang là một vấn đề đáng báo động
1.1.1 Ô nhiễm môi trường do lạm dụng hóa chất trong nông nghiệp.
Sự phát triển của nông nghiệp là một trong những nguyên nhân chính gâynên sự ô nhiễm ở môi trường nông thôn, nhất là vấn đề sử dụng phân bón hóahọc và hóa chất bảo vệ thực vật Bón phân, sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật là
Trang 9biện pháp kỹ thuật có ảnh hưởng quyết định đến năng suất, chất lượng sảnphẩm, hiệu quả và thu nhập của người sản xuất Thực tiễn sản xuất ở nhiều nướctrên thế giới cũng như ở nước ta trong những năm qua đã chứng minh rằng, nếukhông sử dụng hóa chất trong nông nghiệp thì không thể đạt năng suất và chấtlượng cao, nông nghiệp không thể nào tăng gấp 4 lần sản lượng trong 50 năm,trở thành một trong các yếu tố cơ bản để tăng trình độ văn minh.
Tuy nhiên do tình trạng lạm dụng quá mức lượng phân bón hóa học, sảnxuất nông nghiệp còn dựa trên kinh nghiệm của người nông dân, việc sử dụnghóa chất không được trang bị những kiến thức cần thiết nên đã gây ra những ảnhưởng không nhỏ đến môi trường và hệ sinh thái “ Mỗi năm,nước ta sử dụngtrung bình từ 15.000 - 20.000 tấn thuốc bảo vệ thực vật (bình quân 1ha gieotrồng sử dụng đến 0,4 – 0,5 kg)” [13] Sử dụng không hợp lý, không tuân thủtheo đúng các quy trình nghiêm ngặt đã gây ra nhiều tác hại cho người sử dụngthuốc và người tiêu dùng nông sản Lượng phân bón, hóa chất dư thừa một phầnđược giữ lại trong keo đất, một phần bị rửa trôi theo nước mặt vào ao hồ, sôngsuối làm ô nhiễm nguồn nước mặt, một phần sẽ ngấm vào tầng nước ngầm vàmột phần bị bay hơi do tác động của nhiệt độ hay quá trình nitrat hóa gây ônhiễm không khí
Nguy hiểm hơn, trình trạng vỏ bao bì, chai lọ đựng hóa chất bảo vệ đã qua
sử dụng không được thu gom, xử lý đúng quy cách mà được vất bừa bãi “Theothống kê của Viện Môi trường Nông nghiệp Việt Nam, mỗi năm tại các khu vựcnông thôn nước ta phát sinh trên 13 triệu tấn rác thải sinh hoạt, trong đó có 1,3triệu mét khối nước thải và có tới 7500 tấn vỏ bao thuốc bảo vệ thực vật các loạiđược thải trực tiếp ra ngoài môi trường” [5] Trong bao bì, chai lọ chứa hóa chấtbảo vệ thực vật sẽ còn một lượng hóa chất tồn dư, khi không được thu gom đúngcách mà vất bừa bãi trên cánh đồng, kênh rạch thì chúng sẽ rất khó phân hủy,sau đó đi vào nguồn nước hoặc tiềm tàng trong không khí gây nên những ảnhhưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người và hệ sinh thái
Trang 10Hình 1.1 : Bao bì, chai lọ chứa phân bón, thuốc bảo vệ thực vật bị vứt bừa bãi.
1.1.2 Ô nhiễm môi trường do chất thải chăn nuôi, trồng trọt.
“Hiện nay, việc đáng lo ngại ở môi trường nông thôn đó là dù chăn nuôi ởquy mô nhỏ hay lớn thì các loại chất thải trong chăn nuôi đa phần vẫn chưa được
xử lý Chất thải trong chăn nuôi bao gồm chất thải rắn, chẩt thải lỏng và chấtthải khí như CO2,NH3 đều là những loại khí chính gây nên hiện tượng hiệuứng nhà kính”[13] Hầu hết do tập quán hay do điều kiện sản xuất mà chất thải
Trang 11chăn nuôi càng gây ô nhiễm ở mức báo động, các chất thải chăn nuôi khôngnhững gây ra mùi khó chịu ảnh hưởng đến môi trường không khí mà còn ngấmvào đất gây ảnh hưởng đến nguồn nước và từ đó gây ảnh hưởng đến sức khỏecon người.
Một số hình thức xử lý chất thải chăn nuôi hiện có như hầm biogas, phâncompost, tận dụng làm thức ăn để chăn nuôi thủy sản Tuy nhiên, tại nhiều vùngchăn nuôi nhỏ lẻ, chất thải chăn nuôi không được xử lý mà xả thải trực tiếp rangoài môi trường
Ngoài ra việc xử lý xác động vật chết do dịch bệnh vẫn chưa được ngườidân xử lý một cách có hiệu quả, một số nơi còn không chôn lấp xác động vậtchết mà còn đem trả trôi ra ngoài sông, suối hay vứt ở nơi ít người qua lại Việclàm thiếu ý thức này là nguyên nhân khiến cho dịch bệnh bùng phát và lây lan,ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế của chính người nông dân và sức khỏe củacộng đồng
Hình 1.2 : Xác gia cầm chết không được xử lý.
“ Bên cạnh đó, trong sản xuất nông nghiệp, ngoài sản phẩm chính là thócgạo thì sản xuất lúa còn tạo ra lượng rơm rạ khổng lồ, bằng khoảng 75% sảnlượng lúa Trước kia thì rơm rạ dùng làm chất đốt hay sử dụng cho mục đích nào
đó của người dân thì bây giờ khi kinh tế đã phát triển hơn rơm rạ sau khi thuhoạch xong bị coi là phế thải nông nghiệp có rất ít giá trị sử dụng nên thường bịđốt ngay ở ngoài cánh đồng, ven đường Có thể nói việc đốt rơm rạ sau mỗi vụgặt là tình trạng chung diễn ra ở hầu hết các tỉnh như Nam Định đến Thái Bình,
Trang 12Hưng Yên, Hà Nam… Ở các vùng nông nghiệp gần đô thị lớn như Hà Nội, HảiPhòng tỷ lệ này có thể đạt tới 90%.” [12].
Đốt rơm rạ ngoài đồng làm đất canh tác bị hỏng, tạo ra một lượng khí thảiđặc quánh khổng lồ gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường sống, góp phần làmtăng tình trạng biến đổi khí hậu và nhiều hậu quả khác, nhất là ảnh hưởng đếnsức khỏe con người, nguy cơ gây mất an toàn giao thông
Hình 1.3 Tình trạng đốt rơm rạ bên lề đường gây cản trở giao thông.
1.1.3 Ô nhiễm môi trường do hoạt động của làng nghề.
Đi cùng với sự phát triển của nông thôn của nước ta, không thể không kểđến sự hoạt động và phát triển của các làng nghề thủ công Theo thống kê, tạiViệt Nam có khoảng 2.800 làng nghề, giải quyết việc làm cho hơn 10 triệu laođộng thì trong đó, có tới 90% số làng nghề là ô nhiễm, có chỉ số chất thải ra môitrường cao hơn cho phép Một ngày, những làng nghề này thải ra khoảng 500tấn bã, 15.000 m3 nước thải cùng hàng trăm tấn chất thải rắn, hóa chất, chất tẩyrửa Mặc dù biết rằng ô nhiễm tại các làng nghề đang ảnh hưởng trực tiếp tới đờisống, sức khỏe của bản thân và gia đình, nhưng người dân tại hầu hết các làngnghề này đều chưa có một quy trình xử lý chất thải một cách hiệu quả Theo đó,
Trang 13đặc điểm chung của làng nghề là các hộ nông dân làm tự phát, có truyền thốnglâu đời nên rất khó để trang bị những thiết bị xử lý chất thải đắt tiền, phù hợpvới những chuẩn an toàn Vì thế, dù biết có ô nhiễm, có ảnh hưởng tới sức khỏenhưng hầu hết mọi người đều chưa quan tâm đúng mức tới vấn đề phòng tránh.
Hình 1.4 : Sông Ngũ Huyện Khê (thành phố Bắc Ninh) bị ô nhiễm do hoạt động
của làng giấy Phong Khê
1.1.4 Ô nhiễm môi trường do chất thải sinh hoạt.
Hiện nay, vấn đề đáng báo động tại vùng nông thôn là chất thải sinh hoạt.Cuộc sống của nhân dân được cải thiện, nhu cầu xả rác cũng không ngừng tăngnhư thức ăn thừa, rau quả hỏng, bao bì nilong, vỏ chai lọ, các đồ dùng sinh hoạt
có nhiều chất độc hại như pin các loại, bình điện, bóng đèn “Sự tăng dân số, sựphát triển của xã hội và rất nhiều loại hàng hóa xuất hiện ngày một nhiều thìchất thải nông thôn càng trở nên cấp bách Hệ thống đường xá được nâng cấp đãrút ngắn khoảng cách giữa thành thị và nông thôn khiến cho nhiều loại hàng hóalưu thông mạnh, gây ra hệ quả là rác thải cũng tăng thêm nhiều, vượt quá sựkiểm soát của chính quyền địa phương Từ những nơi được cho là an toàn về chỉ
số môi trường thì ngày nay nông thôn Việt Nam đang được báo động về sự ônhiễm” [5] Thêm vào đó, rác thải sinh hoạt phần lớn không được thu gom, phân
Trang 14loại hay xử lý mà được vứt bừa bãi “Một thực tế đang xảy ra hiện nay là mặc dù
ở nông thôn đất rộng nhưng lại không quy hoạch được các bãi rác tập trung,không quy định chỗ tập trung rác, không có người và phương tiện chuyên chởrác, do vậy mỗi hộ gia đình phải tự xử lý rác của mình Nhìn chung, đa phầnngười dân nông thôn vẫn chưa hình thành được ý thức, thói quen tập kết rác.Hoặc nếu có tập kết xử lý thì các phương pháp đều khá đơn giản và chưa đượccho là an toàn với hệ sinh thái xung quanh” [5] Theo những thống kê đã chỉ rarằng: tỉ lệ thu gom chất thải rắn ở khu vực nông thôn Việt Nam chỉ từ 40-50%,khoảng 60% thôn xã có tổ chức thu gom định kỳ, trên 40% có tổ thu gom tựquản Phần lớn không quy hoạch được bãi rác tập trung, không có bãi rác côngcộng
Tình trạng rác thải sinh hoạt không được thu gom, xử lý đã khiến cho môitrường nông thôn trở nên ngột ngạt, mất mĩ quan Hậu quả của ô nhiễm môitrường nông thôn gây ảnh hưởng trực tiếp đên sức khỏe cộng đồng Tỷ lệ mắccác bệnh lý ở một số địa phương xấp xỉ 50% dân số, đặc biệt mắc nhiều cácbệnh như ung thư, đường ruột, tiêu chảy ngoài ra còn gia tăng tỷ lệ người mắcbệnh đang lao động và sinh sống trong vùng bị ô nhiễm, làm giảm chất lượngcuộc sống nhiều mặt với người dân Nhiều làng ung thư đã xuất hiện ở một sốtỉnh như Nghệ An, Hà Tĩnh, Phú Thọ, Hải Phòng Nhiều dịch bệnh, các loạibệnh lạ trong đó có phần liên quan đến môi trường Chính vì vậy, việc nghiêncứu để tìm ra cách xử lý rác thải nông thôn và nâng cao ý thức của cộng đồng vềchất thải nông thôn là rất quan trọng và cần thiết
Trang 15Hình 1.4 : Rác thải sinh hoạt không được thu gom, xử lý.
1.2 Một số biện pháp xử ly rác thải nông thôn Việt Nam hiện nay.
1.2.1.Tổ chức thu gom và tập kết rác.
Để giảm bớt tình trạng rác thải vứt bừa bãi xung quanh nhà dân, trên khuvực chợ, trên sông ngòi, các kênh mương, ruộng đồng…thì tại rất nhiều vùng
Trang 16nông thôn Việt Nam hiện nay, nhiều địa phương đã thành lập tổ thu gom và tậpkết rác thải thành bãi rác tập chung Phương pháp này dễ thực hiện, phù hợp vớinhiều vùng miền, tuy nhiên với lượng rác thải ngày một gia tăng thì phươngpháp thu gom và tập kết rác đơn thuần là không đủ.
1.2.2.Chôn lấp rác thải.
Chôn lấp hợp vệ sinh có nghĩa là chôn lấp chất thải rắn khó kiểm soát,được xem là phương pháp quản lý việc thải bỏ chất thải rất phù hợp đối với cácnước đang phát triển Chôn lấp hợp vệ sinh giúp hạn chế sự tiếp xúc của conngười và môi trường với các ảnh hưởng có hại của chất thải rắn bị đổ bỏ trênmặt đất Thông qua chôn lấp hợp vệ sinh, chất thải được tập trung vào khu vựcđược thiết kế cẩn thận sao cho sự tiếp xúc giữa chất thải và môi trường giảmđáng kể Tuy nhiên phương pháp này đòi hỏi sự đầu tư về kinh phí, kĩ thuậtphức tạp, đòi hỏi về quỹ đất và thực sự rất khó thực hiện tại nhiều vùng
1.2.3.Xây dựng lò đốt rác.
“Đốt chất thải là một quá trình xử lý chất thải có liên quan đến các quátrình đốt cháy của cơ chất có trong chất thải Đốt chất thải chuyển đổi chất thảithành tro, khí thải và nhiệt Ở một số nước, lò đốt chỉ được áp dụng trong mộtvài thập kỷ trước đây và thường không bao gồm công đoạn tách vật liệu để loại
bỏ độc hại, cồng kềnh hoặc tái chế vật liệu trước khi đốt Các cơ sở này có xuhướng gây ra nhiều nguy cơ sức khỏe của công nhân nhà máy và môi trường địaphương do mức độ trung bình làm sạch khí và kiểm soát quá trình đốt cháy”.[16]
Ngày nay, cùng với sự tiến bộ về khoa học kĩ thuật, những lò đốt chất thảivới công nghệ tiên tiến, an toàn về chỉ số môi trường đã ra đời Tuy nhiên, nóđòi hỏi kĩ năng vận hành và chi phí rất đắt đỏ
1.2.4.Phương pháp 3R: (3R là Reduce/Giảm thiểu Reuse/Tái sử dụng Recycle/Tái chế).
-“Trong bối cảnh hoạt động thu gom, tái chế, xử lý chất thải rắn vẫn chưađáp ứng được nhu cầu thực tế dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêmtrọng, gây những hệ lụy đến cuộc sống của công đồng và sự phát triển kinh tế xãhội thì giải pháp quản lý tổng hợp chất thải rắn dựa trên nguyên tắc 3R đang làhướng đi mới cho ngành môi trường trong việc xử lý hiệu quả chất thải rắn Đây
Trang 17là cách tiếp cận do Trung tâm Công nghệ môi trường của Liên Hợp Quốc nghiêncứu, phổ biến trong nhiều năm qua ở các quốc gia trên thế giới và được đánh giá
là cách tiếp cận khoa học, phù hợp đối với các nước đang phát triển nhằm quản
lý chất thải đạt hiệu quả cao nhất về môi trường và tiết kiệm tài nguyên” [1]
•Ưu điểm: Tận dụng được các nguồn rác có thể tái chế, tiết kiệm chi phí
xử lý
•Khuyết điểm: chi phí đầu tư khá cao, đòi hỏi ý thức, trình độ cao Thíchhợp với những khu thành thị
Hình 1.5 Sơ đồ công nghệ của phương pháp 3R.
1.2.5.Công nghệ xử lý chất thải rắn bằng phương pháp yếm khí tùy nghi
A.B.T (Anoxy Bio Technology).
Các giai đoạn trong quá trình xử lý rác thải theo Công nghệ A.B.T
“Giai đoạn xử lý sơ bộ: Rác thải thu gom được đưa về sân thao tác Xécác túi nilong đựng rác để rác được thoát ra ngoài Nhặt loại riêng rác có kíchthước lớn, sau đó phun, rải, trộn đều rác với chế phẩm sinh học P.MET và phụgia trước khi đưa vào hầm ủ
Giai đoạn ủ: Rác sau khi đã trộn đều cùng các chế phẩm sinh học P.MET
và phụ gia, được đưa chuyển vào hầm ủ theo từng lớp dày 20cm, mỗi lớp rác20cm đều được phun P.MET và rải phụ gia bột, làm các lớp rác như vậy cho đến
Vật liệu xâydựng
Trang 18khi đầy hầm ủ Miệng hầm ủ được phủ kín bằng vải bạt không trong suốt Thờigian ủ rác (28-30) ngày Trong quá trình ủ rác, thực hiện phun P.MET để bổsung vi sinh và độ ẩm giúp cho các vi sinh vật phân hủy chất hữu cơ nhanh.
Giai đoạn sàng phân loại: Rác sau khi ủ (28 -30) ngày được đưa lên sàngphân loại thu được mùn thô Nghiền mùn thô rồi tiến hành tách mùn hữu cơ, cátđất, đá,…bằng khí tuyển Mùn tinh thu được là nguyên liệu để sản xuất phânbón và các sản phẩm khác Các thành phần phi hữu cơ được đem tái chế hoặcchôn lấp tùy theo khối lượng và điều kiện kinh tế” [2]
“Ưu điểm:
+ Tái chế các chất không phân hủy thành những vật liệu có thể tái sử dụngđược
+ Không tốn đất chôn lấp chất thải rắn
+ Không có nước rỉ rác và các khí độc hại, khí dễ gây cháy nổ sinh ratrong quá trình phân hủy hữu cơ do đó không gây ô nhiễm môi trường
+ Không phân loại ban đầu, do đó không làm ảnh hưởng đến công nhânlao động trực tiếp
+ Thiết bị đơn giản, chi phí đầu tư thấp
+ Vận hành đơn giản, chi phí vận hành thường xuyên không cao
Nhược điểm: Chỉ tập trung ở các khu dân cư đông đúc, khu công nghiệp”
[2]
Sơ đồ công nghệ :
Hình 1.6 Sơ đồ công nghệ bằng phương pháp yếm khí tùy nghi A.T.B
Trang 191.2.6.Xử lý rác thải bằng công nghệ vi sinh
Mô hình này giúp tiết kiệm được chi phí xử lí rác thải, đem lại hiệu quảkinh tế cao Khắc phục được tình trạng ô nhiễm không khí và nước do rác thải
để lại, tạo nguồn năng lượng, xử lí sự tồn đọng ở các bãi rác, phù hợp cho nhiềuvùng miền
Hình 1.7 Sơ đồ công nghệ xử lý rác thải bằng công nghệ vi sinh.
Trang 20CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU VỀ THỊ TRẤN TRƯỜNG SƠN AN LÃO HẢI PHÒNG VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI DỰA VÀO
An Lão Thị trấn được chia làm 4 tổ dân phố, là một thị trấn trẻ, đang trong quátrình đô thị hóa nhanh, trên địa bàn có nhiều dự án lớn của huyện và thành phố,
có nhiều công trình xây dựng và tỉ lệ dân nhập cư rất cao Có 2 tuyến giao thôngquan trọng là tỉnh lộ 360 và tỉnh lộ 357 chạy qua địa bàn thị trấn, phía bắc thịtrấn tiếp giáp với 01 tuyến đường thủy nội địa sông Lạch Tray [16]
Hình 2.1 : Bản đồ về vị trí địa lý của thị trấn Trường Sơn.
2.1.2.Tình hình dân cư.
Toàn thị trấn có dân số là 2045 hộ gồm 6782 nhân khẩu, phần lớn là dântộc Kinh, không theo tôn giáo Số lao động đến từ địa phương khác để tạm trú
Trang 21trên địa bàn khoảng gần 1000 nhân khẩu Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,2%,biến động về dân cư không lớn [16].
2.1.3.Tình hình kinh tế.
Là địa bàn ven đô, giáp ranh với quận Kiến An, trước kia là một xã thuầnnông, phần lớn diện tích là đất nông nghiệp thì từ năm 2000 đến nay, một sốcông ty, nhà xưởng lớn được xây dựng trên địa bàn như công ty TNHH SaoVàng, công ty Jhcos Việt Nam, nhà máy bia Habeco Hải Phòng thu hút trên
4000 lao động của địa phương và lao động từ nơi khác đến đã góp phần làm thayđổi đáng kể về cơ cấu kinh tế nơi đây Cơ cấu ngành nghề dịch chuyển từ sảnxuất nông nghiệp sang công nghiệp, xây dựng và dịch vụ “Trên địa bàn hiệnnay có 46 doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ đang hoạt động với các lĩnh vực nhưsản xuất hàng may mặc, giày dép để xuất khẩu, các nhà máy sản xuất bia, nhàmáy giấy, nhà máy thức ăn gia súc, sản xuất bao bì, xí nghiệp chăn nuôi vàxưởng gỗ công nghiệp Ngoài ra còn có 659 hộ kinh doanh cá thể, trong đó có
67 hộ làm công nghiệp, 305 hộ làm thương mại, 3 hộ làm xây dựng, 148 hộ làmdịch vụ lưu trú – ăn uống, vận tải gồm 36 hộ và các dịch vụ khác là 100 hộ
Về sản xuất nông nghiệp (Số liệu 6 tháng đầu năm 2015): tổng diện tíchgieo cấy hiện nay là 53ha, năng suất lúa trung bình năm đạt 68,5 tạ trong 1ha,đứng trong tốp đầu về năng suất lúa của huyện An Lão Tổng diện tích nuôitrồng thủy hải sản là 18,6 ha, tổng đàn trâu bò là 80 con, đàn lợn 1460 con, đàngia cầm 15.105 con
Trong điều kiện kinh tế thế giới và trong nước có nhiều biến động, suythoái, nhiều doanh nghiệp phải hoạt động cầm chừng hoặc tạm dừng hoạt độngthì tình hình kinh tế tại thị trấn vẫn cơ bản ổn định Cơ cấu kinh tế vẫn tiếp tụcchuyển dịch theo hướng tích cực: Nông, lâm, thủy sản: 11,4 %; Công nghiệp,xây dựng: 54,2%; Dịch vụ: 34,4% Thu nhập bình quân đầu người đạt25.000.000 đồng [16]
2.1.3 Đặc điểm văn hóa – xã hội.
Do có được những chuyển dịch tích cực trong cơ cấu kinh tế nên đời sốngngười dân địa phương được nâng lên một cách rõ rệt Năm 2007 từ xã TrườngSơn đã được thành lập thành thị trấn Trường Sơn ngày nay, tuy nhiên về vănhóa, phong tục tập quán thì vẫn còn mang đậm nét văn hóa làng quê Những nét
Trang 22đẹp trong văn hóa như cộng đồng gắn bó, giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất canhtác, sinh hoạt văn hóa văn nghệ cồng đồng, bảo tồn di tích lịch sử, mái đình, lễhội làng quê không những không bị mai một mà ngày càng được lan tỏa mạnh
mẽ và được gìn giữ Tuy nhiên một số nét sinh hoạt lạc hậu, cổ hủ của làng xãvẫn tồn tại song song đó là tình trạng vứt rác thải bừa bãi ở ven đường, kênhmương, đốt rác thải, đốt rơm rạ tùy ý, người dân chưa thực sự quan tâm đến vấn
đề bảo vệ môi trường, làm môi trường sống ngày một ô nhiễm [16]
2.1.4.Thực trạng môi trường tại địa phương.
Những thuận lợi trong phát triển kinh tế, thu hút lao động đã mang lạikhông ít những mặt tích cực cho địa phương Đường giao thông được nâng cấp,các tuyến đường liên thôn liên xã đều được làm mới, trường học, trạm y tế đượcxây dựng đạt chuẩn, điện chiếu sáng, nước sạch, phương tiện nghe nhìn truyềnthông được cung cấp đầy đủ cho người dân Chợ mới được xây dựng kiên cố, sốphương tiện giao thông ngày một nhiều, đi lại và vận chuyển hàng hóa một cách
dễ dàng Tuy nhiên, bên cạnh lợi ích mà sự phát triển mang lại thì vấn đề về anninh xã hội và ô nhiễm mỗi trường ngày một gia tăng đã gây ra không ít những
áp lực cho cuộc sống của thị trấn ven đô Đặc biệt với sự ra tăng dân số, gia tăngngười nhập cư, quỹ đất bị thu hẹp thì chất thải nông thôn đã và đang trở thànhvấn đề rất đáng được quan tâm ở đây
Theo khảo sát, các doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thì hầu hết đều cóquy trình xử lý rác thải, nước thải và khí thải theo quy chuẩn và tiêu chuẩn chophép Chất thải rắn và phế thải được các doanh nghiệp hợp đồng với các công tymôi trường để vận chuyển và xử lý Từ cơ cấu kinh tế và hoạt động thực tiễn, dễdàng thấy rằng vấn đề môi trường nổi cộm cần giải quyết tại địa phương là chấtthải rắn từ sinh hoạt Cùng có thực trạng như bao vùng nông thôn khác, rất nhiều
hộ dân ở đây nhận thức còn hạn chế, có thói quen vứt rác ra lề đường, ao hồkênh rạch, một số hộ còn đốt rác, rơm rạ, gây lên tình trạng khói bụi và ô nhiễmmôi trường
Trước tình hình thực tế trên, từ năm 2008, UBND thị trấn Trường Sơn đãthành lập một tổ thu gom rác thải gồm 8 thành viên, chia đều cho 4 tổ dân phố,phương tiện để thu gom rác thải là xe kéo 3 bánh thô sơ Địa phương cũng quyhoạch một khu đất có diện tích khoảng 500 m2 để làm bãi rác tập trung Bãi rác
Trang 23này nằm trong ngõ, cách mặt đường tỉnh lộ 357 khoảng 200m nhưng gần kề bãirác vẫn có khoảng 50 hộ dân sinh sống và 2 doanh nghiệp đang hoạt động.
Hàng ngày các hộ gia đình sẽ tập trung rác bên lề đường, vỉa hè hoặc đầungõ, người thu gom sẽ đến tận nơi để gom lại và kéo về đổ tại bãi rác tập chung,rác thải không được phân loại hay xử lý mà được đổ trực tiếp ra bãi này Kinhphí các hộ gia đình phải bỏ ra để chi trả cho công tác thu gom là từ 10.000 đến15.000đ mỗi tháng Theo ước tính từ ban quản lý môi trường thị trấn TrườngSơn thì lượng rác thải sinh hoạt trung bình trong một ngày là 3 tấn [17]
Hình 2.2 Phương tiện vận chuyển rác tại thị trấn Trường Sơn.
Từ khi có đội thu gom rác thải tập trung, tình trạng rác thải vứt bừa bãi đãgiảm đáng kể, người dân ở đây cũng đã dần hình thành được thói quen tập kếtrác, cảnh tượng “nơi đâu cũng có rác” đã không còn, đường làng, ngõ xóm vàđặc biệt các trục đường chính đã quang đãng và sạch đẹp hơn
Tuy đã giải quyết được tình trạng rác thải vứt bừa bãi, thế nhưng bãi ráctập chung lại có diện tích quá nhỏ so với lượng thải ra Thực tế cho thấy rằng,tính đến thời điểm hiện tại, chỉ cần quan sát bằng mắt thường sẽ thấy bãi rác tạithị trấn Trường Sơn đang bị quá tải Mỗi khi lượng rác thải trong bãi chứa đãđầy thì ban quản lý môi trường sẽ tìm kiếm một số giải pháp tạm thời như thuê
xe để nén, ép chặt lượng rác xuống phía dưới, hoặc đốt rác trực tiếp mà không
có một quy định đốt hợp vệ sinh nào Tình trạng rác quá tải, tràn ra lối đi, gâymùi hôi thối cho dân cư gần kề đã và đang diễn ra là một mối lo ngại khác cho
Trang 24người dân và chính quyền địa phương Đã đến lúc phải tìm ra một giải pháp thực
sự có hiệu quả cho vấn đề này Muốn tìm ra hướng giải quyết thích hợp, cầnphải có sự vào cuộc tích cực từ lãnh đạo địa phương, đặc biệt là sự chung taycủa cộng đồng
Hình 2.3.Hình ảnh thực tế tại bãi rác thị trấn Trường Sơn.
Hình 2.4 Rác thải tràn ra lối đi do bãi rác trong tình trạng quá tải.
Trang 25Hình 2.4 : Dùng máy xúc để tạm thời xúc gọn rác thải vào phía bên trong, tránh
tràn ra lối đi tại bãi rác thị trấn Trường Sơn.