1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh gía hiện trạng thu gom và quản lí rác thải tại cảng biển hải phòng

52 966 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và theo Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm do tàu gây ra 1973, được sửa đổi bằng Nghị định thư 1978 Công ước Marpol 73/78 mà Việt Nam đã tham gia, các tàu thuyền hoạt động trên biển c

Trang 1

Lời nói đầu

Ngành Hàng hải là một trong các ngành đang đóng một vai trò to lớn trong quá trình phát triển kinh tế ở nước ta, đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh - quốc phòng của đất nước Trải qua hơn

45 năm hình thành và phát triển, ngành hàng hải đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước

Nước ta có tổng chiều dài đường bờ biển lớn hơn 3.200 km, hệ thống cảng biển Việt Nam ngày càng phát triển với các cảng biển trên toàn quốc Các hoạt động hàng hải mang lại lợi ích kinh tế lớn cho đất nước Tuy nhiên, các hoạt động này cũng tạo nên những tác động tiêu cực lớn đến môi trường

Nhận thức được tầm quan trọng của môi trường biển và các nguy cơ gây ô nhiễm biển với đời sống, kinh tế, chính trị - xã hội và an ninh quốc gia, thời gian qua Đảng, Nhà nước ta đã đặc biệt chú trọng công tác bảo vệ môi trường biển và thực hiện Quyết định 855/QĐ-TTg ngày 06 tháng 6 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Đề án Kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động giao thông vận tải

Và theo Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm do tàu gây ra 1973, được sửa đổi bằng Nghị định thư 1978 (Công ước Marpol 73/78) mà Việt Nam đã tham gia, các tàu thuyền hoạt động trên biển cần phải có hệ thống xử lý nước thải lẫn dầu cũng như chuyển các chất thải này đến các hệ thống tiếp nhận xử lý tại các cảng Một số kết quả khảo sát thực tế hiện trạng môi trường và quản lý chất thải tại các cảng biển cho thấy hầu hết đều chưa có hệ thống thu gom và xử

lý chất thải một cách có hiệu quả, do đó, nguy cơ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng là rất lớn Hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp hoạt động trong ngành hàng hải đều có hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt và cảng thì có đơn vị dịch vụ tiếp nhận, có cảng thì không Còn đối với chất thải từ tàu hiện nay ở hầu hết các cảng biển Việt Nam đều chưa có trạm tiếp nhận và xử lý chất thải dầu từ tàu trong khi các tàu biển đều được trang bị máy phân ly dầu nước, các két chứa

Trang 2

dầu cặn và mặt bích quốc tế để bơm chuyển chất thải lên trạm xử lý trên bờ theo yêu cầu của công ước quốc tế Hiện tại chỉ có một số Cảng biển có thiết bị trên

bờ, ngoài ra còn có một số cơ sở kinh doanh hoạt động này, còn lại hoạt động không có sự kiểm soát, dẫn đến quản lý việc thải các chất thải từ tàu còn thả nổi, mặc dù quy định về xây dựng các trang thiết bị tiếp nhận chất thải ở bờ biển để tiếp nhận các loại chất thải từ tàu một cách thích hợp đã được quy định trong Công ước MARPOL 73/78 Tuy nhiên, việc thực hiện các yêu cầu này ở các nước thành viên công ước là những nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam thực hiện còn chưa tốt Nguyên nhân của tồn tại này là do chúng ta chưa có sự quan tâm đúng mức, chưa có một cơ chế tài chính thích hợp, chưa có văn bản pháp quy quy định quản lý hoạt động quản lý, tiếp nhận và xử lý rác thải từ tàu biển

Xuất phát từ vấn đề thực tiễn em đã lựa chọn đề tài “ Đánh gía hiện trạng thu gom và quản lí rác thải tại cảng biển Hải Phòng” nhắm tìm hiểu các tác

động cụ thể của các chất thải từ tàu tới môi trường, tìm hiểu chung về quá trình thu gom chất thải từ tàu, từ đó đề xuất 1 số giải pháp để góp phần nâng cao hiệu quả của công tác bảo vệ môi trường tại cảng biển Hải Phòng nói riêng và vùng

biển Việt Nam nói chung Việc xây dựng Đề án là rất cần thiết nhằm bảo vệ

môi trường đối với công tác quản lý, tiếp nhận, xử lý chất thải rắn lẫn dầu từ tàu biển tại các cảng biển Việt Nam và thực thi Phụ lục I, II của Công ước MARPOL 73/78 mà Việt Nam đã tham gia

Trang 3

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG HÀNG HẢI

VÀ CÁC QUY ĐỊNH LIÊN QUAN

1.1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CẢNG BIỂN VIỆT NAM

1.1.1 Phân loại cảng

Theo Quyết định số 70/2013/QĐ-TTg, ngày 19/11/2013 của Thủ tướng

Chính phủ về phân loại cảng biển, Hệ thống cảng biển Việt Nam được chia làm

3 loại:

- Cảng biển loại I bao gồm 14 cảng là cảng biển đặc biệt quan trọng phục

vụ chủ yếu cho việc phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc liên vùng Đối với cảng biển loại I có vai trò là cảng cửa ngõ hoặc cảng trung chuyển quốc tế, phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội của cả nước được ký hiệu là cảng biển loại IA;

- Cảng biển loại II bao gồm 19 cảng là cảng biển quan trọng phục vụ chủ yếu cho việc phát triển kinh tế - xã hội của vùng, địa phương;

- Cảng biển loại III bao gồm 13 cảng là cảng biển chuyên dùng phục vụ chủ yếu cho hoạt động của doanh nghiệp

Theo Quyết định số 2190/2009/QĐ - TTg ngày 24/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ về “Phê duyệt Quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030”, hệ thống cảng biển Việt Nam được phân thành 6 nhóm cảng Cụ thể:

- Nhóm 1: Nhóm cảng biển phía Bắc từ Quảng Ninh đến Ninh Bình;

- Nhóm 2: Nhóm cảng biển Bắc Trung Bộ từ Thanh Hóa đến Hà Tĩnh;

- Nhóm 3: Nhóm cảng biển Trung Trung Bộ từ Quảng Bình đến Quảng Ngãi;

- Nhóm 4: Nhóm cảng biển Nam Trung Bộ từ Bình Định đến Bình Thuận;

- Nhóm 5: Nhóm cảng biển Đông Nam Bộ (bao gồm cả Côn Đảo và trên sông Soài Rạp thuộc Long An, Tiền Giang);

- Nhóm 6: Nhóm cảng biển đồng bằng sông Cửu Long (bao gồm cả Phú Quốc và các đảo Tây Nam)

Trang 4

Theo thống kê của Cục Hàng hải hệ thống cảng biển Việt Nam hiện có 14 cảng loại 1; 19 cảng biển loại 2 và 13 cảng chuyên dùng với khoảng 250 bến cảng

Về công năng, hiện nay, cảng biển Việt Nam có thể nhận tàu tổng hợp, tài container lên đến 80.000-100.000 tấn và đang nghiên cứu thử nghiệm đón tàu 150.000 tấn cập cảng khu vực Cái Mép - Thị Vải Chỉ tính riêng trong năm 2012,

hệ thống cảng biển Việt Nam đã đón nhận 98.901 lượt tàu trong và ngoài nước, sản lượng hàng hóa thông qua cảng đạt 294,5 triệu tấn, tăng 2,96% so với 2011.[4]

Hình 1.1 Quy hoạch hệ thống cảng biển Việt Nam

Trang 5

1.1.2 Năng lực bốc xếp

Việt Nam có tổng số 166 bến cảng lớn nhỏ phân bố trên cả 3 miền Bắc – Trung - Nam Hiện có 9 bến cảng chính có thể đón tàu quốc tế như Cái Lân, Đình Vũ, Đà Nẵng, Vũng Tàu, Sài Gòn…Phần lớn các cảng này do Vinalines quản lý

So với các nước ven biển, mật độ cảng của nước ta tương đối dày Tuy nhiên, hầu hết các cảng thuộc loại nhỏ do nằm sâu trong sông, cách biển từ 300 – 900m, với luồng lạch khá nông, đa số dưới 10m Do đó, 82% số cầu cảng chỉ cho phép tàu có trọng tải dưới 20.000 DWT vào ăn hàng và được sử dụng chủ yếu cho thương mại địa phương Trang thiết bị ở các cảng cũng chủ yếu phục vụ làm hàng rời với năng suất bốc xếp thấp, ngay cả đối với những cảng chính cũng chỉ bằng khoảng 40 -50% các cảng trong khu vực

Trang 6

1.1.3 Hoạt động quản lý các cảng biển

Đến nay, Vinalines và Tổng công ty Tân cảng Sài Gòn là hai đơn vị chủ lực, quản lý và khai thác nhiều cảng biển chính trong cả nước gồm Quảng Ninh, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP HCM, Vũng Tàu và Cần Thơ Trong nhiều năm, việc thiếu tính cạnh tranh trong khai thác cảng biển, cùng với hạn chế về nguồn vốn đầu tư (chủ yếu từ nguồn ngân sách và vốn vay ODA) khiến hệ thống cảng của Việt Nam chậm phát triển Từ những năm 2000, Chính Phủ đã có chủ trương xã hội hoá hạ tầng cảng biển, kêu gọi mọi thành phần kinh tế góp vốn đầu tư Các doanh nghiệp khai thác cảng nhà nước cũng từng bước được cổ phần hóa và cũng cho thấy bước phát triển tích cực trong hoạt động kinh doanh

Hình 1.3 Cơ cấu sản lượng container qua các hệ thống cảng Việt Nam

Các cảng liên doanh, do những ưu thế về áp dụng công nghệ mới, nên có hoạt động khai thác hiệu quả Cụ thể, cảng VICT tại thành phố Hồ Chí Minh, là cảng container liên doanh đầu tiên của Việt Nam (với Singapore) Đi vào hoạt động năm 1998, trong bối cảnh phía Nam thiếu nghiêm trọng cảng làm hàng container, VICT nhanh chóng trở thành một trong số những cảng có lưu lượng container đông nhất tại TP HCM dù VICT chỉ cho phép đón tàu có trọng tải 20.000 DWT VICT hiện có công suất xếp dỡ gấp 2 lần các cảng khác do đầu tư

hệ thống máy móc và quản lý thông tin hiệu quả

Trang 7

1.1.4 Hoạt động khai thác cảng biển

Với tiềm năng phát triển kinh tế khá nhanh, hoạt động đầu tư cảng biển trở nên hấp dẫn và nhanh chóng thu hút được nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước tham gia, đặc biệt tại khu vực phía Nam Từ năm 2006, có nhiều dự án xây cảng trên khu vực Cái Mép – Thị Vải, được cấp phép xây dựng và triển khai trong đó, có một lọat các dự án liên doanh với những nhà khai thác cảng quốc tế lớn như P&O Ports Saigon Holdings Limited, tập đoàn Maersk A/S của Đan Mạch, cảng Singapore, Interflour Vietnam Ltd.,Co Những liên doanh này, theo

đề án, sẽ phát triển hệ thống cảng hiện đại tại khu vực phía Nam Mới đây, cảng quốc tế SP – PSA liên doanh giữa Cảng Sài Gòn với PSA International (Singapore), cảng Quốc tế Cái Mép của Liên doanh giữa Cảng Sài Gòn, Tổng Cty HHVN và Tập đoàn APM Terminals đi vào hoạt động gần đây đã có thể đón tàu có tải trọng gần 60.000 tấn

Hoạt động vận chuyển hàng hóa qua các cảng biển Việt Nam đều có sự tăng trưởng theo từng năm Sự tăng trưởng trong sản lượng hàng hóa này là nhờ thương mại trong nước và ngoại thương cùng phát triển mạnh mẽ trong những năm trở lại đây Đặc biệt, hoạt động xuất nhập khẩu đóng vị trí quan trọng do đối tượng này chiếm tới 70 – 80 % tổng sản lượng hàng hoá các cảng phục vụ mỗi năm Hoạt động ngoại thương trong 5 năm qua luôn đạt tốc độ tăng trưởng trên 20%, nhập khẩu thậm chí tăng khoảng gần 30%/năm sau khi Việt Nam gia nhập WTO năm 2006 Từ đầu năm 2010 đến nay, do ảnh hưởng từ sự đi xuống của nền kinh tế thế giới, xuất nhập khẩu của Việt Nam có chững lại và giảm nhẹ

Trang 8

Bảng 1.1 Tổng lượng hàng qua cảng biển giai đoạn 2007-2012

Năm Lượng hàng thông qua (tấn)

Xuất khẩu Nhập khẩu Nội địa Quá cảnh Tổng

Nguồn: Cục Hàng hải Việt Nam

Hình 1.4 Sản lượng hàng hóa thông qua hệ thống cảng Việt Nam

1.2 ĐÁNH GIÁ NHỮNG TÁC ĐỘNG TỚI MÔI TRƯỜNG CỦA HOẠT ĐỘNG CẢNG BIỂN

* Chất thải rắn và CTNH

Hoạt động của các cảng biển phát sinh rất nhiều chất thải rắn và chất thải nguy hại từ nhiều hoạt động khác nhau:

* Chất thải rắn và CTNH phát sinh từ hoạt động bốc xếp hàng hóa

Hàng hóa thông qua cảng có rất chủng loại khác nhau từ các loại nguyên vật liệu phục vụ sản xuất như xi măng, sắt thép, phân bón, quặng, gỗ, hóa chất

…đến các sản phẩm hoàn thiện như ô tô, xe máy, tivi, tủ lạnh…Quá trình bốc xếp các loại hàng hóa này sẽ phát sinh các loại chất thải là hàng hóa rơi vãi, hư hỏng, vật liệu chèn lót,bao gói Các chất thải này có thể sẽ rơi trực tiếp hoặc bị

Trang 9

cuốn theo nước mưa xuống môi trường nước tại khu vực cảng gây suy thoái môi trường khu vực cảng.

* Chất thải rắn và CTNH phát sinh từ hoạt động của các phương tiện làm hàng trên cảng

Thiết bị máy móc sử dụng trong quá trình vận chuyển, bốc xếp lưu kho sau một thời gian hoạt động nhất định đều phải bảo dưỡng, thay thế chất thải chủ yếu là cao su, dầu mỡ, cặn sơn, cặn dầu và giẻ dính dầu được sử dụng Lượng chất thải này phụ thuộc vào số lượng phương tiện của các cảng cũng như quy mô của các xưởng sửa chữa Ngoài ra, hoạt đông sửa chữa nhỏ của tàu neo đậu trong các cảng vẫn thường xuyên diễn ra trên cầu cảng, trong quá trình tàu bốc xếp hàng hoá Chất thải từ hoạt động này cũng giống như chất thải phát ra trong các xưởng sửa chữa trong cảng Tuy nhiên các chất thải này hầu hết rơi xuống vùng nước cảng

* Chất thải là hàng hóa tồn đọng tại cảng

Các cảng biển của Việt Nam là điểm tiếp nhận rất nhiều hàng hóa tạm nhập tái xuất và hàng hóa bị cấm nhập khẩu theo quy định của pháp luật, rất nhiều trong số đó là các chất thải công nghiệp do các tổ chức lợi dụng kẽ hở của pháp luật của Việt Nam để nhập về Việt Nam như ắc quy chì, quặng nghèo, phế liệu nhiễm chất thải nguy hại, động vật quý hiếm đông lạnh…Những “hàng hóa” khi bị các cơ quan chức năng phát hiện thì các đơn vị nhập khẩu sẽ bỏ hàng và những hàng hóa này sẽ biến thành chất thải tồn đọng trên cảng gây ô nhiễm môi trường khu vực cảng

* Chất thải rắn phát sinh từ hoạt động công nhân và thủy thủ

Chất thải rắn sinh hoạt của thuỷ thủ và của cán bộ công nhân viên cảng chứa nhiều chất hữu cơ, các yếu tố dinh dưỡng nên nếu không được quản lý tốt

có thể rơi vãi xuống biển gây tác động xấu đến chất lượng nước biển ven bờ

Chất thải rắn sinh hoạt của thuỷ thủ đoàn, thành phần chính là giấy bao gói, nylon, vỏ đồ hộp bằng kim loại và nhựa Nguyên nhân gây ô nhiễm chủ yếu là do rác thải sinh hoạt và rác thải sản xuất không được thu gom đưa đi xử

Trang 10

lý mà thải thẳng xuống biển Một phần đáng kể các chất thải này là từ các con tàu đậu trong khu vực cảng Số lượng và tính chất của rác thải do tàu sinh ra phụ thuộc nhiều vào kích cỡ và loại tàu Người ta ước tính rằng, mỗi ngày một người trên tàu hàng tạo ra một lượng chất thải sinh hoạt là 1,5kg và số lượng này sẽ gấp đôi với một người trên tàu khách Trong đó có khoảng 20% là chất thải thực phẩm (gồm cả chất lỏng), 40 – 55% là những chất thải dễ cháy (như giấy, giẻ…), những chất thải không cháy được thường chiếm từ 25 – 40%, 8 – 10% chất thải còn lại là thủy tinh Đối với chất thải này trên các tàu lớn được thiêu huỷ bằng đốt trong các lò đốt, các tàu không có lò đốt thì chúng được lưu trữ trong các thùng đựng rác và được đưa lên bờ tại các cảng

* Chất thải rắn phát sinh từ tàu neo đậu tại cảng

Chất thải rắn phát sinh từ quá trình vệ sinh khoang hàng tương tự như chất thải phát sinh trong quá trình bốc xếp hàng hóa chủ yếu là hàng hóa rơi vãi,

hư hỏng, vật liệu chèn lót, bao gói…

Chất thải phát sinh từ quá trình sửa chữa máy móc của máy tàu thủy chủ yếu là giẻ dính dầu, plastic, gỗ, kim loại…

1.3 HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG CẢNG BIỂN

1.3.1 Luật và công ước quốc tế

* Công ước của Liên hợp Quốc về luật biển 1982 (UNCLOS 1982Công ước

về Luật biển đã được 117 quốc gia và thực thể, trong đó có Việt Nam thông qua

và ký kết vào ngày 10/12/1982 Với 17 phần, 320 điều khoản và 9 phụ lục với

100 điều khoản, 4 nghị quyết kèm theo, Công ước về Luật biển 1982 (Luật biển quốc tế năm 1982) thực sự là một bản hiến pháp về biển của cộng đồng quốc tế, tổng hợp toàn diện, bao quát được tất cả những vấn đề quan trọng nhất về chế độ pháp lý của biển cả và đại dương thế giới; quy định được những quyền lợi và nghĩa vụ về nhiều mặt của mọi loại quốc gia (có biển cũng như không có biển) đối với các vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia cũng như đối với những vùng biển thuộc phạm vi quốc tế, quy định nghĩa vụ của các nước trong việc bảo

Trang 11

vệ môi trường biển trong phần quy định về các vùng biển như bảo tồn và quản

lý tài nguyên sinh vật của biển cả hay bảo vệ môi trường và sự sống của con người, mà còn dành một phần riêng với 46 điều đề cập tới vấn đề bảo vệ và gìn giữ môi trường biển (từ Điều 192 đến 237)

Theo Điều 192 của Công ước, việc bảo vệ và giữ gìn môi trường biển trở thành nghĩa vụ chung của mọi quốc gia

Theo điều 194-UNCLOS, các quốc gia phải thi hành biện pháp cần thiết để hạn chế tối đa ô nhiễm do tàu thuyền gây ra, đặc biệt là những biện pháp nhằm

đề phòng sự cố và đối phó các trường hợp khẩn cấp, nhằm bảo đảm cho các hoạt động trên biển, ngăn ngừa những hoạt động thải bỏ, dù cố ý hay không, và quy định về cách thiết kế, cấu trúc trang bị, hoạt động và định biên của tàu

Việc tham gia vào Công ước này tạo cơ sở pháp lý giúp chúng ta bảo vệ và gìn giữ môi trường biển của Việt Nam nói riêng, đồng thời đẩy mạnh hợp tác quốc tế để ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm môi trường biển nói chung

*Công ước Quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm từ tàu 1973 và được bổ sung bởi

Công ước này là một trong những công ước chủ chốt về BVMT biển Công ước đưa ra những quy định nhằm ngăn ngừa ô nhiễm gây ra do vận chuyển hàng hóa là dầu mỏ, hàng nguy hiểm, độc hại, cũng như do nước, rác và khí thải ra từ tàu Công ước gồm 6 phụ lục:

- Phụ lục I: Quy định về ngăn ngừa ô nhiễm do dầu

- Phụ lục II: Các quy định về kiểm soát ô nhiễm do chất lỏng độc chở xô,

Trang 12

- Phụ lục VI: Các quy định về ngăn ngừa ô nhiễm không khí do tàu gây ra, được phê chuẩn từ tháng 9/1997 và có hiệu từ ngày 19/5/2005.

1.3.2 Luật pháp Việt Nam về BVMT[5]

Điều 35 quy định rõ: Khi hoạt động trong vùng biển Việt Nam, tàu thuyền,

tổ chức, cá nhân phải tuân thủ mọi quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế có liên quan đến việc gìn giữ, BVMT biển

Tàu thuyền, tổ chức, cá nhân không được thải, nhấn chìm hay chôn lấp các loại chất thải công nghiệp, chất thải hạt nhân hoặc các loại chất thải độc hại khác trong vùng biển Việt Nam Khi vận chuyển, bốc, dỡ các loại hàng hóa, thiết bị

có khả năng gây hại đối với tài nguyên, đời sống của con người và ô nhiễm môi trường biển, tàu thuyền, tổ chức, cá nhân phải sử dụng thiết bị và các biện pháp chuyên dụng theo quy định để ngăn ngừa và hạn chế tối đa thiệt hại có thể xảy

ra cho người, tài nguyên và môi trường biển

Tàu thuyền, tổ chức, cá nhân vi phạm quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế có liên quan làm ảnh hưởng đến tài nguyên và môi trường biển trong vùng biển, cảng biển, bến hay nơi trú đậu của Việt Nam thì bị xử lý theo quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; nếu gây thiệt hại thì phải làm sạch, khôi phục lại môi trường và bồi thường theo quy định của pháp luật

Nghiêm cấm: mọi hình thức đổ chất thải trong vùng biển nước Cộng hoà

xã hội chủ nghĩa Việt Nam Cấm thải chất thải chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường; các chất độc, chất phóng xạ và chất nguy hại khác vào đất, nguồn nước

Quy định về thu gom, xử lý chất thải: Chất thải, bùn thải có yếu tố nguy hại phải được quản lý theo quy định về chất thải nguy hại

Trách nhiệm quản lý chất thải: Chất thải phải được xác định nguồn thải,

khối lượng, tính chất để có phương pháp và quy trình xử lý thích hợp với từng

Trang 13

loại chất thải Tổ chức, cá nhân có hoạt động làm phát sinh chất thải có trách nhiệm giảm thiểu, tái chế, tái sử dụng để hạn chế đến mức thấp nhất lượng chất thải phải tiêu huỷ, thải bỏ.

Yêu cầu tất cả các tàu, không phân biệt trong nước và nước ngoài, phải thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên về phòng ngừa ô nhiễm môi trường

Ngoài ra bộ luật cũng quy định trách nhiệm dân sự chủ tàu; quy định tàu biển chuyên dùng chở dầu phải có giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự; giới hạn trách nhiệm bồi thường ô nhiễm dầu

cảng biển và luồng hàng hải:

+ Tất cả các tổ chức, cá nhân, tàu thuyền khi hoạt đông tại cảng biển phải có nghĩa vụ thực hiện quy định của pháp luật về phòng ngừa ô nhiễm môi trường + Tàu thuyền khi hoạt động tại cảng biển phải đảm bảo tất cả các van và thiết bị của tàu thuyền mà chất độc hại có thể thoát ra ngoài được đều phải được đóng kín đưa về trạng thái ngừng hoạt động, niêm phong kẹp chì và phải có biển thông báo tại chỗ Việc tháo bỏ niêm phong hoặc việc bơm thải các chất thải, nước bẩn qua những van hoặc thiết bị quy định tại điều khoản này chỉ được thực

Trang 14

hiện với sự đồng ý của Giám đốc Cảng vụ Hàng hải và có sự giám sát trực tiếp của nhân viên Cảng vụ Hàng hải đó; khi tiến hành bơm các loại nước bẩn, nước thải có chứa dầu hoặc các chất có đặc tính nguy hiểm khác qua đường ống trên mặt boong phải bịt kín các lỗ thoát nước mặt boong và có khay hứng ở những khớp nối của ống dẫn, tất cả các hoạt động liên quan đến việc bơm, xả dầu hoặc các chất nguy hiểm khác đều phải được ghi chép cụ thể vào nhật ký riêng và sẵn sàng xuất trình cho nhân viên cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam kiểm tra khi cần thiết.

Môi trường quy định về quản lý chất thải nguy hại:

+ Điều 25 của thông tư nêu rõ “Trách nhiệm của chủ nguồn thải CTNH phải nhanh chóng đưa CTNH đi xử lý, thực hiện đúng quy trình kê khai và sử dụng Chứng từ CTNH mỗi lần chuyển giao CTNH theo quy định”

+ Điều 26 quy định các đơn vị quản lý CTNH phải có Giấy phép QLCTNH, phải lập báo cáo QLCTNH với kỳ báo cáo 06 (sáu) tháng theo quy định

Trang 15

CHƯƠNG 2:ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG THU GOM VÀ XỬ LÍ

RÁC THẢI TỪ TÀU TẠI HẢI PHÒNG 2.1 Giới thiệu về cảng Hải Phòng

2.1.1 Tổng quan về hệ thống Cảng biển Hải Phòng

Cảng Hải Phòng: Là cảng tổng hợp quốc gia, cửa ngõ quốc tế (loại IA),

gồm các khu bến cảng Lạch Huyện, khu bến cảng Đình Vũ (gồm cả Nam Đình Vũ), khu bến cảng trên sông Cấm và khu bến cảng Yên Hưng - Đầm nhà Mạc Cụ thể như sau:

+ Khu bến cảng Lạch Huyện: Khu bến có quy mô tiếp nhận tàu container

có trọng tải tới 100.000 DWT Bố trí các bến tổng hợp cho tàu hàng tổng hợp trọng tải trên 50.000 DWT Năng lực thông qua dự kiến vào năm 2015 đạt khoảng từ 12,1 - 13,8 triệu tấn/năm và năm 2020 đạt khoảng từ 28,2 - 34,8 triệu tấn/năm, và dự kiến đạt xấp xỉ 120 triệu tấn/năm vào năm 2030

+ Khu bến cảng Đình Vũ (gồm cả Nam Đình Vũ): Tiếp tục đầu tư xây dựng các bến tổng hợp, container và các bến chuyên dụng theo quy hoạch cho

cỡ tàu đến 20.000 DWT không đầy tải, lợi dụng thủy triều ra vào làm hàng Năng lực thông qua dự kiến vào năm 2015 đạt đến 19,1 triệu tấn/năm, vào năm

2020 đạt khoảng 31 triệu tấn/năm, và dự kiến đạt khoảng 42 triệu tấn/năm vào năm 2030

+ Khu bến cảng trên sông Cấm: Hạn chế phát triển mở rộng các bến khu vực trên sông Cấm, đặc biệt khu vực nội thành thành phố Hải Phòng sẽ từng bước chuyển đổi công năng các bến theo quy hoạch của thành phố Các bến khu sông Cấm chỉ đầu tư chiều sâu để duy trì khai thác hiệu quả cho tàu có trọng tải đến 10.000 DWT Năng lực thông qua dự kiến vào năm 2015 đạt khoảng 23,6 triệu tấn/năm, vào năm 2020 đạt khoảng 20 triệu tấn và giảm dần đến năm 2030

dự kiến đạt khoảng 18 triệu tấn/năm

+ Bến cảng Nam Đồ Sơn: khu cảng tiềm năng, chuyên phục vụ quốc phòng - an

ninh [6]

Trang 16

Hải Phòng là khu vực có các yếu tố thuận lợi trong quá trình phát triển hệ thống cảng biển, dịch vụ hàng hải và vận tải biển và cùng với thành phố Hồ Chí Minh trở thành 1 trong 2 đầu mối trung tâm giao lưu hàng hải lớn nhất của cả nước, với hệ thống cảng biển cùng mạng lưới các đơn vị dịch vụ hàng hải, vận tải biển và cơ sở đóng mới, sửa chữa tàu biển hoàn thiện đứng đầu cả nước

Hiện nay, tại khu vực cảng biển Hải Phòng có 35 doanh nghiệp kinh doanh khai thác cảng biển với tổng chiều dài cầu cảng trên 10.500 m, trong đó

có 11 bến cảng kinh doanh xăng dầu, khí hóa lỏng và sản phẩm dầu mỏ với khả năng tiếp nhận tàu có trọng tải đến 10.000 DWT; 09 bến cảng container và 21 bến cảng làm hàng bách hóa tổng hợp với khả năng tiếp nhận tàu có trọng tải đến 40.000 DWT giảm tải

Ngoài ra, trên địa bàn thành phố Hải Phòng còn có khoảng 112 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ hàng hải và 23 doanh nghiệp đóng mới, sửa chữa tàu biển Trong những năm qua, các doanh nghiệp này đã đóng góp một phần to lớn cho sự phát triển kinh tế của thành phố Hải Phòng nói riêng và của đất nước nói chung

Về hệ thống cảng biển

Từ năm 2013 trở về trước, khu vực cảng biển Hải Phòng chỉ có 20 doanh nghiệp khai thác cảng với tổng chiều dài cầu cảng khoảng 5.000 m, các trang thiết bị xếp dỡ như hệ thống cần cẩu chủ yếu của Liên Xô cũ có tuổi thọ cao nên sức nâng đã giảm so với năng lực thiết kế ban đầu từ 5 tấn đến 16 tấn Các trang thiết bị nâng hàng còn hạn chế, lạc hậu, việc bốc xếp chủ yếu vẫn bằng thủ công nên năng lực bốc xếp chỉ đạt khoảng 29.000 tấn/ngày vào năm 2002 và khoảng 37.000 tấn/ngày vào năm 2011

Từ sau năm 2011 đến nay, cùng với sự phát triển chung của đất nước, lượng hàng hóa thông qua khu vực cảng biển Hải Phòng tăng nhanh đã thúc đẩy các doanh nghiệp khai thác cảng đầu tư, nâng cấp các cầu, bến cảng cả về quy

mô, số lượng cũng như trang thiết bị bốc xếp Hiện nay, trong khu vực cảng biển Hải Phòng đã có 35 doanh nghiệp khai thác cảng với tổng chiều dài cầu cảng

Trang 17

trên 10.500 m, có khả năng tiếp nhận tàu đến 40.000 DWT cùng với hệ thống trang thiết bị bốc xếp tiên tiến, hiện đại như hệ thống cẩu dàn QC tại bến cảng Chùa Vẽ, Đình Vũ với sức nâng đến 50 tấn, tầm với xa 40m; ngoài ra, còn nhiều các cảng khác cũng được đầu tư hệ thống cần cẩu trục chân đế với sức nâng đến

40 tấn và các xe nâng hàng với sức nâng lớn Cùng với các cầu cảng là 04 khu neo đậu chuyển tải là Hạ Long, Lan Hạ, Bến Gót và Bạch Đằng có khả năng tiếp nhận tàu đến 50.000DWT

2.1.2 Luồng hàng hải

Năm 2013 về trước, tuyến luồng Hải Phòng đi theo tuyến luồng Nam Triệu thường xuyên bị sa bồi, hạn chế về độ sâu khai thác, thường là -3,8m đến -4,5m (so với số “0” hải đồ) nên chỉ đáp ứng cho những tàu có mớn nước thấp

ra, vào cảng

Từ ngày 18/01/2014, tuyến luồng mới Lạch Huyện - kênh Hà Nam, Bạch Đằng thuộc Dự án cải tạo, nâng cấp cảng Hải Phòng giai đoạn II được đưa vào khai thác cho tàu biển trọng tải đến 40.000 DWT có mớn nước phù hợp, hành hải một chiều đến và rời cảng biển Hải Phòng Độ sâu luồng Hải Phòng được nâng lên góp phần cải thiện đáng kể năng lực tiếp nhận tàu thuyền có trọng tải lớn ra, vào khu vực cảng biển Hải Phòng

Tổng chiều dài toàn tuyến 85 km (trong đó đoạn được nâng cấp cải tạo 42km là Lạch Huyện, Hà Nam, Bạch Đằng, Sông Cấm)

Luồng một chiều, có một ga tránh khu vực Lạch Huyện, được lắp đặt các thiết bị trợ giúp hàng hải hiện đại theo tiêu chuẩn quốc tế IALA (Hiệp hội đèn biển quốc tế), đáp ứng việc dẫn tàu đến, rời cảng 24/24h trong ngày

Luồng Hải Phòng có đặc điểm bị sa bồi lớn nên sau khi đưa vào khai thác sử dụng năm 2009 với độ sâu thiết kế là -7,2m thì những năm tiếp theo do không được duy tu nạo vét thường xuyên đã làm giảm độ sâu khai thác đến 1,5 m so với thiết kế ban đầu

Trang 18

Hình 2.1 Sơ đồ vị trí địa lý và luồng vào cảng Hải Phòng

Trang 19

2.2 HIỆN TRẠNG PHÁT SINH VÀ THU GOM RÁC THẢI TẠI KHU VỰC CẢNG HẢI PHÒNG

2.2.1 Hiện trạng phát sinh rác thải tại khu vực cảng Hải Phòng

2.2.1.1 Chất thải từ hoạt động làm hàng trên cảng

1/ Chất thải rắn

Chất thải rắn phát sinh từ hoạt động của cảng biển bao gồm chất thải rắn phát sinh từ quá trình làm hàng (bốc xếp hàng hóa; tháo dỡ, đóng kiện container); hoạt động bảo dưỡng, sửa chữa phương tiện, thiết bị trên cảng; hoạt động của các cán bộ, công nhân trên cảng Nguồn phát sinh chất thải và đặc trưng của chất thải được thể hiện trong bảng 2.2

Bảng 2.1.Nguồn phát sinh chất thải và đặc trưng của chất thải từ quá trình làm hàng trên cảng

rắn

Quá trình bốc xếp hàng hóa - Hàng hóa rơi vãi, hư hỏng (quặng, rỉ

sắt, gỗ vụn, phân bón, hoa quả, thực phẩm….)

- Vật liệu kê, chèn lóp, bao bi (gỗ, plastic, nilon, giấy, kim loại…)

Hoạt động bảo dưỡng, sửa chữa các

phương tiện thiết bị trên càng (ô tô, cẩu,

ít chất thải nhất Số lượng chất thải rắn công nghiệp của một số cảng khu vực Hải Phòng - Quảng Ninh được tổng hợp trong bảng sau:

Trang 20

Bảng 2.2 Lượng chất thải rắn phát sinh từ quá trình làm hàng trên cảng

ST

T

Bảng 2.3 Thành phần và tính chất của chất thải từ tàu

Chất thải từ hoạt động của tàu biển dầu thải, nước thải nhiễm dầu, chất thải

rắn nhiễm dầu, bóng đèn hỏng, cao su, dây điện

Chất thải sinh hoạt của thuyền viên thức ăn thừa, vỏ đồ hộp, thùng catton,

nilon nước thải sinh hoạtChất thải vệ sinh hầm hàng vật liệu chèn lót, hàng hóa rơi vãi

Khối lượng chất thải từ tàu phụ thuộc vào số lượt tàu ra vào cảng, loại hàng hóa và khả năng đáp ứng như cầu thanh thải của tàu biển Hiện nay chưa có

số liệu thống kê chính xác lượng chất thải từ tàu được thu gom tại các cảng biển, công tác thu gom chất thải này là do chủ tàu trực tiếp thông qua các đơn vị dịch vụ thu gom mà rất ít khi thông quan cơ quan chức năng là cảng vụ Hàng hải Lượng chất thải từ tàu được thu gom từ khu vực cảng biển Hải Phòng do cảng vụ hàng hải thống kê được thể hiện trong bảng sau:

Bảng 2.4 Lượng chất thải từ tàu được thu gom từ khu vực cảng biển Hải Phòng

Trang 21

Số lượt tàu Lượng chất

thải thu gom

Số lượt tàu Lượng chất

thải thu gom

Khối lượng nước

Khu vực cảng Hải Phòng là nơi tiếp nhận rất nhiều hàng hóa mà do một

lý do nào đó mà chủ hàng không tiếp nhận hoặc không được phép nhập khẩu, phần lớn trong số này là các chất thải nhập lậu về Việt Nam Các loại hàng hóa này tồn lưu tại cảng trong một thời gian dài do ảnh hưởng của thời tiết sẽ bị hư hỏng và gây ô nhiễm môi trường cảng cần được xử lý tiêu hủy Theo thống kê của Chi cục Môi trường Hải Phòng lượng chất thải là hàng hóa tồn đọng tại cảng đã tiến hành

xử lý tiêu hủy trong 2 năm 2012, 2013 khoảng 1.720 tấn (152 container) Ngoài ra theo thống kê của Cục Hải Quan Hải Phòng lượng hàng hóa còn đọng tại các cảng khu vực Hải Phòng và đã bị Hải Quan tạm giữ, bảo quản còn rất nhiều trong đó phần lớn là hàng hóa vi phạm luật Bảo vệ Môi trường, Công ước Basel, Công ước cites

Trang 22

Bảng 2.5 Bảng tổng hợp hàng hóa tồn đọng tại cảng HP đang được Cục Hải Quan Hải Phòng tạm giữ

Năm 2008

1 Vi mạch điện tử, nhựa phế liệu 164 kiện

Năm 2009

2 Quần áo các loại đã qua sử dụng không đủ

điều kiện vệ sinh

8 Quần áo các loại đã qua sử dụng không đủ

điều kiện vệ sinh

Trang 23

5000 m3.

+ Công ty cổ phần Việt Mỹ tham gia thu gom nước thải nhiễm dầu và dầu thải Phương tiện thu gom gồm có 02 xà lan với tổng trọng tải 280 tấn, 01 bơm xách tay 25m3/h, 01 hệ thống lò hơi xử lý dầu bằng nhiệt, bồn chứa dầu với tổng dung tích 2000m3

+ Công ty môi trường đô thị Hải Phòng tham gia thu gom chất thải rắn Phương tiện thu gom gồm 03 xích lô chở rác và 10 công nhân tham gia thu gom

b.Lượng chất thải thu gom

Bảng 2.6: Lượng chất thải thu gom lượng tại cảng Hải Phòng

STT Loại chất thải

Số lượng

Lượt tàu (chiếc)

Số lượng (tấn)

Lượt tàu (chiếc)

Số lượng (tấn)

(Nguồn: Cảng vụ Hàng hải Hải Phòng)

Bảng 2.7: Dự đoán lượng chất thải tại các cảng biển khu vực Hải Phòng-Quảng Ninh với công suất khai thác như hiện nay.

TT Tên Cảng biển Loại chất thải Số lượng chất

thải (năm)

(Nguồn: Số liệu tổng hợp được từ chuyến khảo sát của CHHVN)

Ghi chú: Lượng chất thải lỏng hiện nay số liệu chưa thống kê được

c Quy trình xử lý chất thải rắn

Trang 24

Đối với các loại chất thải rắn những phần tái chế được sẽ được tách riêng để bán cho các cơ sơ thu mua phế liệu, còn lại các chất thải khác được vận chuyển cùng với chất thải sinh hoạt của thành phố đến chôn lấp

* Quy trình thu gom, vận chuyển, xử lý

- Quy trình xử lý hàng tồn đọng tại cảng biển

Đơn vị kinh doanh cảng biển, kho bãi, vận chuyển hàng hóa, đơn vị Hải Quan trong quá trình giao nhận, lưu giữ, kiểm tra phát hiện và xác nhận hàng hóa tồn đọng là chất thải cần được xử lý, tiêu hủy thì lập danh sách gửi về Chi cục Hải quan nơi đặt cảng để làm thủ tục xử lý hàng tồn đọng theo quy định của Pháp luật Sau khi Hội đồng xử lý hàng tồn đọng được thành lập, Hội đồng tiến hành mở niêm phong để kiểm kê đánh giá đặc điểm của hàng hóa tồn đọng, đề xuất phương án xử lý, tiêu hủy hàng hóa tồn đọng cần được xử lý, tiêu hủy để không gây ô nhiễm tới môi trường theo các quy định của pháp luật hiện hành, bàn giao chất thải cho đơn vị kinh doanh kho bãi, vận chuyển để bảo quản, lưu giữ, hạn chế thấp nhất việc gây ô nhiễm môi trường của chất thải

Hội đồng xử lý hàng tồn đọng thông báo mời các đơn vị có khả năng xử

lý tiêu hủy chất thải để đấu thầu quá trình xử lý tiêu hủy Hội đồng xử lý hàng tồn đọng sẽ lựa chọn đơn vị có phương án xử lý, tiêu hủy chất thải phù hợp nhất với sự chấp thuận của cơ quản quản lý chuyên ngành môi trường địa phương Cục Hải quan nơi đặt cảng quyết định phương án xử lý, tiêu hủy chất thải là hàng hóa tồn đọng và ký hợp đồng với đơn vị tiến hành xử lý, tiêu hủy chất thải được lựa chọn

Đơn vị xử lý, tiêu hủy chất thải được lựa chọn tiến hành thu gom, vận chuyển chất thải đem đi xử lý theo đúng phương án đã được quyết định dưới sự giám sát của Hội đồng xử lý hàng tồn đọng và cơ quan chuyên ngành quản lý môi trường tại địa phương Sau khi chất thải được xử lý tiêu hủy xong (không còn khả năng gây ô nhiễm tới môi trường) Hội đồng xử lý hàng tồn đóng lập biên bản hoàn thành quán trình xử lý hàng tồn đọng tại cảng biển

*Quy trình quản lý chất thải từ tàu

Trang 25

1/ Chất thải sinh hoạt

a Quy trình thu gom

Chất thải sinh hoạt trên tàu phải được thu gom tối thiểu 1 lần/ngày tại tất

cả các tàu cập cảng và neo đậu trong vùng nước của cảng Chất thải sinh hoạt trên tàu phải được đựng trong túi nilon và tập kết tại một vị trí cố định trên boong tàu

Công nhân và phương tiện thu gom của đơn vị dịch vụ thu gom được Cảng Vụ hàng hải cấp phép đến từng tàu thu gom chất thải sinh hoạt theo biểu giá thu gom và thời gian đã được thông báo tới Cảng Vụ Hàng hải Đại diện của tàu và đơn vị thu gom ký xác nhận biên lai phí thu gom chất thải sinh hoạt Biên lại thu tiền là căn cứ để tàu làm thủ tục xác nhận thu gom chất thải với cảng vụ Hàng hải

b Phương tiện thu gom

Đơn vị tham gia cung cấp dịch vụ thu gom chất thải sinh hoạt từ tàu phải

có các phương tiện thu gom chuyên dụng, phù hợp với điều kiện thu gom chất thải

Đối với các tàu cấp cảng có thể sử dụng xe thùng đẩy tay hoặc xe thùng

có gắn máy để thu gom chất thải sinh hoạt sau đó tập kết tại một vị trí cố định Đối với các tàu neo đậu có thể sử dụng các cano để tới các tàu để thu gom chất thải

Hình 3.9 Mô hình phương tiện thu gom chất thải tư tàu tại cảng biển

Trang 26

c Vận chuyển, xử lý chất thải

Chất thải sau khi được thu gom sẽ đưa về một địa điểm tập kết và đưa đi

xử lý cùng với chất thải đô thị tại địa phương

*Lưu giữ chất thải là hàng hóa tồn đọng tại cảng biển

Đơn vị kinh doanh cảng biển, kho bãi nơi phát hiện hàng hóa tồn đọng cần được xử lý, tiêu hủy phải có trách nhiệm quản lý, lưu giữ chất thải trong thời gian tiến hành làm thủ tục xử lý hàng tồn đọng Quá trình lưu giữ phải đảm bảo hạn chế đến mức thấp nhất việc gây ô nhiễm tới môi trường xung quanh, tới công nhân làm việc trong cảng và các hàng hóa khác lưu giữ trong khu vực Cụ thể:

- Chất thải tồn đọng khi được xác định là chất thải cần được xử lý, tiêu hủy phải được lưu giữ riêng với khu vực lưu giữ hàng hóa khác

- Tùy thuộc vào đặc điểm của hàng hóa để có phương án lưu giữ phù hợp

+ Nếu chất thải có thành phần được biệt nguy hại thì cần có xin ý kiến của

cơ quan chức năng về môi trường để có biện pháp lưu giữ phù hợp

*Vận chuyển, xử lý chất thải là hàng hóa tồn đọng

Chất thải là hàng hóa tồn đọng cần được vận chuyển đi xử lý trong thời gian ngắn nhất có thể để hạn chế thấp nhất việc gây ô nhiễm tới môi trường và ảnh hưởng tới sức khỏe con người

Đơn vị tham gia xử lý, tiêu hủy chất thải là hàng hóa tồn đọng phải đáp ứng được yêu cầu về tư cách pháp nhân về xử lý chất thải theo các quy định của pháp luật hiện hành Các phương tiện, thiết bị vận chuyển, xử lý và tiêu hủy chất thải phải có các phương tiện, thiết bị đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật của phương tiện thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải theo các quy định của pháp luật và

Ngày đăng: 21/05/2016, 15:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Quy hoạch hệ thống cảng biển Việt Nam - Đánh gía hiện trạng thu gom và quản lí rác thải tại cảng biển hải phòng
Hình 1.1. Quy hoạch hệ thống cảng biển Việt Nam (Trang 4)
Hình 1.2. So sánh năng lực bốc xếp của các cảng Đông Nam Á - Đánh gía hiện trạng thu gom và quản lí rác thải tại cảng biển hải phòng
Hình 1.2. So sánh năng lực bốc xếp của các cảng Đông Nam Á (Trang 5)
Bảng 1.1. Tổng lượng hàng qua cảng biển giai đoạn 2007-2012 - Đánh gía hiện trạng thu gom và quản lí rác thải tại cảng biển hải phòng
Bảng 1.1. Tổng lượng hàng qua cảng biển giai đoạn 2007-2012 (Trang 8)
Hình 2.1 Sơ đồ vị trí địa lý và luồng vào cảng Hải Phòng - Đánh gía hiện trạng thu gom và quản lí rác thải tại cảng biển hải phòng
Hình 2.1 Sơ đồ vị trí địa lý và luồng vào cảng Hải Phòng (Trang 18)
Bảng 2.3. Thành phần và tính chất của chất thải từ tàu - Đánh gía hiện trạng thu gom và quản lí rác thải tại cảng biển hải phòng
Bảng 2.3. Thành phần và tính chất của chất thải từ tàu (Trang 20)
Bảng 2.5. Bảng tổng hợp hàng hóa tồn đọng tại cảng HP đang được Cục Hải   Quan Hải Phòng tạm giữ - Đánh gía hiện trạng thu gom và quản lí rác thải tại cảng biển hải phòng
Bảng 2.5. Bảng tổng hợp hàng hóa tồn đọng tại cảng HP đang được Cục Hải Quan Hải Phòng tạm giữ (Trang 22)
Hình 3.9. Mô hình phương tiện thu gom chất thải tư tàu tại cảng biển - Đánh gía hiện trạng thu gom và quản lí rác thải tại cảng biển hải phòng
Hình 3.9. Mô hình phương tiện thu gom chất thải tư tàu tại cảng biển (Trang 25)
Hình 2.2: Sơ đồ nguyên tắc xử lý CTR khu vực cảng - Đánh gía hiện trạng thu gom và quản lí rác thải tại cảng biển hải phòng
Hình 2.2 Sơ đồ nguyên tắc xử lý CTR khu vực cảng (Trang 29)
Bảng 2.8: Các nguồn chất thải rắn và biện pháp xử lý - Đánh gía hiện trạng thu gom và quản lí rác thải tại cảng biển hải phòng
Bảng 2.8 Các nguồn chất thải rắn và biện pháp xử lý (Trang 30)
Hình 2.3. Thiết bị thu gom, lưu giữ CTNH 2.3.2  Thu gom, vận chuyển chất thải - Đánh gía hiện trạng thu gom và quản lí rác thải tại cảng biển hải phòng
Hình 2.3. Thiết bị thu gom, lưu giữ CTNH 2.3.2 Thu gom, vận chuyển chất thải (Trang 33)
Hình 2.4. Mô hình kho chứa chất thải nguy hại 2.3.4 Tái chế, tái sử dụng, xử lý chất thải nguy hại tại nguồn - Đánh gía hiện trạng thu gom và quản lí rác thải tại cảng biển hải phòng
Hình 2.4. Mô hình kho chứa chất thải nguy hại 2.3.4 Tái chế, tái sử dụng, xử lý chất thải nguy hại tại nguồn (Trang 35)
Hình 2.5. Sơ đồ quy trình quản lý chất thải từ tàu biển - Đánh gía hiện trạng thu gom và quản lí rác thải tại cảng biển hải phòng
Hình 2.5. Sơ đồ quy trình quản lý chất thải từ tàu biển (Trang 37)
Bảng 2.1 Nguồn phát sinh chất thải và đặc trưng của chất thải từ - Đánh gía hiện trạng thu gom và quản lí rác thải tại cảng biển hải phòng
Bảng 2.1 Nguồn phát sinh chất thải và đặc trưng của chất thải từ (Trang 51)
Hình 1.1 Quy hoạch hệ thống cảng biển Việt Nam 2 Hình 1.2 So sánh năng lực bốc xếp của các cảng Đông Nam Á 3 Hình 1.3 Cơ cấu sản lượng container qua các hệ thống cảng - Đánh gía hiện trạng thu gom và quản lí rác thải tại cảng biển hải phòng
Hình 1.1 Quy hoạch hệ thống cảng biển Việt Nam 2 Hình 1.2 So sánh năng lực bốc xếp của các cảng Đông Nam Á 3 Hình 1.3 Cơ cấu sản lượng container qua các hệ thống cảng (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w