1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tài liệu ôn thi Quản trị Ngân Hàng Thương Mại

82 359 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 781 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Các dịch vụ tài sản Nợ - nghiệp vụ nguồn vốn bao gồm: nghiệp vụ tạo vốn chủ sở hữu, huyđộng tiền gửi khách hàng, nghiệp vụ tiền gửi và tiền vay các tổ chức tín dụng khác, tiền gửi và v

Trang 1

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1.1 Khái niệm và vai trò của NHTM

● Khái niệm NHTM

Ngân hàng thương mại (Commercial Bank) đã hình thành, tồn tại và phát triển hàng trăm năm.Cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá, hệ thống NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện,phát triển và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu trong nền kinh tế bởi vai trò quan trọngcủa nó đối với nền kinh tế nói chung và đối với từng cộng đồng, từng địa phương nói riêng

Ngân hàng là gì?

Ngân hàng là một loại hình tổ chức đã có quá trình phát triển lâu dài, nhưng đến nay vẫn không

có một khái niệm thống nhất về ngân hàng? Thông thường, khi đưa ra khái niệm về một tổ chức người

ta thường căn cứ vào các chức năng (hay các hoạt động) mà tổ chức đó thực hiện trong nền kinh tế Đốivới NHTM, việc đưa ra khái niệm về nó trong bối cảnh kinh tế hiện nay không phải dễ dàng và luônchính xác Bởi vì, không chỉ chức năng của các ngân hàng đang thay đổi mà chức năng của các đối thủcạnh tranh chính của ngân hàng cũng thay đổi không ngừng Thực tế cho thấy, rất nhiều tổ chức tàichính, bao gồm cả các công ty kinh doanh chứng khoán, công ty bảo hiểm… đều đang cố gắng cungcấp các dịch vụ ngân hàng Ngược lại, ngân hàng cũng đối phó với các đối thủ cạnh tranh (các tổ chứcphi ngân hàng) bằng cách mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ, hướng về các lĩnh vực bất động sản vàmôi giới chứng khoán, tham gia hoạt động bảo hiểm và thực hiện nhiều dịch vụ mới khác

Một cách tiếp cận thận trọng nhất là có thể xem xét ngân hàng trên phương diện những loại hìnhdịch vụ mà chúng cung cấp Theo cách tiếp cận này, Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấpmột danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là dịch vụ tín dụng, thanh toán và thực hiệnnhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế Có thể nóirằng, kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ để tìm kiếm và tối đa hoá lợi nhuận trong phạm vi khuôn khổpháp luật là mục tiêu cơ bản, xuyên suốt quá trình hoạt động của các ngân hàng thương mại

Ở Việt Nam, theo điều 20 Luật Các Tổ chức Tín dụng: “Ngân hàng thương mại là một loại hình

tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan Luậtnày cũng định nghĩa: tổ chức tín dụng là loại hình doanh nghiệp được thành lập theo quy định của luậtnày và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nộidung nhận tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán”

Luật Ngân hàng Nhà nước đưa ra định nghĩa: “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanhtiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấptín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán”

Ngân hàng thương mại xuất hiện khá sớm trong lịch sử Khi mới ra đời, hoạt động chủ yếu của

nó là cho vay và làm trung gian thanh toán, nhưng ngày nay hoạt động của NHTM rất đa dạng Ngoàicác nghiệp vụ truyền thống, các NHTM ngày càng mở rộng và triển khai thêm nhiều nghiệp vụ kinhdoanh mới như: tư vấn đầu tư chứng khoán, bảo lãnh và đại lý phát hành, quản lý danh mục đầu tư…Bên cạnh hệ thống các NHTM, trong nền kinh tế cũng xuất hiện ngày càng nhiều tổ chức tín dụng phingân hàng như: công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư, quỹ tíndụng Theo quan niệm truyền thống, các tổ chức này khác NHTM ở chỗ, nó không kinh doanh cáckhoản tiền gửi không kỳ hạn, do đó cũng không cung cấp các dịch vụ thanh toán Do sự phát triển củanền kinh tế và sự đa dạng hoá các nghiệp vụ của các tổ chức tài chính, cùng với những thay đổi có tínhpháp lý về chức năng hoạt động của các tổ chức này mà sự phân biệt giữa các tổ chức tín dụng ngàynay không còn rõ ràng như trước, dẫn đến tình trạng có sự nhầm lẫn trong công chúng khi phân biệtngân hàng với các tổ chức tài chính khác Tuy nhiên, ở hầu khắp các quốc gia vẫn tồn tại hai loại hình

Trang 2

cơ bản, đó là các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng

● Vai trò của ngân hàng thương mại

Cùng với sự phát triển đa dạng các nghiệp vụ kinh doanh, ngân hàng ngày càng thực hiện nhiềuvai trò mới để có thể duy trì khả năng cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu của xã hội Các ngân hàng ngàynay có những vai trò cơ bản sau:

Thứ nhất, NHTM là trung gian tài chính, thực hiện vai trò điều chuyển các khoản tiết kiệm, chủ

yếu từ hộ gia đình thành vốn tín dụng cho các tổ chức kinh doanh và các thành phần kinh tế khác đểđầu tư vào nhà cửa thiết bị và các tài sản khác

Thứ hai, NHTM giữ vai trò là trung gian thanh toán, thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán

các giao dịch mua bán hàng hoá và dịch vụ của họ

Thứ ba, NHTM giữ vai trò là người bảo lãnh, cam kết trả nợ cho khách hàng khi khách hàng

mất khả năng thanh toán

Thứ tư, NHTM giữ vai trò đại lý, thay mặt khách hàng quản lý và bảo vệ tài sản của họ, phát

hành hoặc chuộc lại chứng khoán…

Thứ năm, NHTM là người thực hiện các chính sách kinh tế của Chính phủ, góp phần điều tiết sự

tăng trưởng kinh tế và theo đuổi các mục tiêu xã hội

Việc hoạch định chính sách tiền tệ thuộc về Ngân hàng Trung ương Để thực thi chính sách tiền

tệ, Ngân hàng Trung ương phải sử dụng các công cụ như lãi suất, dự trữ bắt buộc, thị trường mở Chính các ngân hàng thương mại là chủ thể chịu sự tác động trực tiếp của các công cụ này và đồng thờiđóng vai trò cầu nối trong việc chuyển tiếp các tác động của chính sách tiền tệ đến nền kinh tế Bởi vìhoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại gắn liền với các hoạt động kinh doanh của các doanhnghiệp, các tổ chức và các chủ thể khác trong nền kinh tế Mặt khác, cũng qua ngân hàng thương mại

và các định chế tài chính trung gian khác, tình hình sản lượng, giá cả, công ăn việc làm, nhu cầu tiềnmặt, lãi suất, tỷ giá của nền kinh tế được phản hồi về cho Ngân hàng Trung ương để Chính phủ vàNgân hàng Trung ương có những chính sách điều tiết thích hợp với từng tình hình cụ thể

Thứ sáu, ngân hàng thương mại là cầu nối cho việc phát triển kinh tế đối ngoại giữa các quốc

gia

Với xu hướng phát triển của nền kinh tế là hướng hội nhập vào cộng đồng kinh tế khu vực vàtoàn thế giới, việc mở rộng quan hệ giao lưu kinh tế là một tất yếu, qua đó giúp cho mọi quốc gia pháthuy được lợi thế của mình Thông qua các nghiệp vụ tài trợ xuất nhập khẩu, quan hệ thanh toán với các

tổ chức tài chính, ngân hàng và doanh nghiệp quốc tế , ngân hàng thương mại giúp cho việc thanhtoán, trao đổi mua bán được diễn ra nhanh chóng, thuận tiện, an toàn, hỗ trợ đắc lực cho các hoạt độngkinh tế đạt được hiệu quả cao, đồng thời góp phần khẳng định vị trí và nâng cao sức cạnh tranh của cácdoanh nghiệp, của NHTM trên trường quốc tế

1.1.2 Phân loại NHTM

Có nhiều loại hình ngân hàng thương mại khác nhau tuỳ theo các tiêu thức nghiên cứu

- Căn cứ vào tính chất sở hữu

Theo tính chất sở hữu, người ta phân NHTM thành NHTM công (còn gọi NHTM nhà nước hayNHTM quốc doanh) và NHTM tư

Ngân hàng thương mại công là loại NHTM do Nhà nước đầu tư vốn điều lệ, thành lập và tổchức hoạt động kinh doanh

Ngân hàng thương mại tư là loại hình NHTM do tư nhân góp vốn để thành lập

- Căn cứ vào tiêu thức quốc tịch

Theo tiêu thức quốc tịch, người ta phân biệt NHTM bản xứ và NHTM nước ngoài

Ngân hàng thương mại bản xứ là NHTM do Nhà nước hoặc công dân nước sở tại sở hữu

Trang 3

Ngân hàng thương mại nước ngoài do Nhà nước hoặc công dân nước ngoài sở hữu.

- Căn cứ vào cơ quan cấp giấy phép hoạt động

Theo cơ quan cấp giấy phép hoạt động, người ta phân biệt NHTM toàn quốc và NHTM địaphương

Ngân hàng thương mại toàn quốc (hay còn gọi NHTM liên bang ở những nước theo thể chế liênbang) là loại hình NHTM do Chính phủ trung ương hoặc do một cơ quan quản lý trung ương (thường làNgân hàng Trung ương) cấp giấy phép hoạt động

Ngân hàng thương mại địa phương (hay còn gọi ngân hàng bang ở những nước theo thể chế liênbang) là loại hình NHTM do chính quyền địa phương cấp giấy phép hoạt động

- Căn cứ vào tiêu thức số lượng chi nhánh

Theo tiêu thức số lượng chi nhánh, người ta phân biệt NHTM duy nhất và NHTM mạng lưới.Ngân hàng thương mại duy nhất là loại hình NHTM chỉ có một hội sở (hay sở giao dịch) hoạtđộng duy nhất trên phạm vi toàn bộ lãnh thổ quốc gia

Ngân hàng mạng lưới là loại hình NHTM có hội sở trung ương và phân chia chi nhánh hoạtđộng trên phạm vi toàn bộ lãnh thổ quốc gia và có thể ở cả nước ngoài

- Căn cứ vào tiêu thức chuyên môn hoá hoạt động ngân hàng

Theo tiêu thức chuyên môn hoá hoạt động ngân hàng, người ta phân biệt NHTM chuyên doanh

và NHTM đa năng

Ngân hàng thương mại chuyên doanh là loại hình NHTM chỉ thực hiện một hay một vài hoạtđộng dịch vụ ngân hàng, hay chỉ thực hiện các dịch vụ ngân hàng với một lĩnh vực, một ngành kinh tếnào đó, ví dụ: ngân hàng công thương, ngân hàng ngoại thương, ngân hàng nông nghiệp,

Ngân hàng thương mại đa năng là loại hình NHTM thực hiện đa dạng các dịch vụ ngân hàng

Xu hướng phổ biến trên thế giới hiện nay là phát triển loại hình ngân hàng thương mại đa năng

- Căn cứ vào chiến lược kinh doanh

Dựa vào chiến lược kinh doanh và mối quan hệ giữa ngân hàng với khách hàng có thể phânNHTM thành ngân hàng bán buôn, ngân hàng bán lẻ và ngân hàng vừa bán buôn vừa bán lẻ

Ngân hàng bán buôn là ngân hàng chỉ giao dịch và cung ứng dịch vụ cho các khách hàng lớn cótầm cỡ, với những giao dịch có giá trị lớn, và những giao dịch giữa ngân hàng với khách hàng trên thịtrường liên ngân hàng chứ không giao dịch với khách hàng là cá nhân Đại đa số các chi nhánh NHTMnước ngoài hoạt động tại Việt Nam như ABN - AMRO bank, Deutsche bank, The Chase ManhattanBank,… hoạt động theo loại hình này

Ngân hàng bán lẻ là loại ngân hàng giao dịch và cung ứng cho đối tượng khách hàng là cá nhân

Ở Việt Nam, loại hình này thường thấy ở các NHTM cổ phần nông thôn như: Ngân hàng Mỹ xuyên(An Giang), Ngân hàng An Bình (TPHCM)…

Ngân hàng vừa bán buôn vừa bán lẻ là loại ngân hàng giao dịch và cung ứng dịch vụ cho cảkhách hàng công ty lẫn khách hàng cá nhân Hầu hết các NHTM Việt Nam đều thuộc loại hình ngânhàng này

- Căn cứ vào quan hệ tổ chức, sự phân cấp về quyền hạn và trách nhiệm

Theo quan hệ tổ chức và sự phân cấp quyền hạn & trách nhiệm, có thể chia NHTM thành ngânhàng hội sở, ngân hàng chi nhánh (cấp 1 và cấp 2) và phòng giao dịch Ngân hàng hội sở là nơi tậptrung quyền lực cao nhất và là nơi cung cấp đầy đủ hơn các dịch vụ ngân hàng; trong khi ngân hàng chinhánh, phòng giao dịch nhỏ hơn và cung cấp không đầy đủ tất cả các giao dịch mà chỉ tập trung vàocác giao dịch cơ bản như huy động vốn, thanh toán và cho vay

Ở Việt Nam hiện nay, việc phân loại ngân hàng được thực hiện căn cứ vào hình thức pháp lý củachúng Theo tiêu thức này, hệ thống NHTM bao gồm: NHTM nhà nước (NHTM quốc doanh), NHTM

cổ phần, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng 100% vốn nước ngoài

Trang 4

Ngân hàng thương mại nhà nước là loại NHTM do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chứchoạt động kinh doanh, thực hiện mục tiêu kinh tế của nhà nước Hội đồng quản trị của NHTM nhànước là do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước bổ nhiệm, miễn nhiệm sau khi có thoả thuận với Ban Tổchức cán bộ của Chính phủ Điều hành hoạt động của NHTM nhà nước là Tổng giám đốc.

NHTM cổ phần là NHTM được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần, trong đó có cácdoanh nghiệp nhà nước, tổ chức tín dụng, tổ chức khác và cá nhân cùng góp vốn theo quy định củaNgân hàng Nhà nước

Ngân hàng liên doanh là ngân hàng được thành lập bằng vốn góp của bên Việt Nam và bên nướcngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh Ngân hàng liên doanh là một pháp nhân Việt Nam, có trụ sởchính tại Việt Nam, hoạt động theo giấy phép thành lập và các quy định liên quan của pháp luật

Chi nhánh ngân hàng nước ngoài là đơn vị phụ thuộc của ngân hàng nước ngoài, được ngânhàng nước ngoài bảo đảm chịu trách nhiệm đối với mọi nghĩa vụ và cam kết của chi nhánh tại ViệtNam Chi nhánh ngân hàng nước ngoài có quyền và nghĩa vụ do pháp luật Việt Nam quy định, hoạtđộng theo giấy phép mở chi nhánh và các quy định liên quan của pháp luật Việt Nam

Ngoài ra, theo cam kết khi gia nhập WTO, kể từ ngày 1/4/2007, các tổ chức nước ngoài đượcphép thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài ở Việt Nam Tuy nhiên, đến cuối năm 2008 mới có 3ngân hàng con 100% vốn nước ngoài (HSBC, Standard Chartered Bank của Anh và ANZ của Úc) đượccấp phép thành lập và hoạt động tại Việt Nam Đầu năm 2009 có thêm 2 ngân hàng nữa, đó là: ShinhanBank của Hàn Quốc và Hong Leong Bank của Malaysia Sự ra đời của các ngân hàng này đánh dấu sự

mở cửa và hội nhập sâu rộng của Việt Nam trong lĩnh vực ngân hàng Mặc dù chưa có số liệu để đánhgiá hoạt động cụ thể của các ngân hàng đó, song chắc chắn sự hiện diện của nhóm ngân hàng 100%vốn nước ngoài sẽ làm tình hình cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam trở nên gay gắt hơn

1.1.3 Mô hình tổ chức của một NHTM điển hình

Tùy theo quy mô hoạt động, hình thức sở hữu và chiến lược hoạt động, mỗi ngân hàng có một

mô hình tổ chức riêng Các ngân hàng lớn thường có nhiều chi nhánh, sở hữu nhiều công ty con, hoạtđộng trên nhiều lĩnh vực Vì thế, bộ máy tổ chức của các ngân hàng này thường mang tính chuyên mônhóa cao (có các phòng nghiệp vụ chuyên sâu như: tín dụng công ty, tín dụng tiêu dùng, tín dụng doanhnghiệp vừa và nhỏ, thẩm định và bảo lãnh )

Các ngân hàng nhỏ thường có ít, thậm chí không có chi nhánh, hoạt động trong phạm vi địaphương, nghiệp vụ kinh doanh kém đa dạng Khác với ngân hàng lớn, bộ máy tổ chức của loại hìnhngân hàng này thường gọn nhẹ, mỗi phòng có thể kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ; ví dụ: phòng tín dụngvừa cho vay doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ, vừa cho vay tiêu dùng, vừa phân tích, thẩmđịnh dự án Đó cũng là lí do giải thích tại sao ngân hàng nhỏ đòi hỏi mỗi cán bộ phải thông thạo nhiềucông việc hơn

Cơ cấu tổ chức của một ngân hàng chịu tác động của nhiều yếu tố: quy mô hoạt động, tính chất

sở hữu, xu thế phát triển của hệ thống và là nhân tố tác động trực tiếp đến hiệu suất công việc củamỗi con người, mỗi bộ phận, qua đó tác động đến thu nhập và rủi ro ngân hàng Do đó, để góp phầnnâng cao hiệu quả kinh doanh, mỗi ngân hàng cần căn cứ vào những đặc điểm, điều kiện riêng củamình và môi trường kinh doanh để tổ chức bộ máy quản lí thích hợp

HỆ THỐNG TỔ CHỨC CỦA MỘT NGÂN HÀNG LỚN

Trang 5

Ghi chú:

● Các đơn vị sự nghiệp, gồm:

- Trung tâm (trường) đào tạo nghề;

- Trung tâm tin học;

- Trung tâm thông tin phòng ngừa rủi ro

● Các đơn vị hạch toán độc lập trực thuộc, gồm:

- Công ty kinh doanh mĩ nghệ, vàng bạc, đá quý;

- Công ty cho thuê tài chính;

Trang 6

CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA CÁC SỞ GIAO DỊCH, CHI NHÁNH CẤP 1, CẤP 2

Hình 1.1: Mô hình tổ chức của một ngân hàng lớn

Hình 1.2: Mô hình tổ chức của một ngân hàng nhỏ

Ở Việt Nam hiện nay, các NHTM quốc doanh được tổ chức theo một hệ thống thống nhất từ Hội

sở Trung ương đến các chi nhánh và phòng giao dịch ở các tỉnh, thành phố, quận, huyện Tuỳ theo sựphát triển của từng ngành kinh tế quốc dân mà các chi nhánh ngân hàng trực thuộc có thể được tổ chứctheo sự phân bố về quản lý hành chính (tỉnh, thành phố, quận, huyện), hoặc theo thực tế phát triển củamỗi ngành kinh tế ở từng vùng, từng khu vực Ngoài mạng lưới ở trong nước, các ngân hàng còn mởvăn phòng đại diện ở nước ngoài, thiết lập quan hệ đại lý với nhiều ngân hàng trên khắp các châu lục

Đối với các NHTM cổ phần, cơ cấu tổ chức thường bao gồm:

- Hội sở có các phòng như Phòng giao dịch, Phòng tín dụng, Phòng thanh toán quốc tế, Phòng

Các phòng chuyên môn nghiệp vụ

Phòng giao dịch

Quỹ tiết kiệm

Hội đồng quản trị

BAN GIÁM ĐỐC

Ban kiểm soát

Phòng kế toán

P.Thanh toán quốc tế

Phòng giao dịchPhòng công nghệ thông tin

P nghiên cứu đầu tư, phát triểnPhòng tín dụng

Trang 7

kinh doanh ngoại tệ, Phòng ngân quỹ, Phòng hành chính tổ chức, Phòng quan hệ quốc tế, Phòng côngnghệ thông tin.

- Các chi nhánh: gồm có chi nhánh cấp 1 và cấp 2 ở các địa phương

- Phòng giao dịch, hoặc điểm giao dịch trực thuộc chi nhánh: thường mở ở những nơi đông dân

cư và có nhu cầu giao dịch với ngân hàng như siêu thị, trường học, khu công nghiệp

1.2 CÁC DỊCH VỤ CỦA NHTM VÀ NHỮNG XU HƯỚNG ẢNH HƯỞNG TỚI HOẠTĐỘNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG

1.2.1 Khái niệm dịch vụ ngân hàng

Có hai quan điểm khác nhau về sản phẩm dịch vụ ngân hàng

Theo nghĩa rộng, sản phẩm dịch vụ ngân hàng bao gồm toàn bộ các hoạt động tiền tệ, tín dụng,thanh toán, ngoại hối của ngân hàng Quan điểm này phù hợp với cách phân ngành dịch vụ ngân hàngtrong dịch vụ tài chính của WTO và của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Hoa kì cũng như cáchphân loại của nhiều nước phát triển trên thế giới

Theo nghĩa hẹp, dịch vụ ngân hàng chỉ bao gồm những hoạt động không thuộc phạm vi kinhdoanh tiền tệ và các nghiệp vụ ngân hàng theo chức năng của một trung gian tài chính (huy động tiềngửi, cho vay) Như vậy, dịch vụ ngân hàng chỉ bao gồm những hoạt động ngoại bảng, dịch vụ thu phínhư chuyển tiền, bảo lãnh, thanh toán quốc tế

Trên thực tế, “dịch vụ” và “sản phẩm” không phải là hai khái niệm đồng nhất Tuy nhiên, đốivới NHTM sản phẩm mà các ngân hàng kinh doanh thực chất là các dịch vụ - một loại lợi ích khôngtồn tại dưới dạng vật chất liên quan đến tài chính Do vậy, trong phạm vi giáo trình này, “sản phẩm” và

“dịch vụ” ngân hàng được hiểu là tương tự và khái niệm dịch vụ ngân hàng sẽ được hiểu theo nghĩarộng, phù hợp với quan niệm phổ biến trên thế giới hiện nay

Hình 1.3 Những dịch vụ cơ bản của ngân hàng đa năng ngày nay

Trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh ngày càng gay gắt, các ngân hàng luôn cố gắng hoànthiện và nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ nhằm mang đến nhiều tiện ích cho khách hàng Khi

NGÂN HÀNG HIỆN ĐẠI

Dịch vụ

đầu tư

Dịch vụ thanh toán

Dịch vụ quản trị tiền mặt

Dịch vụ môi giới

Dịch vụ ngân hàng đầu tư/ bảo lãnh chứng khoán

Trang 8

chất lượng cuộc sống ngày càng nâng cao thì việc khách hàng tìm đến ngân hàng không chỉ đơn thuần

sử dụng các sản phẩm truyền thống như vay tiền hay gửi tiền mà còn yêu cầu được phục vụ một cáchtoàn diện nhất

1.2.2 Phân loại dịch vụ ngân hàng

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các NHTM ngày càng thực hiện nhiều hoạt động kinhdoanh trong lĩnh vực tiền tệ và các dịch vụ tài chính khác

● Dựa vào bảng cân đối kế toán

Dựa vào bảng cân đối kế toán, người ta chia hoạt động ngân hàng thành hoạt động nội bảng vàhoạt động ngoại bảng

- Hoạt động nội bảng bao gồm tất cả các dịch vụ ngân hàng được phản ánh trên bảng cân đối kếtoán Các dịch vụ nội bảng có thể chia thành dịch vụ tài sản Nợ (hay nghiệp vụ nguồn vốn) và dịch vụtài sản Có (hay nghiệp vụ sử dụng vốn)

+ Các dịch vụ tài sản Nợ - nghiệp vụ nguồn vốn bao gồm: nghiệp vụ tạo vốn chủ sở hữu, huyđộng tiền gửi khách hàng, nghiệp vụ tiền gửi và tiền vay các tổ chức tín dụng khác, tiền gửi và vayNgân hàng Nhà nước và Kho bạc Nhà nước, phát hành kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng… Ngoài ra, một

số ngân hàng có thể nhận được các nguồn vốn khác như nguồn vốn ủy thác cho vay, ủy thác đầu tư, thu

hộ, nguồn vốn trong thanh toán, vay từ ngân hàng mẹ

+ Các dịch vụ tài sản Có (sử dụng vốn) bao gồm: nghiệp vụ ngân quỹ (tiền mặt tại quỹ, tiền gửicủa ngân hàng tại NHNN và các tổ chức tín dụng khác), cho vay đối với khách hàng, đầu tư chứngkhoán, cho vay các tổ chức tín dụng (TCTD) khác…

- Hoạt động ngoại bảng bao gồm các dịch vụ không được phản ánh trên bảng cân đối kế toáncủa NHTM như dịch vụ thanh toán, bảo lãnh, ủy thác, đại lí, tư vấn và cung cấp thông tin

Cách phân loại dịch vụ ngân hàng dựa vào bảng cân đối kế toán là kiểu phân loại truyền thống,phù hợp với mô hình ngân hàng cổ điển Đối với một ngân hàng hiện đại, các dịch vụ ngân hàng ngoạibảng thường chiếm tỷ trọng lớn nhưng lại không được phản ánh trên bảng cân đối kế toán

● Dựa vào đối tượng khách hàng

Dựa vào đối tượng khách hàng có thể chia hoạt động ngân hàng thành các dịch vụ đối với kháchhàng là doanh nghiệp và dịch vụ đối với khách hàng cá nhân

- Các dịch vụ đối với khách hàng cá nhân

Khác với đối tượng khách hàng doanh nghiệp, khách hàng cá nhân thường chiếm tỉ trọng lớn về

số lượng nhưng lại chiếm tỷ trọng nhỏ về doanh số giao dịch Tuy nhiên khi nền kinh tế phát triển, nhucầu giao dịch với ngân hàng của khách hàng cá nhân ngày càng tăng thì nghiệp vụ đối với khách hàng

cá nhân ngày càng được chú ý hơn Đối với khách hàng cá nhân, ngân hàng thương mại có thể thựchiện các nghiệp vụ sau đây: tiền gửi cá nhân, tiền gửi tiết kiệm, thẻ thanh toán, thanh toán qua ngânhàng, cho vay tiêu dùng, cho vay xây dựng sửa chữa mua nhà, cho vay trả góp, cho vay kinh tế hộ giađình

- Các dịch vụ đối với khách hàng doanh nghiệp

Khách hàng doanh nghiệp là những khách hàng có tư cách pháp nhân như: DNNN, công ty cổphần, công ty trách nhiệm hữu hạn So với khách hàng cá nhân, số lượng khách hàng doanh nghiệpthường chiếm tỷ trọng nhỏ hơn nhưng doanh số giao dịch thường lớn hơn Khi cung cấp dịch vụ chokhách hàng doanh nghiệp, ngân hàng có thể tiết kiệm được chi phí giao dịch do lợi thế về quy mô giaodịch Tùy theo chiến lược phát triển của mỗi ngân hàng mà trong bộ máy kinh doanh của ngân hàng cóthể tổ chức theo các nghiệp vụ kinh doanh, hoặc phân theo nhóm khách hàng doanh nghiệp: bộ phậndịch vụ khách hàng doanh nghiệp lớn, bộ phận dịch vụ khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ

Đối với khách hàng doanh nghiệp, ngân hàng thương mại có thể thực hiện các nghiệp vụ sau:

mở tài khoản tiền gửi thanh toán, dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt giữa các doanh nghiệp, thanh

Trang 9

toán quốc tế, mua bán ngoại tệ, cho vay, bảo lãnh, môi giới chứng khoán, tư vấn tài chính

Phân loại hoạt động kinh doanh theo đối tượng khách hàng giúp ngân hàng có cơ sở xây dựngchiến lược, tiếp cận và phục vụ khách hàng tốt hơn do dịch vụ cung cấp phù hợp với đặc điểm riêngcủa từng nhóm đối tượng khách hàng

1.2.3 Các dịch vụ chính của ngân hàng thương mại

Tùy theo chiến lược kinh doanh, mỗi ngân hàng có thể cung cấp số lượng các dịch vụ khácnhau, nhưng nhìn chung các NHTM đều cung cấp hai nhóm sản phẩm, đó là: các dịch vụ truyền thống

và các dịch vụ ngân hàng mới phát triển trong những năm gần đây

1.2.3.1 Các dịch vụ truyền thống

● Trao đổi ngoại tệ

Lịch sử cho thấy rằng, một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao đổingoại tệ - một ngân hàng đứng ra mua, bán một loại tiền này, chẳng hạn USD và lấy một loại tiền khác,chẳng hạn GBP để hưởng phí dịch vụ Sự trao đổi đó là rất quan trọng đối với khách du lịch vì họ sẽcảm thấy thuận tiện và thoải mái hơn khi có trong tay đồng nội tệ của quốc gia, hay thành phố mà họđến Trong thị trường tài chính ngày nay, mua bán ngoại tệ thường do các ngân hàng lớn thực hiện bởi

vì những giao dịch như vậy có mức độ rủi ro cao, đồng thời phải có trình độ chuyên môn trong giaodịch ngoại hối

● Chiết khấu thương phiếu và cho vay thương mại

Sử dụng và khai thác các nguồn vốn là hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của ngân hàngthương mại và được thể hiện thông qua nhiều nghiệp vụ cụ thể như: cho vay, đầu tư, hoạt động ngânquỹ… Trong đó, cho vay là nghiệp vụ cơ bản nhất trong sử dụng và khai thác các nguồn vốn của ngânhàng thương mại Ngay ở thời kỳ đầu, các ngân hàng đã chiết khấu thương phiếu mà thực tế là cho vayđối với các doanh nhân địa phương, những người bán các khoản nợ (khoản phải thu) của các kháchhàng cho ngân hàng để lấy tiền Đó là bước chuyển tiếp từ chiết khấu thương phiếu sang cho vay trựctiếp đối với các khách hàng, giúp họ có vốn để mua hàng hoá dự trữ, xây dựng văn phòng và thiết bịsản xuất

● Nhận tiền gửi

Cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao, do đó các ngân hàng đã tìm mọi cách để huy độngnguồn vốn cho vay Một trong những nguồn vốn quan trọng là các khoản tiền gửi tiết kiệm của kháchhàng, một quỹ sinh lợi được gửi tại ngân hàng trong khoảng thời gian nhiều tuần, nhiều tháng, nhiềunăm, đôi khi được hưởng mức lãi suất tương đối cao

● Dịch vụ thanh toán

Cuộc cách mạng công nghiệp ở châu Âu và châu Mĩ đã đánh dấu sự ra đời của dịch vụ tài khoảntiền gửi giao dịch (demand deposit) - một tài khoản tiền gửi cho phép người gửi tiền viết séc thanh toáncho việc mua hàng hoá, dịch vụ Việc đưa ra loại tài khoản tiền gửi này được xem là một trong nhữngbước đi quan trọng nhất trong công nghiệp ngân hàng, bởi vì nó cải thiện đáng kể hiệu quả của quátrình thanh toán, làm cho các giao dịch kinh doanh trở nên dễ dàng hơn, nhanh chóng hơn và an toànhơn Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các yêu cầu đối với một dịch vụ thanh toán như đơn giản,nhanh chóng, chính xác, an toàn, chi phí thấp… được các ngân hàng đáp ứng ngày một tốt hơn

● Bảo quản vật có giá

Ngay từ thời Trung cổ các ngân hàng đã bắt đầu thực hiện việc lưu giữ vàng và các vật có giákhác cho khách hàng trong kho bảo quản Một điều hấp dẫn là các giấy chứng nhận do ngân hàng kýphát cho khách hàng (ghi nhận về các tài sản đang được lưu giữ) có thể được lưu hành như tiền - đó làhình thức đầu tiên của séc và thẻ tín dụng Ngày nay, nghiệp vụ quản vật có giá cho khách hàng thường

do phòng “bảo quản” của ngân hàng thực hiện

● Tài trợ các hoạt động của Chính phủ

Trang 10

Trong thời kỳ Trung cổ và vào những năm đầu của cách mạng công nghiệp, khả năng huy động

và cho vay với khối lượng lớn của ngân hàng đã trở thành tâm điểm chú ý của các Chính phủ Âu - Mĩ.Thông thường, ngân hàng được cấp giấy phép thành lập với điều kiện họ phải mua trái phiếu Chínhphủ theo một tỉ lệ nhất định trên tổng lượng tiền gửi mà ngân hàng huy động được

● Cung cấp dịch vụ uỷ thác

Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã thực hiện quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chínhcho cá nhân và doanh nghiệp thương mại Theo đó, ngân hàng sẽ thu phí trên cơ sở giá trị của tài sảnhay quy mô vốn họ quản lý Chức năng quản lý tài sản này gọi là dịch vụ uỷ thác (Trust Services) Hầuhết các ngân hàng đều cung cấp cả hai loại dịch vụ: dịch vụ uỷ thác thông thường cho cá nhân, hộ giađình và dịch vụ uỷ thác thương mại cho các doanh nghiệp

Thông qua Phòng uỷ thác cá nhân, các khách hàng có thể tiết kiệm các khoản tiền để cho con đihọc Ngân hàng sẽ quản lý và đầu tư khoản tiền đó cho đến khi khách hàng cần Thậm chí phổ biếnhơn, các ngân hàng được đóng vai trò là người được uỷ thác trong di chúc, quản lý tài sản cho kháchhàng đã qua đời bằng cách công bố tài sản, bảo quản các tài sản thừa kế Thông qua phòng uỷ thácthương mại, ngân hàng quản lý danh mục đầu tư chứng khoán và kế hoạch tiền lương cho các công tykinh doanh Ngân hàng đóng vai trò như những người đại lý cho các công ty trong hoạt động phát hành

cổ phiếu, trái phiếu Điều này đòi hỏi phòng uỷ thác phải trả lãi hoặc cổ tức cho chứng khoán của công

ty, thu hồi các chứng khoán khi đến hạn bằng cách thanh toán toàn bộ cho những người nắm giữ chứngkhoán

1.2.3.2 Dịch vụ ngân hàng mới phát triển gần đây

● Cho vay tiêu dùng

Trong lịch sử, hầu hết các ngân hàng không tích cực cho vay đối với các cá nhân và hộ gia đìnhbởi vì họ tin rằng các khoản cho vay tiêu dùng nói chung có quy mô rất nhỏ với rủi ro vỡ nợ tương đốicao và do đó làm cho chúng trở nên có mức sinh lời thấp Các ngân hàng thường sử dụng nhiều hơntiền gửi của khách hàng để tài trợ cho những món vay thương mại lớn Tuy nhiên, những năm gần đây,với sự cạnh tranh khốc liệt trong việc giành giật tiền gửi và cho vay đã buộc các ngân hàng phải hướngtới người tiêu dùng như là một khách hàng trung thành tiềm năng

● Tư vấn tài chính

Các ngân hàng từ lâu đã được khách hàng yêu cầu thực hiện hoạt động tư vấn tài chính, đặc biệt

là về tiết kiệm và đầu tư Ngân hàng ngày nay cung cấp nhiều dịch vụ tư vấn tài chính đa dạng, từchuẩn bị về thuế và kế hoạch tài chính cho các cá nhân đến tư vấn về các cơ hội thị trường trong nước

và ngoài nước cho các khách hàng kinh doanh của họ

● Quản lý tiền

Quản lý tiền là loại dịch vụ trong đó ngân hàng đồng ý quản lý việc thu chi cho một công ty kinhdoanh và tiến hành đầu tư phần vốn tiền tệ thặng dư tạm thời nhàn rỗi vào các chứng khoán sinh lợi vàtín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền để thanh toán Một số ngân hàng có khuynh hướngchuyên môn hóa dịch vụ quản lí tiền cho các tổ chức, một số khác lại có xu hướng gia tăng việc cungcấp các dịch vụ tương ứng cho người tiêu dùng Dịch vụ quản lý tiền ngày nay của các ngân hàng cũngchịu tác động cạnh tranh rất mạnh mẽ của các tổ chức tài chính khác như các công ty môi giới chứngkhoán và các tập đoàn tài chính khác

● Dịch vụ cho thuê thiết bị

Rất nhiều ngân hàng tích cực cho khách hàng kinh doanh quyền lựa chọn mua các thiết bị, máymóc cần thiết thông qua hợp đồng thuê mua, trong đó ngân hàng mua thiết bị và cho khách hàng thuê.Ban đầu, các quy định yêu cầu khách hàng sử dụng dịch vụ thuê mua thiết bị phải trả tiền thuê (màtổng số tiền này đủ để trang trải chi phí mua thiết bị) đồng thời phải chịu chi phí sửa chữa và thuế.Theo sự phát triển của dịch vụ cho thuê, các hình thức cho thuê ngày càng đa dạng và được ràng buộc

Trang 11

bởi những quy định cụ thể khác nhau.

● Cho vay tài trợ dự án

Các ngân hàng ngày càng trở nên năng động trong việc tài trợ cho chi phí xây dựng nhà máymới, đặc biệt là với ngành công nghệ cao Do rủi ro tín dụng tiềm ẩn trong tài trợ dự án cao nên chúngthường được thực hiện qua một công ty đầu tư, là thành viên của công ty sở hữu ngân hàng, cùng với

sự tham gia của các nhà đầu tư khác để chia sẻ rủi ro Những ví dụ điển hình về loại hình công ty đầu

tư này là Bankers Trust Venture Capital Anh Citicorp Venture, Inc

● Bán các dịch vụ bảo hiểm

Từ nhiều năm nay các ngân hàng đã bán bảo hiểm tín dụng cho khách hàng, điều đó đảm bảoviệc hoàn trả trong trường hợp khách hàng vay vốn bị chết hay bị tàn phế Ngân hàng thường bảo hiểmcho khách hàng thông qua các liên doanh, hoặc các thỏa thuận đại lí kinh doanh độc quyền Theo đó,một công ty bảo hiểm đồng ý đặt một văn phòng đại lí tại ngân hàng và ngân hàng sẽ nhận một phầnthu nhập từ các dịch vụ bảo hiểm Những ngân hàng có mạng lưới hoạt động rộng, nếu được phép sẽ cóthể cung cấp các dịch vụ về bảo hiểm thông qua các chi nhánh riêng biệt và giới hạn quy mô đầu tưtrong tỉ lệ vốn chủ sở hữu nhất định

● Cung cấp các kế hoạch hưu trí

Phòng ủy thác ngân hàng rất năng động trong việc quản lí kế hoạch hưu trí mà hầu hết cácdoanh nghiệp lập cho người lao động, đầu tư vốn và phát lương hưu cho những người nghỉ hưu hoặctàn phế Ngân hàng cũng bán các kế hoạch tiền gửi hưu trí cho các cá nhân và giữ nguồn tiền gửi chođến khi người sở hữu các kế hoạch này cần đến

● Cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán

Trên thị trường tài chính hiện nay, nhiều ngân hàng đang phấn đấu để trở thành một “bách hóatài chính” thực sự, cung cấp đủ các dịch vụ tài chính, cho phép khách hàng thỏa mãn mọi nhu cầu tạimột địa điểm Đây là một trong những lí do chính khiến các ngân hàng bắt đầu bán các dịch vụ môigiới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác

mà không phải nhờ đến người kinh doanh chứng khoán Trong một vài trường hợp, các ngân mua lạimột công ty môi giới đang hoạt động (ví dụ Bank of America mua Robertson Stephens Co.), hoặcthành lập các liên doanh với một công ty môi giới, hoặc thành lập các công ty con trực thuộc

● Cung cấp dịch vụ tương hỗ và trợ cấp

Do ngân hàng cung cấp các tài khoản tiền gửi truyền thống với lãi suất quá thấp, nhiều kháchhàng đã hướng tới việc sử dụng các sản phẩm đầu tư (investment products), đặc biệt là đầu tư vào quỹtương hỗ (quỹ đầu tư mở) và hợp đồng trợ cấp Quỹ tương hỗ bao gồm các chương trình đầu tư đượcquản lí một cách chuyên nghiệp nhằm vào việc mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán phù hợpvới mục tiêu của quỹ Vì vậy, đây là những loại hình dịch vụ có triển vọng thu hút được nhiều kháchhàng hơn và có thu nhập cao hơn Tài khoản tiền gửi dài hạn cam kết thanh toán một khoản tiền hàngnăm cho khách hàng bắt đầu từ một ngày nhất định trong tương lai (chẳng hạn ngày nghỉ hưu) Đó

cũng là lí do khiến các ngân hàng có xu hướng bổ sung dịch vụ tương hỗ và trợ cấp để ngày càng đa

dạng hóa các sản phẩm dịch vụ cung cấp cho khách hàng, và cũng là để hạn chế rủi ro, tăng thu nhập,nâng cao vị thế, uy tín của mình trên thị trường tài chính trong nước và quốc tế

● Cung cấp dịch vụ ngân hàng đầu tư và ngân hàng bán buôn

Ngày nay, nhiều ngân hàng đang theo chân các tổ chức tài chính hàng đầu trong việc cung cấpdịch vụ ngân hàng đầu tư và bán buôn cho các tập đoàn lớn Những dịch vụ này bao gồm: xác địnhmục tiêu hợp nhất, tài trợ mua lại công ty, bảo lãnh phát hành chứng khoán

Ngoài ra, hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại được thực hiện dưới nhiều hình thức như:đầu tư mua bán chứng khoán, đầu tư góp vốn cổ phần, góp vốn liên doanh liên kết… Nhờ có nhữnghoạt động đầu tư này mà các ngân hàng có thể sử dụng và khai thác tối đa các nguồn vốn đã huy động,

Trang 12

đa dạng hoá kinh doanh và phân tán rủi ro, tăng cường khả năng thanh khoản cho dự trữ của ngânhàng Đồng thời nó cũng mang lại nguồn thu nhập cho ngân hàng Tuy nhiên hoạt động đầu tư thựchiện ở mức độ nào còn tuỳ thuộc vào mô hình tổ chức ngân hàng thương mại ở mỗi nước

● Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại

Trong quá trình cạnh tranh và hội nhập, việc ứng dụng và phát triển các dịch vụ ngân hàng hiệnđại là điều kiện thiết yếu và sống còn của mỗi ngân hàng Thực tế hiện nay, hầu hết các ngân hàngthương mại đã và đang triển khai cung ứng một số dịch vụ ngân hàng hiện đại sau:

* Dịch vụ tư vấn tài chính cá nhân

Tư vấn tài chính cá nhân (Personal Finance Consultant - PFC) là dịch vụ trong đó ngân hàng đếntận nơi tư vấn trực tiếp cho khách hàng về các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng PFC đem đến chokhách hàng nhiều lợi ích:

- PFC tư vấn các sản phẩm và dịch vụ phù hợp với nhu cầu và khả năng của từng khách hàng

- PFC hướng dẫn khách hàng hoàn tất thủ tục nhanh chóng và thuận tiện

- PFC cung cấp thường xuyên đến khách hàng những thông tin tài chính mới nhất và thật sự hữuích cho những kế hoạch kinh doanh và chi tiêu của khách hàng

* Dịch vụ ngân hàng trực tuyến

Để đáp ứng nhu cầu giao dịch không cần tới ngân hàng của các doanh nghiệp, hiện nay nhiềungân hàng đã ứng dụng ngân hàng trực tuyến với các sản phẩm cơ bản sau:

- eTeller - Dịch vụ tài khoản online

- eRemittance - Dịch vụ chuyển tiền online

- eLending - Dịch vụ tiền vay online

- eTrade - Tài trợ thương mại (thanh toán quốc tế) online

Ngoài ra, hầu hết các ngân hàng đều cung cấp dịch vụ thẻ điện tử, thanh toán điện tử liên ngânhàng trong nước và quốc tế, các dịch vụ ngân hàng điện tử: mobile banking, phone banking, homebanking, internet banking…

1.2.4 Các xu hướng ảnh hưởng tới dịch vụ ngân hàng

Kết quả một số cuộc điều tra về dịch vụ ngân hàng gợi ý rằng các ngân hàng đang trải quanhững thay đổi mạnh mẽ về chức năng hoạt động Thực tế những thay đổi ảnh hưởng tới hoạt độngkinh doanh ngân hàng ngày nay quan trọng đến mức nhiều nhà phân tích coi đó là một cuộc “cáchmạng ngân hàng” Điều đó có thể làm cho các thế hệ ngân hàng tiếp theo sẽ khác rất nhiều so với cácngân hàng ngày nay

Vậy những khuynh hướng nào đã ảnh hưởng đến hoạt động ngân hàng? Sau đây là một sốkhuynh hướng cơ bản:

● Sự gia tăng nhanh chóng danh mục các dịch vụ

Như đã nêu ở phần trên, các ngân hàng ngày càng mở rộng danh mục dịch vụ tài chính mà họcung cấp cho khách hàng Quá trình mở rộng danh mục dịch vụ đã tăng tốc trong những năm gần đâydưới áp lực cạnh tranh gia tăng từ các tổ chức tài chính khác, từ sự hiểu biết và đòi hỏi cao hơn củakhách hàng và từ sự thay đổi công nghệ Điều đó làm tăng chi phí của ngân hàng và dẫn đến rủi ro phásản cao hơn Đồng thời, các dịch vụ mới cũng ảnh hưởng tốt đến ngành công nghiệp này thông quaviệc tạo ra những nguồn thu mới cho ngân hàng - các khoản lệ phí của dịch vụ không phải lãi, một bộphận có xu hướng tăng trưởng nhanh hơn so với các nguồn thu truyền thống từ lãi vay

● Sự gia tăng cạnh tranh

Sự cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ tài chính đang ngày càng trở nên quyết liệt khi ngân hàng

và các đối thủ cạnh tranh mở rộng danh mục dịch vụ Các ngân hàng địa phương cung cấp tín dụng, kếhoạch tiết kiệm, kế hoạch hưu trí, dịch vụ tư vấn tài chính cho các doanh nghiệp và người tiêu dùng.Đây là những dịch vụ đang phải đối mặt với những cạnh tranh trực tiếp từ các ngân hàng khác, các hiệp

Trang 13

hội tín dụng, các công ty kinh doanh chứng khoán, các công ty tài chính, các tổ chức bảo hiểm Áp lựccạnh tranh đóng vai trò như một lực đẩy tạo ra phát triển dịch vụ cho tương lai.

● Quản lý nhà nước đối với hoạt động ngân hàng và xu hướng phi quản lý (mức độ tự do hoá) đối với hoạt động ngân hàng

Khi các ngân hàng trong hệ thống tài chính thực hiện nghiệp vụ nhận tiền gửi, cho vay và cungcấp các dịch vụ tài chính khác cho khách hàng, họ phải tiến hành những công việc đó trong một khungpháp lý chặt chẽ được xây dựng chủ yếu để bảo vệ lợi ích cho toàn xã hội Ở hầu hết các quốc gia,không một ngân hàng mới nào có thể thành lập nếu không được Chính phủ chấp thuận Việc ngân hàngcung cấp các dịch vụ tài chính cho công chúng đều đòi hỏi phải có sự cho phép của các cơ quan quản lýngân hàng Chất lượng các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp luôn được các thanh tra ngân hàng xem xétcẩn thận

Vậy tại sao các ngân hàng lại bị kiểm soát chặt chẽ Những lý do cơ bản để ngân hàng trở thànhđối tượng quản lý của Chính phủ bao gồm:

- Bảo đảm sự an toàn cho các khoản tiết kiệm của công chúng

- Kiểm soát mức cung ứng tiền tệ và tín dụng, phục vụ mục tiêu kinh tế chung của quốc gia(phát triển kinh tế, tăng việc làm, lạm phát thấp )

- Bảo đảm sự bình đẳng và công khai trong việc tiếp cận các khoản tín dụng và các dịch vụ tàichính của công chúng

- Tăng cường lòng tin của dân chúng đối với hệ thống tài chính, đảm bảo các khoản tiết kiệmđược tập trung cho đầu tư sản xuất, đảm bảo quá trình thanh toán được thực hiện nhanh chóng và hiệuquả

- Ngăn chặn sự tập trung tiềm lực tài chính vào tay một số ít cá nhân hay tổ chức

- Cung cấp cho Chính phủ các khoản tín dụng, thuế và các dịch vụ tài chính khác

- Trợ giúp các khu vực của nền kinh tế có nhu cầu tín dụng đặc biệt (hộ gia đình, doanh nghiệpnhỏ và nông nghiệp)

Nếu các quy định quản lý của Chính phủ hợp lý, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại thì(i) Các ngân hàng có điều kiện để phát triển những dịch vụ mới, đáp ứng nhu cầu xã hội, (ii) Duy trìsức cạnh tranh trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ tài chính đủ mạnh để bảo đảm mức giá hợp lý, đảm bảo

số lượng và chất lượng dịch vụ thoả đáng cho công chúng, (ii) Các quyết định của khu vực tư nhânkhông bị bóp méo, gây ra sự phân bổ không hợp lý và lãng phí các nguồn lực khan hiếm (ví dụ nhưviệc Chính phủ nâng đỡ các ngân hàng đáng lẽ nên cho phép phá sản) Ngược lại, nếu các quy địnhkhông rõ ràng, minh bạch, không phù hợp với thực tiễn phát triển của nền kinh tế - xã hội thì nó sẽ trởthành lực cản đối với quá trình phát triển, thậm chí cho thể gây nên những hậu quả xấu cho nền kinh tế

Tuy nhiên, chính cạnh tranh và quá trình mở rộng dịch vụ ngân hàng cũng được thúc đẩy bởi sựnới nỏng các quy định, giảm bớt sức mạnh kiểm soát của Chính phủ Những thay đổi về quy định vàluật lệ hoạt động ngân hàng trong những năm gần đây đã gây ra nhiều ảnh hưởng khác nhau đối vớingân hàng và khách hàng của họ Trong khi người ta vẫn còn tranh luận về hiệu quả và mức độ hợp lýcủa việc phi quản lý hoá lĩnh vực ngân hàng thì hầu hết các nhà phân tích trong ngành đều thống nhất

về vấn đề những thay đổi mà quá trình phi quản lý đã đưa đến cho hoạt động ngân hàng và cho thịtrường các dịch vụ tài chính Những ảnh hưởng quan trọng nhất là:

- Cấu trúc tiền gửi của các ngân hàng có xu hướng chuyển dịch về những tài khoản mang chi phílớn hơn Điều đó có nghĩa là chi phí thực tế trung bình của tất cả các khoản tiền gửi đã tăng lên bởi vìnhiều khoản tiền gửi đã thực sự được hưởng lãi suất gắn với điều kiện thị trường, thay vì lãi suất doChính phủ quy định

- Ngân hàng phải đối mặt với rủi ro cao hơn trên một số phương diện, đặc biệt là rủi ro lãi suất

và rủi ro phá sản Việc lãi suất tiền gửi được gắn chặt hơn với lãi suất thị trường khiến cho sự dao động

Trang 14

của lãi suất thị trường sẽ gây ra những ảnh hưởng mạnh hơn tới lợi nhuận của ngân hàng Các ngânhàng phải chịu rủi ro lớn và bị tác động nhanh hơn bởi những thay đổi của điều kiện kinh tế và tàichính cũng như bị ảnh hưởng mạnh bởi những sai lầm trong quản lý.

- Sự tăng lên trong chi phí hoạt động, đặc biệt là trong chi phí tiền gửi, đất đai và thiết bị hoạtđộng đã khuyến khích các ngân hàng tăng cường tiết kiệm dưới nhiều hình thức khác nhau, như giảmchi phí nhân sự, chi phí hành chính, tiến hành tự động hoá tất cả các dịch vụ

- Chi phí hoạt động gia tăng khuyến khích các ngân hàng năng động hơn trong việc nâng cao thunhập Nhiều dịch vụ trước đây miễn phí, hiện nay bị đánh phí và ngân hàng nhấn mạnh tới việc thu phíđối với khách hàng để bù đắp toàn bộ chi phí Hầu hết các ngân hàng hiện đang nỗ lực tìm kiếm cácdịch vụ mới cho phép tạo ra những nguồn thu phí mới đủ bù đắp chi phí và có lãi

- Cuối cùng khách hàng dường như được hưởng lợi từ quá trình phi quản lý hoá do số lượng cácdịch vụ được cung cấp nhiều hơn, các khoản tiền gửi được hưởng lãi suất cao hơn, lãi suất phản ánh sátthực hơn điều kiện thị trường

● Sự gia tăng chi phí vốn

Sự nới nỏng luật lệ kết hợp sự gia tăng cạnh tranh làm tăng chi phí trung bình thực tế của cáckhoản tiền gửi - nguồn vốn cơ bản của ngân hàng Với sự nới lỏng các luật lệ, ngân hàng buộc phải trảlãi suất do thị trường cạnh tranh quyết định cho phần lớn tiền gửi Đồng thời Chính phủ yêu cầu cácngân hàng phải sử dụng vốn chủ sở hữu nhiều hơn - một nguồn vốn đắt đỏ - để tài trợ cho các tài sảncủa mình

● Sự gia tăng các nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất

Các quy định của Chính phủ đối với ngành ngân hàng tạo ra cho khách hàng khả năng nhận thứcđược mức thu nhập cao hơn từ tiền gửi, nhưng chỉ có công chúng mới làm cho cơ hội đó trở thành hiệnthực Các khoản tiết kiệm thu nhập thấp và các tài khoản giao dịch không sinh lợi kiểu cũ đã đượcchuyển sang các tài khoản có mức thu nhập cao hơn, những tài khoản có tỉ lệ thu nhập thay đổi theo lãisuất thị trường Ngân hàng phát hiện ra rằng họ đang phải đối mặt với những khách hàng có giáo dụchơn, nhạy cảm hơn với lãi suất Các khoản tiền gửi “trung thành” của họ có thể dễ dàng bị lôi kéo bởicác đối thủ cạnh tranh mạnh mẽ Do đó, ngân hàng phải phấn đấu để tăng cường khả năng cạnh tranhtrên phương diện thu nhập trả cho công chúng gửi tiền và phải nhạy cảm hơn với ý thức thay đổi của xãhội về vấn đề phân phối các khoản tiết kiệm

● Cách mạng trong công nghệ ngân hàng

Đối mặt với chi phí hoạt động cao hơn, từ nhiều năm gần đây các ngân hàng đã và đang chuyểnsang sử dụng hệ thống hoạt động tự động và điện tử thay thế cho hệ thống dựa trên lao động thủ công,đặc biệt là trong việc nhận tiền gửi, thanh toán bù trừ và cấp tín dụng Những ví dụ điển hình như hệthống máy rút tiền tự động được lắp đặt ngày càng nhiều, cho phép khách hàng truy cập tài khoản tiềngửi của họ 24/24 giờ, máy tính thanh toán tiền POS được lắp đặt ở các siêu thị, trung tâm thương mạithay thế cho các phương tiện thanh toán hàng hoá dịch vụ bằng giấy và hệ thống máy vi tính hiện đại

xử lý hàng ngàn giao dịch một cách nhanh chóng trên toàn thế giới Do đó, ngân hàng đang trở thànhngành sử dụng nhiều vốn và tài sản cố định, sử dụng ít lao động và chi phí biến đổi Nhiều chuyên giatin rằng các toà nhà ngân hàng và khách hàng cuối cùng sẽ trở thành những di tích của quá khứ và bịthay thế bởi các cuộc liên lạc và giao tiếp điện tử Sản xuất và cung cấp dịch vụ sẽ hoàn toàn tự động.Những bước đi đó sẽ giảm đáng kể chi phí đối với những khu vực có khối lượng giao dịch lớn, nhưngchúng sẽ tạo ra quá trình phi nhân công hoá ngân hàng và gây ra tình trạng mất việc làm khi máy mócthay thế người lao động Tuy nhiên, những kinh nghiệm gần đây gợi ý rằng một ngành ngân hàng hoàntoàn tự động có thể vẫn còn là điều xa vời Một tỉ lệ lớn khách hàng vẫn ưa chuộng các dịch vụ của conngười và những cơ hội để nhận được sự tư vấn cá nhân về các vấn đề tài chính

● Sự củng cổ và mở rộng hoạt động về mặt địa lý

Trang 15

Sử dụng có hiệu quả quá trình tự động hoá và những đổi mới công nghệ đòi hỏi các hoạt độngngân hàng phải có quy mô lớn Vì vậy, ngân hàng cần phải mở rộng cơ sở khách hàng bằng cách vươntới các thị trường mới, xa hơn và gia tăng số lượng tài khoản Kết quả là hoạt động mở chi nhánh ngânhàng diễn ra Mô hình công ty sở hữu ngân hàng mua lại các ngân hàng nhỏ và đưa chúng trở thành bộphận của các tổ chức ngân hàng đa trụ sở đã ngày càng phổ biến Nhiều vụ hợp nhất đã diễn ra như vụhợp nhất giữa Chemical Bank và Chase Manhattan ở Newyork hay Bank of America và Nations Bank.

Số lượng các ngân hàng sở hữu độc lập đang có xu hướng giảm và quy mô trung bình của các ngânhàng đang có xu hướng tăng Hiện nay, hầu hết các ngân hàng đang tìm mọi cách để đạt được sự đadạng hoá, ngân hàng không còn muốn duy trì mô hình ngân hàng cổ điển và nhấn mạnh vai trò của nónhư là các tổ chức tài chính năng động, đổi mới và hướng về khách hàng

Với sự phát triển tự động hoá, ngày càng nhiều ngân hàng mở chi nhánh ở những vùng xa vớicác thiết bị viễn thông và máy rút tiền tự động, một phương pháp mở rộng quy mô thị trường hơn làxây dựng các cơ sở vật chất mới Trong nhiều trường hợp, hệ thống thiết bị vệ tinh cung cấp dịch vụhữu hạn sẽ thay thế các văn phòng chi nhánh đa năng của ngân hàng

● Quá trình toàn cầu hoá ngân hàng

Sự bành trướng địa lý và hợp nhất các ngân hàng đã vượt ra khỏi ranh giới một lãnh thổ quốcgia và lan rộng ra với quy mô toàn cầu Ngày nay, các ngân hàng lớn trên thế giới cạnh tranh với nhautrên tất cả các lục địa Quá trình tự do hoá các dịch vụ tài chính cho phép các ngân hàng thuộc các quốcgia khác nhau đều có quyền cung cấp các dịch vụ tài chính trên thị trường quốc tế và cùng cạnh tranhtrong một môi trường bình đẳng

● Rủi ro vỡ nợ gia tăng

Trong khi xu hướng hợp nhất và bành trướng về mặt địa lý đã giúp nhiều ngân hàng ít tổnthương hơn trước điều kiện kinh tế trong nước thì sự đẩy mạnh cạnh tranh giữa các ngân hàng và các tổchức tài chính phi ngân hàng kèm theo các khoản tín dụng có vấn đề của một nền kinh tế luôn biếnđộng cũng dẫn tới sự phá sản ngân hàng ở nhiều quốc gia trên thế giới Xu hướng phi quản lý tronglĩnh vực tài chính cũng làm cho các thủ đoạn kinh doanh có thể xảo trá hơn, nơi mà sự phá sản, thôntính và thanh lý ngân hàng dễ xảy ra hơn

Chương 3QUẢN TRỊ NGUỒN VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

3.1 NGUỒN VỐN VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA CÁC NGUỒN VỐN CỦA NHTM

3.1.1 Khái niệm nguồn vốn

Như tất cả loại hình doanh nghiệp khác, khi bắt đầu thành lập ngân hàng phải chứng minh cho

cơ quan chức năng biết khả năng tài chính của mình, một trong những khoản mục phải chứng minh lànguồn vốn ban đầu vì nó đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động một ngân hàng, nó thể hiện nănglực tài chính, đổng thời là cơ sở để đánh giá giá trị và dự báo sự phát triển trong tương lai của một ngânhàng

Hoạt động của ngân hàng là kinh doanh tiền tệ và cung cấp các dịch vụ ngân hàng với nội dungthường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ, tham gia đầu tư.Theo đó, việc tạo lập, quản lý sử dụng tiền gửi để đáp ứng hoạt động ngân hàng kinh doanh hiệu quả làviệc làm hết sức quan trọng và mang tính thường xuyên

Để đảm bảo khả năng thanh toán của mình mỗi ngân hàng đều có nghiệp vụ là đi vay Ngân hàngNhà nước (Ngân hàng Trung ương) và các tổ chức tín dụng khác Đây là một phần nguồn vốn của ngânhàng và cần được quản trị tốt, tránh đưa ngân hàng vào tình trạng mất cân đối nguồn tiền

Trang 16

Như vậy, có thể khái niệm nguồn vốn của NHTM như sau: “Nguốn vốn của ngân hàng thương mại là toàn bộ các nguồn tiền tệ mà ngân hàng tạo lập, huy động được để cho vay, đầu tư và thực thi các dịch vụ ngân hàng” Nguồn vốn của ngân hàng có quan hệ mật thiết với tất cả các chủ thể liên

quan tới ngân hàng, đặc biệt là khách hàng và nhà đầu tư

3.1.2 Các loại nguồn vốn của NHTM

Bảng 3.1: Nguồn vốn của NHTM

1 Tiền gửi của doanh nghiệp và cá nhân

1.1 Tiền gửi của doanh nghiệp

1.2 Tiền gửi tiết kiệm của cá nhân

2 Tiền gửi của tổ chức tài chính

3 Phát hành kỳ phiếu, trái phiếu

4 Vay Ngân hàng Nhà nước và tổ chức tín dụng khác

cũng là căn cứ để tính toán các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng Vậy “Vốn chủ sở hữu

là vốn riêng của một NHTM, bao gồm số vốn ban đầu và số vốn gia tăng không ngừng cùng với sự phát triển của NHTM”

Đặc điểm cơ bản của nguồn vốn này là:

- Tỷ trọng lượng vốn này trong tổng nguồn vốn thường là rất nhỏ (thông thường từ 5-10%)

- Có tính ổn định cao và luôn được bổ sung trong quá trình tồn tại và phát triển của NHTM

- Quyết định quy mô hoạt động NHTM và là nhân tố xác định tỷ lệ an toàn trong hoạt động kinhdoanh của NHTM

Tùy vào tính chất sở hữu, khả năng tài chính mà nguồn hình thành nguồn vốn ban đầu của mộtngân hàng có thể từ nhiều nguồn khác nhau Thành phần vốn chủ sở hữu của ngân hàng gồm vốn cấp 1

- Vốn bổ sung trong quá trình hoạt động

Ngân hàng kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ nên những điều kiện pháp lý về vốn phải tuân thủ

Trang 17

nghiêm ngặt Ngoài ra việc bổ sung vốn trong quá trình hoạt động luôn là nhiệm vụ hàng đầu của mỗingân hàng, góp phần vào nâng cao vị thế của NHTM trên thương trường Tùy vào điều kiện cụ thể màngân hàng có thể gia tăng vốn theo phương thức khác nhau và tuân thủ các qui định của pháp luật:

Một là, bổ sung vốn từ nguồn lợi nhuận

Việc bổ sung vốn từ nguồn thu nhập luôn là mong muốn của hầu hết các ngân hàng vì khi thunhập ròng lớn hơn không ngân hàng có thể thực hiện việc gia tăng vốn bằng cách chuyển một phần thunhập ròng thành vốn đầu tư Luật pháp cho phép các ngân hàng giữ lại một phần lợi nhuận để mở rộnghoạt động kinh doanh hoặc đầu tư Việc trích từ nguồn lợi nhuận bao nhiêu tùy thuộc và quyết định củaban lãnh đạo ngân hàng Thông thường những ngân hàng có thời gian hoạt động dài và làm ăn hiệu quảthì nguồn tích lũy từ lợi nhuận sẽ cao và ngược lại, những ngân hàng mới thành lập, kinh doanh kémhiệu quả thì nguồn vốn bổ sung từ nguồn từ lợi nhuận sẽ thấp

Hai là, bổ sung vốn từ phát hành thêm cổ phần, góp thêm, cấp thêm

Đối với các ngân hàng thương mại cổ phần việc phát hành thêm cổ phiếu là phương thức hiệuquả để tăng vốn chủ sở hữu Công việc này được thực hiện bằng cách ngân hàng phát hành quyền mua

cổ phần cho các cổ đông hiện hữu, mỗi cổ đông nắm giữ cổ phần của ngân hàng sẽ được mua một tỷ lệ

cổ phần theo tỷ lệ cổ phần mình đang nắm giữ Ngân hàng sử dụng vốn tăng thêm để mở rộng quy môhoạt động, đổi mới trang thiết bị, hoặc trong một số trường hợp là để đáp ứng yêu cầu gia tăng vốn củachủ do Ngân hàng Nhà nước quy định

Đối với các ngân hàng liên doanh việc tăng vốn là do các bên góp vốn, lượng vốn này phục vụcho việc mở rộng hoạt động, nâng cao năng lực hoạt động,…Việc tăng vốn này theo lộ trình và kếhoạch của ngân hàng Lộ trình tăng vốn tuân thủ qui định của Pháp luật

Đối với ngân hàng tư nhân, chủ ngân hàng có thể tăng vốn bằng cách rót thêm vốn vào hoạtđộng của ngân hàng và cũng cần phải thực hiện theo Luật định

Đối với các ngân hàng thương mại Nhà nước, việc bổ sung vốn là do ngân sách Nhà nước cấptheo tỷ lệ Nhà nước nắm giữ Một phần vốn được bổ sung từ các cổ đông ngoài Nhà nước

Tính chất của việc bổ sung vốn từ phát hành thêm cổ phần, góp thêm, cấp thêm này là khôngliên tục nhưng nguồn vốn bổ sung làm tăng nguồn vốn lại có vai trò hết sức quan trọng trong hoạt độngcủa ngân hàng, nó thể hiện uy tín và vị thế, tính cạnh tranh của một ngân hàng

- Các quỹ

Hoạt động của ngân hàng không thể thiếu các quỹ như quỹ thặng dư cổ phần, quỹ dự phòng tổnthất, quỹ bảo tổn vốn, Mỗi quỹ có mục đích riêng và việc trích lập phải đảm bảo nguyên tắc và quiđịnh của kế toán

- Quỹ bảo toàn vốn

Nhằm bù đắp hao mòn của vốn dưới tác động của lạm phát ngân hàng cần trích lập quỹ bảo toànvốn Khi lạm phát xảy ra, ngân hàng là tổ chức chịu sự tác động nhiều nhất bởi tính chất kinh doanhcủa ngân hàng là kinh doanh tiền tệ Trong trường hợp ngân hàng chưa có hoặc chưa kịp có những ứngphó trong hoạt động kinh doanh thì nguồn quỹ này sẽ được sử dụng để duy trì và phát triển hoạt độngcủa ngân hàng trong thời kỳ lạm phát

- Quỹ khác

Trang 18

Tùy theo quy định của mỗi nước, các ngân hàng thực hiện việc trích lập các quỹ như: quỹ phúclợi, quỹ khen thưởng, quỹ giám đốc,…Các quỹ này được sử dụng vào các mục đích làm tăng giá trị củangân hàng, tạo gắn kết giữa ngân hàng và người lao động thông qua thực hiện chế độ đối với người làmtrong ngân hàng.

● Vốn cấp 2

Trong bảng cân đối kế toán của ngân hàng có một số khoản vay trung và dài hạn được ngânhàng quy định có thể chuyển đổi thành vốn cổ phần Đây là bộ phận Nợ nhưng có tính chất ổn định.Thực chất đây là khoản nợ lưỡng tính và được ngân hàng rất quan tâm vì sau khi chuyển đổi ngân hàng

có thể giảm lãi vay

3.1.2.2 Vốn tiền gửi

Ngân hàng hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ, với chức năng huy động vốn và sử dụng nguồn vốn

đó để cho vay và đầu tư Ngân hàng huy động vốn từ dân chúng, trả lãi cho các khoản tiền gửi đó, sửdụng vốn đó vào mục đích kinh doanh của mình là cho vay và đầu tư với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận

Vì thế, vốn tiền gửi là nguồn vốn quan trọng nhất trong hoạt động kinh doanh của một NHTM Ngânhàng thực hiện việc mở các tài khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ cho khách hàng, bằng cách đóngân hàng huy động tiền của doanh nghiệp, tổ chức và dân cư

Vậy: “Tiền gửi là tài sản bằng tiền của các tổ chức và cá nhân mà ngân hàng đang tạm thời quản lý sử dụng với trách nhiệm hoàn trả”.

- Đặc điểm

+ Tiền gửi trong NHTM chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của NHTM

+ Các NHTM hoạt động được chủ yếu nhờ vào nguồn vốn tiền gửi Do nguồn vốn này chiếm tỷtrọng lớn nên hầu hết các hoạt động chính của ngân hàng đều phải dựa nguồn vốn này

+ Tiền gửi là nguồn vốn không ổn định, khách hàng có thể rút tiền của họ mà không bị ràngbuộc, nếu có ngân hàng chỉ phạt bằng việc trả lãi thấp hơn lãi đã cam kết với khách hàng Chính vì vậyNHTM cần phải duy trì một lượng tiền dự trữ đảm bảo khả năng thanh khoản, sẵn sàng đáp ứng nhucầu rút tiền của khách hàng Điều này được thể hiện ở việc các NHTM thực hiện yêu cầu của NHNNtrong việc duy trì số dư tối thiểu tiền mặt tại quỹ, số dư tối thiểu tại NHNN Ngoài ra, để đảm bảo tốthơn khả năng thanh toán, NHTM còn gửi tiền ở các tổ chức tín dụng

Với vai trò quan trọng của tiền gửi và đồng thời cũng là yếu tố mang tính cạnh tranh giữa cácngân hàng, các ngân hàng cần có chiến lược tạo lập và sử dụng đúng đắn và hiệu quả Một trong nhữngchiến lược của các NHTM là đưa những biện pháp nhằm tăng tiền gửi và để có được nguồn tiền có chấtlượng ngày càng cao, các ngân hàng đã áp dụng nhiều hình thức huy động khác nhau như: tiền gửithanh toán (tiền gửi không kỳ hạn), tiền gửi có kỳ hạn của tổ chức và cá nhân, tiền gửi tiết kiệm củadân cư, huy động vốn thông qua việc phát hành kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi,…

* Tiền gửi thanh toán

Việc mở tài khoản và cung cấp dịch vụ thanh toán là một trong những dịch vụ đầu tiên của mộtNHTM Khách hàng nộp tiền vào ngân hàng và khoản tiền này sẽ được hạch toán vào tài khoản thanhtoán Thực chất đây là tiền của doanh nghiệp hoặc cá nhân gửi vào ngân hàng, nhờ ngân hàng giữ vàthanh toán hộ

Đối với dịch vụ giữ hộ: Tiền của khách hàng sẽ được đảm bảo an toàn và khách hàng nhận lãi vàhưởng những dịch vụ đi kèm với tài khoản thanh toán Về phía ngân hàng được sử dụng lượng tiềntrong tài khoản thanh toán để cho vay, đầu tư và thực hiện các hoạt động khác của ngân hàng

Đối với dịch vụ thanh toán: Trong phạm vi số dư cho phép, các nhu cầu chi trả, thanh toán,chuyển tiền, rút tiền mặt của doanh nghiệp và cá nhân đều được ngân hàng thực hiện và ngược lạikhoản thu bằng tiền của doanh nghiệp và cá nhân được chuyển đến ngân hàng được ngân hàng hạchtoán vào tài khoản tiền gửi thanh toán theo nội dung yêu cầu của lệnh chuyển tiền đến Về phía ngân

Trang 19

hàng, ngân hàng được phép thu phí dịch vụ thanh toán chuyển tiền đi, chuyển tiền đến theo đúng biểuphí của ngân hàng.

- Đặc điểm

+ Lãi suất của khoản tiền trong tài khoản thanh toán tại ngân hàng thường rất thấp (hoặc bằngkhông) tuy nhiên khách hàng có thể sử dụng một số dịch vụ kèm thêm với tài khoản thanh toán như:thanh toán séc tiền mặt, séc bảo chi, cho vay thấu chi…với mức phí thấp và những giá trị gia tăng như:tặng quà, dịch vụ

+ Số dư không ổn định: Thực chất tiền gửi thanh toán là tiền gửi không kỳ hạn vì thế kháchhành có thể sử dụng (khách hàng có thể rút tiền mặt bằng séc tiền mặt hoặc giấy rút tiền, chuyển khoảnbằng ủy nhiệm chi) bất kể lúc nào Chính vì vậy ngân hàng cần có nguồn tiền dự trữ để đảm bảo việcchi trả cho khách hàng

- Ý nghĩa

Tiền gửi thanh toán của khách hàng cung cấp lượng vốn lớn cho ngân hàng, có ý nghĩa đặc biệtquan trọng trong hoạt động của ngân hàng Khi khách hàng sử dụng dịch vụ này của ngân hàng sẽ tiếtkiệm được chi phí lưu thông thông qua việc thanh toán không dùng tiền mặt, sử dụng dịch vụ hiện đạicủa ngân hàng đặc biệt là giảm được rủi ro mất mát khi khách hàng tự quản lý tiền của mình

* Tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội

Nhiều doanh nghiệp, tổ chức xã hội có các hoạt động thu, chi tiền theo các chu kỳ xác định Họgửi tiền vào ngân hàng để hưởng lãi đồng thời tính toán nhu cầu vốn ở một thời điểm nhất định để lựachọn kỳ hạn gửi tiền Khi lựa chọn hình thức gửi tiền này khách hàng sẽ phải đến các trụ sở của ngânhàng để rút tiền, không sử dụng tiện ích thanh toán qua thẻ tuy nhiên khách hàng sẽ được hưởng lãisuất tiền gửi cao hơn Mức lãi suất tiền gửi có kỳ hạn phụ thuộc vào thời hạn ghi trên hợp đồng vàthông thường thời hạn gửi càng dài thì lãi suất càng cao và ngược lại

* Tiền gửi tiết kiệm

Trong dân chúng luôn tồn tại các khoản thu nhập tạm thời chưa sử dụng Khi đó họ có thể tớingân hàng để nhờ ngân hàng giữ hộ và mong muốn ngân hàng sẽ trả một khoản lãi Đó là hành vi gửitiết kiệm tại ngân hàng Để có thể sử dụng tiền gửi, ngân hàng phải cam kết trả cho người gửi tiền mộtkhoản lãi Phần lãi này sẽ được tính toán dựa trên số tiền gửi và kỳ hạn

Các ngân hàng sử dụng nhiều chiến lược để tăng lượng vốn tiền gửi tiết kiệm như việc mở rộngmạng lưới chi nhánh hoặc đưa ra các hình thức huy động đa dạng và lãi suất hấp dẫn, kỳ hạn đa dạng

và quà tặng có giá trị Ngoài ra ngân hàng còn cho phép khách hàng thế chấp sổ tiết kiệm để vay vốnnếu khách hàng đáp ứng đầy đủ điều kiện về vốn vay

Tiền gửi tiết kiệm thuộc nhóm tài khoản phi giao dịch, có định hướng hưởng lãi và là nguồn vốn

có tính ổn định cao tại ngân hàng Đây là một trong những nguồn tiền quan trọng bậc nhất của ngânhàng hiện đại

* Tiền gửi của các ngân hàng khác

Để đảm bảo khả năng thanh khoản hoặc nhờ thanh toán hộ hoặc nằm trong chiến lược sử dụngvốn của mình, các ngân hàng thường có những giao dịch nhận gửi tiền qua nhau Ngân hàng gửi tiền tạimột ngân hàng khác được coi là một khách hàng và được những quyền lợi như một khách hàng gửi tiềnthông thường

3.1.2.3 Các nguồn vốn phi tiền gửi

* Tiền vay

Sự phát triển của ngân hàng, đặc biệt là sự lớn mạnh của hoạt động tín dụng trong đòi hỏi cácngân hàng cần bổ sung những nguồn vốn mới dồi dào hơn so với nguồn vốn truyền thống và ngân hàng

đã tìm tới thị trường tiền tệ

Thông thường ngân hàng Trung ương quy định tỷ lệ giữa nguồn vốn tiền huy động và vốn của

Trang 20

chủ vì thế vào những giai đoạn cụ thể, các ngân hàng phải vay mượn thêm để đáp ứng nhu cầu chi trảkhi khả năng huy động bị hạn chế và chưa có được số lượng vốn chủ sở hữu như mong đợi Hiện nay,các ngân hàng có thể sử dụng một số kênh sau:

Thứ nhất, vay Ngân hàng Nhà nước

Ngân hàng Nhà nước (Ngân hàng Trung ương) đóng vai trò là người cho vay cuối cùng trongnền kinh tế Khi rơi vào tình trạng thiếu vốn hoặc cần giải quyết nhu cầu cấp bách trong chi trả cácNHTM có thể vay tiền tại NHNN Hình thức cho vay chủ yếu của NHNN là tái chiết khấu hoặc tái cấpvốn NHTM được phép cung cấp dịch vụ tái chiết khấu giấy tờ có giá Sau khi chiết khấu hoặc tái chiếukhấu, giấy tờ có giá trở thành tài sản của NHTM và khi thiếu vốn cho hoạt động kinh doanh, NHTM cóthể sử dụng giấy tờ có giá này tái chiết khấu tại Ngân hàng Nhà nước Để làm được điều này cácNHTM phải đáp ứng những điều kiện NHNN đưa ra Về phía NHNN, vừa đảm bảo là người cho vaycuối cùng vừa đảm bảo sự kiểm soát chặt chẽ nguồn vốn cấp cho các NHTM vì thế NHNN ưu tiên táichiết khấu cho những giấy tờ có giá có thời gian đáo hạn ngắn, khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ cao,đặc biệt là đáp ứng được mục tiêu đã đặt ra của Chính phủ trong từng thời kỳ

Tương tự đối với nghiệp vụ chiết khấu và tái chiết khấu giấy tờ có giá tại NHNN, các NHTM cóthể cầm cố hoặc tái cầm cố các thương phiếu tại NHNN

Trong trường hợp NHTM thiếu vốn mà không có nguồn giấy tờ có giá có sẵn để tái chiết khấu,NHTM tìm tới biện pháp cuối cùng xin tái cấp vốn từ NHNN trong hạn mức tín dụng Tuy nhiên để cóthể được tái cấp vốn các NHTM phải đáp ứng đầy đủ nghĩa vụ đối với Ngân hàng Nhà nước cững nhưđáp ứng những thủ tục hồ sơ cần thiết

Ngoài ra, NHNN có hình thức cho vay thanh toán đối với các NHTM Khi các NHTM tham gia

hệ thống thanh toán bù trừ nếu ngân hàng nào thiếu vốn trong thanh toán sẽ được NHNN cho vay đểđảm bảo các phiên giao dịch thanh toán bù trừ được thực hiện hoàn tất Khi cho vay thanh toán, NHNN

áp dụng một trong 2 phương thức: cho vay qua đêm (Overnight lend); cho vay thấu chi (Overdraft)

Thứ hai, vay các tổ chức tín dụng khác

Ngành ngân hàng càng phát triển thì hoạt động thanh toán giao dịch liên ngân hàng càng pháttriển Cụ thể là giữa các NHTM có thể vay mượn nhau trên thị trường liên ngân hàng Về thực chất cácNHTM chuyển vốn cho nhau trong trong một thời gian ngắn với mức lãi suất hợp lý để đảm bảo mức

dự trữ tiền gửi theo qui định và đáp ứng nhu cầu ngân quỹ bất ngờ Đây là hoạt động hết sức quantrọng để đảm bảo khả năng thanh khoản của các NHTM vì trong ngắn hạn một NHTM có thể tạm thờithiếu vốn để thực hiện nghĩa vụ khách hàng mà không muốn quyết toán một hợp hợp tín dụng khácchưa đến hạn thanh toán Trong khi đó có những ngân hàng đang có dự trữ vượt yêu cầu do tiền huyđộng tăng và có chính sách giảm cho vay trong một khoảng thời gian

Các NHTM có thể liên hệ trực tiếp với nhau và với hai hình thức:

- Vay không cần tài sản đảm bảo Ở hình thức này các NHTM đi vay sử dụng uy tín và quan hệthân thiết với NHTM cho vay thể thực hiện hợp đồng mượn vốn Trường hợp này thường áp dụng chocác NHTM có mối quan hệ thân cậy, đã có nhiều giao dịch với nhau

- Vay cần tài sản đảm bảo Với hình thức này các NHTM đi vay thực hiện nghĩa vụ đảm bảo tiềnvay cho bên cho vay Tài sản đảm bảo có thể là chứng khoán hoặc giấy tờ có giá khác Hình thức này

áp dụng cho các NHTM quan hệ mượn vốn lần đầu hoặc chưa thật sự tin tưởng nhau

Về qui trình, cả hai hình thức trên đều có các bước cơ bản sau: Trước khi ký kết hợp đồng, haibên có thể trực tiếp trao đổi với nhau về số tiền vay, thời hạn và lãi suất Sau khi thỏa thuận NHTM đivay sẽ trực tiếp tới NHTM cho vay để lấy tiền và ký kết hợp đồng mượn vốn Hợp đồng sẽ được làm 4liên, mỗi bên giữ 2 liên (một liên lưu hồ sơ, một liên lưu kế toán) Đối với hình thức vay cần tài sảnđảm bảo thêm thủ tục chứng minh tài sản đảm bảo Sau khi hợp đồng ký kết, tiền của ngân hàng chovay giảm đi và của ngân hàng đi vay tăng lên

Trang 21

Như vậy nguồn vay mượn từ các ngân hàng khác là để đáp ứng nhu cầu dự trữ và chi trả cấpbách cho khách hàng, đôi khi hoạt động này mang lại hiệu quả nhanh chóng hơn là việc vay NHNNthông qua chiết khấu, tái chiết khấu hoặc cầm cố hoặc tái cầm cố.

Thứ ba, vay trên thị trường tài chính

NHTM có thể huy động vốn trên thị trường tài chính Ngân hàng có thể thực hiện huy động vốnbằng cách phát hành các giấy tờ có giá như: kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu Khi sử dụng phương pháphuy động vốn này các NHTM xác nhận nghĩa vụ trả nợ trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi

và các điều khoản cam kết khác Thời hạn huy động vốn có thể là ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, cụthể:

- Huy động vốn ngắn hạn: để huy động vốn ngắn hạn, các NHTM phát hành giấy tờ có giá ngắnhạn (dưới 12 tháng) như: kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, tín phiếu và các giấy tờ có giá ngắnhạn khác

- Huy động vốn trung và dài hạn: muốn huy động vốn trung và dài hạn các NHTM có thể pháthành trái phiếu

Thực chất, đây là khoản vay không có đảm bảo và thông thường NHTM có uy tín, trả lãi suấtcao sẽ vay mượn được nhiều hơn Trong trường hợp tự bản thân NHTM không thể trực tiếp đứng ravay thì có thể vay thông qua các ngân hàng đại lý hoặc được bảo lãnh của một ngân hàng khác Thủ tụccho việc huy động vốn này được đánh giá tương đối phức tạp so với các hình thức khác

Hoạt động trên liên quan tới quyền lợi của khách hàng và uy tín của ngân hàng vì thế các ngânhàng cần phải nghiên cứu kỹ thị trường để quyết định quy mô, mệnh giá, lãi suất và thời hạn vay mượnthích hợp cũng như các vấn đề chuyển nhượng, điều chỉnh lãi suất,… cụ thể:

` - Mệnh giá: là số tiền gốc được in sẵn hoặc ghi trên giấy tờ có giá phát hành theo hình thứcchứng chỉ hoặc ghi trên giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với giấy tờ có giá phát hành theo hình thứcghi sổ

- Thời hạn giấy tờ có giá: là khoảng thời gian từ ngày tổ chức tín dụng nhận nợ đến hết ngàycam kết thanh toán toàn bộ

- Lãi suất được hưởng: là lãi suất áp dụng để tính lãi cho người mua giấy tờ có giá được hưởng

- Chuyển nhượng: là loại chứng từ có giá ghi danh hay vô danh, từ đó liên quan tới khả năngchuyển nhượng

-…

* Vốn phi tiền gửi khác

Ngoài vốn vay vốn phi tiền gửi khác gồm: tiền trong thanh toán, nguồn ủy thác, thuế chưa nộp,tiền lương chưa trả

- Tiền trong thanh toán

Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt bao gồm hoạt động thanh toán quốc tế, thanh toántrong nước và thanh toán nội bộ Các hoạt động này hình thành nguồn trong thanh toán của các NHTM

Thanh toán quốc tế: các khoản tiền ký quỹ của khách hàng cho chuyển tiền quốc tế, nhờ thu và

mở thư tín dụng trong khoảng thời gian chờ thanh toán

Thanh toán trong nước: các khoản tiền khách hàng chuyển ủy nhiệm chi đề nghị chuyển tiềnnhưng qua giờ thanh toán bù trừ; tiền chờ thanh toán séc bảo chi,…

Thanh toán nội bộ: đó là các khoản thuế chưa nộp, lương chưa trả, phúc lợi chưa chia,…

Với sự phát triển dịch vụ thanh toán trong ngân hàng, nguồn tiền trong thanh toán ngày càngđược gia tăng và có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động của NHTM đặc biệt đối với ngân hàng là đầumối thanh toán cho các ngân hàng thành viên Các ngân hàng có thể sử dụng nguồn tiền này để sử dụngvào hoạt động kinh doanh của mình

- Các khoản treo chờ xử lý

Trang 22

Ngân hàng trong quá trình hoạt động thường có những giao dịch chưa xác định đúng phát sinhgiao dịch mà phải chờ xử lý, khi đó ngân hàng sẽ hạch toán giao dịch đó và tài khoản treo chờ xử lý.Ngân hàng có thể coi đây như một nguồn vốn và được phép sử dụng khi chưa xác định được nguyênnhân và quyết toán.

3.1.3 Tầm quan trọng của các nguồn vốn trong NHTM

● Nguồn vốn đóng vai trò tạo lập, duy trì và phát triển ngân hàng

Một ngân hàng muốn hoạt động không thể thiếu nguồn vốn Điều này thể hiện ngay ở khi bắtđầu thành lập, muốn thành lập ngân hàng yêu cầu phải có một lượng vốn đủ lớn theo yêu cầu của cơquan quản lý Nguồn vốn này chính là nền tảng ban đầu cho mọi hoạt động, nó thể hiện tính tự chủcũng như khả năng của một ngân hàng Một ngân hàng mới thành lập cần vốn để xây dựng cơ sở hạtầng, trang bị những điều kiện làm việc, thuê nhân viên,…

Trong yếu tố cạnh tranh, để duy trì và phát triển hoạt động bản thân mỗi ngân hàng phải tự ýthức được cần phải bổ sung thêm vốn Nếu ngân hàng nào không thực hiện sẽ gặp những khó khăntrong hoạt động

● Nguồn vốn là cơ sở và phát triển hoạt động cho vay

Huy động vốn và cho vay là hai hoạt động cơ bản của NHTM Hai hoạt động này có mối quan

hệ tương hỗ với nhau, nếu không có nguồn huy động thì ngân hàng khó lòng cho vay và thực hiện cácdịch vụ, ngược lại hoạt động tín tác động trở lại hoạt động nguồn vốn thông qua việc kích thích cácNHTM gia tăng nguồn vốn

Vốn của ngân hàng được xem như là một phương tiện điều tiết sự tăng trưởng, đảm bảo sự pháttriển của ngân hàng Vốn cần phải được phát triển tương ứng với sự tăng trưởng của danh mục cho vay

và những tài sản rủi ro khác

● Nguồn vốn dùng để bù đắp rủi ro

Việc trích lập các quỹ để phòng ngừa và bù đắp rủi ro luôn được thực hiện định kỳ ở các NHTM

vì thế mỗi quốc gia đều có qui định về tỷ lệ an toàn vốn so với tài sản Nếu NHTM không đáp ứngđược tỷ lệ an toàn như qui đinh, ngân hàng đó sẽ rơi vào sẽ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán

● Nguồn vốn là cơ sở tạo niềm tin cho khách hàng

Vốn chủ sở hữu của NHTM là cơ sở để xác định niềm tin của công chúng, một ngân hàng cóquy mô vốn lớn sẽ được dân chúng tin tưởng hơn so với ngân hàng quy mô vốn nhỏ nếu không xét tớicác yếu tố khác

Các NHTM luôn nỗ lực tạo niềm tin trong khách hàng Đây là việc làm hết sức quan trọng đốivới hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong nền kinh tế thị trường Khi khách hàng tin tưởng vàongân hàng, khách hàng sẽ tới ngân hàng gửi tiền, nguồn vốn tiền gửi được sử dụng để cho vay, thu lãi,tạo lợi nhuận cho ngân hàng

Với cơ chế công bố thông tin của các NHTM hiện nay khách hàng sẽ tìm tới ngân hàng nào cónhững thông tin tốt và vốn là thông tin đầu tiên mà khách hàng quan tâm

● Nguồn vốn cung cấp khả năng tài chính và phát triển dịch vụ mới

Ngân hàng luôn cần bổ sung vốn để thúc đẩy tăng trưởng và chấp nhận rủi ro gắn với sự ra đờinhững sản phẩm dịch vụ mới Nguồn vốn của ngân hàng chủ yếu sử dụng trong cho vay, ngoài ra cácNHTM sử dụng nguồn vốn để góp phần vốn, liên doanh, mua chứng khoán Mặt khác để phân tán rủi

Trang 23

ro, ngân hàng mở rộng kinh doanh ra các lĩnh vực khác như kinh doanh chứng khoán, cho thuê tàichính, bảo hiểm.

3.2 QUẢN TRỊ NGUỒN VỐN CỦA NHTM

3.2.1 Các mô hình quản trị nguồn vốn

Một ngân hàng phát triển và tăng trưởng đồng nghĩa với việc mở rộng qui mô, có thể mở thêmchi nhánh hoặc phòng giao dịch (sau đây gọi là các đơn vị) và hoạt động có chất lượng Điều đó đồngnghĩa với việc cần phải có cơ chế quản trị hoạt động làm sao hiệu quả, chặt chẽ, tiết kiệm chi phí, đặcbiệt đối với quản trị vốn

Hiện nay tồn tại một số mô hình quản trị nguồn vốn như: mô hình quản trị tập trung, mô hìnhquản trị phân tán, mô hình lập trình tuyến tính, mô hình bảng tổng kết tài sản Câu hỏi đặt ra đối vớinhà quản trị ngân hàng là vận dụng mô hình nào hay kết hợp hai hay nhiều mô hình với nhau để đạt kếtquả quản trị cao nhất Các mô hình quản trị này áp dụng cho cả quản trị vốn chủ sở hữu, quản trị vốntiền gửi và quản trị vốn phi tiền gửi

* Mô hình quản trị tập trung

Toàn bộ nguồn vốn được tập trung ở một nơi duy nhất là đặc điểm cơ bản nhất của mô hình này.Vốn ở đây bao gồm cả vốn tiền mặt và vốn phi tiền mặt Nơi quản lý vốn thông thường là hội sở chính,trụ sở chính hoặc sở giao dịch (sau đây gọi chung là Hội sở chính) của ngân hàng, quản lý tập trungtoàn bộ vốn của ngân hàng

Với mô hình này, chủ thể quản trị được bố trí công tác tại nơi quản lý vốn và chịu trách nhiệmtrước ngân hàng toàn bộ hoạt động nguồn vốn, có kế hoạch và chiến lược trong từng thời kỳ Khi cầnthiết phân bổ vốn cho nơi sử dụng và có chế độ hạch toán để phân bổ thu nhập và chi phí sao cho phùhợp

- Ưu điểm: Mô hình này đơn giản, dễ thực hiện, các yêu cầu trong kinh doanh được đáp ứng mộtcách nhanh nhất Ban lãnh đạo ngân hàng sẽ dễ dàng trong quản lý từ đó dễ dàng đưa ra chiến lượcphát triển nguồn vốn

- Nhược điểm: Mô hình này làm cho ngân hàng có thể gặp phải rủi ro do không có sự tươngxứng về kỳ hạn giữa nguồn thanh khoản khi nguồn vốn không đáp ứng đủ các yêu cầu thanh khoảnphát sinh Ngoài ra khi áp dụng mô hình này làm giảm khả năng sinh lời của ngân hàng do không có sựcân đối hài hòa giữa mục tiêu thanh khoản với mục tiêu sinh lợi

- Trường hợp áp dụng: Mô hình này được áp dụng trong thời gian đầu thành lập của các ngânhàng Mô hình này sẽ phát huy tác dụng khi sức cạnh tranh giữa các ngân hàng chưa cao, nền kinh tế

có nguồn vốn dồi dào và các ngân hàng có thể huy vốn dễ dàng

* Mô hình quản trị phân tán

Nguồn vốn được quản lý theo đơn vị tạo lập vốn, có sự giám sát của hội sở chính Vốn sẽ đượctừng đơn vị nắm giữ, chủ động trong huy động và sử dụng vốn Trong trường hợp các đơn vị thiếu vốn

có thể đi vay và thực hiện nghĩa vụ tiền vay với Hội sở chính hoặc các đơn vị khác

Với mô hình này, chủ thể quản trị được bố trí ở các đơn vị và chịu trách nhiệm trước đơn vịmình về hoạt động nguồn vốn, có kế hoạch và chiến lược trong từng thời kỳ tại đơn vị mình

- Ưu điểm: Mô hình này thể hiện tính tự chủ của các đơn vị trong hoạt động kinh doanh, pháthuy được toàn bộ nội lực của từng đơn vị và giảm tải được công việc cho Hội sở chính và công tácphân bổ thu nhập chi phí cuối kỳ

- Nhược điểm: Ngân hàng có thể gặp phải rủi ro do không có sự quản lý sát sao từ Hội sở chính

và đôi khi nguồn vốn tại các đơn vị không đáp ứng đủ các yêu cầu thanh khoản phát sinh khi đó thêmkhoản chi phí lãi vay

- Trường hợp áp dụng: Mô hình này được áp dụng khi ngân hàng đã hoạt động lâu năm, qui mô

Trang 24

* Mô hình quản trị phân vùng

Ở mô hình này, người ta chia ngân hàng thành hai nhóm nguồn vốn ổn định và nguồn vốn kém

ổn định Và tương ứng là phân định hai mục tiêu thanh khoản và sinh lợi

Khi sử dụng vốn các đơn vị thuộc hai nhóm sẽ phải cân đối giữa cần xác định rõ nhu cầu sửdụng vốn thành hai yêu cầu cơ bản là yêu cầu sinh lời và yêu cầu thanh khoản Nhiệm vụ của nhà quảntrị sẽ sử dụng nguồn vốn tương ứng theo từng cặp để tài trợ cho các nhu cầu

Nguồn vốn kém ổn định bao gồm tiền gửi thanh toán không kỳ hạn, tiết kiệm không kỳ hạndùng để tài trợ cho hoạt động đảm bảo khả năng thanh khoản

Nguồn vốn ổn định bao gồm vốn tự có, tiền gủi thanh toán có kỳ hạn, tiết kiệm có kỳ hạn,…dùng để tài trợ cho hoạt động đem lại sinh lời cao cho ngân hàng

- Ưu điểm: Mô hình này có sự phân vùng nên phần nào hạn chế được rủi ro trong hoạt động

- Nhược điểm: Do có sự phân vùng nên nhà quản trị đã làm giảm tính linh hoạt trong việc sửdụng vốn và đôi khi do yếu về khâu quản lý mà các nhà quản trị phân bổ nguồn vốn kém ổn định để tàitrợ cho hoạt động sinh lời Và trong một số trường hợp sự mất thanh khoản sẽ đe dọa ngân hàng vìngân hàng không huy động đủ số vốn trong nhóm nguồn vốn kém ổn định

* Mô hình lập trình tuyến tính

Mô hình này sử dụng kiến thức toán học bằng cách nhà quản trị nguồn vốn sẽ thiết lập hàm mụctiêu mà ngân hàng cần tối ưu hóa Sau đó xác định các phương trình, hệ phương trình ràng buộc củacác biến độc lập Các biến là các tham số mà nhà quản trị đưa ra ở mỗi thời kỳ Cuối cùng là áp dụng

mô hình hồi quy tuyến tính để giải bài toán Kết quả sẽ ra được phương án quản trị vốn hiệu quả

- Ưu điểm: Kết quả đưa ra một cách nhanh chóng và chính xác

- Nhược điểm: Kết quả có thể có độ tin cậy không cao nếu dữ liệu đầu vào của mô hình hoặc các

số liệu thống kê không đầy đủ hoặc thiếu chính xác

* Mô hình bảng tổng kết tài sản

Nhà quản trị nguồn vốn có thể sử dụng chính hệ thống báo cáo tài chính trong ngân hàng là công

cụ để quản trị nguồn vốn Báo cáo được sử dụng là Bảng tổng kết tài sản và nguồn vốn của ngân hàng.Các nhà quản trị tiến hành phấn tích sau đó phân loại theo nhóm các khoản mục của tài sản nợ, khoảnmục tài sản có theo đặc điểm, tính chất của chúng Tiếp theo là phân tích đến việc sử dụng nguồn vốnphù hợp để đáp ứng yêu cầu sự dụng vốn tương ứng

Nhà quản trị định hướng sử dụng các tài sản có mà ngân hàng đang nắm giữ để đáp ứng các yêucầu sử dụng vốn mới phát sinh khi nguồn vốn hạn hẹp như việc sử dụng tài sản hiện có (dự trữ), bánchứng khoán hoặc chiết khấu các món vay…

- Ưu điểm: Mô hình này giúp ngân hàng có thể linh hoạt và chủ động trong việc đáp ứng cácyêu cầu trong hoạt động kinh doanh và có thể khắc phụ nhược điểm của mô hình phân vùng tức là có

Nguồn vốn kém

ổn định Nguồn vốn ổn định

Thanh khoản Sinh lợi

Trang 25

thể kết hợp hài hòa cả nhu cầu sinh lời với nhu cầu thanh khoản.

- Nhược điểm: Mô hình này dựa vào thông tin trên báo cáo tài chính và cần phải phân tích nênyêu cầu phải có người có trình độ chuyên môn cao Khi áp dụng mô hình này ngân hàng vẫn phải đốimặt với các rủi ro: rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng,…

3.2.2 Quản trị vốn chủ sở hữu

3.2.2.1 Khái niệm và tầm quan trọng của quản trị vốn chủ sở hữu

Việc xác định mức vốn chủ sở hữu phù hợp với bản thân mỗi ngân hàng là việc làm hết sứcquan trọng và đây cũng chính la bài toán đầu tiên mà ban quản trị ngân hàng cần làm

Vậy, “Quản trị vốn chủ sở hữu là công tác xác định qui mô và nhu cầu, phân tích so sánh các chỉ tiêu về vốn giữa các ngân hàng, phân tích chi phí vốn chủ sở hữu sao cho phù hợp với yêu cầu kinh doanh, tuân thủ đầy đủ qui định của pháp luật từ đó tìm giải pháp gia tăng vốn chủ sở hữu và để lập kế hoạch tổng thể đáp ứng yêu cầu về vốn của ngân hàng”.

Nếu quản trị tốt công tác này giúp cho ngân hàng luôn có sự cân đối về nguồn cung và cầu vốn,chống đỡ được rủi ro, duy trì niềm tin cho khách hàng và nhà đầu tư Ngược lại nếu lơ là trong công tácquản trị nguồn vốn sẽ làm cho ngân hàng mất cân đối nguồn tiền, tiền không đủ để ngân hàng cho vay,lượng tiền dự trữ cạn kiệt, tiền gửi tại các ngân hàng khác không còn, ngân hàng mất khả năng thanhkhoản, thậm chí có thể đưa ngân hàng tới bờ vực phá sản

Ngoài ra, quản trị nguồn vốn chủ sở hữu sẽ giúp chủ thể quản trị luôn nắm rõ được khả năng tàichính của ngân hàng mình, so sánh lợi thế cạnh tranh về vốn với các ngân hàng khác, từ đó có chiếnlược tăng vốn phù hợp

Vốn chủ sở hữu ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của các cổ đông, quyền lợi của các cổ đông gắnliền với vốn chủ sở hữu vì vốn chủ sở hữu có quan hệ tỷ lệ nghịch với ROE (tỷ suất sinh lời vốn chủ sởhữu)

Công tác quản trị nguồn vốn chủ sở hữu làm cho giá trị ngân hàng gia tăng nhờ vào việc tríchlập các quỹ Mặt khác, giúp cho việc ra quyết định thời điểm chuyển đổi công cụ nợ thành vốn cổ phầnhợp lý

3.2.2.2 Nội dung quản trị vốn chủ sở hữu

a Xác định qui mô vốn chủ sở hữu

Quản trị vốn chủ sở hữu của một ngân hàng được thực hiện ngay từ khi thành lập và được quản

lý chặt chẽ trong suốt quá trình hoạt động Trước khi quyết định xem xét một ngân hàng nên nắm giữlượng vốn là bao nhiêu, chúng ta xem xét phương pháp đo lường vốn của ngân hàng Dựa vào bảngCĐKT ta có thể xác định một cách tổng quát vốn chủ sở hữu theo công thức sau:

Vốn chủ sở hữu = Tổng tài sản – Các khoản nợ (1)

Tuy nhiên tùy vào mục đích và đứng ở vị thế khác nhau mà người ta xác định vốn chủ theonhiều cách khác nhau

Thứ nhất: Tính vốn chủ sở hữu theo giá trị sổ sách hoặc giá trị thị trường

-Các khoản nợ tính theo giá trị

sổ sách

(2)

Nếu tính theo cách này, tài sản và nợ được phản ánh vào sổ sách ngân hàng theo giá trị tại thờiđiểm phát sinh Khi đó giá trị vốn số sách sẽ được xác định theo giá trị tài sản của ngân hàng và cáckhoản nợ của ngân hàng

Cách 2

Trang 26

chủ sở

hữu = thường phần + vĩnh viễn ưu đãi + bổ sung nhuận + thặng dư + và các quỹ khác (3)

Với cách xác định này, vốn của ngân hàng được xác định dựa vào vốn cổ đông, vốn cổ phiếu ưuđãi, lợi nhuận bổ sung, thặng dư vốn cổ phần, các khoản dự phòng (dự phòng tài chính, dự phòng tổnthất tín dụng và cho thuê) và các khoản mục khác

- Theo giá trị thị trường

Vốn chủ

sở hữu =

Tổng tài sản tính theo giá trị thị trường -

Tổng nợ theo giá trị thị trường (4)

Đây là phương pháp được sử dụng nhiều nhất vì nó phản ánh thực tế giá trị vốn Tuy nhiênphương pháp này cũng có những nhược điểm là khó xác định đối với những ngân hàng lớn là sự bất ổntrong vốn ngân hàng, đối với ngân hàng nhỏ là khó xác định giá trị trường Tuy nhiên phương pháp nàyđược đánh giá là phương pháp mà xác định đúng nhất thực lực của ngân hàng vì giá trị tài sản và nợcủa ngân hàng được xác định đúng theo giá trị thị trường Khi đó, đứng ở góc độ khách hàng của ngânhàng, nhìn vào chỉ tiêu này sẽ thấy được giá trị của ngân hàng theo giá trị thị trường và như vậy kết quảtính giá trị vốn theo phương pháp này đem lại sự tin tưởng lớn nhất cho khách hàng

Thứ hai: Nếu tính vốn chủ sở hữu giá trị thị trường của cổ phiếu

Khi vốn chủ sở hữu lớn thì tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu giảm, vì:

- Trong trường hợp vốn chủ sỡ hữu quá lớn, nhà quản trị muốn tăng ROE cần giữ nguyên qui

mô tài sản và giảm giảm vốn chủ sở hữu Việc giảm vốn chủ sở hữu có thể thực hiện theo một sốhướng như: mua lại cổ phần, trả cổ tức nhiều hơn Hoặc có thể sử dụng biện pháp mà không ảnh hưởngtới quyền lợi của cổ đông đó là vốn chủ sở hữu không thay đổi mà tăng qui mô tài sản có bằng cáchtăng huy động sau đó đẩy mạnh cho vay

- Trong trường hợp vốn chủ sỡ hữu thấp, nhà quản trị cần giảm muốn tăng ROE cần giữ nguyênqui mô tài sản và tăng vốn chủ sở hữu Muốn tăng vốn chủ sở hữu người ta có thể: phát hành quyềnmua để bổ sung thêm vốn, trả cổ tức ít hơn cho cổ đông Nhà quản trị có thể giữ nguyên vốn chủ sởhữu và giảm tài sản có của ngân hàng bằng cách giảm cho vay, bán chứng khoán sau đó sử dụng tiềnthu được để giảm tài sản nợ

b Xác định nhu cầu vốn

Rủi ro thanh khoản luôn có thể xảy ra đối với bất cứ ngân hàng nào, ngân hàng có thể mất khảnăng chi trả cho khách hàng nếu không cân đối được nguồn tiền vào và nguồn tiền ra Chính vì vậy màvấn đề đặt ra các NHTM luôn phải giám sát nguồn vốn của mình luôn có sự điều chỉnh sát sao khi cầnthiết đảm bảo an toàn trong hoạt động và tuân thủ các qui định của pháp luật

Trang 27

Những mục đích cơ bản của việc xác định nhu cầu vốn nhằm hạn chế rủi ro phá sản, tạo và duytrì niềm tin của công chúng với ngân hàng, hạn chế việc bù đắp của tổ chức bảo hiểm tiền gửi Khingân hàng mất khả năng cân đối nguồn tiền Khi đó, hầu hết tất cả các ngân hàng không thể bán danhmục cho vay ngay tức thời khi có nguy cơ rút tiền với khối lượng lớn từ phía công chúng Mặt khác sựphá sản của một ngân hàng có thể làm cho các ngân hàng khác bị tác động chính vì vậy Nhà nước cần

có sự quản lý hoặc hỗ trợ cho các ngân hàng

Thứ nhất, về quản lý Nhà nước đưa ra những qui định đảm bảo an toàn về vốn đối với ngânhàng

+ Qui định về đảm bảo an toàn giữa tổng số vốn với số tiền gửi (k1)

Từ công thức (9) ta thấy k1 phụ thuộc vào tổng số vốn chủ sở hữu và tổng số tiền gửi của ngânhàng Như vậy, tổng số vốn được so sánh với tổng số tiền gửi của ngân hàng Từ (9) ta thấy k1 càng caongân hàng đó càng an toàn, điều đó càng chứng tỏ một đồng tiền gửi được đảm bảo cao hơn một đồngvốn tiền gửi Cách xác định tỷ lệ an toàn này tương đối đơn giản nhưng chưa đủ thông tin để khảngđịnh mức độ an toàn của một ngân hàng vì lịch sử đã chứng mình rất nhiều ngân hàng có tổng vốn chủcao nhưng vẫn có rủi ro thanh khoản

Ở Việt Nam qui định nghịch đảo ở tỷ lệ này, không cho phép huy động quá 20% vốn tự có.+ Qui định về đảm bảo an toàn giữa tổng số vốn chủ sở hữu với tổng tài sản (k2)

k 2 = Tổng vốn chủ sở hữu Tổng tài sản (10)

Ta thấy k1 thể hiện mối quan hệ giữa tổng số vốn chủ sở hữu và tổng tài sản của ngân hàng Chỉtiêu này thể hiện mối quan hệ giữa vốn chủ sở hữu với các khoản nợ, khả năng bù đắp các tổn thất đốivới các cam kết hoàn trả của ngân hàng

+ Qui định về đảm bảo an toàn giữa tổng số vốn chủ sở hữu với tổng tài sản rủi ro (k3)

k 3 = Tổng vốn chủ sở hữu Tổng tài sản rủi ro (11)

Ở tỷ lệ đảm bảo an toàn này đo lường mối quan hệ giữa tổng vốn chủ sở hữu với tổng tài sản rủi

ro Ở đây tài rủi ro bao gồm tất cả các loại tài sản của ngân hàng trừ tiền mặt (Ở một số nước còn chotài sản rủi ro không bao gồm cả chứng khoán) Khi rủi ro thanh khoản xảy ra, ngân hàng mất khả năngchi trả, sự sụt giảm mạnh nhất đó là các tài sản rủi ro bao gồm: các khoản vay không thể thu hồi, chứngkhoán bị giảm giá Chính vì thế người ta đưa ra tỷ lệ đảm bảo an toàn này nhằm tìm mối liên hệ giữavốn chủ sở hữu với tổng tài sản rủi ro, thực chất chính là để xác định qui mô của vốn chủ sở hữu

Ngoài tỷ lệ k1 k2 k3 do yêu cầu của cơ quan quản lý, nhà quản trị cần quan tâm tới những chỉ tiêunhư: tỷ lệ Vốn chủ sở hữu/Tổng tài sản chuyển đổi; Tiền gửi/Vốn chủ sở hữu; Dư nợ/ Vốn chủ sở hữu,

Dư nợ tối đa/ Vốn chủ sở hữu, giá trị tài sản cố định/vốn điều lệ …

c Phân tích và so sánh tương quan các chỉ tiêu về vốn giữa các ngân hàng

Thông thường người ta sử dụng hai phương phân tích:

+ Phân tích cắt ngang: Phương pháp này cho phép nhà quản trị so sánh tỉ lệ vốn của mỗi ngânhàng với các ngân hàng tương đương tại một thời điểm

+ Phân tích quĩ thời gian: Nhà quản trị nguồn vốn theo dõi những thay đổi theo tỉ lệ vốn ngânhàng để xác định mức độ hợp lý của vốn đã thay đổi như thế nào

k 1 =

Tổng vốn chủ sở hữu Tổng số tiền gửi (9)

Trang 28

Khi tỉ lệ vốn của ngân hàng với các ngân hàng có qui mô tương tự giảm sẽ dẫn tới tình trạng vốncủa toàn ngành ngân hàng không ổn định Khi công chúng thấy tỉ lệ vốn ngân hàng nằm dưới mức vốntối thiểu thì những người gửi tiền không được bảo hiểm sẽ rút vốn với qui mô lớn khỏi ngân hàng.

Tỷ lệ vốn/tổng tải sản còn phụ thuộc vào qui mô của một ngân hàng, ngân hàng nhỏ có tỉ lệ vốn/tài sản lớn hơn ngân hàng lớn vậy phải chăng ngân hàng nhỏ lại có mức an toàn cao hơn các ngân hànglớn Đương nhiên, không phải vậy, nhà quản trị còn phải xem xét tới các yếu tố khác liên quan nhưxem xét báo cáo thu nhập, chất lượng quản lý, thị trường đang phát triển hay suy yếu

Một gợi ý để đo lường chính xác mức độ an toàn vốn của ngân hàng là phải đặt ngân hàng đótrong môi trường hoạt động của nó, quan sát sự ảnh hưởng của các điều kiện bên trong, bên ngoài lênhoạt động của ngân hàng, những điều kiện đó bao gồm: chất lượng quản lý, tính thanh quản của tài sản,thu nhập của ngân hàng qua các năm, chi phí nắm giữ tài sản, chất lượng hoạt động, sự biến động trongnguồn tiền gửi, những điều kiện về thị trường Có những ngân hàng đáp ứng được yêu cầu vốn tối thiểu

về vốn có thể bị xem là có quy mô vốn không thích hợp nếu nó hoạt động trong môi trường cần nhiềuvốn hơn hoặc có những vấn đề chưa hợp lý trong cân đối vốn bên trong Khi đó ngân hàng cần phải có

kế hoạch tăng vốn

d Đo lường hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu

Nhà quản trị nguồn vốn cần xác định hiệu quả sử dụng vốn chủ sỡ hữu định kỳ Vốn chủ sở hữu

có thể được sử dụng trong thời gian đầu thành lập như tài trợ để mua nhà cửa, trang thiết bị công nghệ,góp vốn liên doanh liên kết, đầu tư tài chính Vậy cần phải đánh giá, ra soát xem công tác đó có hiệuquả không, có đang lãng phí thất thoát ở khâu nào không Sử dụng vốn chủ sở hữu như thế nào cho cóhiệu quả cao nhất mà vấn đảm bảo tỷ kệ an toàn vốn tối thiểu là điều mà chủ ngân hàng rất quan tâm

Để đo lường hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu người ta dùng chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên vốnchủ sở hữu (ROE)

ROE =

Lợi nhuận ròng Vốn chủ sở hữu (12)

Tỷ suất này thể hiện một đồng lãi thu được từ bao nhiêu đồng vốn chủ sở hữu Trong thực tếngười ta tính toán vốn chủ sở hữu theo giá trị thị trường vì thế chỉ tiêu này có thể tăng hoặc giảm phụthuộc vào phương pháp định giá thị trường Tuy nhiên lợi nhuận không đổi do vậy rất khó xác địnhchính xác chỉ tiêu này Vậy, các nhà quản trị nguồn vốn vốn chủ sở hữu tính theo giá trị số sách để tínhROE để tính hiệu quả của việc sử dụng vốn chủ sở hữu

Đối với các cổ đông họ quan tâm tới ROE tính trên vốn cổ phần thường

e Quản trị tăng vốn chủ sở hữu

Trong sự cạnh tranh và sự phát triển của NHTM đòi hỏi nhà quản trị ngân hàng phải tính toán vàtìm cách gia tăng nguồn vốn tự có Tùy vào loại hình ngân hàng mà việc tăng vốn có cách thức khácnhau

- Đối với ngân hàng thuộc sở hữu Nhà nước:

Việc tăng vốn tự có chủ yếu do ngân sách cấp và Nhà nước luôn khuyến khích các NHTM thuộc

Trang 29

sở hữu Nhà nước sử dụng vốn ngân sách cấp một cách tiết kiệm và hiệu quả.

- Đối với ngân hàng cổ phần:

Tăng vốn chủ sở hữu có thể theo hai cách:

Thứ nhất, phát triển vốn từ bên trong ngân hàng

Giải pháp đầu tiên là ngân hàng luôn cố gắng gia tăng lợi nhuận vì chỉ tiêu này nằm trong nguồnvốn chủ sở hữu Sau đó là giảm chi phí trong hoạt động kinh doanh (chi phí trả lãi, chi phí ngoài lãi, chiphí khác) Trong các chi phí trả lãi, chi phí trả lãi tiền gửi thường là lớn nhất và giải pháp tốt nhất làngân hàng tìm kiếm nguồn tiền gửi có chi phí hợp lý

Hai là, tiết kiệm chi phí

Các chi phí như chi phí quản lý, tiền lương là các chi phí tồn tại tất yếu vì thế ngân hàng khôngthể cắt giảm mà chỉ có thể tiết kiệm chi phí này Vì thế ngân hàng cần xây dựng bộ bộ máy tổ chức gọnnhẹ, hiệu quả để giảm chi phí nhưng vẫn đảm bảo hoạt động hiệu quả

Ba là, tăng thu nhập

- Tăng thu nhập từ lãi: Muốn tăng thu nhập từ lãi ngân hàng phải tăng Tài sản có sinh lời ngânhàng Điều này đồng nghĩa với việc ngân hàng phải mở rộng danh mục cho vay và đầu tư Ngoài ra nhàquản trị ngân hàng phải kiểm soát rủi ro và nâng cao chất lượng danh mục này

- Tăng thu nhập ngoài lãi: Thu nhập ngoài lãi là các khoản thu từ dịch vụ của ngân hàng đangcung cấp Ngân hàng phải chú trọng cả yếu tố số lượng và chất lượng về dịch vụ ngân hàng Về sốlượng là gia tăng các loại hình dịch vụ sản phẩm bằng cách mở rộng, đa dạng hóa Về chất lượng làphải làm sao nâng cao chất lượng các sản phẩm, dịch vụ ấy

Thứ hai, phát triển vốn từ bên ngoài ngân hàng

- Một là, phát hành cổ phiếu cho phép ngân hàng mở rộng quy mô vốn chủ sở hữu một cáchnhanh nhất và đây cũng là cách truyền thống mà các doanh nghiệp cổ phần thường làm

Sử dụng hình thức này cần phải xem xét sự phát triển của thị trường chứng khoán là nhân tốquan trọng quyết định sự thành công của đợt phát hành Ngân hàng phải bỏ chi phí cho việc in ấn, pháthành, quảng cáo về đợt phát hành cổ phiếu của mình Khi phát hành cổ phiếu tạo ra hiện tượng loãngquyền sở hữu và trong trường hợp các cổ đông hiện hữu phủ quyết việc phát hành cổ phiếu thì khôngthể gia tăng vốn chủ sở hữu bằng cách này

- Hai là, phát hành cổ phiếu ưu đãi Cổ phiếu ưu đãi khác cổ phiếu thường ở chỗ nó chỉ đượcngân hàng phát hành cho một số đối tượng và họ sẽ trở thành cổ đông ưu đãi

Hình thức này làm gia tăng vốn chủ sở hữu và tạo ra sự gắn bó chặt chẽ giữa các cổ đông ưu đãivới ngân hàng tuy nhiên với cách huy động vốn này ngân hàng phải trả cổ tức ngay cả khi hoạt độngkinh doanh của ngân hàng không có lãi

- Ba là, tăng vốn tự có cấp 2 bằng cách phát hành tín phiếu vốn

- Bốn là, phát hành trái phiếu có khả năng chuyển đổi Loại trái phiếu này cho phép người nắmgiữ nó chuyển sang cổ phiếu thường Hình thức này hấp dẫn các nhà đầu tư, giúp các nhà đầu tư giatăng thu nhập của mình trong trường hợp hoạt động kinh doanh của ngân hàng có lợi nhuận cao

- Năm là, bán tài sản và thuê lại Ngân hàng có thể bán tài sản cố đinh sau đó thuê lại làm trụ sởhoạt động

f Quản trị chi phí của vốn chủ sở hữu

Quản trị vốn chủ sở hữu không thể thiếu công tác quản trị chi phí của vốn chủ sở hữu vì để cóvốn chủ sở hữu thì ngân hàng cần bỏ ra một khoản chi phí nhất định Các bộ phân cấu thành vốn chủ sởhữu có chi phí khác nhau Trong đó có một số loại có chi phí được tính vào chi phí của ngân hàng như:thuế sử dụng vốn tính đối với phần vốn ngân sách Nhà nước cấp, lãi trả trái phiếu, các loại chi phí khácphát sinh trong quá trình hoạt động của ngân hàng như chi phí hoạt động, chi phí lương nhân viên,…Một số khoản mục chi phí từ vốn chủ sở hữu được tính trừ vào lợi nhuận sau thuế và trước khi chia cổ

Trang 30

tức với tỷ lệ xác định như cổ tức trả cho cổ đông đãi.

Việc tính toán chi phí vốn chủ sở hữu với mục đích giúp nhà quản trị tìm hiểu khả năng mở rộngquy mô vốn chủ sở hữu trên nguyên tác tối đa hóa tỷ suất lợi nhuận

g Kế hoạch đáp ứng cầu về vốn của ngân hàng

Để có nguồn vốn hợp lý cho hoạt động của mình, các ngân hàng nhận thấy sự cần thiết phải lập

kế hoạch dài hạn cho việc quản trị vốn Việc quản trị vốn của ngân hàng tuân thủ 3 bước cơ bản sau:

Bước 1: Thiết lập kế hoạch tài chính tổng thể cho ngân hàng

Việc thiết lập kế hoạch tài chính tổng thể cho ngân hàng, cân đối nguồn tiền tại mọi thời điểm làmột việc làm thường trực của ban lãnh đạo ngân hàng Để thực hiện điều trên thì ban lãnh đạo cần đitìm lời giải cho câu hỏi: Ngân hàng nên phát triển đến qui mô nào Ngân hàng cung cấp dịch vụ, sảnphẩm nào theo từng thời kỳ Rủi ro có thể gặp phải trong quá trình hoạt động như thế nào Kế hoạch lợinhuận của ngân hàng như thế nào

Các ngân hàng hiện nay phải gắn kế hoạch vốn với danh mục dịch vụ mà ngân hàng cung cấptrong một thời kỳ Để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng và phức tạp của khách hàng, các ngân hàngluôn phải làm mới mình bằng cách đưa ra những sản phẩm thu hút khách hàng Hơn nữa, các Nhà nướchiện nay cho phép các ngân hàng được cung cấp những dịch vụ đa dạng, có sự liên kết giữa các tổ chứckinh tế với nhau để tạo một dịch vụ trọn gói cho khách hàng, như là sự liên kết hợp tác giữa các ngânhàng với các công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm, công ty quản lý quĩ, Vấn đề đặt ra là ban lãnhđạo ngân hàng cần phải xác định những rủi ro sẽ gặp phải khi có sự hợp tác trong hoạt động kinh doanhcủa mình từ đó đưa ra chiến lược quản trị sao cho phù hợp, hạn chế được rủi ro nhất

Bước 2: Căn cứ vào kế hoạch nguồn sử dụng trong một kỳ vào rủi ro tính toán được mà ngân hàng xác định qui mô vốn hợp lý

Khi vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trong vốn làm giảm hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính, làm giảmqui mô của việc sử dụng các khoản vốn vay do vậy làm giảm thu nhập tiềm năng Ngược lại khi tỷtrọng vốn chủ sở hữu nhỏ, các nhà đầu tư trên thị trường sẽ cảm thấy e ngại vì khả năng đối phó với rủi

ro của ngân hàng mình đầu tư vào

Bước 3: Đánh giá và lựa chọn phương thức tăng nguồn vốn phù hợp nhất với những nhu cầu và mục tiêu của ngân hàng

Việc tăng nguồn vốn của một ngân hàng có thể từ hai cách là tăng từ nội bộ hoặc tăng từ ngoàicông chúng Tùy vào nhu cầu và mục tiêu và phù hợp trong từng thời kỳ mà ngân hàng lựa chọnphương thức nào Phần này sẽ nghiên cứu kỹ ở phần hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu

3.2.3 Quản trị vốn tiền gửi

3.2.3.1 Khái niệm và tầm quan trọng của việc quản trị vốn tiền gửi

Tiền gửi thuộc nhóm tiền vốn của ngân hàng và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong vốn khác trongnguồn vốn Tiền gửi có thẻ được coi là đầu vào sống còn của ngân hàng Đây là nguồn vốn cơ bản đểngân hàng cung ứng tiền vay cho khách hàng, giúp ngân hàng phát triển hoạt động đầu tư Như vậy cóthể nói tiền gửi là nguồn gốc sâu xa của lợi nhuận và đảm bảo sự phát triển bền vững của một ngânhàng Chính vì vậy quản trị vốn tiền gửi là nhiệm vụ hàng đầu của các nhà quản trị nguồn vốn nóiriêng, nhà quản trị ngân hàng nói chung

Vậy, “Quản trị vốn tiền gửi là công tác xác định qui mô và kết cấu vốn tiền gửi, chi phí nguồn tiền gửi, quản trị lãi suất cũng như kỳ hạn, các phương pháp định giá tiền gửi phù hợp với yêu cầu kinh doanh và tuân thủ đầy đủ qui định của pháp luật từ đó tìm giải pháp gia tăng vốn tiền gửi của ngân hàng”

Công tác quản trị vốn tiền gửi sẽ giúp cho ngân hàng tìm kiếm được quy mô nguồn vốn kinhdoanh đủ lớn, đáp ứng được các yêu cầu đặt ra trong việc phát triển hoạt động cho vay, đầu tư và các

Trang 31

dịch vụ khác.

Ngoài ra, quản trị nguồn vốn giúp nhà quản trị hoạch định nguồn vốn cho hiện tại và tương lai,tìm kiếm những nguồn tiền gửi với chi phí hợp lý, có khả năng thu hút khách hàng, cạnh tranh với đốithủ song vẫn cân đối với thu nhập mà ngân hàng tao ra để gia tăng lợi nhuận

3.2.3.2 Nội dung quản trị vốn tiền gửi

a Xác định qui mô và kết cấu

Việc xác định qui mô và kết cấu nguồn tiền gửi là công việc đầu tiên của nhà quản trị nguồn vốntiền gửi Mục đích của các nhà quản trị là gia tăng qui mô và thay đổi cơ cấu của vốn tiền gửi một cách

có hiệu quả nhất, phù hợp với sự phát triển của ngân hàng trong từng thời kỳ

Việc gia tăng nguồn vốn tiền gủi là điều kiện để ngân hàng mở rộng qui mô hoạt động, nâng caokhả năng thanh khoản của ngân hàng vì nguồn vốn này chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn củangân hàng

Thứ nhất, làm công tác thống kê loại nguồn vốn, ghi lại sự thay đổi các loại nguồn vốn, tốc độ

quay vòng của mỗi loại để từ đó có chiến lược phát triển sản phẩm mang lại hiệu quả huy động vốn ởmức cao

Công việc này sẽ giúp nhà quản trị tính toán kỹ lưỡng về các loại nguồn vốn cũng như cấu trúc

và các nhân tố ảnh hưởng ở nhiều thời kỳ từ đó nghiên cứu tính chu kỳ hay tính lịch sử lặp lại để có kếhoạch phát triển trong thời gian tới

Thứ hai, phân tích các yêu tố làm thay đổi qui mô và kết cấu nguồn vốn Đây là cơ sở để ngân

hàng đưa ra quyết định để thay đổi kết cấu nguồn tiền gửi

Thứ ba, việc phân tích qui mô và kết cấu phải gắn với từng đối tượng khách hàng, nhóm khách

hàng Phân loại và sắp xếp khách hàng theo nhóm, có nhóm khách hàng truyền thống không thay đổitrước sự biến động, có nhóm khách hàng vãng lai luôn có sự thay đổi theo từng sản phẩm tiền gửi màngân hàng cung cấp

Thứ tư, kế hoạch nguồn tiền gửi được xây dựng cho từng giai đoạn, tính tới cả yếu tố chất lượng

(chất lượng dịch vụ, giá trị gia tăng cho khách hàng, ) và yếu tố số lượng (mở thêm chi nhánh, pháttriển thêm nhiều sản phẩm,…)

a Quản trị chi phí cho nguồn tiền gửi

Chi phí cho nguồn tiền gửi nằm trong tổng chi phí của ngân hàng nên rất được các nhà quản trịquan tâm Vì khi tính toán tương đối chính xác chi phí huy động vốn là yếu tố cơ bản để xác định mứclợi nhuận mà ngân hàng cần thu được từ các tài sản có sinh lời

3.2.4 Quản trị các nguồn vốn phi tiền gửi

3.2.4.1 Khái niệm và tầm quan trọng của việc quản trị vốn phi tiền gửi

Vốn phi tiền gửi chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng nguồn vốn nhưng nó đóng vai trò quantrọng trong hoạt động của NHTM vì nó có ý nghĩa quan trọng giúp ngân hàng có đựoc nguồn vốn kinhdoanh đúng thời điểm để đáp ứng nhu cấu thanh khoản Ngoài ra nguồn vốn này giúp ngân hàng tìmkiếm được nguồn vốn kinh doanh với mức chi phí hợp lý vào những thời điểm mà ngân hàng cần để bùđắp thiếu hụt về nguồn vốn kinh doanh mà chưa khai thác ở các nguồn khác Vì vậy vấn để đặt ra đốivới các nhà quản trị cần tạo lập và sử dụng nguồn vốn này đúng mục đích

Vậy, “Quản trị vốn tiền gửi là công tác xác định qui mô và kết cấu vốn tiền gửi, chi phí nguồn tiền gửi, quản trị lãi suất cũng như kỳ hạn, các phương pháp định giá tiền gửi phù hợp với yêu cầu kinh doanh và tuân thủ đầy đủ qui định của pháp luật từ đó tìm giải pháp gia tăng vốn tiền gửi của ngân hàng”

Công tác quản trị vốn tiền gửi sẽ giúp cho ngân hàng tìm kiếm được quy mô nguồn vốn kinhdoanh đủ lớn, đáp ứng được các yêu cầu đặt ra trong việc phát triển hoạt động cho vay, đầu tư và cácdịch vụ khác

Trang 32

Ngoài ra, quản trị nguồn vốn giúp nhà quản trị hoạch định nguồn vốn cho hiện tại và tương lai,tìm kiếm những nguồn tiền gửi với chi phí hợp lý, có khả năng thu hút khách hàng, cạnh tranh với đốithủ song vẫn cân đối với thu nhập mà ngân hàng tao ra để gia tăng lợi nhuận.

3.2.4.2 Nội dung quản trị vốn phi tiền gửi

a Xác định khe hở vốn

Với đặc thù kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ của mình các NHTM luôn tính toán tìm mọi cách

để đảm bảo cân bằng cung câu về nguồn tiền, luôn đảm bảo nguyên tắc đủ và có dữ trữ vốn cho hoạt độngtín dụng và các hoạt động khác của ngân hàng Vì thế nhà quản trị nguồn vốn luôn phải sát sao với việc xácđịnh mức độ chênh lệch giữa nhu cầu cho vay và lượng tiền gửi hiện tại và dự tính với dòng tiền gửi Mứcchênh lệch này goi là khe hở vốn Trước khi ngân hàng quyết định đi vay (tạo lập nguồn vốn phi tiền gửi) ngânhàng phải xác định xem có thiếu hụt vốn hay không thông qua việc xác định khe hở vốn (FG)

Khe hở vốn (FG) =

Cho vay, đầu

tư trong hiện tại và dự tính

+

Rút tiền trong hiện tại và dự tính

-Quy mô tiền gửi trong hiện tại và dự tính

(20)

Tổng giá trị cho vay đầu tư trong hiện tại và dự tính cộng với rút tiền trong hiện tại và dự tính làcầu thanh khoản Qui mô tiền gửi trong hiện tại và dự tính là cung thanh khoản Một công việc đặt rađối với nhà quản trị là cần phải cân đối nguồn cung và cầu này

Trong trường hợp giá trị cho vay đầu tư trong hiện tại và dự tính cộng với rút tiền trong hiện tạilớn hơn qui mô tiền gửi trong hiện tại và dự tính, tức FG>0 thì ngân hàng phải đi vay Ngược lại giá trịcho vay đầu tư trong hiện tại và dự tính cộng với rút tiền trong hiện tại và dự tính nhỏ hơn hoặc thậmchí là bằng với qui mô tiền gửi trong hiện tại và dự tính, tức FG =<0 thì ngân hàng không phải đi vay.Thông thường để đảm bảo khả năng thanh khoản mở mức cao và an toàn trong hoạt động các ngânhàng thường cộng thêm một lượng nhỏ vào kết quả khe hở vốn để đề phòng trường hợp có những nhucầu tín dụng bất thường hoặc có sự suy giảm dòng tiền gửi đột ngột Đặc biệt là các nhà quản trị cầnphải lập kế hoạch sử dụng nguồn phi tiền gửi để bù đắp khe hở vốn Khi đó các nhà quản trị cần xemxét tới các yếu tố ảnh hưởng tới nguồn vốn phi tiền gửi (chủ yếu là vốn tiền vay) bao gồm các yếu tốsau:

Một là, qui mô của ngân hàng: Ngân hàng đi vay phải đảm bảo những điều kiện cần thiết về mặttài chính, cơ sở vật chất, nhân sự Vì vậy các đơn vị cho vay sắp xếp các đối tượng đi vay Nếu điềukiện đáp ứng ở mức cao ngân hàng đó sẽ có hạn mức tín dụng cao và ngược lại ngân hàng đi vay đápứng ở mức độ thấp sẽ được cấp mức tín dụng thấp hơn

Hai là, chi phí tương đối: Nhà quản trị nguồn vốn của ngân hàng cần cập nhật sự thay đổi của lãi suất thịtrường áp dụng cho các nguồn vay để có những ứng phó cần thiết từ đó quản lý được chi phí tiền vay

Ngoài ra các nhà quản trị cũng nên quan tâm tới những chi phí ngoài lãi

Chi phí ngoài lãi cho vốn vay

=

Tỷ lệ chi phí dự tính cho nhân viên, cơ sở vật chất và giao dịch

x

Lượng vốn

Ba là, kỳ hạn cần thiết của nguồn vốn: Kỳ hạn vay đóng vai trò quan trong trong việc giải quyếtnhu cầu vay và lãi và phải trả vì vậy xác định đúng kỳ hạn để giải quyết nhu cầu về vốn là công việcquan trọng của mỗi nhà quản trị

Bốn là, nhà quản trị ngân hàng phải tìm hiểu những qui định trong cho vay như: thời hạn, qui

mô, mục đích sử dụng,… được đưa ra từ luật định và đơn vị cho vay để có những chuẩn bị cần thiết

Năm là, yếu tố rủi ro: Nhà quản trị cần phải ước tính rủi ro gặp phải khi đi vay, đó là rủi ro lãi

Trang 33

suất và rủi ro tín dụng Đây là hai loại rủi ro ảnh hưởng trực tiếp tới nguồn vốn đi vay.

Các nguồn tiền vay mà các NHTM có thể tìm tới gồm:

Từ Ngân hàng Nhà nước

- Vay từ Ngân hàng Nhà nước (Ngân hàng Trung ương)

- Thực hiện chiết khấu chứng từ có giá

- Xin tái cấp vốn

- Cửa sổ chứng khoán: Là cứu cánh cuối cùng của NHNN đối với NHTM khi ngân hàng thươngmại không còn nguồn để vay

Từ tổ chức tín dụng

- Từ dự trữ thặng dư của các NHTM tại NHNN

- Trên thị trường liên ngân hàng

- Thực hiện các cam kết mua lại

Trên thị trường tiền tệ

- Phát hành các giấy tờ có giá ngắn hạn

Các hình thức này đều chịu ảnh hưởng của các yếu tố: thời hạn, lãi suất, rủi ro và quy định củachính phủ Do đó, các nhà quản trị nguồn vốn phải xem xét tính toán các yếu tố trong ngân hàng mình

để lựa chọn cách thức tạo lập nguồn vốn vay cho phù hợp

b Quản trị nguồn vốn phi tiền gửi khác

Đối với nguồn vốn phi tiền gửi khác như tiền trong thanh toán, tiền treo chờ xử lý, tiền ủy thác,

…cũng cần được nhà quản trị ngân hàng quản lý và theo dõi sát sao vì ở góc độ tận thu từ nguồn thìđây cũng là một nguồn vốn làm gia tăng lợi nhuận cho ngân hàng Ngoài ra việc quản trị nguồn tiềnnày đúng mục đích và hiệu quả đem lại hiệu quả mới đó là uy tín trong việc giải quyết tốt với cáckhách hàng

Chương 4 QUẢN TRỊ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

4.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NHTM

4.1.1 Khái niệm và phân loại cho vay

Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoảntiền để sử dụng vào mục đích và một thời hạn nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cảgốc và lãi1

Trong quan hệ tín dụng, do có sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn, bởi vậy với

tư cách là người kinh doanh vốn đòi hỏi các NHTM vừa phải đề ra các biện pháp thích hợp nhằm ngănngừa và hạn chế rủi ro có thể xảy ra, đồng thời cũng phải tạo ra cơ chế hợp lý để thu hút khách hàngthông qua các hình thức cho vay phù hợp

● Phân loại cho vay

Có nhiều loại cho vay khác nhau tuỳ theo các tiêu thức nghiên cứu

a, Dựa vào thời hạn cho vay

Theo tiêu thức này, cho vay gồm 3 loại:

- Cho vay ngắn hạn là loại cho vay có thời hạn dưới 12 tháng Mục đích của loại cho vay này lànhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản ngắn hạn hoặc đáp ứng nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân

- Cho vay trung hạn là loại cho vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm2 Mục đích của loại cho vay này

1 QĐ 1627/2001 và 127/2005/QĐ-NHNN

2 Ở các nước trên thế giới, cho vay trung hạn có thời hạn từ 1-7 năm, cho vay dài hạn có thời hạn trên 7 năm

Trang 34

là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định.

- Cho vay dài hạn là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm, nhằm mục đích tài trợ đầu tư vào các

dự án đầu tư dài hạn

b, Dựa vào tính chất đảm bảo tiền vay

Theo tiêu thức này, cho vay gồm 2 loại:

- Cho vay có bảo đảm là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho tiền vay như nhà xưởng,máy móc thiết bị, hàng hóa, hình thức này được áp dụng phổ biến cho phần lớn các nhu cầu vayvốn của người vay Các tài sản bảo đảm sẽ giúp ngân hàng giảm bớt các rủi ro mất mát trong trườnghợp người vay không muốn hoặc không thể trả nợ vay khi đáo hạn

- Cho vay không có bảo đảm là loại cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng vay vốn

để quyết định cho vay Hình thức cho vay này chỉ áp dụng đối với một số rất ít người vay có quan hệthường xuyên, có uy tín với ngân hàng, tình hình tài chính lành mạnh và có khả năng phát triển trongtương lai

c, Dựa vào mục đích của tín dụng

Theo tiêu thức này, cho vay được chia thành:

- Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh, mục đích của loại cho vay này là tài trợ cho hoạt độngsản xuất kinh doanh ở các lĩnh vực công thương nghiệp, nông nghiệp

- Cho vay tiêu dùng cá nhân là loại cho vay nhằm mục đích giúp người tiêu dùng có nguồn tàichính để trang trải nhu cầu về nhà ở, đồ dùng gia đình và phương tiện đi lại

d, Dựa vào xuất xứ tín dụng

Dựa vào tiêu thức này cho vay chia làm hai loại:

- Cho vay trực tiếp: ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu, đồng thời người đi vaytrực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng

- Cho vay gián tiếp: là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khế ước hoặcchứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán Các NHTM cho vay gián tiếp theo các loạisau: chiết khấu chứng từ, cho vay trả góp hay mua các khoản nợ doanh nghiệp (factoring)

Ngoài các loại cho vay trên đây, ngân hàng còn thực hiện các nghiệp vụ bảo lãnh cho kháchhàng bằng uy tín của mình Đối với nghiệp vụ này ngân hàng không phải cung cấp tiền, nhưng khingười được bảo lãnh không thực hiện được nghĩa vụ theo hợp đồng thì người bảo lãnh phải thay thế đểthực hiện nghĩa vụ thanh toán

4.1.2 Nguyên tắc và điều kiện cho vay

● Các nguyên tắc cho vay

Các nguyên tắc cho vay được xây dựng dựa trên yêu cầu về đảm bảo tính an toàn và khả năngsinh lời của vốn vay Các nguyên tắc này mang tính bắt buộc đối với bất kì một tổ chức hay cá nhânvay vốn nào, nó được thể hiện trong các quy định pháp lý của ngân hàng Việc cấp phát vốn cho người

vay được dựa trên các nguyên tắc sau:

Một là, sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng

Nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng giúp cho ngân hàng phòng tránh những rủi ro và tổn thất

có thể xảy ra Bởi thực tế đã chứng minh, khi đồng vốn được sử dụng vào các mục đích khác nhau thìhiệu quả mang lại và rủi ro xảy ra cũng khác nhau Sử dụng vốn sai mục đích thì rủi ro sẽ nằm ngoài sựkiểm soát của ngân hàng và cũng đồng nghĩa với việc vi phạm hợp đồng tín dụng đã ký kết với ngânhàng Mặt khác, mỗi ngân hàng có thể có mục đích và phạm vi hoạt động riêng, mục đích cho vay đượcghi trong hợp đồng tín dụng sẽ đảm bảo ngân hàng không tài trợ cho các hoạt động trái pháp luật

Hai là, phải hoàn trả nợ gốc và lãi đúng hạn đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng

Nguyên tắc này được xây dựng xuất phát từ bản chất vốn của ngân hàng chủ yếu là vốn huyđộng từ nhiều nguồn khác nhau Hoàn trả đúng hạn cả gốc và lãi theo đúng cam kết sẽ giúp ngân hàng

Trang 35

duy trì và mở rộng hoạt động kinh doanh của mình Đồng thời giúp cho việc chu chuyển các nguồn vốntrong nền kinh tế được thực hiện một cách hiệu quả, không bị gián đoạn

Ba là, cho vay dựa trên phương án/dự án có hiệu quả

Phương án/dự án hoạt động có hiệu quả là cơ sở để đảm bảo cho ngân hàng thu hồi được nợ vay.Thực hiện nguyên tắc này, ngân hàng yêu cầu khách hàng phải trình bày phương án, kế hoạch kinhdoanh đồng thời ngân hàng sẽ tiến hành phân tích và thẩm định tính khả thi của các phương án/dự án

đó Trong trường hợp xét thấy kém an toàn, ngân hàng sẽ yêu cầu người vay phải có tài sản bảo đảmkhi vay Tuy nhiên, để việc bảo đảm tiền vay thực sự có hiệu quả đòi hỏi người vay phải có quyền sởhữu hợp pháp đối với tài sản bảo đảm, tài sản bảo đảm phải có giá trị và giá trị bảo đảm phải lớn hơn sốtiền đi vay

● Điều kiện cho vay

Điều kiện cho vay là những quy định cụ thể, chuẩn mực kinh tế cần thiết giúp cho ngân hànghạn chế, ngăn ngừa rủi ro và kiểm soát khả năng thực hiện các nguyên tắc cho vay Các điều kiện được

cụ thể hóa và mang tính bắt buộc đối với người vay bao gồm:

+ Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật

Đây là căn cứ pháp lý mang tính bắt buộc để thiết lập quan hệ tín dụng giữa người vay và tổchức tín dụng Theo quy định hiện hành, đối với pháp nhân vay vốn yêu cầu phải có tư cách pháp nhân;đối với các cá nhân, chủ doanh nghiệp tư nhân, đại diện hộ gia đình, đại diện tổ hợp tác, thành viên củacông ty hợp danh, muốn được xem xét để vay vốn kinh doanh thì phải có năng lực pháp luật dân sự

và năng lực hành vi dân sự

+ Có đủ khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết

Khả năng tài chính của người vay thể hiện ở quy mô vốn tự có tham gia vào phương án sản xuấtkinh doanh, hiệu quả kinh doanh, khả năng thanh toán nợ, trình độ thực thi các phương án/ kế hoạchkinh doanh v.v Khả năng tình hình tài chính lành mạnh là cơ sở để trả nợ cho ngân hàng theo đúng kỳhạn đã cam kết

+ Có mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp

Mục đích sử dụng vốn vay phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, phù hợp với ngành nghề,lĩnh vực mà người vay đã đăng kí kinh doanh Đây cũng là cơ sở để đồng vốn cho vay của ngân hàngđược bảo hộ về mặt pháp lý Ngân hàng sẽ từ chối cho vay đối với các dự án, kế hoạch kinh doanh củangười vay không phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được ghi nhận trong giấy phép kinh doanh hoặcđăng ký kinh doanh

+ Sản xuất kinh doanh phải có hiệu quả, hoặc phải có phương án trả nợ khả thi

Kinh doanh có hiệu quả là tiêu chí quan trọng để đánh giá năng lực trả nợ của người vay, chỉ khinào sản xuất kinh doanh có hiệu quả khi đó người vay mới có khả năng hoàn trả nợ vay đúng kỳ hạncam kết Bởi vậy, trong công tác phân tích và thẩm định phương án/dự án vay vốn, yêu cầu cán bộngân hàng phải đánh giá chính xác tính hiệu quả của các phương án/dự án vay vốn

+ Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định

Bảo đảm tiền vay là việc các ngân hàng áp dụng biện pháp phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế

và pháp lý để thu hồi được các khoản nợ vay Các quy định về bảo đảm tiền vay được coi là các ràngbuộc vật chất của người vay đối với tiền vốn của các tổ chức tín dụng Mục đích của điều kiện này lànhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của người vay trong quá trình sử dụng vốn, đồng thời đảm bảo antoàn cho tiền vốn của ngân hàng khi người vay thiếu hoặc hoàn toàn mất khả năng thanh toán nợ đếnhạn

Việc bảo đảm tiền vay có thể được thực hiện dưới một trong các hình thức sau:

Thứ nhất, bảo đảm bằng tài sản thế chấp

Trang 36

Thế chấp tài sản là việc bên đi vay sử dụng bất động sản (như nhà cửa, cơ sở sản xuất kinhdoanh và các tài sản khác gắn liền với nhà ở hoặc cơ sở SXKD) thuộc sở hữu của mình hoặc giá trịquyền sử dụng đất hợp pháp để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ đối với bên cho vay.

Thứ hai, bảo đảm bằng tài sản cầm cố

Cầm cố tài sản là việc bên đi vay giao tài sản là các động sản thuộc sở hữu của mình cho bêncho vay Các tài sản thường được cầm cố bao gồm:

- Máy móc thiết bị, các phương tiện vận chuyển

- Giấy tờ có giá như cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu, thương phiếu

- Quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, các quyền phát sinh từ tài sản khác

Để loại trừ hiện tượng thế chấp, cầm cố hình thức, ngân hàng yêu cầu tài sản thế chấp/cầm cốcủa người vay phải thoả mãn các điều kiện cần thiết bắt buộc sau:

(1) Người vay phải có giấy tờ xác nhận quyền sở hữu hợp pháp về tài sản thế chấp, cầm cố theoluật định

(2) Tài sản thế chấp phải dễ chuyển nhượng Khi cần có thể phát mại một cách dễ dàng, nhanhchóng, đảm bảo việc thu hồi vốn vay được thực hiện

(3) Giá trị tài sản thế chấp tại thời điểm vay vốn (theo giá thị trường) nhất thiết phải lớn hơn sốtiền xin vay

(4) Tài sản thế chấp phải đang trong thời gian không có tranh chấp và chưa được thế chấp tại bất

kỳ một tổ chức tín dụng nào

Thứ ba, bảo đảm bằng hình thức bảo lãnh bởi người thứ ba

Trường hợp không có tài sản thế chấp, cầm cố theo quy định, người vay phải có sự bảo lãnh củangười thứ ba theo đúng quy chế thế chấp, cầm cố, bảo lãnh hiện hành Người bảo lãnh phải có thực lựctài chính cần thiết, đồng thời phải cam kết sẵn sàng thanh quyết toán nợ vay thay cho người vay nếungười vay thiếu hoặc mất khả năng thanh toán Bảo lãnh có thể chia làm hai loại chính: bảo lãnh bằngtài sản của bên thứ ba và bảo lãnh bằng uy tín của tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội

Thứ tư, bảo đảmbằng tài sản được hình thành từ nguồn vốn vay

Trong thực tế, người vay cũng có thể thế chấp tài sản được hình thành từ chính nguồn vốn vaycủa ngân hàng Thường thì việc bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ nguồn vốn vay được ápdụng trong các trường hợp sau đây:

(1) Các khoản cho vay được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ định cho các ngân hàng.(2) Các khoản cho vay trung và dài hạn với các dự án đầu tư phát triển SXKD, dịch vụ đời sống.Trong đó, người vay và tài sản hình thành từ nguồn vốn vay phải đáp ứng các điều kiện như: quy môvốn vay nhỏ; tỷ lệ vốn tham gia của tổ chức tín dụng trên tổng vốn đầu tư không lớn; phương án đầu tưmang tính khả thi cao, có khả năng thu hồi vốn để trả nợ cho ngân hàng đúng kỳ hạn đã cam kết

4.1.3 Đối tượng, thời hạn và mức cho vay

● Đối tượng cho vay

Mục đích cho vay là nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn hợp pháp của khách hàng, do vậy ngânhàng chỉ chấp nhận cho vay với các các nhu cầu vay vốn như: vay vốn để bổ sung vốn lưu động thiếuhụt trong quá trình sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ; vay vốn để thanh toán các khoản chi phíthực hiện các dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc dự án đầu tư phục vụ đờisống đã được ngân hàng thẩm định và chấp nhận cho vay; vay vốn để tài trợ cho sản xuất, chế biếnhàng xuất khẩu, v.v

Các nhu cầu vay vốn được coi là không hợp pháp và bị từ chối cho vay bao gồm: vay vốn đểmua sắm các tài sản, thanh toán các chi phí hoặc thực hiện các giao dịch và tài sản mà pháp luật cấmgiao dịch mua bán và chuyển nhượng

●Thời hạn cho vay

Trang 37

Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được xác định kể từ khi người vay nhận món vay đầu tiêncho đến khi trả hết nợ ngân hàng

Tùy theo từng phương thức cho vay cụ thể, thời hạn cho vay được xác định như sau:

Thứ nhất, đối với các khoản cho vay ngắn hạn Thời hạn cho vay tối đa không quá 12 tháng và

được xác định căn cứ vào:

- Đặc điểm chu kỳ kinh doanh và kế hoạch sử dụng vốn của người vay

- Khả năng trả nợ của người vay

Xác định thời hạn cho vay được thực hiện trên cơ sở thoả thuận theo từng món tiền vay và đượcthể hiện bằng một điều khoản trên hợp đồng tín dụng hoặc khế ước nhận nợ

Thứ hai, đối với các khoản cho vay trung và dài hạn Thời hạn cho vay từ trên 12 tháng và được

xác định căn cứ vào:

- Thời gian cần thiết để thu hồi vốn đầu tư

- Khả năng trả nợ của người vay

- Tính chất nguồn vốn cho vay của ngân hàng

- Thời gian hoạt động còn lại của pháp nhân theo quyết định thành lập hoặc giấy phép thành lập

và thường không quá 15 năm đối với các dự án đầu tư phục vụ đời sống

Cấu thành thời hạn cho vay bao gồm:

+ Thời hạn giải ngân là khoảng thời gian được tính từ lúc ngân hàng bắt đầu cấp tiền vay đếnkhi cấp xong khoản tiền vay đó Khoảng thời gian này dài hay ngắn tùy thuộc vào đặc điểm của đốitượng vay vốn và phương thức cho vay Nếu toàn bộ khoản tiền vay được cấp một lần thì thời hạn giảingân bằng 0, nếu khoản vay được cấp nhiều lần thì thời hạn giản ngân sẽ lớn hơn 0

+ Thời gian ân hạn (còn gọi là thời kì ưu đãi) là khoảng thời gian tính từ khi ngân hàng cấp xongtoàn bộ khoản tiền vay cho đến khi khách hàng bắt đầu hoàn trả tiền vay Đây là khoảng thời giankhách hàng được sử dụng 100% vốn vay, tuy vậy thời gian này dài hay ngắn còn tùy thuộc vào thờigian dự trữ (đối với cho vay ngắn hạn) hoặc thời gian ổn định để đưa vào sản xuất chính thức (đối vớicho vay trung và dài hạn)

+ Thời gian trả nợ là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu trả nợ cho đến khi trảhết nợ (gốc và lãi) cho ngân hàng Độ dài thời gian của kì hạn này phụ thuộc vào đặc điểm luân chuyểncủa đối tượng vay và khả năng trả nợ của khách hàng Nếu toàn bộ khoản nợ vay được trả một lần thìthời kỳ trả nợ bằng 0 Nếu toàn bộ khoản vay được trả nhiều lần theo các kì hạn trả nợ khác nhau thìthời kì trả nợ sẽ lớn hơn 0

Cấu thành trong thời hạn cho vay là các kỳ hạn trả nợ Kỳ hạn trả nợ là các khoảng thời giantrong thời hạn cho vay đã được thoả thuận giữa ngân hàng và người vay, cuối mỗi khoảng thời gian đó,người vay phải có trách nhiệm hoàn trả một phần hoặc toàn bộ số tiền vay cho ngân hàng Nếu trênthực tế đến kỳ hạn trả nợ theo cam kết, vì một lý do nào đó mà người vay không trả được hoặc khôngtrả đủ số tiền đã thoả thuận thì ngân hàng được quyền xử phạt người vay theo quy chế tín dụng hiệnhành

Tuy nhiên để tạo điều kiện cho người vay khắc phục khó khăn về tài chính trong một khoảngthời gian ngắn, các ngân hàng có thể chấp nhận điều chỉnh kỳ hạn trả nợ hoặc gia hạn nợ cho ngườivay

Điều chỉnh kỳ hạn trả nợ là việc ngân hàng và người vay thỏa thuận về việc thay đổi các kỳ hạntrả nợ đã thoả thuận trước đó trong hợp đồng tín dụng

Gia hạn nợ là việc ngân hàng chấp thuận kéo dài thêm một khoảng thời gian ngoài thời hạn chovay đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng Gia hạn nợ được áp dụng trong trường hợp vì những lý dobất khả kháng mà người vay không thể thu hồi vốn đầu tư theo dự kiến để trả nợ vay, hoặc không thểtìm kiếm được các nguồn vốn khác để trả nợ do phương án đầu tư trên thực tế không phát huy được

Trang 38

hiệu quả.

Các giới hạn về thời hạn cho vay luôn được các nhà quản trị ngân hàng quan tâm, bởi vì nó làcăn cứ pháp lý để xác định nghĩa vụ của người vay đối với ngân hàng khi tính lãi tiền vay cũng nhưkiểm soát các rủi ro phát sinh trong thời gian sử dụng vốn vay Trong chính sách cho vay, thời hạn chovay thường nghiêng về kì hạn của nguồn vốn, tuy nhiên nếu ngân hàng có khả năng hoán chuyểnnguồn và có chính sách huy động nguồn tốt thì kì hạn nợ nghiêng về đáp ứng nhu cầu thời hạn củangười vay

Mức hay hạn mức cho vay được xác định căn cứ vào:

- Nhu cầu vay vốn của người vay:

Nhu cầu = Tổng nhu cầu vốn - Nguồn vốn - Các nguồn vốn

vốn vay kinh doanh chủ sở hữu huy động khác

- Khả năng nguồn vốn cho vay của tổ chức tín dụng.

- Giá trị tài sản thế chấp, cầm cố (nếu phải thế chấp tài sản)

Giới hạn mức cho vay tối đa theo từng phương án, dự án là giá trị tài sản thế chấp, cầm cố chokhoản tín dụng đó

4.2 CÁC PHƯƠNG THỨC CHO VAY CỦA NHTM

Phương thức cho vay là tổng hợp các quy định về cách thức thực hiện nghiệp vụ tín dụng chokhách hàng Như vậy, phương thức cho vay có thể nói đó là những nội dung có tính chất bắt buộc về kỹthuật nghiệp vụ trên cơ sở việc xem xét khả năng thực hiện các nguyên tắc và điều kiện cho vay củangười vay, cách thức phát tiền vay, việc thu nợ gốc, lãi giữa người vay và ngân hàng Xét về mặt khoahọc cũng như trong thực tế, các NHTM có thể cho vay theo các phương thức cơ bản và thông dụng sau:

4.2.1 Các phương thức cho vay ngắn hạn

Trong cho vay ngắn hạn có nhiều phương thức cho vay như cho vay theo từng lần, cho vay theohạn mức tín dụng, chiết khấu giấy tờ có giá, cho vay theo hạn mức thấu chi, cho vay theo hạn mức tíndụng dự phòng, cho vay qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng , tuy nhiên sau đây chỉ đềcập đến các phương thức cho vay phổ biến, thông dụng là cho vay từng lần (hay còn gọi là cho vay theomón), cho vay theo hạn mức tín dụng, chiết khấu giấy tờ có giá và cho vay thấu chi

4.2.1.1 Cho vay từng lần (cho vay theo từng món)

Phương thức cho vay từng lần là phương thức cho vay mà mỗi lần vay vốn, người vay và tổchức tín dụng đều làm thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng Từng khoản vay là mộthợp đồng tín dụng và gắn với một phương án sử dụng vốn cụ thể

Căn cứ vào hồ sơ xin vay, ngân hàng sẽ phân tích khách hàng và kí hợp đồng cho vay, xác địnhquy mô cho vay, thời hạn giải ngân, thời hạn trả nợ, lãi suất và yêu cầu bảo đảm tiền vay

Ngân hàng sẽ phát tiền vay cho người vay dựa vào hợp đồng tín dụng Việc phát tiền vay có thểđược thực hiện một hoặc nhiều lần phù hợp với tiến độ và yêu cầu sử dụng vốn thực tế của người vay.Tiền vay có thể chuyển thẳng cho người thụ hưởng (căn cứ vào hóa đơn) hoặc chuyển về tài khoản tiềngửi của người vay hoặc cho người vay nhận tiền mặt trực tiếp v.v… Mỗi lần nhận tiền vay người vayphải lập “Giấy nhận nợ” Trên giấy nhận nợ phải ghi thời hạn cho vay cụ thể, đảm bảo không vượt sovới thời hạn cho vay ghi trên hợp đồng tín dụng Tổng số tiền cho vay trên các giấy nhận nợ không

Trang 39

được vượt quá số tiền đã ký trong hợp đồng tín dụng.

Theo từng kì hạn nợ trong hợp đồng, ngân hàng sẽ thu nợ gốc và lãi Người vay phải chủ độngtrả tiền cho ngân hàng Nếu người vay không chủ động trả, hoặc không đủ số tiền quy định cho một kỳhạn trả nợ, và người vay không được ngân hàng chấp thuận điều chỉnh kỳ hạn trả nợ và gia hạn nợ,ngân hàng được quyền chuyển số tiền nợ phải trả nhưng chưa trả được sang nợ quá hạn Người vayphải trả lãi cho số nợ quá hạn này với lãi suất cao hơn

Nếu quá thời gian cho phép mà người vay vẫn không có khả năng thanh toán thực sự thì ngânhàng được quyền phát mại tài sản thế chấp của người vay để thu nợ, hoặc phong toả tài sản người vay,hoặc có thể khởi kiện trước pháp luật

Phương thức cho vay từng lần tương đối đơn giản, do vậy ngân hàng có thể kiểm soát từng mónvay tách biệt

4.2.1.2 Cho vay theo hạn mức tín dụng

Đây là phương thức cho vay mà ngân hàng và khách hàng xác định và thỏa thuận một hạn mức tíndụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định, thông thường không quá 12 tháng

Khác với phương thức cho vay từng lần, trong phương thức này ngân hàng sẽ không xác định kỳhạn nợ cho từng món tiền vay mà chỉ khống chế theo hạn mức tín dụng có nghĩa là vào một thời điểmnào đó nếu dư nợ vay của khách hàng lên tới mức tối đa cho phép thì khi đó ngân hàng sẽ không pháttiền vay cho khách hàng

Mục đích đi vay theo phương thức này là để bổ sung nguồn vốn đầu tư vào tài sản lưu động, bởivậy để xác định chính xác nhu cầu vốn vay, người vay phải dựa vào nhu cầu vốn lưu động của mìnhtrong kỳ kế hoạch

Với phương thức này, khi có nhu cầu vay vốn, tổ chức tín dụng sẽ đáp ứng kịp thời nhu cầu vốncần thiết Đồng thời khi có doanh thu, người vay phải nộp toàn bộ vào ngân hàng để trả nợ đảm bảomức dư nợ và doanh số trả nợ đã cam kết

Về thủ tục vay vốn, trước kì kế hoạch người vay phải gửi tới ngân hàng hồ sơ vay vốn Căn cứvào hồ sơ xin vay, sau khi thẩm định, nếu chấp nhận cho vay, tổ chức tín dụng và khách hàng sẽ ký hợpđồng tín dụng theo kì kế hoạch với 3 nội dung cơ bản: mức dư nợ tối đa, vòng quay vốn tín dụng vàphương pháp trả nợ

Trong kì kế hoạch, khi có nhu cầu sử dụng vốn vay, người vay chỉ cần lập bảng kê chứng từ xinvay nộp cho ngân hàng Sau khi kiểm tra, nếu phù hợp với hợp đồng tín dụng, ngân hàng sẽ phát tiềnvay cho đơn vị vay vốn Hợp đồng tín dụng này sẽ được duy trì cho cả kì, đến cuối kì kế hoạch hợpđồng sẽ được thanh lý và sang kì kế hoạch sau khách hàng muốn vay phải nộp bộ hồ sơ vay mới

Trong thời hạn duy trì hạn mức tín dụng, khách hàng có nhu cầu điều chỉnh tăng hạn mức tíndụng để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh dịch vụ, phải có văn bản đề nghị và ngân hàng sẽ xemxét, nếu thấy hợp lý thì chấp thuận điều chỉnh hạn mức tín dụng và cùng khách hàng ký phụ lục bổsung hợp đồng tín dụng

Ưu điểm cơ bản của phương thức cho vay này là thủ tục cho vay đơn giản, khách hàng chủ độngđược nguồn vốn vay Tuy nhiên, do các lần vay không tách biệt thành các kì hạn nợ cụ thể nên ngân hàngkhó kiểm soát hiệu quả sử dụng từng lần vay Ngân hàng chỉ phát hiện vấn đề khi thấy dư nợ lâu khônggiảm sút hoặc khách hàng chậm nộp các báo cáo tài chính

4.2.1.3 Chiết khấu giấy tờ có giá

Chiết khấu giấy tờ có giá là một phương thức cho vay ngắn hạn, trong đó khách hàng chuyểnnhượng quyền sở hữu các giấy tờ có giá chưa đến hạn cho ngân hàng để nhận một khoản tiền bằng mứcchiết khấu của giấy tờ có giá trừ đi lãi chiết khấu

Các giấy tờ có giá có thể được chấp nhận chiết khấu bao gồm:

+ Các loại tín phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu do Kho bạc Nhà nước phát hành

Trang 40

+ Các loại kỳ phiếu, trái phiếu do Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng thương mại, các tổ chứctín dụng phát hành.

+ Các loại sổ tiết kiệm có kỳ hạn, các chứng chỉ tiền gửi

+ Bộ chứng từ thanh toán thanh toán qua ngân hàng

+ Không bị tẩy xoá

+ Chứng từ còn trong hạn thanh toán (chưa đáo hạn )

Khi có nhu cầu chiết khấu các giấy tờ có giá, người sở hữu các giấy tờ phải lập bảng kê các giấy

tờ xin chiết khấu và làm đơn gửi tới ngân hàng xin chiết khấu Nếu chấp nhận, ngân hàng và người vay

sẽ đi tới thỏa thuận, lựa chọn một trong hai phương thức chiết khấu, tái chiết khấu sau:

(1) Chiết khấu, tái chiết khấu toàn bộ thời hạn còn lại của giấy tờ có giá Đây là phương thứcmua hẳn giấy tờ có giá theo giá chiết khấu, tái chiết khấu và khách hàng chuyển giao ngay quyền sởhữu giấy tờ có giá đó cho ngân hàng Khi giấy tờ có giá đến hạn thanh toán, ngân hàng xuất hành giấy

tờ có giá đó để thanh toán với người phát hành

(2) Chiết khấu, tái chiết khấu có thời hạn, bao gồm 2 trường hợp:

+ Các ngân hàng mua giấy tờ có giá theo thời hạn và giá chiết khấu, tái chiết khấu, đồng thờikèm theo cam kết của khách hàng về việc mua lại giấy tờ có giá đó vào ngày đến hạn chiết khấu, táichiết khấu

+ Trường hợp hết thời hạn chiết khấu, tái chiết khấu mà khách hàng không thực hiện cam kếtmua lại giấy tờ có giá, thì ngân hàng sẽ là chủ sở hữu hợp pháp và được hưởng toàn bộ quyền lợi phátsinh từ giấy tờ có giá đó

Thời hạn chiết khấu chứng từ do sự thoả thuận giữa người sở hữu giấy tờ và ngân hàng nhưngthời hạn chiết khấu tối đa không vượt quá thời hạn thanh toán còn lại của chứng từ

4.2.1.4 Cho vay theo hạn mức thấu chi

Thấu chi là nghiệp vụ cho vay trong đó ngân hàng cho phép người vay được chi vượt số tiền cótrên số dư tài khoản thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trong khoảng thời gian xácđịnh Giới hạn này gọi là hạn mức thấu chi

Cho vay theo hạn mức thấu chi là một hình thức cho vay ứng trước đặc biệt, nó khác với hìnhthức cho vay theo hạn mức tín dụng, vì các khoản tiền khách hàng rút trên tài khoản cũng có tính chấtnhư các khoản chi tiêu của khách hàng, chỉ khi nào trên tài khoản khách hàng xuất hiện dư nợ, khoảntiền đó mới được gọi là khoản vay

Để được khấu chi khách hàng phải làm đơn xin hạn mức khấu chi và thời hạn thấu chi Trongquá trình hoạt động, khách hàng có thể kí séc, lập ủy nhiệm chi, mua thẻ séc vượt quá số dư tài khoảncủa mình, song phải nằm trong hạn mức thấu chi

Khi khách hàng có tiền nhập về tài khoản của mình, ngân hàng sẽ thu nợ gốc và lãi

Tiền lãi phải trả = Số tiền thấu chi x Thời gian thấu chi x Lãi suất thấu chi

Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn, có thể cấp cho khách hàng là doanh nghiệp và cá nhân,thủ tục đơn giản Tuy vậy, cho vay thấu chi có nhiều điểm khác so với các phương thức cho vay ngắnhạn khác, đó là phương thức này được thực hiện dựa trên cơ sở thu và chi của khách hàng không phùhợp về thời gian và quy mô, việc cấp tín dụng phần lớn đều là không có đảm bảo và vừa phục vụ cho

Ngày đăng: 21/05/2016, 12:30

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Mô hình tổ chức của một ngân hàng lớn - tài liệu ôn thi Quản trị  Ngân Hàng Thương Mại
Hình 1.1 Mô hình tổ chức của một ngân hàng lớn (Trang 6)
Hình 1.3. Những dịch vụ cơ bản của ngân hàng đa năng ngày nay - tài liệu ôn thi Quản trị  Ngân Hàng Thương Mại
Hình 1.3. Những dịch vụ cơ bản của ngân hàng đa năng ngày nay (Trang 7)
Bảng 3.1: Nguồn vốn của NHTM - tài liệu ôn thi Quản trị  Ngân Hàng Thương Mại
Bảng 3.1 Nguồn vốn của NHTM (Trang 16)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w