1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện công tác quản lý thu thuế các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi cục thuế quận hồng bàng

107 187 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 685 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là từ việc hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lýluận về công tác quản lý thu thuế cùng với việc phân tích thực trạng công tác quản lý thu thuế đối với các doanh

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Bản luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu của cánhân tôi, thực sự được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết kết hợp với khảo

sát, áp dụng một phần trong tình hình thực tiễn và dưới sự hướng dẫn của PGS.TS

Vũ Trọng Tích.

Các dữ liệu, giải pháp và những kết quả trong luận văn là trung thực, xuấtphát từ việc phối hợp giữa kiến thức khoa học và kinh nghiệm thực tiễn Luận vănnày chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào trước đây

Một lần nữa, tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam đoan trên

Hải Phòng, ngày 25 tháng 3 năm 2016

Tác giả

Vũ Thị Mai Anh

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Là một người làm việc trong lĩnh vực quản lý nhà nước, tôi rất muốn đượccống hiến một phần nhỏ bé của mình cho sự nghiệp phát triển của đất nước Tôiluôn nhận thức được việc trau dồi kiến thức là rất cần thiết, cùng với sự tin tưởngcủa cá nhân vào trường Giao thông vận tải mà tôi đã từng học đại học, tôi đã tiếptục theo học tại ngôi trường thân yêu này Để hoàn thành chương trình cao học,trước hết phải kể đến công ơn của Nhà trường và Quý Thầy cô đã tận tình giúp đỡ,tận tâm chỉ bảo Tôi xin gửi lời cảm ơn trân trọng nhất đến Nhà trường và Quýthầy cô, những người đã dậy và dìu dắt tôi trong suốt quá trình học tập vừa qua

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Vũ Trọng Tích,

người Thầy đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn, nghiên cứu đểgiúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Trong quá trình hoàn thành luận văn, mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng bằngtất cả sự nhiệt huyết và năng lực của mình, tuy nhiên chắc chắn sẽ không thể tránhkhỏi những hạn chế và thiếu sót Rất mong nhận được những đóng góp quý báucủa Quí Thầy Cô và các bạn

Trân trọng./

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TĂT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

3 Đối tượng nghiên cứu 2

4 Phạm vi nghiên cứu 2

5 Phương pháp nghiên cứu 2

6 Kết cấu của luận văn 2

CHƯƠNG 1 3

LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ 3

1.1 Tổng quan về thuế 3

1.1.1 Khái niệm Thuế 3

1.1.2 Phân loại thuế 3

1.1.3 Chức năng và vai trò của thuế đối với sự phát triển Kinh tế – Xã hội 5

1.2 Công tác quản lý thu thuế 11

1.2.1 Khái niệm công tác quản lý thu thuế 11

1.2.2 Đặc trưng cơ bản của công tác quản lý thuế 15

1.2.3 Nội dung công tác quản lý thu thuế 18

1.2.4 Các mô hình tổ chức quản lý thuế 19

1.2.5 Công tác quản lý thuế ở một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 23

1.3 Doanh nghiệp vừa và nhỏ 28

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN HỒNG BÀNG 31

Trang 4

2.1 Tổng quan về Chi cục thuế Quận Hồng Bàng 31

2.1.1 Vị trí, chức năng 31

2.1.2 Nhiệm vụ và quyền hạn 31

2.1.3 Cơ cấu tổ chức: 33

2.2 Đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế tại Chi cục thuế Quận Hồng Bàng.34 2.2.1 Đánh giá công tác lập kế hoạch thu thuế 35

2.2.2 Đánh giá công tác tổ chức thu thuế 42

2.2.3 Công tác kiểm tra và xử lý các vi phạm về thuế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 47

2.2.4 Đánh giá công tác tuyên truyền hướng dẫn đối với người nộp thuế 54

2.3 Những kết quả đạt được, những hạn chế trong công tác quản lý thu thuế đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi cục thuế Quận Hồng Bàng 55

2.3.1 Những kết quả đạt được trong công tác quản lý thuế 55

2.3.2 Những hạn chế trong công tác quản lý thuế 57

2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong công tác quản lý thuế 57

CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN HỒNG BÀNG 60

3.1 Căn cứ đề xuất giải pháp 60

3.1.1 Tình hình phát triển Kinh tế - Xã hội tại Quận Hồng Bàng 60

3.1.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của Chi cục thuế Quận Hồng Bàng 61

3.2 Nội dung các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi cục thuế Quận Hồng Bàng 63

3.2.1 Hoàn thiện công tác cán bộ trong công tác quản lý thu thuế 63

3.2.2 Hoàn thiện công tác lập kế hoạch thu thuế 63

3.2.3 Hoàn thiện quy trình kê khai thuế và thu nộp thuế 65

3.2.4 Tăng cường các hoạt động tuyên truyền hướng dẫn đối với người nộp thuế66 3.2.5 Tăng cường các giải pháp ngăn chặn các hành vi vi phạm về thuế 69

Trang 5

3.2.6 Hiện đại hóa cơ sở vật chất và đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ đội ngũ

cán bộ nhân viên thuế 75

3.3 Các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi cục thuế quận Hồng Bàng 79

3.3.1 Hoàn thiện công tác xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra thuế hàng năm.79 3.3.2 Hoàn thiện phương pháp kiểm tra thuế 80

3.2.3 Giải pháp xử lý sau thanh tra, kiểm tra thuế 86

3.2.4 Giải pháp về công tác tổ chức cán bộ 86

3.2.5 Giải pháp trong việc phối hợp công tác 87

3.2.6 Giải pháp về công tác tuyên truyền, hỗ trợ về thuế 87

3.3 Các đề xuất, kiến nghị đối với Nhà nước, Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế và Cục Thuế Thành phố Hải Phòng 88

3.3.1 Đối với Nhà nước 88

3.3.2 Đối với Bộ Tài chính 90

3.3.3 Đối với Tổng cục Thuế 90

3.3.4 Đối với Cục Thuế thành phố Hải Phòng 91

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TĂT

Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

GTGT Giá trị gia tăng

HĐND Hội đồng nhân dân

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

2.1 Tình hình thực hiện thu ngân sách nhà nước năm 2013 37 2.2 Tình hình thực hiện thu ngân sách nhà nước năm 2014 39 2.3 Tổng hợp tình hình thực hiện thu ngân sách nhà nước

2.4 Tình hình quản lý đối tượng người nộp thuế năm 2013 44 2.5 Tình hình quản lý đối tượng người nộp thuế năm 2014 44 2.6 Tình hình quản lý đối tượng người nộp thuế năm 2015 45 2.7 Báo cáo tổng hợp kết quả kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài.

Để đảm bảo giữ vững ổn định môi trường đầu tư mang tính cạnh tranh quốc

tế cao của nền kinh tế Việt Nam đã và đang hội nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế thếgiới, đòi hỏi nhà nước phải đưa ra một chính sách thuế với các chiến lược quản lýhợp lý

Thuế là nguồn thu chủ yếu của quốc gia Vì vậy, một nền kinh tế phát triểnlành mạnh phải dựa vào nguồn thu từ nội bộ của mỗi quốc gia đó Tất cả các nhucầu chi tiêu của Nhà nước đều được đáp ứng qua các nguồn thu từ thuế, phí và cáchình thức thu khác như: vay mượn, viện trợ nước ngoài, bán tài nguyên quốc gia,các khoản thu khác vv Song thực tế cho thấy các hình thức thu ngoài thuế đó córất nhiều hạn chế và bị ràng buộc bởi nhiều điều kiện Do đó thuế vẫn được coi làkhoản thu quan trọng nhất vì khoản thu này mang tính chất ổn định và khi nền kinh

tế càng phát triển thì khoản thu này càng tăng

Trong thực tế nước ta hiện nay, nguồn lực cho công tác quản lý thu thuế đốivới các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn nhiều hạn chế, trong khi sự phức tạp từ cácdoanh nghiệp kinh doanh ngày một tăng lên Điều đó đã mang đến nhiều khó khănhơn cho cơ quan quản lý thu thuế trước sức ép phải đảm bảo công tác thu thuế đểđảm bảo ngân sách nhà nước hàng năm Đây là khó khăn lớn nhất mà ngành thuế ởViệt Nam cần phải vượt qua

Đối với quận Hồng Bàng, một trong 3 quận nội thành của thành phố HảiPhòng, là một trong những đơn vị có số dân, số doanh nghiệp đóng trên địa bànđông trong các quận huyện thuộc Thành phố, thì những hạn chế và khó khăn nêutrên của công tác quản lý thu thuế cũng là một bài toán khó cần lời giải của ngànhthuế địa phương

Từ những phân tích nêu trên, tôi chọn luận văn Thạc sỹ với đề tài " Hoànthiện công tác quản lý thu thuế các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi cục thuế QuậnHồng Bàng" để nhằm nghiên cứu, giải quyết một vấn đề cấp thiết và có ý nghĩathực tiễn trong công tác quản lý thu thuế tại Chi cục thuế Quận Hồng Bàng hiện

Trang 10

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là từ việc hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lýluận về công tác quản lý thu thuế cùng với việc phân tích thực trạng công tác quản

lý thu thuế đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong điều kiện thực tế tại địaphương để có thể đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế tạiChi cục thuế Quận Hồng Bàng cho phù hợp với đường lối chính sách và pháp luậtcủa Nhà nước

3 Đối tượng nghiên cứu.

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác quản lý thuế

4 Phạm vi nghiên cứu.

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là tiếp cận số liệu và tập trung nghiên cứunhững vấn đề liên quan đến công tác quản lý thuế tại Chi cục thuế Quận HồngBàng trong gần 3 năm 2013 – 2015

5 Phương pháp nghiên cứu.

Để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu, luận văn đã sử dụng tổng hợp nhiềuphương pháp nghiên cứu khác nhau

Cơ sở phương pháp luận: Duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

Các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp phân tích, phương pháp so sánh,phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp, điều tra, khảo sát thực tế

6 Kết cấu của luận văn.

Ngoài phần mở đầu và kết luận thì luận văn được kết cấu thành 3 chương:Chương 1: Tổng quan lý luận về thuế và công tác quản lý thu thuế

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thu thuế các doanh nghiệp vừa vànhỏ tại Chi cục thuế Quận Hồng Bàng

Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi cục thuế Quận Hồng Bàng

Trang 11

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ 1.1 Tổng quan về thuế

1.1.1 Khái niệm Thuế

Thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụphải thực hiện đối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do Nhànước ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tượngnộp thuế Thuế không phải là một hiện tượng tự nhiên mà là một hiện tượng xã hội

do chính con người định ra và nó gắn liền với phạm trù Nhà nước và pháp luật

+ Sự ra đời và tồn tại của thuế gắn liền với sự phân chia xã hội thành các giai cấp đối kháng và sự xuất hiện của Nhà nước - Pháp luật.

+ Thuế do cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất ban hành.

+ Thuế là khoản nộp mang tính nghĩa vụ bắt buộc của các pháp nhân và thể nhân đối với Nhà nước không mang tính đối giá hoàn trả trực tiếp.

+ Thuế là công cụ phản ánh quan hệ phân phối lại của cải vật chất dưới hình thức giá trị giữa Nhà nước với các chủ thể khác trong xã hội.

1.1.2 Phân loại thuế

Tùy theo điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước mà hệ thống pháp luậtthuế bao gồm nhiều loại thuế khác nhau Ðể định hướng xây dựng và quản lý hệthống thuế, chúng ta tiến hành sắp xếp các Luật thuế có cùng tính chất thành nhữngnhóm khác nhau, gọi là phân loại thuế Tùy thuộc vào mục tiêu, yêu cầu của từnggiai đoạn phát triển kinh tế - xã hội mà cơ cấu và nội dung các Luật thuế có khácnhau Cũng tùy thuộc vào cơ sở, mục đích phân định, thông thường thuế đượcphân loại theo các tiêu thức sau:

+ Căn cứ vào tính chất của nguồn tài chính động viên vào ngân sách Nhà nước, thuế được phân làm 2 loại: thuế trực thu và thuế gián thu.

- “Thuế gián thu là loại thuế mà Nhà nước sử dụng nhằm động viên mộtphần thu nhập của người tiêu dùng hàng hóa, sử dụng dịch vụ thông qua việc thuthuế đối với người sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Tính chất gián thu thể

Trang 12

hiện ở chổ người nộp thuế và người chịu thuế không đồng nhất với nhau Thuếgián thu là một bộ phận cấu thành trong giá cả hàng hoá, dịch vụ do chủ thể hoạtđộng sản xuất, kinh doanh nộp cho Nhà nước nhưng người tiêu dùng lại là ngườiphải chịu thuế Ở nước ta thuộc loại thuế này bao gồm: Thuế giá trị gia tăng, thuếxuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt”

- “Thuế trực thu là loại thuế mà Nhà nước thu trực tiếp vào phần thu nhậpcủa các pháp nhân hoặc thể nhân Tính chất trực thu thể hiện ở chổ người nộp thuếtheo quy định của pháp luật đồng thời là người chịu thuế Thuế trực thu trực tiếpđộng viên, điều tiết thu nhập của người chịu thuế Ở nước ta thuộc loại thuế nàygồm: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao,thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế sử dụng đất nông nghiệp”

Sự phân loại thuế thành thuế trực thu và thuế gián thu có ý nghĩa quan trọngtrong việc xây dựng chính sách pháp luật thuế

+ Căn cứ vào đối tượng đánh thuế Thuế được chia thành:

- Thuế đánh vào hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ như thuế giá trị giatăng

- Thuế đánh vào sản phẩm hàng hoá như thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụđặc biệt

- Thuế đánh vào thu nhập như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhậpđối với người có thu nhập cao

- Thuế đánh vào tài sản như thuế nhà đất

- Thuế đánh vào việc khai thác hoặc sử dụng một số tài sản quốc gia nhưthuế tài nguyên, thuế sử dụng đất, sử dụng vốn của ngân sách Nhà nước

- Thuế khác và lệ phí, phí

Các loại thuế trên được áp dụng cho nhiều đối tượng khác nhau để vừa pháthuy tác dụng riêng của từng loại thuế, vừa hổ trợ, bổ sung cho nhau nhằm thựchiện một cách tổng hợp các mục tiêu và vai trò của hệ thống pháp luật thuế

Ở nước ta, từ giữa những năm 1980, cùng với công cuộc đổi mới và mở cửanền kinh tế, hệ thống pháp luật thuế Việt Nam đã được nghiên cứu và đến năm

Trang 13

1990 một hệ thống pháp luật thuế mới được hình thành, bao gồm hệ thống chínhsách pháp luật thuế và hệ thống quản lý Nhà nước về thuế

Hiện nay theo Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 – 2020 đãđược Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, hệ thống chính sách thuế trong giai đoạn

2011 - 2020 bao gồm các sắc thuế, phí và lệ phí chủ yếu sau đây: Thuế giá trị giatăng; Thuế tiêu thụ đặc biệt; Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Thuế thu nhập doanhnghiệp; Thuế thu nhập cá nhân; Thuế tài nguyên; Thuế sử dụng đất nông nghiệp;Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp; Thuế bảo vệ môi trường Ngoài ra còn có một

số phí và lệ phí có tính chất như thuế như: lệ phí trước bạ, lệ phí giao thông, lệ phíchứng thư, lệ phí sát sinh

1.1.3 Chức năng và vai trò của thuế đối với sự phát triển Kinh tế – Xã hội.

1.1.3.1 Chức năng của thuế.

Chức năng của một sự vật hay một hiện tượng là sự thể hiện công dụng vốn

có của nó Ðối với một phạm trù kinh tế - xã hội thì chức năng phản ánh sự tácđộng của nó - là một phương thức đặc biệt biểu hiện những thuộc tính vốn có củaphạm trù Cũng như bản chất, chức năng cũng có tính ổn định tương đối của nótrong suốt thời gian tồn tại của sự vật hay đối tượng

Thuế là một phạm trù tài chính, nó biểu hiện những thuộc tính chung vốn cócủa các quan hệ tài chính Tuy nhiên thuế cũng có những đặc trưng, hình thức vậnđộng và các chức năng riêng bắt nguồn từ tổng thể các mối quan hệ tài chính

Căn cứ vào nội dung cùng với qúa trình ra đời, tồn tại và phát triển của thuế,thuế thực hiện các chức năng sau đây:

a/ Chức năng phân phối và phân phối lại: là chức năng cơ bản, đặc thù của thuế

Ngay từ lúc ra đời thuế là phương tiện dùng để động viên nguồn tài chínhvào ngân sách Nhà nước (có ở tất cả các kiểu Nhà nước).Về mặt lịch sử, chức nănghuy động nguồn tài chính là chức năng đầu tiên, phản ánh nguyên nhân nảy sinh rathuế Thông qua chức năng này, các qũy tiền tệ tập trung của Nhà nước được hìnhthành để đảm bảo cơ sở vật chất cho sự hoạt động thường xuyên và tồn tại của Nhà

Trang 14

nước Bằng chính chức năng này, Nhà nước tiến hành tham gia phân phối và phânphối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân trong xã hội Chức năng phânphối và phân phối lại thu nhập của thuế là sự huy động một bộ phận thu nhập quốcdân dưới hình thức tiền tệ vào ngân sách Nhà nước Phần lớn thuế đánh trên hànghóa và thu nhập Người có thu nhập cao và sử dụng nhiều hàng hóa, dịch vụ làngười nộp thuế nhiều hơn Số tiền này sau đó lại được Nhà nước chi nhằm thựchiện chính sách kinh tế -xã hội, tạo ra tính công bằng tương đối cho xã hội Trongmột chừng mực nhất định, chức năng phân phối và phân phối lại đã tạo điều kiệncho sự ra đời và phát huy tác dụng chức năng điều tiết của thuế.

Chức năng phân phối và phân phối lại có vị trí ngày càng quan trọng Ðiềunày được giải thích bởi sự phát triển, mở rộng các chức năng của Nhà nước và việcthực hiện nhiều chính sách khác nhau, trong đó có việc can thiệp của Nhà nướcvào các qúa trình kinh tế

b/ Chức năng điều tiết đối với nền kinh tế.

Chức năng điều tiết của thuế được nhận thức và sử dụng rộng rãi từ nhữngnăm đầu của thế kỷ XX và gắn liền với vai trò điều chỉnh của Nhà nước đối vớinền kinh tế Việc tăng cường vai trò kinh tế - xã hội của Nhà nước dẫn đến tốc độchi tiêu của Nhà nước ngày càng tăng lên và hậu qủa tất yếu là đòi hỏi Nhà nướcphải mở rộng qũy tài chính Nhà nước, hình thành chủ yếu từ việc thu thuế Nhucầu về nguồn tài chính càng lớn thì Nhà nước cần phải tăng cường các chức năngcủa thuế để tác động một cách có hiệu qủa đến nền kinh tế quốc dân Chính trongqúa trình đó chức năng phân phối và phân phối lại và chức năng điều chỉnh củathuế đã được sử dụng một cách hiện thực

Ðiều đó có nghĩa là nội dung điều tiết theo một mục tiêu nào đó đã được dựliệu trước vào trong qúa trình huy động tập trung nguồn tài chính Bằng cách sửdụng nó để kích thích hoặc kìm hãm tốc độ tăng trưởng, tăng cường hoặc làm yếu

đi sự tích lũy tiết kiệm, mở rộng hoặc thu hẹp nhu cầu có khả năng thanh toán củadân cư, đẩy nhanh hoặc làm chậm lại chu kỳ khủng hoảng kinh tế, Nhà nước đãthực hiện điều tiết các hoạt động kinh tế - xã hội trong phạm vi quốc gia

Trang 15

Thực hiện chức năng điều chỉnh của thuế thông qua việc quy định các hìnhthức thu thuế khác nhau, xác định đúng đắn đối tượng chịu thuế và đối tượng nộpthuế; xây dựng chính xác, hợp lý các mức thuế phải nộp có tính đến khả năng củangười nộp thuế Trên cơ sở đó Nhà nước kích thích các hoạt động kinh tế đi vàoqũy đạo chung của nền kinh tế quốc dân, phù hợp với lợi ích của toàn xã hội.Trong điều kiện chuyển sang cơ chế thị trường, vai trò kích thích kinh tế thông quathuế ngay càng được nâng cao Nhà nước sử dụng thuế để tác động lên lợi ích kinh

tế của các chủ thể vì lợi ích của nền kinh tế quốc dân Với công cụ thuế, sự canthiệp của Nhà nước không mang tính chất mệnh lệnh, bắt buộc các chủ thể phảikinh doanh hay không kinh doanh mà chủ yếu tạo ra sự lựa chọn đối với các chủthể kinh doanh

Giữa hai chức năng trên của thuế có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau.Chức năng phân phối và phân phối lại của thuế là nguyên nhân ảnh hưởng đến sựvận động và phát triển của chức năng điều tiết Nhưng chức năng điều tiết của thuếcũng có tác động ngược lại đến chức năng phân phối và phân phối lại thu nhập.Nguồn tài chính mà Nhà nước tập trung được dưới dạng thuế là tiền đề của sự canthiệp của Nhà nước trên diện rộng và theo chiều sâu tới qúa trình sản xuất kinhdoanh của các doanh nghiệp Ngược lại, việc điều tiết, sắp xếp sản xuất của Nhànước nhằm vào việc thúc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế lại tạo điều kiện đểtăng thu nhập của các tầng lớp nhân dân và đây chính là cơ sở quan trọng để mởrộng phạm vi tác động của chức năng phân phối và phân phối lại

Sự thống nhất nội tại của các chức năng hoàn toàn không loại trừ các mâuthuẫn nội tại trong mỗi chức năng và giữa hai chức năng Sự tăng cường chức năngphân phối và phân phối lại làm cho nguồn thu của Nhà nước tăng lên Ðiều đó cónghĩa là mở rộng khả năng của Nhà nước trong việc thực hiện các chương trìnhkinh tế - xã hội Mặt khác, việc tăng cường chức năng phân phối và phân phối lạimột cách qúa mức làm tăng gánh nặng thuế và hậu qủa là làm giảm động lực pháttriển kinh tế, trong nhiều trường hợp làm hạn chế vai trò của chức năng điều tiết

Ðó là tính hai mặt của thuế, nó có khả năng làm ảnh hưởng đến nền kinh tế một

Trang 16

cách tích cực, nhưng cũng có thể ảnh hưởng một cách tiêu cực Tính hai mặt của

sự tác động đó cần phải được xem xét nghiêm túc kỹ lưỡng trong tiến trình hoạchđịnh, xây dựng, ban hành các chính sách pháp luật về thuế của Nhà nước trongtừng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội nhất định

1.1.3.2 Vai trò của thuế đối với sự phát triển Kinh tế – Xã hội.

Các nhà kinh tế học thường đề cập vai trò của thuế đối với ngân sách Nhànước và đời sống xã hội Bởi vì trên thực tế, thông qua hoạt động thu thuế, Nhànước tập trung được một bộ phận của cải của xã hội từ đó hình thành nên qũy ngânsách Nhà nước và thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội

Về phương diện Luật học, thuế là một thực thể do Nhà nước đặt ra thông quaviệc ban hành các văn bản pháp luật Các văn bản quy phạm pháp luật không chỉquy định nội dung các loại thuế mà còn xác lập các quyền, nghĩa vụ của các chủthể, các biện pháp đảm bảo thực hiện thu, nộp thuế Pháp luật thuế là sự thể chếhoá các chính sách kinh tế - xã hội cuả Nhà nước Chính vì vậy pháp luật thuế lànhân tố quyết định ý nghĩa kinh tế - xã hội của thuế và có vai trò quan trọng đốivới nền kinh tế và đời sống xã hội

Vai trò của thuế là sự biểu hiện cụ thể các chức năng của thuế trong nhữngđiều kiện kinh tế, xã hội nhất định Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, với sựthay đổi phương thức can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh tế, thuế đóng vaitrò hết sức quan trọng đối với qúa trình phát triển kinh tế - xã hội Vai trò của thuếđược thể hiện trên các khía cạnh sau đây:

a/ Thuế là công cụ chủ yếu của Nhà nước nhằm huy động tập trung một phần của cải vật chất trong xã hội vào ngân sách Nhà nước.

Nhà nước ban hành pháp luật thuế và ấn định các loại thuế áp dụng đối vớicác pháp nhân và thể nhân trong xã hội.Việc các chủ thể nộp thuế, thực hiện nghĩa

vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật thuế đã tạo ra nguồn tài chính quan trọng,chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn thu ngân sách Nhà nước

Cũng như pháp luật nói chung, Pháp luật thuế có chức năng điều chỉnh cácquan hệ xã hội Mục đích chủ yếu và quan trọng nhất cuả sự điều chỉnh quan hệ

Trang 17

pháp luật thu - nộp thuế là nhằm tạo lập qũy ngân sách Nhà nước Hầu hết ở cácquốc gia, thuế là hình thức chủ yếu mà pháp luật quy định để thu ngân sách Nhànước.

Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu nội

bộ của nền kinh tế quốc dân Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, xuất phát từphạm vi hoạt động mà đòi hỏi Nhà nước phải ban hành và tổ chức thực hiện phápluật thuế để tập trung nguồn tài chính vào ngân sách Nhà nước từ đó mới đáp ứngđược nhu cầu chi ngày càng tăng

Thuế là công cụ quan trọng nhất để phân phối lại tổng sản phẩm xã hội vàthu nhập quốc dân theo đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Hiện naynguồn thu nước ngoài đã giảm nhiều, kinh tế đối ngoại chuyển thành có vay có trả.Trước tiên, thuế là một công cụ quan trọng để góp phần ổn định trật tự xã hội,chuẩn bị điều kiện và tiền đề cho việc phát triển lâu dài

Với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, hệ thống pháp luật thuế mới được ápdụng thống nhất giữa các thành phần kinh tế Thuế đã điều chỉnh được hầu hết cáchoạt động sản xuất, kinh doanh, các nguồn thu nhập, mọi tiêu dùng xã hội Ðây lànguồn thu chính của ngân sách Nhà nước

b/ Thuế là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế và đời sống xã hội.

Ngoài việc huy động nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, pháp luật thuế còn

có vai trò quan trọng trong việc điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế Ðiều 26 Hiếnpháp 1992 ghi nhận: Nhà nước thống nhất quản lý nền kinh tế quốc dân bằng phápluật, kế hoạch, chính sách Là một bộ phận của hệ thống pháp luật Việt Nam, phápluật thuế đóng vai trò là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước Thông qua việc banhành và thực hiện pháp luật thuế, Nhà nước thể chế hoá và thực hiện chính sáchđiều tiết đối với nền kinh tế, điều tiết thu nhập và tiêu dùng xã hội

Ðiều tiết đối với nền kinh tế là yêu cầu khách quan, thường xuyên của Nhànước trong điều kiện nền kinh tế thị trường Thông qua các quy định của pháp luậtthuế về cơ cấu các loại thuế, phạm vi đối tượng nộp thuế, thuế suất, miễn giảm

Trang 18

thuế Nhà nước chủ động phát huy vai trò điều tiết đối với nền kinh tế Vai trònày của pháp luật thuế được thể hiện ở chỗ pháp luật thuế là công cụ tác động đến

tư duy đầu tư, hành vi đầu tư của các chủ thể kinh doanh, hành vi tiêu dùng của cácthành viên trong xã hội Dựa vào công cụ thuế, Nhà nước có thể thúc đẩy hoặc hạnchế việc đầu tư, tiêu dùng

Thông qua các quy định của pháp luật thuế, Nhà nước chủ động can thiệpđến cung - cầu của nền kinh tế Sự tác động của Nhà nước để điều chỉnh cung - cầucủa nền kinh tế một cách hợp lý sẽ có tác động lớn đến sự ổn định và tăng trưởngkinh tế Bằng các quy định của pháp luật thuế, Nhà nước tác động tích cực đếncung - cầu của nền kinh tế trong tất cả các giai đoạn từ sản xuất, lưu thông đến tiêudùng

Ðiều tiết tiêu dùng là hoạt động quan trọng của Nhà nước đối với nền kinh tếthị trường Thông qua các quy định của pháp luật thuế, Nhà nước tác động đến cácquan hệ tiêu dùng của xã hội Nhằm hạn chế việc tiêu dùng đối với một số hànghóa, dịch vụ, Nhà nước tăng thuế suất thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩu đối với việc sản xuất kinh doanh, tiêu dùng các loại hàng hóa đó

Ðể thực hiện chính sách bảo hộ, khuyến khích sản xuất trong nước vàkhuyến khích xuất khẩu, pháp luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có các quy địnhkhuyến khích hoặc hạn chế việc xuất, nhập khẩu đối với một số hàng hóa Sựkhuyến khích hoặc hạn chế này thể hiện tập trung ở biểu thuế áp dụng có tính chấtphân biệt đối với các loại hàng hóa xuất nhập khẩu

Trong điều kiện cạnh tranh của nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trườngtất yếu dẫn đến tình trạng suy thoái về tài chính ở một số doanh nghiệp Ðối vớinhững ngành nghề, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh cần khuyến khích, ngoài các quyđịnh chung, pháp luật thuế còn có các quy định ưu đãi, miễn, giảm thuế nhằm khắcphục sự suy thoái về tài chính, tạo sự ổn định và phát triển của các doanh nghiệp

Thuế góp phần khuyến khích khai thác nguyên liệu, vật tư trong nước để đápứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu.Thông qua pháp luật thuế, Nhà nước có tácđộng tích cực trong việc thúc đẩy sản xuất phát triển trên cơ sở tận dụng và sử

Trang 19

dụng hợp lý và có hiệu qủa các nguồn lực cuả đất nước trong việc điều chỉnh cung

- cầu và cơ cấu kinh tế

c/ Thuế là công cụ góp phần đảm bảo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và công bằng xã hội.

Hệ thống pháp luật thuế mới được áp dụng thống nhất chung cho các ngànhnghề, các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư nhằm đảm bảo sự bình đẳng vàcông bằng xã hội về quyền lợi và nghĩa vụ đối với mọi thế nhân và pháp nhân

Sự bình đẳng và công bằng được thể hiện thông qua chính sách động viêngiống nhau giữa các đơn vị, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế có những điềukiện hoạt động giống nhau, đảm bảo sự bình đẳng và công bằng

Vai trò điều tiết thu nhập của pháp luật thuế thể hiện ở sự tác động của phápluật thuế đối với các quan hệ phân phối và sử dụng thu nhập trong xã hội

Sự vận động của nền kinh tế theo cơ chế thị trường đòi hỏi Nhà nước phải sửdụng đồng bộ nhiều công cụ khác nhau để khắc phục những sự mất cân đối về mặt

xã hội trong đó có mất cân đối về thu nhập Nhà nước sử dụng pháp luật thuế làmcông cụ để điều hòa vĩ mô thu nhập trong xã hội Sự điều tiết này thể hiện ở chổthông qua các quy định của pháp luật thuế, Nhà nước thực hiện việc điều tiết thunhập của các đối tượng nộp thuế và các thành viên trong xã hội Sự thay đổi củapháp luật thuế về cơ cấu các loại thuế trong hệ thống thuế, vế thuế suất đều cótác động đến thu nhập và sử dụng thu nhập trong xã hội

Hiện nay, xu hướng chung của các quốc gia là xây dựng các quy phạm phápluật thuế theo hướng hội nhập quốc tế, đơn giản hóa cơ cấu hệ thống thuế và thuếsuất Tuy vậy, việc thực hiện xu hướng chung đó không làm triệt tiêu vai trò củapháp luật thuế là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước trong điều kiện nền kinh tếthị trường

1.2 Công tác quản lý thu thuế

1.2.1 Khái niệm công tác quản lý thu thuế

Quản lý thu thuế là một dạng của quản lý xã hội kể từ khi có nhà nước vàgắn với quyền lực nhà nước Quản lý thu thuế trước hết và quan trọng nhất thuộc

Trang 20

trách nhiệm của nhà nước cho nên người ta thường quan niệm quản lý thu thuế làquản lý của nhà nước trong lĩnh vực thuế Tuy nhiên, hiện nay để quản lý thuế cóhiệu quả, ở những mức độ nhất định có sự tham gia các tổ chức, cá nhân trong xãhội để hỗ trợ cho công tác quản lý thuế của nhà nước

Sự ra đời, tồn tại và phát triển của thuế cho thấy, thuế là phạm trù kinh tếkhách quan luôn gắn liền với nhà nước Khi Nhà nước xuất hiện làm phát sinh cácnhu cầu chi tiêu, để thoả mãn các nhu cầu chi tiêu, nhà nước sử dụng quyền lựcchính trị để tham gia vào việc phân phối một phần sản phẩm xã hội bằng cách đặt

ra chế độ thuế khoá buộc các thành viên trong xã hội phải đóng góp - phương thứcđộng viên tài chính đầu tiên trong lịch sử đó là thuế Do yêu cầu chi tiêu của nhànước ngày một tăng, ngoài việc huy động nguồn tài chính từ thuế, nhà nước còn sửdụng một số hình thức huy động khác như phát hành công trái, thu phí, lệ phí Nhưng thuế vẫn là hình thức động viên tài chính chủ yếu của các nhà nước trongcác chế độ xã hội có nhà nước Như vậy, thuế được sinh ra từ nhà nước, tồn tại dựavào quyền lực nhà nước và nhằm thoả mãn phần lớn các nhu cầu chi tiêu của nhànước Bởi vậy, ngay từ khi thuế ra đời, việc quản lý thuế đã trở thành hoạt động tấtyếu của nhà nước

Quan hệ thu nộp thuế không chỉ là quan hệ quyền lực và nghĩa vụ mà nó còn

là quan hệ lợi ích phát sinh giữa nhà nước với các tổ chức, cá nhân trong xã hội Vìvậy, thu nộp thuế bao giờ cũng là quan hệ khá phức tạp Không những thế, hoạtđộng thu thuế của nhà nước còn nhằm mục đích hiện thực hóa các mục tiêu của hệthống chính sách thuế như: tác động đến thiết lập và điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế,điều tiết hoạt động sản xuất kinh doanh, hướng dẫn tiêu dùng và điều hoà thu nhậpdân cư đảm bảo mục tiêu công bằng xã hội Tầm quan trọng và tính chất đặc biệtcủa thuế, nên các nhà nước luôn luôn phải tìm ra phương thức quản lí sao cho cóhiệu quả nhất để nhằm đạt được mục tiêu và phát huy tối đa vai trò của thuế trongđời sống thực tiễn Nếu nhà nước không quản lí thuế hoặc quản lí kém hiệu quảđều gây ra những hệ quả xấu cho nhà nước và cho toàn xã hội Cụ thể: Nhà nướckhông thể có nguồn tài chính lớn để tồn tại và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ

Trang 21

của mình, đồng thời, sẽ nảy sinh nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội như: tham

ô, hối lộ, móc ngoặc, để thất thu hoặc lạm thu; hoặc sẽ xảy ra tình trạng gian lận,trốn thuế, nợ đọng thuế… tạo ra sự không công bằng, bình đẳng trong thực hiệnnghĩa vụ thuế với nhà nước, không đảm bảo kỷ cương xã hội, nhà nước không thểthực hiện vai trò quản lý và điều tiết nền kinh tế - xã hội, lợi ích của nhà nước vàcủa tổ chức, cá nhân chân chính đều có thể bị xâm hại Chính vì thế, quản lý thuế

là hoạt động cần thiết, quan trọng luôn được nhà nước và cả xã hội quan tâm

Theo Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 được Quốc hội Khóa XI, kỳ họpthứ 10 ngày 29/11/2006 thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2007:Công tác quản lý thu thuế là hoạt động tổ chức, điều hành và giám sát của cơ quanthuế nhằm đảm bảo các đối tượng nộp thuế chấp hành nghĩa vụ nộp thuế vào Ngânsách Nhà nước theo đúng qui định của pháp luật

Công tác quản lý thuế được triển khai thực hiện theo nguyên tắc như sau:

- Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước Nộp thuế theo quyđịnh của pháp luật là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhân Cơ quan, tổchức, cá nhân có trách nhiệm tham gia quản lý thuế

- Việc quản lý thu thuế được thực hiện theo quy định của Luật này và cácquy định khác của pháp luật có liên quan

- Việc quản lý thu thuế phải bảo đảm công khai, minh bạch, bình đẳng; bảođảm quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế

Theo Luật Quản lý thu thuế thì cơ quan quản lý thuế bao gồm:

- Cơ quan thuế bao gồm : Tổng cục thuế, Cục thuế, Chi cục thuế;

- Cơ quan hải quan bao gồm: Tổng cục hải quan, Cục hải quan, Chi cục hảiquan

Cơ quan quản lý thu thuế có trách nhiệm và quyền hạn như sau:

Trách nhiệm:

- Tổ chức thực hiện thu thuế theo quy định của pháp luật

- Tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn pháp luật về thuế; công khai các thủtục về thuế

Trang 22

- Giải thích, cung cấp thông tin liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuếcho người nộp thuế; công khai mức thuế phải nộp của hộ gia đình, cá nhân kinhdoanh trên địa bàn xã, phường, thị trấn.

- Giữ bí mật thông tin của người nộp thuế theo quy định của Luật này

- Thực hiện việc miễn thuế, giảm thuế, xoá nợ tiền thuế, xóa nợ tiền phạt, hoànthuế theo theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật về thuế

- Xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế khi có đề nghịtheo quy định của pháp luật

- Giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc thực hiện pháp luật về thuếtheo thẩm quyền

- Giao kết luận, biên bản kiểm tra thuế, thanh tra thuế cho đối tượng kiểmtra thuế, thanh tra thuế và giải thích khi có yêu cầu

- Bồi thường thiệt hại cho người nộp thuế theo quy định của Luật này

- Giám định để xác định số thuế phải nộp của người nộp thuế theo yêu cầucủa cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Quyền hạn:

- Yêu cầu người nộp thuế cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến việc xácđịnh nghĩa vụ thuế, số hiệu, nội dung giao dịch của các tài khoản được mở tại ngânhàng thương mại, tổ chức tín dụng khác và giải thích việc tính thuế, khai thuế, nộp thuế

- Yêu cầu tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu liênquan đến việc xác định nghĩa vụ thuế và phối hợp với cơ quan quản lý thuế để thựchiện pháp luật về thuế

- Kiểm tra thuế, thanh tra thuế

- Ấn định thuế

- Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về thuế

- Xử phạt vi phạm pháp luật về thuế theo thẩm quyền; công khai trênphương tiện thông tin đại chúng các trường hợp vi phạm pháp luật về thuế

- Áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc xử lý vi phạm pháp luật vềthuế theo quy định của pháp luật

Trang 23

- Ủy nhiệm cho cơ quan, tổ chức, cá nhân thu một số loại thuế vào ngânsách nhà nước theo quy định của Chính phủ.

1.2.2 Đặc trưng cơ bản của công tác quản lý thuế.

Trên cơ sở khái niệm công tác quản lý thuế theo Luật Quản lý thuế năm

2006, công tác quản lý thu thuế có các đặc trưng cơ bản sau:

Thứ nhất, về bản chất quản lý thuế là một bộ phận của quản lý tài chínhcông Vì vậy, quản lý thuế được tiến hành trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc quản

lý tài chính công nói chung và quản lý nguồn thu của ngân sách nhà nước nóiriêng Do thuế là khoản thu mang tính bắt buộc nên phương pháp quản thuế thườngđược sử dụng chủ yếu là phương pháp quản lý hành chính Tuy nhiên, quản lý thuếtrong xã hội hiện đại đang phát triển theo xu hướng thu hẹp biện pháp quản lý hànhchính cưỡng bức, mở rộng biện pháp quản lý mang tính phục vụ, dịch vụ

Mặc dù ý thức được sự cần thiết và tính tất yếu của thuế nhưng thuế chưabao giờ được người dân cảm nhận như một thực tế dễ chịu Vì vậy, những người

có trách nhiệm quản lý thuế thường phải đối mặt với những mối quan hệ khó điềuchỉnh, thậm chí đôi khi còn nảy sinh xung đột Công tác quản lý thuế về lâu dàivẫn còn là những nhiệm vụ hành chính khó khăn và ít có khả năng gây được thiệncảm của người dân Đặc điểm này đòi hỏi trong công tác quản lý thuế phải rất kiêntrì, phải sử dụng kết hợp nhiều phương pháp, biện pháp, công cụ phương tiện khácnhau để đạt hiệu quả trong quản lý

Thứ hai, về chủ thể trong quản lý thuế: Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngânsách nhà nước, là tài sản quốc gia để phục vụ lợi ích cho toàn xã hội Vì thế, thamgia quản lý thuế là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân trong

xã hội Tuy nhiên, trách nhiệm quản lý thuế trước hết là thuộc về nhà nước Để bảođảm thực thi trách nhiệm này, Nhà nước trao quyền hạn, trách nhiệm quản lý thuếcho Bộ Tài chính mà trực tiếp là hệ thống cơ quan quản lý thuế gồm cơ quan thuế

và cơ quan hải quan chịu trách nhiệm chính trong thực thi nhiệm vụ quản lý thuế.Việc quy định, cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia quản lý thuếtrong Luật Quản lý thuế ở nước ta hiện nay đã thể hiện tư tưởng xã hội hoá hoạt

Trang 24

động quản lý thuế của nhà làm luật Xã hội hóa hoạt động quản lý thuế, có thểđược hiểu là công tác quản lý thuế phải được nhiều tổ chức, cá nhân tham gia, từtham gia xây dựng ban hành pháp luật thuế đến quá trình thực hiện pháp luật trongcuộc sống Từ đó, góp phần xây dựng chính sách thuế, quản lý thuế một cách dânchủ, minh bạch, nâng cao các quyền, nghĩa vụ của người nộp thuế, quyền giám sátcủa người dân; đồng thời, tạo ra sự thay đổi cơ bản về nhận thức của xã hội, nângcao ý thức, trách nhiệm của người dân đối với nghĩa vụ thuế, xây dựng cộng đồngtrách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội đối với công tác quản lý thuế.

Đối tượng chủ yếu chịu sự quản lý thuế của nhà nước là người nộp thuếđược xác định trong các Luật thuế cụ thể do nhà nước ban hành Để tạo thuận lợicho công tác quản lý nguồn thu ngân sách nhà nước nói chung và quản lý thuế nóiriêng, trong Luật Quản lý thuế của Việt Nam hiện nay có mở rộng hơn về đốitượng chịu sự quản lý thuế của Nhà nước đó là: Ngoài đối tượng nộp thuế do Luậtthuế quy định còn có các chủ thể phải nộp các khoản thu khác thuộc ngân sách nhànước do cơ quan quản lý thuế quản lý thu theo quy định của pháp luật.Trong một

số trường hợp đối tượng chịu sự quản lý thuế của nhà nước còn bao gồm: tổ chức,

cá nhân khấu trừ thuế; tổ chức, cá nhân làm thủ tục về thuế thay người nộp thuế và

cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc thực hiện pháp luật

về thuế

Thứ ba, mục tiêu của quản lý thuế là nhằm đạt các vấn đề cơ bản sau:

- Tập trung huy động đầy đủ và kịp thời các khoản thu cho ngân sách nhànước dựa vào khai thác cơ sở thuế hiện tại và tìm kiếm, khuyến khích cơ sở thuếtiềm năng

- Tối thiểu hóa chi phí quản lý thuế của nhà nước và chi phí tuân thủ củangười nộp thuế

- Phát huy tốt nhất vai trò của công cụ thuế trong nền kinh tế thị trường như:

Ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo công bằng trong phân phối thu nhập và điều tiết cáchoạt động sản xuất kinh doanh theo mục tiêu của nhà nước đã định trong từng thời kỳ

- Tăng cường sự tuân thủ thuế của người nộp thuế một cách đầy đủ, kịp thời

Trang 25

và tự nguyện theo các quy định của luật thuế.

- Góp phần bảo đảm sự công bằng, bình đẳng giữa các chủ thể nộp thuếkhác nhau trong thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà nước, bảo đảm môi trườngcạnh tranh lành mạnh, tạo động lực thúc đẩy kinh tế tăng trưởng và phát triển

- Quản lý thuế không chỉ có mục tiêu bảo đảm những quyền và lợi ích chonhà nước mà còn bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế

Trong các mục tiêu nói trên, mục tiêu tăng cường sự tuân thủ thuế là mụctiêu cơ bản nhất để đạt được các mục tiêu còn lại trong quản lý thuế Bởi vì, khi sựtuân thủ thuế của người nộp thuế ở mức cao nhất (nộp đầy đủ, đúng hạn và tựnguyện) chính là cơ sở để duy trì những nguồn thu hiện tại và mở rộng nguồn thutrong tương lai Khi sự chấp hành luật thuế của người nộp thuế được thực hiện,giúp Nhà nước sử dụng tốt nhất công cụ thuế trong việc điều tiết quản lý nền kinh

tế thị trường Sự tuân thủ thuế của đại bộ phận doanh nghiệp và người dân sẽ gópphần xây dựng một nền văn hóa tuân thủ thuế Khi sự tuân thủ thuế của người nộpđược thực hiện một cách tự nguyện, tự giác sẽ làm giảm chi phí quản lý của cơquan quản lý thuế và chi phí tuân thủ của người nộp thuế Chính từ việc xác địnhđược mục tiêu chính này, một số quốc gia đã định ra chiến lược đổi mới quản lýthuế theo hướng: Lấy người nộp thuế làm trung tâm, coi người nộp thuế là kháchhàng mà cơ quan quản lý thuế phải phục vụ, tạo ra điều kiện thuận lợi nhất chongười nộp thuế thực hiện tốt các quyền, nghĩa vụ thuế của họ

Thứ tư, hoạt động quản lý thuế là hoạt động đặc thù, đòi hỏi tính chuyênmôn cao nên được điều chỉnh bằng các quy phạm pháp luật chuyên ngành (LuậtQuản lý thuế và các văn bản pháp luật khác có liên quan) Quản lý thuế tương tựcác lĩnh vực quản lý nhà nước khác là quản lý bằng pháp luật, theo pháp luật vàcác công cụ quản lý khác, trong đó pháp luật là công cụ chủ yếu, là chuẩn mực,buộc mọi người phải tuân theo, dù là người quản lí thuế hay người nộp thuế Đây

là một yêu cầu khách quan trong nền kinh tế thị trường và là yêu cầu của việc xâydựng nhà nước pháp quyền quản lí thuế theo luật nhằm bảo vệ quyền lợi nhà nước,đồng thời coi trọng và bảo vệ quyền, lợi hợp pháp của người nộp thuế

Trang 26

Việc điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong hoạt động quản lý thuế chủ yếubằng các quy phạm pháp luật chuyên ngành Ngoài ra, tham gia điều chỉnh cácquan hệ quản lý thuế còn có các bộ phận pháp luật khác có liên quan Hơn nữa,trong quản lý thuế ở nước ta hiện nay, phương tiện để thực hiện quản lý thuếkhông phải chỉ có pháp luật mà chuẩn mực xã hội, dư luận xã hội cũng đóng vaitrò quan trọng, đặc biệt với một nền văn hoá lúa nước rất biết coi trọng thể diệnnhư ở Việt Nam: “Mất mặt là mất hết sự tôn trọng của xã hội – một dấu hiệu của

sự phá sản” Do đó, bên cạnh việc nâng cao hiệu lực của các quy định pháp luật thìtác động vào dư luận xã hội là một giải pháp hiệu quả cần phải quan tâm, nghiêncứu để cải thiện công tác quản lý thuế

Thứ năm, quản lý thuế thuộc lĩnh vực quản lý có tính kỹ thuật phức tạp,mang tính chuyên môn cao, hiệu quả quản lý thuế phụ thuộc vào nhiều yếu tố khácnhau trong đó có yếu tố: Trình độ năng lực của bộ máy quản lý thuế; điều kiện cơ

sở vật chất của ngành thuế; trình độ nhận thức và văn hoá tuân thủ (ý thức chấphành) pháp luật thuế của người dân; sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật thuế vàcác thể chế quản lý kinh tế - xã hội có liên quan Đặc điểm này của quản lý thuếđặt ra yêu cầu muốn nâng cao hiệu quả quản lý thuế cần có giải pháp đồng bộ,quan tâm phát triển nhiều mặt trong tổ chức hoạt động quản lý thuế như chất lượngcán bộ, điều kiện cơ sở vật chất…thì Nhà nước mới có thể đạt được mục tiêu nângcao tính hiệu lực, hiệu quả trong quản lý thu thuế

1.2.3 Nội dung công tác quản lý thu thuế

-Lập kế hoạch thu thuế: Căn cứ vào chỉ tiêu, dự toán thu ngân sách của Cục

thuế Thành phố Hải Phòng và Nghị quyết của HĐND Quận Hồng Bàng hằng năm,căn cứ vào tình hình thực hiện kế hoạch thu thuế của năm trước và tình hình kinh

tế xã hội hiện tại của Quận, từ đó Chi cục thuế Quận Hồng Bànglập kế hoạch thu

và thực hiện thu ngân sách nhà nước cả năm, tháng, quý Từ kế hoạch thu, Chi cụclên kế hoạch thực hiện chi tiết như: kế hoạch tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế,

kế hoạch cho công tác kê khai thuế, kế hoạch cho công tác quản lý các đối tượngnộp thuế, kế hoạch kiểm tra, thu nợ thuế

Trang 27

Công tác tổ chức thu thuế: Thực hiện các chỉ tiêu kinh tế xã hội, an ninh

-quốc phòng là việc làm quan trọng bậc nhất đối với mỗi đơn vị hành chính Lãnhđạo địa phương luôn xác định đốc thúc thu thuế ngay từ những ngày đầu, thángđầu của năm mới nhằm thực hiện vượt mức kế hoạch cấp trên giao Đôn đốc thunộp thuế là khâu thiết thực nhất đem lại số thu thực tế cho Ngân sách nhà nước Vìvậy, các đơn vị quản lý Thuế xem đây là lĩnh vực trọng tâm quản lý

-Công tác kiểm tra và xử lý các vi phạm về thuế: Để đảm bảo công bằng về

nghĩa vụ thuế, đối với việc chống thất thu ngân sách nhà nước, ngăn chặn các hành

vi gian lận thuế và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật thuế của người nộp thuế,các đơn vị quản lý thu thuế cần quan tâm đến công tác thanh tra kiểm tra thuế, xử

lý các vi phạm về thuế và đốc thúc thu nợ đọng thuế

1.2.4 Các mô hình tổ chức quản lý thuế.

Trên thế giới đã tồn tại các mô hình tổ chức quản lý thu thuế như sau:

1.2.4.1 Mô hình tổ chức quản lý theo sắc thuế.

Đây là mô hình trong đó, bộ máy quản lý thuế được tổ chức thành từng bộphận riêng biệt để quản lý một hoặc một số loại thuế cụ thể như:

Mô hình tổ chức quản lý theo sắc thuế có ưu điểm:

- Tạo điều kiện để chuyên sâu quản lý từng sắc thuế, hiểu rõ phương phápquản lý sắc thuế một cách hiệu quả nhất

- Phản ứng kịp thời với những thay đổi của luật thuế hay những biện phápquản lý đối với từng sắc thuế

- Cơ quan quản lý thuế có thể tổng kết đánh giá được tính hiệu quả của từngsắc thuế, thấy rõ được ưu điểm, nhược điểm của từng sắc thuế để kịp thời có sựđiều chỉnh thích hợp

Tuy nhiên, mô hình tổ chức quản lý theo sắc thuế có những nhược điểm sau:

- Chi phí quản lý cao, hiệu suất quản lý thấp vì các chức năng quản lý bịchồng chéo giữa các bộ phận Mỗi bộ phận đều phải thực hiện đầy đủ các chứcnăng quản lý trong khi có những chức năng có thể chỉ do một bộ phận quản lýhoặc mỗi bộ phận phải có một hệ thống chương trình phầm mềm riêng phục vụ

Trang 28

- Bộ máy quản lý thuế khá cồng kềnh.

Mô hình này phù hợp với các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi, có môitrường tài chính có nhiều biến động và có các qui định khác nhau về thủ tục quản

lý đối với từng loại thuế Mô hình này được áp dụng ở Việt Nam vào đầu nhữngnăm 90 do thời gian này, chính sách thuế thường xuyên thay đổi, bổ sung và hoànthiện Nhiều sắc thuế mới được nghiên cứu áp dụng Do đó, việc áp dụng mô hình

tổ chức bộ máy quản lý theo sắc thuế là phù hợp

1.2.4.2 Mô hình tổ chức bộ máy theo nhóm người nộp thuế.

Là mô hình trong đó mỗi đội thuế chịu trách nhiệm cung cấp đầy đủ các dịch

vụ và quản lý một nhóm người nộp thuế nhất định (nhóm người nộp thuế có thểđược phân loại theo qui mô, theo ngành nghề kinh doanh hoặc theo hình thức sởhữu) Từ đó, hình thành các đội quản lý thuế theo đối tượng (qui mô) kết hợp vớitheo ngành nghề kinh doanh của đối tượng đó như: Đội kiểm tra thuế số 1, Độikiểm tra thuế số 2, Đội thuế liên phường, Đội quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế,…

Mô hình tổ chức bộ máy theo nhóm người nộp thuế có ưu điểm:

- Đáp ứng yêu cầu quản lý thuế phù hợp với đặc điểm của từng loại đốitượng nộp thuế

- Tạo điều kiện thực hiện phương pháp quản lý và phân bổ nguồn lực phùhợp với những rủi ro về quản lý thuế đối với các nhóm người nộp thuế khác nhau,tạo sự an toàn cho ngân sách nhà nước

- Là cơ sở giao nhiệm vụ rõ ràng và giám sát thực hiện, đánh giá mức độ

Trang 29

hoàn thành nhiệm vụ thu ngân sách đối với một hoặc một số nhóm người nộp thuế.

Bên cạnh đó mô hình này cũng có những nhược điểm sau:

- Không đáp ứng được yêu cầu quản lý thuế khi số lượng và qui mô củangười nộp thuế thường xuyên tăng lên, hoạt động kinh doanh ngày càng mở rộng,

đa dạng, phức tạp với hình thức sở hữu khác nhau

- Dễ xảy ra sự không thống nhất trong việc chỉ đạo thực hiện các luật thuế,các biện pháp quản lý của cùng một sắc thuế nhưng đối với mỗi nhóm người nộpthuế khác nhau, tạo ra sự không công bằng về thuế giữa những người nộp thuế

- Bộ máy quản lý cồng kềnh, chi phí quản lý cao do mỗi bộ phòng đều phảithực hiện đầy đủ các chức năng quản lý đối với nhóm người nộp thuế do phòngquản lý

- Dễ dẫn đến quản lý chuyên quản khép kín, móc ngoặc, tham nhũng, tiêucực nếu không có sự giám sát chặt chẽ, kiểm tra thường xuyên

Mô hình tổ chức bộ máy quản lý thuế theo nhóm đối tượng nộp thuế chỉ phùhợp khi việc thực hiện các chức năng cơ bản của cơ quan quản lý thuế đã đạt đếntrình độ cao, đội ngũ cán bộ có kỹ năng Ở Việt Nam, năm 2010 đã thành lập Vụquản lý thuế doanh nghiệp lớn thuộc Tổng cục thuế để làm đầu mối giải quyếtnhững vấn đề liên quan đến quản lý thuế đối với doanh nghiệp thuộc diện Tổngcục Thuế trực tiếp tổ chức công tác quản lý thuế

1.2.4.3 Mô hình tổ chức bộ máy theo chức năng.

Mô hình này lấy chức năng quản lý thuế làm nguyên tắc bao trùm Theo đó,

cơ cấu tổ chức bao gồm các bộ phận thực hiện một hoặc một số chức năng nhấtđịnh trong qui trình quản lý thuế như: Đội tuyên truyền và hỗ trợ đối tượng nộpthuế, Đội dự toán kê khai kế toán thuế và tin học, Đội quản lý nợ và cưỡng chế nợthuế, Đội kiểm tra thuế Mỗi đội thực hiện một hoặc một số chức năng quản lý thuế

có quan hệ mật thiết với nhau để quản lý đối với tất cả các đối tượng nộp thuế theochức năng được phân công thực hiện

Các chức năng quản lý thuế cơ bản gồm: (1) Tuyên truyền và hỗ trợ ngườinộp thuế; (2) Xử lý tờ khai và kế toán thuế; (3) Quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ

Trang 30

thuế; (4) Thanh tra, kiểm tra thuế.

Mô hình tổ chức bộ máy theo chức năng có ưu điểm là thích ứng với mọi sựthay đổi về chính sách thuế và người nộp thuế; hiệu quả quản lý cao do công tácquản lý được chuyên môn hoá, chuyên sâu, chuyên nghiệp theo từng chức năng.Đặc biệt nếu kết hợp với quản lý thuế theo qui mô đối tượng nộp thuế thì hiệu quả

sẽ càng cao hơn; tạo điều kiện cho người nộp thuế tăng cường tính tự giác và giảmchi phí tuân thủ luật thuế của người nộp thuế, giảm chi phí quản lý của cơ quanThuế; giảm thiểu hiện tượng tiêu cực, tham nhũng trong quản lý thuế do sự kiểmtra, giám sát giữa các bộ phận cùng thực hiện qui trình quản lý thuế

Tuy nhiên mô hình này cũng có những nhược điểm khi chưa hoàn toàn thíchứng trong điều kiện trình độ hiểu biết pháp luật thuế và trình độ tự giác thực hiệnnghĩa vụ thuế của người dân nói chung và của người nộp thuế nói riêng còn thấp

và trong cơ chế giao chỉ tiêu pháp lệnh thu ngân sách Bởi, đặc tính phân đoạntrong công tác quản lý dễ dẫn tới việc mỗi bộ phận chức năng chỉ tập trung vàomột khía cạnh hẹp của người nộp thuế và tách biệt với công việc của các bộ phậnkhác, thiếu bộ phận để tập hợp, điều phối hoạt động của các bộ phận chức năngquản lý với nhau Do đó, nếu người đứng đầu cơ quan thuế không quản lý chặt chẽ,cán bộ thuế trách nhiệm không cao, để xảy ra thất thu thuế hoặc không hoàn thành

dự toán Nhà nước giao thì khó qui trách nhiệm cho tổ chức và cá nhân nào vì cả 4khâu quản lý thuế đều liên quan đến việc hoàn thành nhiệm vụ thu ngân sách

Để áp dụng có hiệu quả mô hình này đòi hỏi bộ phận tuyên truyền, hỗ trợphải hoạt động có hiệu quả để giải quyết kịp thời các vướng mắc cho người nộpthuế Hệ thống thông tin phải kịp thời và thông suốt để các bộ phận chức năng sửdụng phục vụ tốt cho công việc của mình

Mô hình này được áp dụng rộng rãi ở các nước đang phát triển Trong quátrình áp dụng, mô hình quản lý thuế theo chức năng được áp dụng đan xen vớinguyên tắc quản lý theo nhóm đối tượng nộp thuế và theo sắc thuế

1.2.4.4 Mô hình kết hợp giữa các nguyên tắc quản lý thuế

Thông thường có một số hình thức kết hợp sau:

Trang 31

(1) Sắc thuế - Chức năng - Qui mô đối tượng.

(2) Chức năng - Qui mô đối tượng - Sắc thuế

(3) Đối tượng (qui mô, ngành nghề) - Chức năng - Sắc thuế

Trong 3 hình thức kết hợp trên, hình thức thứ 2 và thứ 3 có nhiều ưu điểm vàđược áp dụng rộng rãi hơn

Theo mô hình kết hợp Chức năng - Qui mô đối tượng - Sắc thuế thì cơ quanquản lý thuế thành lập các bộ phận quản lý theo từng chức năng quản lý thuế (bộphận hỗ trợ người nộp thuế; bộ phận quản lý việc kê khai và kế toán thuế; bộ phậnquản lý nợ và cưỡng chế thu nợ thuế; bộ phận kiểm tra, thanh tra thuế) Trong mỗi

bộ phận quản lý theo chức năng nêu trên lại hình thành các bộ phận quản lý đối vớitừng loại nhóm đối tượng nộp thuế (lớn, vừa, nhỏ hoặc theo từng ngành kinh tế:hàng không, điện lực, ngân hàng )

Tuy nhiên, cũng có những chức năng được thành lập chung để quản lý đốivới tất cả các người nộp thuế như: Đội kê khai- kế toán thuế và tin học sẽ quản lýviệc kê khai của tất cả các đối tượng nộp thuế và theo dõi kết quả thu thuế trongtoàn ngành

1.2.5 Công tác quản lý thuế ở một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

Xu hướng quản lý thuế hiện nay ở nhiều nước trên thế giới là tiếp cận quanđiểm “coi người nộp thuế là khách hàng của cơ quan thuế” Theo sát định hướng

đó ở nhiều quốc gia đã theo đuổi mục tiêu chiến lược trong quản lý thuế là “tăngcường tối đa sự tuân thủ thuế của người nộp thuế” Sau đây là một số trường hợpđổi mới quản lý thuế điển hình ở một số quốc gia trên thế giới

1.2.5.1 Quản lý thuế ở Hàn Quốc.

Điểm nổi bất của quản lý thuế đối với người nộp thuế ở Hàn Quốc là cácdịch vụ bảo vệ quyền lợi của người nộp thuế và dịch vụ hỗ trợ tư vấn thuế tiện lợi,chất lượng cao

Dịch vụ bảo vệ quyền lợi của người nộp thuế là một chương trình mục tiêucủa cơ quan thuế được tổ chức thông qua một hệ thống tương đối độc lập với cơ

Trang 32

quan thuế Mục tiêu của chương trình này là “đảm bảo các vướng mắc, khó khăc

về thuế mà người nộp thuế đang phải gánh chịu được giải quyết một cách nhanhchóng và công bằng theo quan điểm của người nộp thuế” Với quan điểm ngườilàm dịch vụ cần cố gắng giải quyết được các vấn đề thuế như chính mình là ngườinộp thuế, dịch vụ này có ích đối với người nộp thuế không hiểu rõ luật thuế vàkhông đủ khả năng chi trả cho các dịch vụ tư vấn thuế Những người bảo vệ quyềnlợi của người nộp thuế được đề cử từ các cục thuế và chi cục thuế địa phương, họ

có nhiệm vụ thực hiện dịch vụ này một cách độc lập và công bằng Các dịch vụ hỗtrợ và tư vấn thuế của Hàn Quốc có hai điểm nổi bật là dịch vụ hỗ trợ thuế tại nhà(cơ sở) và trung tâm tư vấn thuế qua mạng viễn thông

Thứ nhất, dịch vụ hỗ trợ thuế tại nhà (tại trụ sở của doanh nghiệp) cho phépngười nộp thuế có thể xử lý các vấn đề về thuế tại chỗ thông qua hầu hết các dịch

vụ được cung cấp qua mạng điện tử

Thứ hai, xây dựng một trung tâm tư vấn thuế tập trung qua mạng lưới viễnthông (nhận và trả lời câu hỏi qua email trong vòng 48h) cho phép cung cấp nhiềuhơn các dịch vụ tư vấn có hiệu quả, chuyên nghiệp và tập hợp về một đầu mối cáchoạt động tư vấn đang tồn tại độc lập tại các văn phòng trung ương và các vănphòng cục thuế vùng và địa phương

Những dịch vụ nói trên của cơ quan thuế Hàn Quốc đã mang lại sự tin tưởnglàm tăng tỷ lệ tuân thủ thuế tự nguyện tại Hàn Quốc

1.2.5.2 Quản lý thuế ở Singapore.

Quản lý thuế ở Singapore có mục tiêu trở thành cơ quan quản lý thu thuếhàng đầu thế giới thông qua chiến lược quản lý là “tối đa hoá sự tuân thủ tự nguyệncủa người nộp thuế” Vì vậy, mọi đặc điểm và yêu cầu của người nộp thuế là cơ sởcho những phản ứng của cơ quan quản lý thu nội địa Singapore (IRAS)

Trên cơ sở thừa nhân sự khác nhau về mức độ, hành vi tuân thủ, nhu cầu vàmong muốn giữa các đối tượng nộp thuế khác nhau, quản lý thuế đối với ngườinộp thuế ở Singapore đã căn cứ vào lịch sử tuân thủ (Hồ sơ các hành vi kê khai,nộp thuế trong một thời gian) và đặc điểm của từng nhóm đối tượng để chia người

Trang 33

nộp thuế thành các nhóm theo mức độ tuân thủ, đồng thời sử dụng các chiến lượcthích hợp đối với từng nhóm.

Nhóm A là nhóm tuân thủ tốt, có ý thức tuân thủ cao, thường xuyên nộp tờkhai và nộp thuế đúng hạn Chiến lược đối với nhóm A là tập trung vào cung cấpcác dịch vụ hoàn hảo, chất lượng tốt, tạo điều kiện cho người nộp thuế kê khai vànộp thuế nhanh chóng, dễ dàng, tiết kiệm chi phí và mang lại những “lợi nhuậntuân thủ” Đồng thời, bất kỳ một lời phàn nàn nào của người nộp thuế này đềuđược tôn trọng và giải quyết Bên cạnh đó, các công cụ xử phạt cưỡng chế rất linhhoạt đối với nhóm đối tượng này Ví dụ “người nộp thuế nhóm A nếu quá hạn nộpthuế sau 30 ngày mới bị nhắc nhở, nếu sau khi nhận thư nhắc nộp, nộp thuế ngaythì khoản tiền phạt có thể được xoá bỏ”

Nhóm B là nhóm có quá khứ tuân thủ tốt, tuy nhiên người nộp thuế nàythỉnh thoảng không tuân thủ nhưng không cố tình trốn thuế Sự không tuân thủ này

có thể xuất phát từ những nguyên nhân như sự thay đổi hay phức tạp chính sáchthuế, sự thiếu hiểu biết của người nộp thuế Chiến lược của cơ quan thuế Singapoređối với đối tượng nhóm B là chuyển dần người nộp thuế thuộc nhóm này sangnhóm A Chiến lược quản lý thuế từ đó tập trung vào giáo dục, khuyến khích, nhắcnhở người nộp thuế thực hiện hành vi kê khai thuế, nộp thuế đúng hạn; cung cấpcác dịch vụ hỗ trợ cần thiết để doanh nghiệp tiếp cận tốt các chính sách thuế và sửdụng các hình thức cưỡng chế từ nhẹ nhàng đến nghiêm khắc

Nhóm C là nhóm có ý thức tuân thủ kém, bao gồm những người nộp thuế cốtình không kê khai, không nộp thuế, nợ thuế rất khó thu hay cố tình kê khai và nộpthuế muộn Chiến lược chủ yếu sử dụng đối với nhóm C là chiến lược cưỡng chếnhanh, mạnh nhằm đảm bảo thu nợ lớn nhất

Trong các giải pháp chiến lược quản lý thu thuế, IRAS chú ý nhất tới cácgiải pháp hỗ trợ người nộp thuế Các dịch vụ hoàn hảo được cung cấp dựa trênđiều tra lấy ý kiến, gặp gỡ tiếp xúc trực tiếp với khách hàng “IRAS đặt ra nhữngchiến lược lắng nghe và học hỏi khác nhau để nắm được những sở thích, nhu cầucủa từng nhóm người nộp thuế nhằm phát triển các sản phẩm và dịch vụ” IRAS

Trang 34

phát triển một đội ngũ nhân viên có năng lực, kỹ năng để có những dịch vụ có chấtlượng cao Công nghệ thông tin hoá các dịch vụ hỗ trợ mạnh mẽ của IRAS cũng làmột trong những yếu tố làm nên thành công trong nâng cao dịch vụ khách hàng vàtính tuân thủ mà IRAS theo đuổi.

1.2.5.3 Bài học kinh nghiệm cho công tác quản lý thuế tại Việt Nam.

Ở Việt Nam, chính sách về thuế nhìn chung còn thiếu tính ổn định và đồng

bộ Ví dụ như Luật Quản lý thuế có hiệu lực từ 01/7/2007, nhưng các văn bảnhướng dẫn lại được xây dựng rải rác từ cuối năm 2007 đến năm 2008 và trong 6tháng đầu năm 2009 mới tạm coi là đủ Tương tự, Luật Doanh nghiệp mặc dù cóhiệu lực từ năm 2005, nhưng mãi tới năm 2008 mới có nghị định hướng dẫn thựchiện Chính sự không đồng bộ này đã dẫn đến hiện tượng chồng chéo trong chỉ đạo

và tổ chức thu thuế, do vừa phải theo cái mới, vừa theo cái cũ, làm giảm hiệu quảcủa hoạt động quản lý thu thuế

Trước yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế thì chính sách thuế vẫn chưa baoquát hết mọi nguồn thu trong nền kinh tế; chưa khuyến khích và bảo hộ có chọnlọc, có thời hạn sản xuất trong nước; chưa thực sự đảm bảo công bằng về nghĩa vụthuế; chính sách thuế vẫn còn nhiều phức tạp, một số sắc thuế còn nhiều mức thuếsuất, lồng ghép nhiều chính sách xã hội, nhiều mức miễn, giảm thuế làm hạn chếtính trung lập của thuế

Bên cạnh đó, hệ thống các chính sách thuế cũng chưa đạt mục tiêu “đơngiản, rõ ràng, thống nhất” được đặt ra trong quá trình cải cách Cụ thể như Luậtthuế Thu nhập doanh nghiệp quy định đối tượng nộp thuế bao gồm cả các cá nhân

có hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhưng theo quy định của Luật Doanh nghiệp,thì cá nhân kinh doanh không phải là doanh nghiệp

Hay như trong khi ở các nước trên thế giới tính thuế giá trị gia tăng chỉ sửdụng một phương pháp tính thuế (phương pháp khấu trừ), thì ở nước ta hiện nayvẫn sử dụng hai phương pháp (khấu trừ và trực tiếp) Việc áp dụng phương pháptính thuế trực tiếp đã gây ra nhiều bất hợp lý, không thể hiện tính ưu việt và thốngnhất của thuế giá trị gia tăng, đồng thời gây khó khăn, giảm hiệu quả cho công tác

Trang 35

quản lý thu thuế Thuế giá trị gia tăng vẫn bao gồm nhiều mức thuế suất (0%, 5%,10%) tạo điều kiện cho người nộp thuế lợi dụng để, gian lận và trốn lậu thuế gâythất thu cho ngân sách nhà nước, thậm chí chạy chọt, hối lộ để được cán bộ ngànhthuế “nương tay” Việc tính thuế thu nhập cá nhân đối với người có thu nhập caocòn phân biệt giữa người Việt Nam và người nước ngoài đang sinh sống và làmviệc tại Việt Nam.

Luật quản lý thuế được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày29/11/2006 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2007 Trong thời gian triển khaithực hiện, công tác quản lý thuế đã có những chuyển biến tích cực, tuy nhiên thực

tế áp dụng vẫn còn một số hạn chế:

- Nghĩa vụ trách nhiệm pháp luật và quyền lợi của đối tượng nộp thuế, cơquan thuế và tổ chức, cá nhân có liên quan đến công tác thuế chưa được quy địnhđầy đủ và thiếu nhất quán giữa các sắc thuế Do đó chưa có đủ cơ sở pháp lý để tổchức quản lý thuế có hiệu quả Một số quy định còn rườm rà, phức tạp, chưa rõràng, minh bạch gây khó khăn, tốn kém chi phí cho cả người nộp thuế và cơ quanthuế, dễ phát sinh tiêu cực trong việc chấp hành nghĩa vụ thuế

- Chưa phù hợp với các chuẩn mực quản lý thuế trên khu vực và thế giới gâytrở ngại trong tổ chức thực hiện Việc lập kế hoạch kiểm tra hàng năm chủ yếu dựavào tình hình chấp hành pháp luật thuế, chưa áp dụng kỹ thuật phân tích các tỷ suấtrủi ro làm cho phân tán nhân lực trong quản lý toàn bộ đối tượng nộp thuế

- Hạn chế về tổ chức bộ máy quản lý thuế: Chức năng, nhiệm vụ của các bộphận trong cơ quan thuế tuy đã được kiện toàn một bước theo Quyết định số504/QĐ-TCT ngày 29/03/2010 của Tổng cục Thuế quy định chức năng, nhiệm vụcủa các đội thuộc Chi cục thuế nhưng thực trạng vẫn còn chồng chéo, chưa chuyênsâu, chuyên nghiệp Cơ quan thuế chưa được giao điều tra, khởi tố các vụ vi phạm

về thuế, chức năng cưỡng chế thu nợ thuế chưa được quy định rõ nên việc xác định

và xử lý chưa kịp thời các gian lận lớn về thuế và xử lý nợ đọng gặp nhiều khó khăn

- Chưa chú trọng ứng dụng những tiến bộ về khoa học, công nghệ trongcông tác thuế dẫn đến những hạn chế về công nghệ quản lý thuế: Việc quản lý thuế

Trang 36

chưa dựa trên cơ sở thu thập thông tin, phân tích đánh giá theo các tiêu thức quản

lý để phân loại, lựa chọn phương thức theo mức độ rủi ro phù hợp với đặc điểm,trình độ của từng loại đối tượng nộp thuế Thông tin và dữ liệu trong chương trìnhquản lý thuế chưa bảo đảm phản ánh đúng, đủ và kịp thời nghĩa vụ nộp thuế củadoanh nghiệp Việc lưu giữ thông tin toàn ngành thuế đang được triển khai chưaphát huy hết tác dụng; việc phân tích xử lý thông tin và phân loại tình hình chấphành pháp luật thuế của doanh nghiệp chưa có căn cứ định lượng, chủ yếu dựa vàokinh nghiệm và ước lượng định tính nên không thể hiện tính khoa học

- Hạn chế về kiểm tra xử lý các hành vi vi phạm về thuế: Công tác thanh tra,kiểm tra xử lý các hành vi vi phạm về thuế của cơ quan thuế chưa được đặt đúngtầm và chưa phù hợp Tình trạng gian lận về thuế còn khá phổ biến ở nhiều khoảnthu, sắc thuế nhưng chưa được phát hiện, truy thu kịp thời cho ngân sách nhà nước

Do đó, vừa thất thu cho ngân sách nhà nước, vừa chưa thật sự bảo đảm công bằng

xã hội và tính nghiêm minh về pháp luật thuế; các vụ án lớn về thuế, đặc biệt là cáchành vi tội phạm chiếm đoạt tiền hoàn thuế giá trị gia tăng không được làm rõ vàkịp thời thu hồi đầy đủ cho ngân sách nhà nước

1.3 Doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Doanh nghiệp vừa và nhỏ là bộ phận không thể thiếu trong cộng đồng cácdoanh nghiệp của một nền kinh tế

Doanh nghiệp siêu nhỏ,nhỏ và vừa hay còn gọi thông dụng là doanh nghiệpvừa và nhỏ là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động haydoanh thu Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy

mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ,doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa Theo tiêuchí của Nhóm Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có sốlượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đếndưới 200 người và nguồn vốn 20 tỷ trở xuống, còn doanh nghiệp vừa có từ 200 đến

300 lao động nguồn vốn 20 đến 100 tỷ

Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa

ở nước mình Ở Việt Nam, theo Điều 3, Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày

Trang 37

30/6/2009 của Chính phủ, quy định số lượng lao động trung bình hàng năm từ 10người trở xuống được coi là doanh nghiệp siêu nhỏ, từ 10 đến dưới 200 người laođộng được coi là Doanh nghiệp nhỏ và từ 200 đến 300 người lao động thì được coi

là Doanh nghiệp vừa.Ở mỗi nền kinh tế quốc gia hay lãnh thổ, các doanh nghiệpnhỏ và vừa có thể giữ những vai trò với mức độ khác nhau, song nhìn chung cómột số vai trò tương đồng như sau:

- Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế: các doanh nghiệp nhỏ và vừathường chiếm tỷ trọng lớn, thậm chí áp đảo trong tổng số doanh nghiệp (Ở ViệtNam chỉ xét các doanh nghiệp có đăng ký thì tỷ lệ này là trên 95%) Vì thế, đónggóp của họ vào tổng sản lượng và tạo việc làm là rất đáng kể

- Giữ vai trò ổn định nền kinh tế: ở phần lớn các nền kinh tế, các doanhnghiệp nhỏ và vừa là những nhà thầu phụ cho các doanh nghiệp lớn Sự điều chỉnhhợp đồng thầu phụ tại các thời điểm cho phép nền kinh tế có được sự ổn định Vìthế, doanh nghiệp nhỏ và vừa được ví là thanh giảm sốc cho nền kinh tế

- Làm cho nền kinh tế năng động: vì doanh nghiệp nhỏ và vừa có quy mônhỏ, nên dễ điều chỉnh (xét về mặt lý thuyết) hoạt động.- Tạo nên ngành côngnghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng: doanh nghiệp nhỏ và vừa thường chuyênmôn hóa vào sản xuất một vài chi tiết được dùng để lắp ráp thành một sản phẩmhoàn chỉnh

- Là trụ cột của kinh tế địa phương: nếu như doanh nghiệp lớn thường đặt cơ

sở ở những trung tâm kinh tế của đất nước, thì doanh nghiệp nhỏ và vừa lại có mặt

ở khắp các địa phương và là người đóng góp quan trọng vào thu ngân sách, vào sảnlượng và tạo công ăn việc làm ở địa phương

- Đóng góp không nhỏ giá trị GDP cho quốc gia

Do vai trò quan trọng của doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhiều quốc gia đã chútrọng công tác khuyến khích loại hình doanh nghiệp này phát triển Các hỗ trợmang tính thể chế để khuyến khích bao gồm: các hỗ trợ nhằm tạo ra một môitrường kinh doanh thuận lợi (xây dựng và ban hành các luật về doanh nghiệp nhỏ

và vừa, tạo thuận lợi trong cấp giấy phép, cung cấp thông tin, v.v ), những hỗ trợ

Trang 38

bồi dưỡng năng lực doanh nghiệp (đào tạo nguồn lực quản lý, hỗ trợ về công nghệ,v.v ), và những hỗ trợ về tín dụng (thành lập ngân hàng chuyên cho doanh nghiệpnhỏ và vừa vay, bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp, thành lập các công ty đầu tưmạo hiểm, v.v ), và những hỗ trợ khác (như mặt bằng kinh doanh) Theo Hiệp hộiDoanh nghiệp Vừa và Nhỏ Việt Nam (VINASME) , có đến 96% doanh nghiệpđăng ký ở Việt Nam là DNVVN Khối này tạo ra đến 40% tổng sản phẩm quốcnội, tạo ra hơn 1 triệu việc làm mới mỗi năm, chủ yếu mang lại lợi ích đặc biệt chonguồn lao động chưa qua đào tạo Trong nhiều năm tới, khối DNVVN vẫn là động

cơ chạy chính cho nền kinh tế Việt Nam Nhưng cũng phải thừa nhận một thực tế,

là khối này cũng chỉ phát triển mạnh trong những lĩnh vực có tỷ suất lợi nhuậnkhiêm tốn, công nghệ thấp do không có lợi thế về quy mô (tiềm lực tài chính, địabàn hoạt động, thị phần…) mà thường tập trung vào các vấn đề như lựa chọn mụctiêu kinh doanh phù hợp với khả năng

Trang 39

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ

TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN HỒNG BÀNG 2.1 Tổng quan về Chi cục thuế Quận Hồng Bàng

2.1.1 Vị trí, chức năng

Chi cục Thuế Quận Hồng Bàng là tổ chức trực thuộc Cục Thuế Thành phốHải Phòng có chức năng tổ chức thực hiện công tác quản lý thuế, phí, lệ phí, cáckhoản thu khác của ngân sách nhà nước (gọi chung là thuế) thuộc phạm vi nhiệm

vụ của ngành thuế trên địa bàn Quận Hồng Bàng theo quy định của pháp luật

Chi cục Thuế Quận Hồng Bàng có tư cách pháp nhân, con dấu riêng, được

mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước theo quy định của pháp luật

Trụ sở làm việc của Chi cục Thuế Quận Hồng Bàng tại số 97D Bạch Đằng

Hạ Lý Hồng Bàng Hải Phòng

2.1.2 Nhiệm vụ và quyền hạn

Nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Chi cục Thuế Quận Hồng Bàng thựchiện theo qui định của Luật Quản lý thuế, các luật thuế, các qui định pháp luậtkhác có liên quan Cụ thể:

1 Chủ động triển khai và tổ chức thực hiện thống nhất các văn bản qui phạmpháp luật về thuế; quy trình, biện pháp nghiệp vụ quản lý thuế trên địa bàn;

2 Thực hiện dự toán thu thuế hàng năm được giao; tổng hợp, phân tích,đánh giá công tác quản lý thuế; tham mưu với cấp uỷ, chính quyền địa phương vềcông tác lập và chấp hành dự toán thu ngân sách Nhà nước, về công tác quản lýthuế trên địa bàn; phối hợp chặt chẽ với các ngành, cơ quan, đơn vị liên quan đểthực hiện nhiệm vụ được giao;

3 Tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền, hướng dẫn, giải thích chính sáchthuế của Nhà nước; hỗ trợ người nộp thuế trên địa bàn thực hiện nghĩa vụ nộp thuếtheo đúng quy định của pháp luật

4 Đề xuất và kiến nghị với Cục trưởng Cục Thuế những vấn đề vướng mắccần sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật về thuế, các quy trình chuyên môn nghiệp vụ, các quy định quản lý nội bộ và những vấn đề vượt quá

Trang 40

thẩm quyền giải quyết của Chi cục Thuế.

5 Thực hiện nhiệm vụ quản lý thuế đối với người nộp thuế thuộc phạm viquản lý của Chi cục Thuế : đăng ký thuế, cấp mã số thuế, xử lý hồ sơ khai thuế, tínhthuế, nộp thuế, miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, xoá nợ thuế, tiền phạt, lập sổthuế,thông báo thuế, phát hành các lệnh thu thuế và thu khác theo qui định của phápluật thuế và các quy định, quy trình, biện pháp nghiệp vụ của ngành; đôn đốc ngườinộp thuế thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đầy đủ, kịp thời vào ngân sách nhà nước

6 Quản lý thông tin về người nộp thuế; xây dựng hệ thống dữ liệu thông tin

về người nộp thuế trên địa bàn;

7 Thường xuyên thanh tra, kiểm tra, giám sát việc kê khai thuế, hoàn thuế,miễn thuế, giảm thuế, nộp thuế, quyết toán thuế và chấp hành chính sách, pháp luậtthuế đối với người nộp thuế và các tổ chức, cá nhân được uỷ nhiệm thu thuế theophân cấp và thẩm quyền quản lý của Chi cục trưởng Chi cục Thuế;

8 Thực hiện theo quy định của pháp luật trong việc quyết định hoặc đề nghịcấp có thẩm quyền quyết định miễn, giảm, hoàn thuế, gia hạn thời hạn khai thuế, giahạn thời hạn nộp tiền thuế, truy thu tiền thuế, xoá nợ tiền thuế, miễn xử phạt tiềnthuế

9 Được quyền yêu cầu người nộp thuế, các cơ quan Nhà nước, các tổ chức,

cá nhân có liên quan cung cấp kịp thời các thông tin cần thiết phục vụ cho công tácquản lý thu thuế; đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý các tổ chức, cá nhân khôngthực hiện trách nhiệm trong việc phối hợp với cơ quan thuế để thực hiện nhiệm vụthu ngân sách Nhà nước;

10 Được quyền ấn định thuế, thực hiện các biện pháp cưỡng chế thi hànhquyết định hành chính thuế theo quy định của pháp luật; thông báo trên cácphương tiện thông tin đại chúng về hành vi vi phạm pháp luật thuế của người nộpthuế;

11 Bồi thường thiệt hại cho người nộp thuế do lỗi của cơ quan thuế, theoquy định của pháp luật; giữ bí mật thông tin của người nộp thuế; xác nhận việcthực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế theo quy định của pháp luật;

Ngày đăng: 21/05/2016, 15:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[3] Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Văn Hiệu (2007), Giáo trình thuế, NXB Tài Chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thuế
Tác giả: Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Văn Hiệu
Nhà XB: NXB TàiChính
Năm: 2007
[1] Bộ Tài Chính (2011), Quyết định số 2162/QĐ-BTC ngày 08/9/2011 của Bộ Tài Chính về việc Phê duyệt kế hoạch cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 - 2015 và các đề án thực hiện chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 - 2020 Khác
[2] Các báo cáo của Chi cục thuế Quận Hồng Bàng, thành phố Hà Nội (năm 2013, 2014, 2015) Khác
[4] Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam (2006), Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 của Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 10 Khác
[5] Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam (2012), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế số 21/2012/QH13 của Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 4 Khác
[6] Thủ Tướng Chính Phủ (2011), Quyết định số 732/2011/QĐ-TTg ngày 17/5/2011 của Thủ Tướng Chính Phủ về việc Phê duyệt chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 - 2020 Khác
[7] Tổng Cục Thuế (2011), Quy trình khai thuế, nộp thuế và kế toán thuế về việc ban hành kèm theo Quyết định số 1864/QĐ-TCT ngày 21/12/2011 của Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Thuế Khác
[8] Tổng Cục Thuế (2012), Quy trình tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế về ban hành kèm theo Quyết định số 601/QĐ-TCT ngày 11/5/2012 của Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Thuế Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức Chi cục thuế Quận Hồng Bàng - Hoàn thiện công tác quản lý thu thuế các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi cục thuế quận hồng bàng
Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức Chi cục thuế Quận Hồng Bàng (Trang 40)
Bảng 2.1: Tình hình thực hiện thu ngân sách nhà nước năm 2013 - Hoàn thiện công tác quản lý thu thuế các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi cục thuế quận hồng bàng
Bảng 2.1 Tình hình thực hiện thu ngân sách nhà nước năm 2013 (Trang 43)
Bảng 2.2: Tình hình thực hiện thu ngân sách nhà nước năm 2014 - Hoàn thiện công tác quản lý thu thuế các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi cục thuế quận hồng bàng
Bảng 2.2 Tình hình thực hiện thu ngân sách nhà nước năm 2014 (Trang 45)
Bảng 2.3: Tổng hợp tình hình thực hiện thu ngân sách nhà nước năm 2015 - Hoàn thiện công tác quản lý thu thuế các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi cục thuế quận hồng bàng
Bảng 2.3 Tổng hợp tình hình thực hiện thu ngân sách nhà nước năm 2015 (Trang 47)
Bảng 2.5: Tình hình quản lý đối tượng người nộp thuế năm 2014 - Hoàn thiện công tác quản lý thu thuế các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi cục thuế quận hồng bàng
Bảng 2.5 Tình hình quản lý đối tượng người nộp thuế năm 2014 (Trang 50)
Bảng 2.4: Tình hình quản lý đối tượng người nộp thuế năm 2013 - Hoàn thiện công tác quản lý thu thuế các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi cục thuế quận hồng bàng
Bảng 2.4 Tình hình quản lý đối tượng người nộp thuế năm 2013 (Trang 50)
Bảng 2.6: Tình hình quản lý đối tượng người nộp thuế năm 2015 - Hoàn thiện công tác quản lý thu thuế các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi cục thuế quận hồng bàng
Bảng 2.6 Tình hình quản lý đối tượng người nộp thuế năm 2015 (Trang 51)
Bảng 2.7: Báo cáo tổng hợp kết quả kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở CQT - Hoàn thiện công tác quản lý thu thuế các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi cục thuế quận hồng bàng
Bảng 2.7 Báo cáo tổng hợp kết quả kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở CQT (Trang 54)
Bảng 2.8: Báo cáo tổng hợp kết quả thanh tra, kiểm tra thuế tại trụ sở - Hoàn thiện công tác quản lý thu thuế các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi cục thuế quận hồng bàng
Bảng 2.8 Báo cáo tổng hợp kết quả thanh tra, kiểm tra thuế tại trụ sở (Trang 56)
Bảng 2.9: Tổng hợp tình hình nợ thuế của DN vừa và nhỏ giữa các năm - Hoàn thiện công tác quản lý thu thuế các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi cục thuế quận hồng bàng
Bảng 2.9 Tổng hợp tình hình nợ thuế của DN vừa và nhỏ giữa các năm (Trang 59)
Hình 3.1: Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của người nộp thuế - Hoàn thiện công tác quản lý thu thuế các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi cục thuế quận hồng bàng
Hình 3.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của người nộp thuế (Trang 73)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w