1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo tốt nghiệp ngành khoa học môi trường Đánh giá hiện trạng và đề xuất

75 278 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 21,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chất thải y tế nguy hại chủ yếu là chất thải nhiễm khuẩn, chất gây cháy nổ, ăn mòn, chất thải độc hại như chất phóng xạ, chất gây độc tế bào, độc sinh thái, các hóa chất độc hại phát sin

Trang 1

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Nhiệm vụ BVMT luôn được Đảng và Nhà nước ta coi trọng Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội từ năm 2011 – 2020 (Tại Đại hội Đảng XXI năm 2011) đã đề ra mục tiêu đó là phát triển mạnh sự nghiệp y tế, nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân Tập trung phát triển hệ thống chăm sóc sức khỏe và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa để phát triển nhanh hệ thống y tế

Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, hệ thống y tế đặc biệt là các bệnh viện đã thải ra môi trường một lượng lớn các chất thải nguy hại Chất thải y tế nguy hại chủ yếu là chất thải nhiễm khuẩn, chất gây cháy nổ, ăn mòn, chất thải độc hại như chất phóng xạ, chất gây độc tế bào, độc sinh thái, các hóa chất độc hại phát sinh trong quá trình chuẩn đoán và điều trị bệnh, đó là những yếu tố nguy cơ làm ô nhiễm môi trường, lan truyền mầm bệnh từ bệnh viện tới các vùng xung quanh Vì vậy cần phải quản lý chất thải nguy hại (CTNH) phát sinh từ cơ sở y tế một cách an toàn và thích hợp

Trước nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của người dân và thực trạng ô nhiễm môi trường do rác thải y tế gây ra ngày càng bức xúc thì việc trang bị cho các bệnh viện, trạm y tế các trang thiết bị để thu gom, xử lý rác thải y tế và các kĩ năng, kiến thức về quản lý CTNH nói chung, chất thải y tế nói riêng là nhu cầu cấp bách hiện nay ở tất cả các bệnh viện, cơ sở y tế

Đại Từ là một huyện trung du miền núi của tỉnh Thái Nguyên Tại các

xã trong huyện đều có trạm y tế nhưng chỉ có một bệnh viện đó là bệnh viện

Đa khoa nằm ở trung tâm huyện để chăm sóc sức khỏe cho người dân Số lượng người dân cần đến bệnh viện ngày càng tăng, cùng với thực tế đó là lượng chất thải phát sinh trong quá trình khám chữa bệnh cũng tăng lên nhanh chóng mà phần lớn là các chất thải nguy hại Vậy nên vấn đề thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải y tế tại bệnh viện Đa khoa Đại Từ cần được quan tâm giải quyết để vừa chăm sóc sức khỏe cho người dân vừa bảo vệ môi trường

Trang 2

Xuất phát từ những yêu cầu thực tế trên và được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm Khoa Tài Nguyên và Môi Trường,

em tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng và đề xuất một số giải pháp quản lý rác thải y tế tại bệnh viện Đa khoa huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên”.

1.2 Mục tiêu của đề tài

1.2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá hiện trạng phân loại, thu gom, lưu trữ, vận chuyển và xử

lý rác thải y tế tại bệnh viện Đa khoa huyện Đại Từ nhằm đảm bảo an toàn,

vệ sinh môi trường đạt tiêu chuẩn cho phép (TCCP) đối với chất thải y tế nguy hại

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

- Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã học tập và nghiên cứu áp dụng vào thực tế

- Rèn luyện về kỹ năng tổng hợp và phân tích số liệu, tiếp thu và học hỏi những kinh nghiệm từ thực tế

- Nâng cao kiến thức kỹ năng và rút ra những kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này

1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn

- Đánh giá được hiện trạng quản lý rác thải y tế nguy hại tại bệnh viện huyện Đại Từ có những khó khăn, hạn chế gì

- Có những biện pháp đề xuất hiệu quả, khả thi trong công tác quản lý rác thải y tế của bệnh viện

- Góp phần chung vào công tác bảo vệ môi trường của đất nước

Trang 3

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Một số khái niệm và thành phần chất thải y tế

2.1.1 Một số khái niệm

- Chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ

sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường [6]

- Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức

khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu hủy an toàn [6]

- Quản lý chất thải nguy hại là các hoạt động liên quan đến việc phòng

ngừa, giảm thiểu, phân định, phân loại, tái sử dụng trực tiếp, lưu giữ tạm thời, vận chuyển và xử lý CTNH [14]

- Quản lý chất thải y tế là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban

đầu, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy chất thải y tế và kiểm tra, giám sát việc thực hiện [6]

2.1.2 Thành phần chất thải y tế

- Thành phần vật lý:

+ Đồ bông vải sợi: gồm bông gạc, băng, quần áo cũ, khăn lau, vải trải…+ Đồ giấy: hộp đựng dụng cụ, giấy gói, giấy thải từ nhà vệ sinh…

+ Đồ thủy tinh: chai lọ, ống tiêm thủy tinh, ống nghiệm…

+ Đồ kim loại: kim tiêm, dao mổ, hộp đựng dụng cụ mổ…

+ Thành phần gồm các nguyên tố: C, H, O, N, S, Cl và một số phân tro

- Thành phần sinh học: máu, các loại dịch tiết, những động vật làm thí nghiệm, bệnh phẩm và các vi trùng gây bệnh [10]

Trang 4

Bảng 2.1: Thành phần rác thải y tế

STT Thành phần rác thải y tế Tỷ lệ (%) Thành phần chất

nguy hại

5 Chai lọ, xilanh, ống thuốc

9 Đất, cát, sành sứ và các chất

Tỷ lệ phần chất thải nguy hại 22.6

( Nguồn: Quản lý chất thải nguy hại- Nguyễn Đức Khiển )

Theo Nguyễn Đức Khiển, thành phần rác thải y tế gồm 09 loại cơ bản như trên trong đó tỷ lệ CTNH chiếm 22,6% Tuy chiếm ¼ thành phần nhưng tính chất lại rất nguy hại với môi trường và sức khỏe con người nếu không được thu gom, vận chuyển, xử lý theo quy định

Theo kết quả điều tra trong dự án hợp tác giữa Bộ Y tế và tổ chức WHO thành phần một số rác thải ở bệnh viện Việt Nam như sau:

Trang 5

Bảng 2.2: Thành phần rác thải ở bệnh viện Việt Nam

( Nguồn: Bộ Y tế, 2006 )

2.2 Phân loại chất thải y tế nguy hại

Căn cứ vào các đặc điểm lý học, hoá học, sinh học và tính chất nguy hại thì việc phân loại chất thải trong các cơ sở y tế ở đa số các nước trên thế giới và của tổ chức WHO được phân thành 5 nhóm:

2.2.1 Chất thải lâm sàng

- Nhóm A: là chất thải nhiễm khuẩn, bao gồm: những vật liệu thấm máu, thấm dịch, các chất bài tiết của người bệnh như băng gạc, bông, găng tay, các túi hậu môn nhân tạo, dây truyền máu, các ống thông, dây

và túi đựng dịch dẫn lưu

- Nhóm B: là các vật sắc nhọn, bao gồm: bơm kim tiêm, lưỡi và cán dao mổ, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và mọi vật liệu có thể gây ra các vết cắt và chọc thủng cho dù chúng có thể bị nhiễm khuẩn hoặc không bị nhiễm khuẩn

- Nhóm C: là chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao, phát sinh từ các phòng xét nghiệm, bao gồm: găng tay, lam kính, ống nghiệm, bệnh phẩm sau khi xét nghiệm, túi đựng máu…

- Nhóm D: là chất thải dược phẩm, bao gồm: Dược phẩm quá hạn, dược phẩm bị nhiễm khuẩn, bị đổ, dược phẩm không còn nhu cầu sử dụng, thuốc gây độc tế bào

Trang 6

- Nhóm E: là các mô, cơ quan người, động vật, bao gồm: tất cả các mô của cơ thể, các cơ quan, tay chân, nhau thai, bào thai…sau khi phẫu thuật bị loại bỏ [10].

2.2.2 Chất thải phóng xạ

Chất thải phóng xạ là chất thải có hoạt động riêng giống như các chất phóng xạ Tại các cơ sở y tế, chất thải phóng xạ phát sinh từ các hoạt động chuẩn đoán, hóa trị liệu và nghiên cứu Chất thải phóng xạ gồm: chất thải rắn, lỏng, khí

- Chất thải phóng xạ rắn, gồm: các vật liệu sử dụng trong các xét nghiệm, chuẩn đoán, điều trị, như : gạc sát khuẩn, ống nghiệm, chai lọ đựng chất phóng xạ

- Chất thải phóng xạ lỏng, gồm: dung dịch có chứa nhân phóng xạ phát sinh trong quá trình chuẩn đoán, điều trị như nước tiểu của người bệnh, các chất bài tiết, nước xúc rửa các dụng cụ có chứa phóng xạ…

- Chất thải phóng xạ khí, gồm: các chất khí lâm sàng như: 113Xe Các khí thoát ra từ các kho chứa chất phóng xạ…[10]

2.2.3 Chất thải hóa học

Chất thải hóa học bao gồm các chất thải rắn, lỏng, khí Chất thải trong cấc cơ sở y tế được phân thành hai loại: chất thải hóa học không gây nguy hại như đường, axit béo, một số muối vô cơ, hữu cơ và chất thải hóa học nguy hại bao gồm:

- Formaldehyde được sử dụng trong khoa giải phẫu , lọc máu, ướp xác và dùng để bảo quản các mẫu xét nghiệm ở một số khoa khác

- Các chất quang hóa có trong các dung dịch cố định và tráng phim hydroquinone, Kalihydroxide, Bạc, Glutaraldehyde

Trang 7

- Các chất hóa học hốn hợp: bao gồm các dung dịch làm sạch và khử khuẩn như: phenol, dầu mỡ, các dung môi làm vệ sinh, cồn ethanol, methanol, acide [10].

2.2.4 Bình chứa áp suất

Các cơ sở y tế thường có các bình chứa khí có áp suất như bình đựng

O2, CO2, bình khí dung và các bình đựng khí dùng một lần Các bình này dễ gây cháy nổ khi thiêu đốt vì vậy phải thu gom riêng [10]

2.2.5 Chất thải sinh hoạt

Chất thải sinh hoạt là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hoá học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm:

- Chất thải sinh hoạt từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly)

- Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai

lọ thuỷ tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gẫy xương kín Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hoá học nguy hại

- Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim

- Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh [10]

2.3 Một số văn bản pháp luật liên quan

- Luật Bảo vệ môi trường ngày 29 tháng 11 năm 2005;

- Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường;

- Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 02 năm 2008 của Chính

phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09

tháng 08 năm 2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường;

- Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14 tháng 04 năm 2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về quản lý chất thải nguy hại;

- Quyết định số 256/2003/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược bảo vệ môi trường Quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020;

Trang 8

- Quyết định số 64/2003/QĐ- TTg ngày 22 tháng 04 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ về “ Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở y tế gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ”;

- Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30 tháng 11 năm 2007 của Bộ

Y tế về việc ban hành quy chế quản lý chất thải y tế;

- Quyết định số 2038/QĐ-TTg ngày 15 tháng 11 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt đề án tổng thể xử lý chất thải y tế giai đoạn

2011 đến 2015 và định hướng đến năm 2020;

- Quyết định số 170/QĐ-TTg ngày 08 tháng 02 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt quy hoạch tổng thể hệ thống xử lý chất thải rắn y tế nguy hại đến năm 2025;

- Chỉ thị số 17/2008/CT- TTg ngày 05 tháng 06 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về “ Một số giải pháp cấp bách đẩy mạnh công tác xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định số 64/2003/QĐ- TTg ”

2.4 Thực trạng công tác quản lý chất thải y tế

2.4.1 Thực trạng công tác quản lý chất thải y tế trên thế giới

Nghiên cứu về chất thải y tế (CTYT) đã được tiến hành tại nhiều nước trên thế giới, đặc biệt ở các nước phát triển như Anh, Mỹ, Nhật, Pháp Các nghiên cứu đã quan tâm đến nhiều lĩnh vực như tình hình phát sinh; phân loại CTYT; quản lý CTYT (biện pháp làm giảm thiểu chất thải, tái sử dụng chất thải, xử lý chất thải, đánh giá hiệu quả của các biện pháp xử lý chất thải ); tác hại của CTYT đối với môi trường, sức khoẻ; biện pháp làm giảm tác hại của CTYT đối với sức khỏe cộng đồng, sự đe dọa của chất thải nhiễm khuẩn tới sức khỏe cộng đồng, ảnh hưởng của nước thải y tế đối với việc lan truyền dịch bệnh; những vấn đề liên quan của y tế công cộng với CTYT; tổn thương nhiễm khuẩn ở y tá, hộ lý và người thu gom rác; nhiễm khuẩn bệnh viện, nhiễm khuẩn ngoài bệnh viện đối với người thu nhặt rác,

vệ sinh viên, cộng đồng và nhân viên y tế [15]

Bảng 2.3: Tổng lượng chất thải bệnh viện tại một số nước trên thế giới

(kg/giường/ngày)

Trang 9

ở lượng rác thải trung bình từ 3.3 đến 6.5 kg/giường/ngày.

Theo Tổ chức Y tế thế giới, có 18 - 64% cơ sở y tế chưa có biện pháp xử lý chất thải đúng cách Tại các cơ sở Y tế, 12,5% công nhân xử lý chất thải bị tổn thương do kim đâm xảy ra trong quá trình xử lý CTYT Tổn thương này cũng là nguồn phơi nhiễm nghề nghiệp, với máu phổ biến nhất, chủ yếu là dùng hai tay tháo lắp kim và thu gom tiêu huỷ vật sắc nhọn Có khoảng 50% số bệnh viện trong diện điều tra vận chuyển CTYT

đi qua khu vực bệnh nhân và không đựng trong xe thùng có nắp đậy [16]

2.4.2 Thực trạng công tác quản lý chất thải y tế tại Việt Nam

Theo thống kê năm 2011 của Cục Quản lý Môi trường Y tế - Bộ Y

tế, cả nước có hơn 1.000 bệnh viện, mỗi ngày phát sinh từ 350 - 500 tấn chất thải y tế, trong đó khoảng 45 tấn chất thải y tế nguy hại Thế nhưng, nhiều bệnh viện không có hệ thống lò đốt chuyên dụng Vì thế, vẫn có những vụ đốt chất thải y tế nguy hại trong khuôn viên bệnh viện với lượng lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến bệnh nhân cũng như người dân sống xung quanh Cục phòng chống tội phạm về môi trường (PCTPVMT) cũng từng phát hiện một số bệnh viện ở Hà Nội vi phạm quy định về bảo vệ môi trường, khi trong số tang vật thu được có cả rác thải của bệnh nhân cách ly như HIV, lao v.v… Một xét nghiệm khoa học đã cho thấy sự nguy hiểm của rác thải bệnh viện: mỗi một gram bệnh phẩm như mủ, đờm… nếu không được xử lý, sẽ truyền 11 tỉ vi khuẩn gây bệnh ra ngoài Thực trạng

Trang 10

trong quản lý chất thải y tế khiến dư luận bức xúc và lực lượng cảnh sát môi trường đang phải tăng cường phát hiện, xử lý vi phạm [13].

Hiện nay trên cả nước, lượng CTR trung bình thải ra mỗi ngày là 0,86kg/giường bệnh, trong đó CTR y tế là 0,14kg/giường bệnh Tổng lượng CTR ở các bệnh viện trên toàn quốc lên tới 100 tấn và 16 tấn CTR y tế cần được xử lý

Bảng 2.4: Các loại CTR đặc thù phát sinh từ hoạt động y tế

Chất thải sinh hoạt Các chất thải từ nhà bếp, khu nhà hành chính,

các loại bao gói…

Chất thải chứa các vi trùng

gây bệnh

Các phế thải từ phẫu thuật, các cơ quan nội tạng của người sau khi mổ xẻ và của cá động vật sau quá trình xét nghiệm, các gạc bông lẫn máu của bệnh nhân…

Chất thải bị nhiễm bệnh Các thành phần thải ra sau khi dùng cho bệnh

nhân, các chất thải từ quá trình lau cọ sàn nhà…

Chất thải đặc biệt Các loại chất thải độc hại hơn các loại trên, các

chất phóng xạ, hóa chất dược…

( Nguồn: Bộ Y tế, 2010 )

Bảng 2.5: Nguồn gốc phát sinh chất thải tại bệnh viện

STT Nguồn phát sinh Loại chất thải phát sinh

1 Buồng tiêm Chất thải hóa học, bình áp suất, chất

thải sinh hoạt

Trang 11

2 Phòng mổ Chất thải lâm sàng, chất thải hóa

học, chất thải sinh hoạt

3 Phòng xét nghiệm Xquang Chất thải phóng xạ, chất thải hóa

học,bình áp suất, chất thải sinh hoạt

4 Phòng cấp cứu Chất thải lâm sàng, chất thải phóng

xạ

5 Phòng bệnh nhân không lây lan Chất thải sinh hoạt

6 Phòng bệnh nhân truyền nhiễm Chất thải phóng xạ,bình áp suất,

chất thải sinh hoạt

7 Khu bào chế dược Chất thải lâm sàng, chất thải phóng

xạ, chất thải sinh hoạt

8 Khu vực hành chính Chất thải sinh hoạt

(Nguồn: Nguyễn Đức Khiển, Quản lý chất thải nguy hại, 2003)

Bảng 2.6: Lượng chất thải phát sinh tại các khoa trong bệnh viện

Khoa

Tổng lượng chất thải phát sinh (kg/giường.ngày)

Tổng lượng chất thải y tế nguy hại (kg/giường.ngày)

BV Trung ương (TW)

BV Tỉnh

BV Huyện

Trung bình

BV Trung ương (TW)

BV Tỉnh

BV Huyện

Trung bình

( Nguồn: Bộ Y tế - Quy hoạch quản lý chất thải y tế, 2009 )

Bảng 2.7: Lượng chất thải phát sinh tại các khoa trong bệnh viện

Trang 12

700 tấn/ngày và hơn 800tấn/ngày vào năm 2020 Rác thải y tế không được

xử lý đúng cách sẽ là ẩn họa cho cuộc sống của người dân [13]

Tỷ lệ bệnh viện thực hiện phân loại chất thải rắn y tế là 95,6% và thu gom chất thải rắn y tế là 90,9% Tuy nhiên chỉ có khoảng 50% các bệnh viện trên thực hiện phân loại, thu gom đạt yêu cầu theo quy chế quản lý chất thải y tế Phương tiện thu gom chất thải y tế như túi, thùng đựng chất thải, xe đẩy rác, nhà chứa rác còn chưa đồng bộ, chưa đạt yêu cầu Tỷ lệ bệnh viện xử lý chất thải rắn y tế bằng lò đốt là 35,9%, số bệnh viện hợp đồng với công ty moi trường thuê xử lý là 39,2% và 26,9% bệnh viện xử lý bằng cách thiêu đốt thủ công hoặc tự chôn lấp trong khuôn viên của bệnh viện (chủ yếu là bệnh viện tuyến huyện và một số bệnh viện chuyên khoa tại các tỉnh miền núi) [8]

Trong tổng số 1.188 cơ sở khám chữa bệnh (KCB) trên toàn quốc, có tới 62% cơ sở không có hệ thống xử lý chất thải theo quy định, số đã có thì 68% không đạt yêu cầu, 73% cơ sở không đăng ký chủ nguồn chất thải nguy hại, 79% số không có giấy phép xử lý nước thải vào nguồn tiếp nhận Đây là con số do Đại tá Lương Minh Thảo, Phó cục trưởng Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường – Bộ Công an đưa ra, đã cho thấy tính cấp báo trong vấn đề môi trường y tế hiện nay, khi nó tiềm ẩn nhiều nguy cơ lây lan dịch bệnh, ảnh hưởng đến sức khỏe con người [13]

Trang 13

Bảng 2.8: Thành phần trong CTR từ các bệnh viện đa khoa

Tỷ trọng chất thải nguy hại (tấn/m3) 0.12- 0.16

Độ ẩm của chất thải nguy hại (%) 38.2- 40.5

Độ tro của chất thải nguy hại (%) 12.5- 15.6

( Nguồn: Nguyễn Thị Kim Thái, 2007)

Nhiều chuyên gia bảo vệ môi trường đã khuyến cáo, nếu chất thải y tế không được quản lý, xử lý đúng quy trình sẽ gây ra nguy cơ đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng

Tại Hà Nội, nơi tập trung nhiều bệnh viện lớn, mạng lưới cơ sở y tế dày đặc, công tác môi trường y tế còn nhiều tồn tại Đa số các cơ sở chưa

có hệ thống xử lý chất thải Một số cơ sở có trạm xử lý nhưng công suất nhỏ chưa đạt yêu cầu Nhiều cơ sở y tế đi vào hoạt động không đăng ký kiểm tra môi trường lao động, không đăng ký thu gom rác thải với cơ quan quản lý nên rất khó kiểm soát [13]

Theo Thượng tá Nguyễn Việt Tiến, Phó trưởng phòng PCTPVMT, Công an TP Hà Nội, thì thủ đô hiện có trên 1000 cơ sở KCB với 169 cơ sở sử

Trang 14

dụng máy chụp X-quang, thế nhưng đến hết năm 2010, chỉ có 25 bệnh viện, viện, phòng khám đa khoa đăng ký chủ nguồn chất thải nguy hại Việc vi phạm trong thu gom, xử lý chất thải rắn y tế còn phổ biến Bệnh phẩm lẽ ra phải được chôn, hoặc tiêu hủy bằng hóa chất, rồi đưa vào lò đốt, nhưng nhiều

cơ sở, nhất là ở các cơ sở y tế tư nhân, đã không chấp hành, mà đưa vào rác thải sinh hoạt Chỉ một số đơn vị có hệ thống nước thải tập trung như Bệnh viện Thanh Nhàn, Xanh Pôn, Việt – Đức, Bạch Mai v.v… còn lại, đều xả trực tiếp ra môi trường, trong đó có những cơ sở y tế đầu ngành của thành phố trong việc KCB lây nhiễm như Bệnh viện Đống Đa [13]

Người dân tại thôn Vân Trì (xã Minh Khai, huyện Từ Liêm, Hà Nội) phát hiện một cơ sở sản xuất khung nhôm kính tại xóm Trại chăn nuôi, rộng khoảng 300m2, tập kết hàng trăm bao tải chứa rác thải y tế đã được dùng cho người bệnh Đặc biệt, nhiều loại rác thải y tế có nguồn gốc từ khoa lây nhiễm của một bệnh viện, đã bốc mùi hôi thối và nồng nặc mùi thuốc kháng sinh

Một lo ngại nữa đã được Cục An toàn bức xạ hạt nhân, Bộ Y tế và Cục PCTPVMT kiểm tra cho thấy: Việc sử dụng các thiết bị bức xạ như máy X-quang được thực hiện ở hầu hết các bệnh viện lớn, nhưng lại chưa bảo đảm an toàn cho người bệnh khi 90% liều bức xạ mà con người nhận được từ các nguồn nhân tạo là do chiếu xạ y tế Cả nước hiện có hơn 2.000 cơ sở X- quang, nhưng tới 55% phòng chụp không đảm bảo che chắn, 70% không đủ tiêu chuẩn kích thước và nhiều phòng chụp có mức chiếu xạ vượt 2,5 lần giới hạn cho phép [13]

Đó là chưa kể chất bài tiết của những người vừa chụp X-quang cũng gây hại lớn với những người xung quanh nếu không được kiểm soát chặt chẽ Chỉ một số ít bệnh viện có hệ thống kiểm soát nguồn phóng xạ hiện đại như Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện K, Bệnh viện Trung ương Huế, Bệnh viện Đa khoa Phú Thọ (TP Hồ Chí Minh) v.v… còn hầu hết chưa có Mà theo các chuyên gia y tế, tác hại của nhiễm phóng xạ là lâu dài với các hậu quả như có thể ngừng hoạt động tủy xương, tiêu chảy, sụt cân, nhiễm độc máu, vô sinh, ung thư vv…[13]

Để cho việc quản lý chất thải được tốt thì việc phân luồng chất thải trong bệnh viện trước khi đem đi xử lý là rất cần thiết

Trang 15

Thu gom

tại chỗ

Lưu giữ tạm thời

Vận chuyển tới khu xử

lý của thành phố

Vận chuyển tới khu xử lý chất thải nguy hại

Lưu giữ tạm thời Lưu giữ tạm thời

Vận chuyển tới khu tiêu hủy đặc biệt

Thu gom tại chỗ

Thu gom tại chỗ

Thu gom tại chỗ

Trang 16

(Nguồn: Nguyễn Thị Kim Thái, 2011)

Hình 2.1: Sơ đồ phân luồng chất thải trong các bệnh viện trước khi xử lý 2.4.3 Thực trạng công tác quản lý chất thải y tế tại tỉnh Thái Nguyên

Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có 21 đơn vị y tế trong đó có 01 đơn

vị cấp trung ương quản lý là bệnh viện Đa khoa TW, 11 đơn vị thuộc tỉnh quản lý và 09 cơ sở y tế thuộc huyện quản lý (chưa kể các trạm y tế xã phường) Tổng lượng chất thải rắn phát sinh tại các đơn vị y tế là 6187 kg/ngày, trong đó tỷ lệ chất thải rắn nguy hại chiếm 9,6% tổng khối lượng chất thải rắn phát sinh Đối với các cơ sở y tế tuyến huyện, khối lượng CTR phát sinh hằng ngày khoảng 1233 kg/ngày, chiếm 20% so với chất thải rắn phát sinh trong các đơn vị y tế của toàn tỉnh CTR y tế nguy hại phát sinh tại các đơn vị y tế cấp huyện khoảng 58 kg/ngày, chiếm khoảng 4,7% tổng lượng thải phát sinh của các đơn vị y tế cấp huyện [11]

2.4.3.1 Hình thức thu gom CTR tại các cơ sở y tế

- Các cơ sở tuyến tỉnh: phân loại, thu gom theo quy định của bộ y tế CTR sinh hoạt đựng trong túi nilon màu xanh, CTR sinh hoạt y tế đựng trong túi nilon màu vàng, CTR sinh hoạt y tế nguy hại đựng trong túi nilon màu vàng, đen

+ Đối với CTR sinh hoạt các cơ sở y tế đều tự thu gom và thuê công ty

CP Môi trường và Công trình đô thị Thái Nguyên vận chuyển hàng ngày và

xử lý tại bãi chôn lấp của thành phố

+ Rác có thể tái chế như chai lọ, giấy, nhựa… đều do các nhân viên của bệnh viện tự thu gom để bán cho các cơ sở tái chế

+ Đối với CTR y tế nguy hại: có 03 bệnh viện được trang bị lò đốt để

xử lý tại chỗ là bệnh viện C, bệnh viện Lao và bệnh phổi, Bệnh viện Gang thép Các bệnh viện còn lại đều thuê Công ty CP Môi trường và Công trình

Đô thị Thái Nguyên vận chuyển và xử lý tại lò đốt rác y tế của thành phố

- Cơ sở y tế tuyến huyện: Các cơ sở y tế tuyến huyện đều đã thực hiện phân loại rác thành 04 loại theo quy định của Bộ Y tế và thu gom riêng của

Bộ Y tế Ngoài bệnh viện Đa khoa Phổ Yên đã được trang bị lò đốt chất thải

Trang 17

nguy hại, 08 đơn vị cấp huyện còn lại đều xử lý CTR nguy hại ngay trong khuôn viên của bệnh viện bằng phương pháp đốt thủ công hoặc chôn lấp [11].

2.4.3.2 Hiện trạng về trang thiết bị thu gom, vận chuyển CTR y tế

Bệnh viện tuyến tỉnh: 05/12 bệnh viện có xe thu gom rác là Bệnh viện

A, Bệnh viện C, Bệnh viện Đa khoa TW Thái Nguyên, Bệnh viện tâm thần, Bệnh viện y học cổ truyền Số còn lại đều chưa có xe thu gom rác

Các bệnh viện đã thực hiện phân loại chất thải rắn sinh hoạt và chủ động đầu

tư thiết bị lưu chứa riêng từng loại rác như thùng chứa, túi nilon khác màu,

xô, hộp đựng vật sắc nhọn…nhưng còn rất thiếu so với nhu cầu

Bệnh viện tuyến huyện: Kết quả điều tra cho thấy các bệnh viện thiếu thiết bị thu gom CTR trầm trọng, chỉ có bệnh viện huyện Phú Bình được UBND huyện đầu tư cho 01 xe thu gom, 07 bệnh viện còn lại không

có xe thu gom rác [11]

2.4.3.3 Hiện trạng công nghệ xử lý CTR tại các cơ sở y tế

- Đối với các cơ sở tuyến tỉnh:

+ 07/12 bệnh viện xử lý CTR sinh hoạt bằng lò đốt CTR của thành phố

do công ty Môi trường và Công trình Đô thị Thái Nguyên thực hiện dảm bảo

xử lý an toàn và hợp vệ sinh

+ 02/12 bệnh viện( bệnh viện C, Bệnh viện Lao và bệnh Phổi ) được trang bị lò đốt tại bệnh viện nhưng thiếu kinh phí vận hành, sửa chữa, bảo dưỡng nên hoạt động không thường xuyên

+ 03/12 cơ sở y tế xử lý chất thải rắn sinh hoạt bằng biện pháp đốt thủ công và chôn lấp tại chỗ không đảm bảo các điều kiện vệ sinh môi trường là bệnh viện 91, trung tâm phòng chống HIV/AIDS và da liễu và trung tâm y tế dự phòng

- Cơ sở y tế tuyến huyện:

Chỉ có bệnh vện Đa kha huyện Phổ Yên được trang bị lò đốt chất thải rắn

y tếtrong năm 2009 nhưng chi phí vận hành gặp khó khăn Còn lại các bệnh viện đều xử lý bằng biện pháp đốt thủ công và chôn lấp ngay trong khuôn viên của bệnh viện không đảm bảo các yêu cầu về vệ sinh môi trường [11]

Trong số 19 BV trên địa bàn tỉnh (tính cả BV Đa khoa T.Ư Thái Nguyên là BV tuyến T.Ư) chỉ có 5 BV có lò đốt nằm ở 3 BV tuyến tỉnh và 2

BV tuyến huyện nhưng 1 lò đã lâu không được sử dụng

Trang 18

Theo tính toán của Sở Y tế Thái Nguyên trung bình một ngày mỗi giường bệnh thải ra 0,15 - 0,3kg rác y tế Giả sử các BV đều hoạt động hết công suất giường bệnh, với số lượng 1.560 giường bệnh của 8 BV tuyến tỉnh lượng rác y tế mỗi ngày khoảng 234 - 468kg, con số này với các BV tuyến huyện là 125 - 250kg.

Đối với rác thải y tế, ngoài một số BV làm hợp đồng thuê đốt số còn lại

tự đốt rồi chôn lấp dù cách này không đảm bảo vệ sinh

Mỗi ngày, Cty CP MT&CTĐT Thái Nguyên chỉ tiêu huỷ trung bình 130kg rác thải y tế, số rác y tế rất lớn còn lại không biết đi về đâu? Tại các bệnh viện huyện và Trung tâm y tế rác thải được chôn lấp không hợp vệ sinh ngay trong khuôn viên bệnh viện hoặc chôn cùng rác thải sinh hoạt tại bãi rác của huyện, tiềm tàng nguy cơ gây ô nhiễm tới môi trường và sức khoẻ con người

2.5 Tác động của chất thải y tế tới môi trường và sức khỏe cộng đồng

Chất thải y tế không được xử lý đúng cách thì sẽ dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí và gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người, hệ sinh thái

Chất thải rắn tại nơi tập trung nếu không được bảo quản tốt sẽ sinh ra mùi gây ô nhiễm môi trường xung quanh, các vi khuẩn lây nhiễm có hại trong rác thải sẽ phát tán trong không khí gây các bệnh về đường hô hấp

Nước mưa hòa tan các chất độc hại và vi trùng có trong rác từ đó ảnh hưởng đến đất đai và nguồn nước mặt cũng như nước ngầm

Qúa trình đốt chất thải y tế sẽ sinh ra các khí độc hại như đioxin, furan…gây ô nhiễm môi trường

Các phương tiện giao thông của bệnh nhân và người nhà bệnh nhân ra vào bệnh viện cũng sẽ phát sinh một lượng khí thải như: SO2, NO2, Pb, bụi…

Cho đến nay ở Việt Nam vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào phản ánh tình trạng tổn thương nghề nghiệp của các nhân viên y tế

Tất cả những người phơi nhiễm với chất thải y tế đều là đối tư ợng có nguy cơ Họ có thể là nhân viên và người bệnh trong các cơ sở y tế làm phát sinh ra các chất thải, những người trực tiếp tham gia xử lí, tiêu hủy

Trang 19

chất thải và người dân trong cộng đồng dân cư trong trường hợp chất thải y

tế chưa được xử lí thích đáng

2.5.1 Tác động của chất thải nhiễm khuẩn

Chất thải nhiễm khuẩn chứa hàng loạt các vi sinh vật gây bệnh, những tác nhân gây bệnh này có thể tác động đến sức khỏe qua các con đường như:

- Xâm nhập qua vết da bị nứt nẻ hoặc bị thương

Theo điều tra của WHO, điều dưỡng viên, hộ lý và những người thu gom vận chuyển rác thải là nhóm người có nguy cơ cao do bị tổn thương bởi các vật sắc nhọn trong khi tiếp xúc trực tiếp với chúng, trong quá trình phân loai, thu gom, lưu trữ, vận chuyển chất thải

Nguy cơ nhiễm bệnh từ các vật sắc nhọn được tóm tắt trong bảng sau:

Bảng 2.9: Tỷ lệ nguy cơ nhiễm bệnh từ vật sắc nhọn

(Nguồn: Hồng Hải, 2010)

2.5.3 Tác động của hóa chất thải và dược phẩm

Nhiều hóa chất và dược phẩm được sử dụng trong cơ sở y tế gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người các chất gây độc gen, chất độc tế bào, chất ăn mòn, chất dễ cháy, chất gây phản ứng, gây nổ Có thể là các loại thuốc quá hạn, hết tác dụng cần vứt bỏ

Bác sỹ hay dược sỹ gây mê có thể mắc các bệnh về đường hô hấp hoặc viêm da khi pha chế dược liệu để gây mê cho bệnh nhân Chúng có thể gây

Trang 20

độc cho người tiếp xúc lần đầu tiên hoặc thường xuyên tiếp xúc với chúng như tổn thương qua da hoặc bị bỏng…

Các hoá chất khử khuẩn dược sử dụng với một lượng lớn và thường gây ăn mòn Các chất thải hoá học thải bỏ vào hệ thống cống rãnh cũng gây ảnh hưởng vì chúng chứa kháng sinh, một số kim loại nặng như thuỷ ngân, phenol, chất sát khuẩn hoặc khử khuẩn khác

2.5.4 Tác động của chất thải phóng xạ

Phát sinh từ các hoạt động chuẩn đoán, điều trị, nghiên cứu…của khoa

y học hạt nhân Trong quá trình làm việc nếu không cẩn thận những người tiếp xúc với chúng có thể bị nhiễm xạ Trên thế giới có rất nhiều trường hợp

bị nhiễm xạ từ chất thải bệnh viện, tại Brazil năm 1988 có 4 người chết vì hội chứng phóng xạ cấp tính và 28 người bị bỏng phóng xạ nặng, một trường hợp

bị ung thư do rò rỉ phóng xạ trong bệnh viện

Biến cố có thể xảy ra bởi các chất thải có tính hoạt hoá thấp do lớp

bề mặt bên ngoài của các thùng chứa bị ô nhiễm hoặc do bảo quản không đúng cách Mọi nhân viên y tế tiếp xúc với chất thải phóng xạ đều có nguy

có khả năng xử lý triệt để hơn

2.6.2 Công nghệ lò hấp

Lò hấp được sử dụng rộng rãi nhất trong ngành y tế để tiệt trùng các thiệt bị y tế và xử lý rác thải y tế lây nhiễm trở thành rác thải thông thường

Trang 21

Công nghệ lò hấp sử dụng sự kết hợp giữa xử lý ở nhiệt độ cao, hấp hơi và tạo áp lực lớn để khử vi trùng, vi rút gây bệnh và các mầm sinh học để biến rác thải y tế độc hại trở thành rác thải thông thường có thể được xử lý theo quy trình bình thường như chôn xuống đất Công nghệ lò hấp có mức độ tiêu diệt virus và tác nhân gây bệnh cao nhất so với các loại hình công nghệ khác Vì những ưu điểm trên, công nghệ lò hấp được lựa chọn phổ biến sử dụng trong các bệnh viện để thay thế dần cho công nghệ lò đốt

2.6.3 Tiệt trùng bằng hóa chất

Xử lý rác thải y tế bằng hóa chất tức là sử dụng hóa chất để loại bỏ sự độc hại của rác thải y tế, biến chúng thành rác thải thông thường Hóa chất được kết hợp với nước nóng để khử trùng Các loại hóa chất hay sự dụng là Chlorine, khí Ozone, Formaldehyde, Ethylene, khí oxit, khí propylene oxide và axít periacetic Công nghệ này cho phép xử lý triệt để một số loại rác thải, tuy nhiên nó vẫn tạo ra những hiệu ứng phụ đối với phần rác thải sau xử lý Vì vậy việc sử dụng cách thức tiệt trùng bằng hóa chất ít được sử dụng trong các bệnh viện do các loại rác thải y

tế rất đa dạng dẫn tới khó đảm bảo rác thải sau xử lý hoàn toàn đã tiệt trùng

2.6.4 Xử lý bằng công nghệ vi sóng

Công nghệ xử lý bằng vi sóng được sử dụng khá phổ biến tại các cơ

sở y tế Quy trình xử lý đó là rác thải trước hết được nghiền và trộn với nước, sau đó dùng vi sóng xử lý Khi kết hợp việc nghiền rác thải khi xử lý khiến cho tổng khối lượng rác thải giảm tới 80% trong quá trình tiêu diệt các chất độc hại và tiệt trùng Tuy nhiên xử lý vi sóng được đánh giá không phù hợp với một số loại rác thải chứa hóa chất do tạo ra những tác động phụ có thể ảnh hưởng tới sức khỏe của người tham gia vào quy trình xử lý rác thải Mặt khác công nghệ vi sóng chỉ thích hợp cho những trung tâm y

tế có quy mô xử lý rác thải nhỏ

2.6.5 Xử lý bằng công nghệ sinh học

Hình thức xử lý này đang dần phát triển Quy trình xử lý có việc sử dụng chất vi sinh để tiêu diệt vi trùng Về cơ bản quy trình xử lý này khá giống với việc xử lý bằng hóa chất vì tận dụng các tính năng của vi sinh (hóa chất) để tiêu diệt vi trùng

2.6.6 Xử lý bằng chất phóng xạ

Trang 22

Hình thức xử lý này chỉ phù hợp với một số loại rác thải đặc biệt Nguyên lý là sử dụng chất phóng xạ nhằm tiêu diệt vi khuẩn, mầm bệnh Phương pháp này đòi hỏi việc xử lý phải được cách ly để tránh bị nhiễm phóng xạ Việc sử dụng phương pháp này cần phải được nghiên cứu kỹ càng để đảm bảo an toàn cho người sử dụng

Ở các nước phát triển đã có công nghệ xử lý CTYT đáng tin cậy như đốt rác bằng lò vi sóng, tuy nhiên đây không phải là biện pháp hữu hiệu được áp dụng ở các nước đang phát triển, vì vậy, các nhà khoa học ở các nước Châu Á đã tìm ra một số phương pháp xử lý chất thải khác để thay thế như Philippin đã áp dụng phương pháp xử lý rác bằng các thùng rác có nắp đậy; Nhật Bản đã khắc phục vấn đề khí thải độc hại thoát ra từ các thùng đựng rác có nắp kín bằng việc gắn vào các thùng có những thiết bị

cọ rửa; Indonexia chủ trương nâng cao nhận thức trước hết cho các bệnh viện về mối nguy hại của CTYT gây ra để bệnh viện có biện pháp lựa chọn phù hợp

Trang 23

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các loại rác thải y tế nguy hại phát sinh trong bệnh viện huyện Đại Từ

- Cơ sở vật chất, trang thiết bị và nguồn nhân lực thu gom, vận

chuyển, xử lý rác thải tại bệnh viện

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu

- Những vấn đề có liên quan đến rác thải y tế trong quá trình hoạt động

của bệnh viện Đa khoa huyện Đại Từ

3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Từ 8/01/2012 – 30/04/2012

- Địa điểm nghiên cứu: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đại Từ

Bệnh viện Đa khoa huyện Đại Từ

3.3 Nội dung nghiên cứu

- Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Đại Từ

- Một số đặc điểm chính của bệnh viện Đa khoa huyện Đại Từ.

- Hiện trạng phân loại, thu gom, lưu trữ, vận chuyển và xử lý rác thải y

tế tại bệnh viện Đa khoa huyện Đại Từ

- Hiểu biết của cán bộ nhân viên bệnh viện, bệnh nhân về vấn đề quản

lý rác thải y tế của bệnh viện

- Giải pháp nâng cao công tác quản lý rác thải y tế tại bệnh viện Đa khoa huyện Đại Từ

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp

- Thu thập tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của khu vực

- Thu thập tài liệu về quy mô, cơ cấu tổ chức của bệnh viện

- Thu thập tài liệu về hồ sơ đăng kí chủ nguồn thải chất thải nguy hại của bệnh viện

- Thu thập tài liệu về hợp đồng thu gom rác thải của bệnh viện với Ban quản lý vệ sinh môi trường đô thị huyện Đại Từ

Trang 24

- Thu thập số liệu trong hồ sơ thu gom vận chuyển chất thải hàng ngày và hàng tháng của bệnh viện.

3.4.2 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu sơ cấp

- Điều tra khảo sát thực địa tại bệnh viện về tình hình phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải của bệnh viện

+ Cân chất thải tại từng khoa hàng ngày

+ Thu thập một số hình ảnh về công tác quản lý chất thải của bệnh viện

- Điều tra phỏng vấn trực tiếp nhân viên bệnh viện và bệnh nhân

3.4.3 Phương pháp xử lý và đánh giá tổng hợp số liệu

- Các số liệu, tài liệu thu thập sẽ được tổng hợp, sử dụng phần mềm word và excel để thống kê và xử lý số liệu Từ đó thấy được hiện trạng để đưa ra các đánh giá, kết luận và kiến nghị về công tác quản lý rác thải y tế của bệnh viện

Trang 25

Phần 4 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Đại Từ

4.1.1 Điều kiện tự nhiên

4.1.1.1 Vị trí địa lý

Bệnh viện Đa khoa Đại Từ nằm ở Phố Sơn Tập 3-Thị trấn Đại Từ - huyện Đại Từ Khu vực bệnh viện mang đầy đủ đặc điểm của điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Đại Từ

Đại Từ là huyện miền núi nằm ở phía Tây bắc của tỉnh Thái Nguyên, cách Thành Phố Thái Nguyên 25 Km, phía Bắc giáp huyện Định Hoá; Phía nam giáp huyện Phổ Yên và Thành Phố Thái Nguyên; Phía đông giáp huyện Phú Lương; Phía tây bắc và đông nam giáp tỉnh Tuyên Quang và tỉnh Phú Thọ

Huyện Đại Từ có 31 đơn vị hành chính, tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện là 57.790 ha chiếm 16,58% diện tích toàn tỉnh; Dân số 159.569 người chiếm 16,12% dân số cả tỉnh Thái Nguyên, trong đó có 8 dân tộc anh em cùng chung sống: Kinh, Tày, Nùng, Sán chay, Dao, Sán dìu, Hoa, Ngái; Mật độ dân số bình quân 277,16 người/km 2

Trang 26

4.1.1.2 Điều kiện địa hình

a) Về đồi núi:

- Phía Tây và Tây Nam có dãy núi Tam Đảo ngăn cách giữa huyện

và tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ, độ cao từ 300 - 600m

- Phía Bắc có dãy Núi Hồng và Núi Chúa

- Phía đông là dãy núi Pháo cao bình quân 150 - 300 m

- Phía Nam là dãy núi Thằn Lằn thấp dần từ bắc xuống nam

b) Sông ngòi thuỷ văn:

- Sông ngòi: Hệ thống sông Công chảy từ Định Hoá xuống theo hướng Bắc Nam với chiều dài chạy qua huyện Đại Từ khoảng 24 km Hệ thống các suối, khe cũng là nguồn nước quan trọng phục vụ cho đời sống và sản xuất của nhân dân

- Hồ đập: Hồ Núi Cốc lớn nhất tỉnh với diện tích mặt nước 769 ha, vừa

là địa điểm du lịch nổi tiếng, vừa là nơi cung cấp nước cho các huyện Phổ Yên, Phú Bình, Sông Công, Thành phố Thái Nguyên và một phần cho tỉnh Bắc Giang Ngoài ra còn có các hồ với dung lượng nước tưới bình quân từ 40

- 50 ha mỗi đập và từ 180 - 500 ha mỗi Hồ

- Thuỷ văn: Do ảnh hưởng của vị trí địa lý, đặc biệt là các dãy núi bao bọc Đại Từ thường có lượng mưa lớn nhất tỉnh, trung bình lượng mưa hàng năm từ 1.800mm - 2.000mm

- Nước ngầm có độ sâu từ 7-10 m là nguồn nước quý hiếm, có ý nghĩa quan trọng đối với đời sống của nhân dân, hiện nay nguồn nước này được nhân dân khai thác bằng phương pháp đào và khoan giếng để phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày

Nhìn chung, nguồn tài nguyên nước của huyện khá phong phú, đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt cũng như phát triển kinh tế trên địa bàn

4.1.1.3 Điều kiện khí hậu thời tiết

Khu vực bệnh viện nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết chia làm 4 mùa song chủ yếu là 2 mùa chính: Mùa mưa và mùa khô, mùa mưa

từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Do ảnh hưởng của vị trí địa lý, đặc biệt là các dãy núi bao bọc Đại Từ thường có

Trang 27

lượng mưa lớn nhất tỉnh, trung bình lượng mưa hàng năm từ 1.800mm - 2.000mm Do mưa nhiều nên độ ẩm không khí khá cao, độ ẩm trung bình từ

70 - 80% , nhiệt độ trung bình hàng năm từ 22,90C, nhiệt độ trung bình cao nhất trong năm là 27,20C, nhiệt độ trung bình thấp nhất trong năm là 200C (là miền nhiệt độ phù hợp cho nhiều loại cây trồng phát triển)

4.1.1.4 Về đất đai thổ nhưỡng

Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 57.848 ha Trong đó: đất nông nghiệp chiếm 30,3%, đất Lâm nghiệp chiếm 48,74%; Đất chuyên dùng 11,36%; Đất thổ cư 3,4% Tổng diện tích hiện đang sử dụng vào các mục đích

là 93,8%, còn lại 6,2% diện tích tự nhiên chưa sử dụng Theo kết quả điều tra

và tổng hợp trên bản đồ thổ nhưỡng, huyện Đại Từ có một số loại đất chính: Đất màu đỏ vàng; đất hình thành do dốc tụ; đất phù sa chua; đất phù sa Glây; đất nâu vàng trên phù sa cổ; đất vàng nhạt trên đá cát; đất đỏ vàng trên đá phiến sét; đất xám bạc màu; đất xám mùn

4.1.1.5 Về tài nguyên - khoáng sản

a) Tài nguyên rừng

Diện tích đất lâm nghiệp 28.020 ha, trong đó rừng tự nhiên là 16.022 ha

và rừng trồng từ 3 năm trở lên là 11.000 ha Chủ yếu là rừng phòng hộ, diện tích rừng kinh doanh không còn hoặc còn rất ít vì những năm trước đây đã bị khai thác bừa bãi và tàn phá để làm nương rẫy Diện tích rừng những năm gần đây được sự quan tâm của các cấp, các ngành rừng được bảo vệ và chăm sóc, diện tích rừng ngày một tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng, giúp cho môi trường tại các khu vực trồng rừng ngày càng được bảo vệ tốt hơn, hạn chế được quá trình xói mòn đất khi xảy ra mưa lũ

b) Tài nguyên khoáng sản

Đại Từ được thiên nhiên ưu đãi phân bổ trên địa bàn nhiều tài nguyên khoáng sản nhất tỉnh, 15/31 xã, thị trấn có mỏ và điểm quặng Được chia ra làm 4 nhóm quặng chủ yếu sau:

- Nhóm khoáng sản là nguyên liệu cháy: Chủ yếu là than nằm ở 8 xã của huyện: Yên Lãng, Hà Thượng, Phục Linh, Na Mao, Minh Tiến, An Khánh, Cát Nê Có 3 mỏ lớn thuộc Trung ương quản lý và khai thác: Mỏ Núi

Trang 28

Hồng, Khánh Hoà, Bắc làng Cẩm Sản lượng khai thác hàng năm từ 10 đến

20 nghìn tấn/ năm

- Nhóm khoáng sản kim loại:

+ Nhóm kim loại màu: Chủ yếu là thiếc và Vônfram Mỏ thiếc Hà Thượng lớn nhất mới được khai thác từ năm 1988, có trữ lượng khoảng 13 nghìn tấn, mỏ Vonfram ở khu vực đá liền có trữ lượng lớn khoảng 28 nghìn tấn Ngoài các mỏ chính trên quặng thiếc còn nằm rải rác ở 9 xã khác trong huyện như: Yên Lãng, Phú Xuyên, La Bằng, Hùng Sơn, Tân Thái, Văn Yên, Phục Linh, Tân Linh, Cù Vân

+ Nhóm kim loại đen: Chủ yếu là Titan, sắt nằm rải rác ở các điểm thuộc các xã phía Bắc của huyện như Khôi Kỳ, Phú Lạc trữ lượng không lớn lại phân tán

- Nhóm khoáng sản phi kim loại: pyrit, barit, nằm ở rải rác các xã trong Huyện, trữ lượng nhỏ, phân tán

- Khoáng sản và vật liệu xây dựng:

Đại Từ là vùng có mỏ đất sét lớn nhất tỉnh ở xã Phú Lạc, ngoài ra còn có nguồn đá cát sỏi có thể khai thác quanh năm ở dọc theo các con sông Công, bãi bồi của các dòng chảy phục vụ vật liệu xây dựng tại chỗ của Huyện

4.1.1.6 Về du lịch

Khu du lịch Hồ Núi Cốc với câu chuyện huyền thoại về nàng Công chàng Cốc đã thu hút khách du lịch trong nước và ngoài nước, nằm ở phía Tây nam của Huyện, đây cũng là điểm xuất phát đi thăm khu di tích trong Huyện như: Núi Văn, Núi Võ, khu rừng Quốc gia Tam Đảo, di tích lịch sử 27/7 v.v Hiện đã hoàn thành xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển du lịch sinh thái sườn đông dãy Tam Đảo, hoàn thành quy hoạch chi tiết khu du lịch chùa Tây Trúc xã Quân Chu, Cửa Tử xã Hoàng Nông, quy hoạch chi tiết khu

di tích lịch sử Lưu Nhân Chú Nhìn chung tiềm năng phát triển dịch vụ du lịch ở Đại Từ đã và đang được quan tâm phát triển, đây là tiềm năng lớn của Huyện cũng như của tỉnh Thái Nguyên

Trang 29

4.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội

4.1.2.1 Kết cấu hạ tầng

Hệ thống cung cấp điện: Huyện Đại Từ có mạng lưới điện Quốc gia kéo đến 31 xã, thị trấn

Giao thông: Đại Từ có mật độ đường giao thông khá cao so với các

huyện trong tỉnh Tổng chiều dài đường bộ trên địa bàn khoảng gần 600km

+ Đường Quốc lộ 379, chạy dài suốt huyện, dài 32km, đã được dải nhựa

+ Đường Tỉnh quản lý: Gồm 3 tuyến đường: Đán đi Hồ núi Cốc; Đại Từ

đi Phổ Yên; Khuôn Ngàn đi Minh Tiến - Định Hoá; Phú Lạc đi Đu ôn Lương Phú Lương

- Còn lại là các tuyến đường đá, cấp phối thuộc huyện và xã quản lý, chủ yếu là đường liên xã, liên thôn, xóm; Cả 31 xã, thị trấn đã có đường ô tô đến trung tâm xã, song do đặc điểm của huyện miền núi, hệ thống giao thông còn gây ách tắc về mùa mưa lũ, do vậy chưa đáp ứng cho sự phát triển và giao lưu hàng hoá trên địa bàn

- Tuyến đường sắt Quán triều - Núi Hồng dài 33,5 km là một thuận lợn lớn trong việc phục vụ sản xuất và giao lưu hàng hoá (chủ yếu là vận chuyển than)

Nhìn chung, hệ thống giao thông của huyện tương đối thuận lợi, song

về chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu (chủ yếu là đường đá cấp phối, đất), cần phải có kế hoạch từng bước đầu tư nâng cấp hệ thống cầu, đường liên huyện, liên xã, xóm trong những năm tới

Thông tin liên lạc: Toàn huyện đã được phủ sóng truyền thanh, truyền hình, 31/31 xã, thị trấncó điện thoại; có 25/31 xã có bưu điện văn hoá; Hệ thống giao thông thuận tiện là điều kiện thuận lợi cho bưu điện phục vụ các thông tin, báo trí đến các xã, xóm trong kịp thời trong ngày

4.2.1.2 Nguồn nhân lực

Huyện Đại Từ có nhiều đơn vị hành chính nhất tỉnh: 31 xã, thị trấn, có

8 dân tộc anh em cùng sinh sống: Kinh, Tày, Nùng, Sán Chay, Sán Dìu, Hoa, Ngái chiếm 16,12% dân số cả tỉnh Thái Nguyên Mật độ dân số bình quân

279 ngêi/km2

Trang 30

Dõn số Đại Từ hiện cú 161.658 nhõn khẩu trong đú có 88.000 ngời trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, tỷ lệ lao động đợc đào tạo so với tổng số lao động chiếm 23% (Trong đú dõn số nụng nghiệp chiếm 94%; thành thị: 6%) Dõn số trong độ tuổi lao động chiếm 56,5% Lao động làm trong cỏc ngành nghề kinh tế chiếm 90,8% (Trong đú: nụng lõm nghiệp thuỷ sản chiếm 94,1%; cụng nghiệp xõy dựng chiếm 4,1%; dịch vụ chiếm 1,2%).

4.2.1.3 Văn hoỏ, xó hội

a) Giỏo dục, đào tạo

Những năm gần đõy giỏo dục đào tạo của huyện Đại Từ tiếp tục phỏt triển cả về số lượng, chất lượng dạy và học ở cỏc cấp học, bậc học, tỷ lệ huy động cỏc chỏu trong độ tuổi đến trường tăng, cơ sở vật chất từng bước được đầu tư nõng cấp Toàn huyện hiện cú 102 trường (33 trường Mầm non, 35 trường Tiểu học, 30 trường THCS; 3 trường THPT và 1 trung tõm GDTX)

Số trường đạt chuẩn Quốc gia là: 41 trường, trong đú: Mầm non: 10 trường, Tiểu học: 26 trường, THCS: 05 trường

- 01 Phũng khỏm đa khoa huyện

- 01 Trung tõm y tế huyện

Cỏc hoạt động văn hoỏ, thể dục thể thao luụn được quan tõm và duy trỡ thường xuyờn Đến nay huyện đó cú 8 nhà văn hoỏ xó; 227 nhà văn hoỏ xúm trờn tổng số 482 xúm; 16/31 xó đó cú sõn bói thể thao và văn nghệ

Trang 31

Tổng di tích và danh thắng: toàn huyện có 169 di tích, trong đó có 4 di tích được xếp hạng cấp quốc gia đó là: di tích nơi thành lập chi bộ Đảng đầu tiên của tỉnh Thái Nguyên tại xóm Lau sau xã La Bằng; di tích chiến khu Nguyễn Huệ tại xã Yên Lãng; di tích 27/7 tại xóm Bàn Cờ xã Hùng Sơn; di tích lịch sử núi Văn, núi Võ tại xã Văn Yên, Ký Phú Có 2 di tích được xếp hạng cấp tỉnh: di tích đền Tăng xã Phú Lạc thờ Dương Tự Minh; di tích Lán Than xã Quân Chu địa điểm thành lập đội du kích Phạm Hồng Thái.

4.2 Một số đặc điểm chính của bệnh viện Đa khoa huyện Đại Từ

4.2.1 Quá trình hình thành và phát triển

Bệnh viện Đa khoa huyện Đại Từ được thành lập năm 2008 theo Quyết định số 2347/QĐ – UBND ngày 02 tháng 10 năm 2008 của UBND tỉnh Thái Nguyên Bệnh viện được thành lập trên cơ sở tách bộ phận khám chữa bệnh từ Trung tâm y tế huyện Cơ quan chủ quản của bệnh viện là Sở

Y tế Thái Nguyên

Khi mới thành lập bệnh viện gồm có: Phòng Tổ chức - hành chính quản trị, phòng Kế hoạch - Nghiệp vụ - Điều dưỡng, phòng Tài vụ và 10 khoa chuyên môn (khoa khám bệnh, khoa chuẩn đoán hình ảnh, khoa xét nghiệm, khoa Nhi, khoa Ngoại, khoa Sản, khoa truyền nhiễm, khoa cấp cứu, khoa Nội tổng hợp – Đông y, khoa Dược – Chống nhiễm khuẩn)

4.2.2 Quy mô và cơ cấu tổ chức của bệnh viện

Bệnh viện Đa khoa huyện Đại Từ là một đơn vị sự nghiệp, có nhiệm

vụ điều trị, chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân trong huyện

và vùng lân cận Bệnh viện có 145 giường bệnh Bao gồm 07 Khoa: khoa Nội, khoa Ngoại, khoa Sản, khoa Nhi, khoa khám bệnh, khoa Dược, khoa xét nghiệm và chuẩn đoán hình ảnh Có 03 phòng chức năng: Phòng Kế hoạch tổng hợp, Phòng Tổ chức hành chính và phòng Kế toán tài vụ

Về cơ cấu cán bộ: Có tổng số 163 cán bộ, công chức viên chức Trong đó có 139 cán bộ biên chế, 01 hợp đồng, hợp đồng Sở Y tế là 23 Gồm có 20 bác sỹ trong đó: 01 Thạc sỹ, 14 Bác sỹ CKI, 02 Đại học Điều dưỡng, 01 Dược sỹ CKI, còn lại là Kế toán viên, Điều dưỡng viên và Nữ

hộ sinh…

Trang 32

Bảng 4.1: Nhân lực y tế của bệnh viện

kỹ sư

Y sỹ, Điều dưỡng viên

Kỹ thuật viên

Hộ

lý-Nữ hộ sinh

Tổng số cán bộ, nhân viên

(Nguồn: Bệnh viện Đa khoa huyện Đại Từ, 2012)

Bảng 4.2: Số lượt khám và giường bệnh trong 03 tháng năm 2012

TB/tháng

Số lượt vào viện TB/tháng

Số giường bệnh

(Nguồn: Bệnh viện Đa khoa huyện Đại Từ, 2012)

Với số lượt bệnh nhân đến khám bệnh và vào viện trung bình hàng tháng như vậy sẽ phát sinh một lượng chất thải rắn y tế rất lớn tại bệnh viện Nếu khối lượng rác thải này không được thu gom, phân loại, lưu trữ,

Trang 33

vận chuyển và xử lý đúng cách, đạt tiêu chuẩn sẽ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng đến cuộc sống và sức khỏe con người.

4.3 Hiện trạng phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải tại bệnh viện huyện Đại Từ

Hình 4.1: Sơ đồ quy trình chung quản lý rác thải của bệnh viện

4.3.1 Nguồn gốc phát sinh rác thải bệnh viện

Bệnh viện đã có hồ sơ đăng kí chủ nguồn thải chất thải nguy hại được Sở Tài nguyên và Môi trường cấp phép vào tháng 08 năm 2010 Rác thải y tế được xếp vào loại chất thải nguy hại do đặc tính gây nguy hại của

nó với môi trường và sức khỏe cộng đồng nếu không được quản lý tốt, thực hiện xử lý đúng quy định Bệnh viện cũng là nơi phát sinh ra một khối lượng lớn chất thải y tế nguy hại hàng ngày từ các hoạt động khám chữa bệnh Tại tất cả các khoa, phòng của bệnh viện đều là nguồn phát sinh chất thải Các chất thải chủ yếu là chất thải sắc nhọn (bơm kim tiêm, kim truyền dịch, lưỡi dao mổ, ống tiêm…), chất thải không sắc nhọn (băng thấm máu, đờm, dịch mũi họng…), ống đựng máu, chất thải giải phẫu (mô, cơ quan,

Thu gom (túi màu xanh)

Nhà chứa rác

Bảo quản

Công ty MTĐT Thái Nguyên

n

Vận chuyển (BQL VSMT)

9

Xử lý

Trang 34

Bảng 4.3: Nguồn gốc phát sinh rác thải y tế tại bệnh viện

Túi đựng thuốc rửa phim

6 Khoa dược Thuốc, dược phẩm hết hạn

7 Phòng hành chính tổ chức Bóng đèn huỳnh quang

(Nguồn: Bệnh viện Đa khoa huyện Đại Từ, 2012)

Tóm lại, các chất thải lâm sàng (chất thải nhiễm khuẩn, các vật sắc nhọn, dược phẩm quá hạn, bệnh phẩm…) phát sinh chủ yếu ở các phòng cấp cứu, phòng mổ, phòng xét nghiệm; chất thải phóng xạ phát sinh chủ yếu ở phòng xét nghiệm chụp và rửa phim, phòng cấp cứu

4.3.2 Hiện trạng thu gom, phân loại, lưu trữ, vận chuyển và xử lý chất thải rắn tại bệnh viện

4.3.2.1 Khối lượng rác thải phát sinh tại bệnh viện

Lượng rác thải y tế phát sinh trong bệnh viện tùy thuộc vào đặc điểm của bệnh viện (số giường bệnh, số lượt bệnh nhân đến khám…) Rác thải y tế

Trang 35

phát sinh của từng khoa được cân hằng ngày bằng cân đồng hồ và có sổ ghi chép số liệu đầy đủ, có nhân viên chuyên quản lý sổ ghi chép này Sau đây

là bảng khối lượng rác thải phát sinh của bệnh viện từ khi bệnh viện bắt đầu hợp đồng thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải

Bảng 4.4: Tổng lượng rác thải nguy hại phát sinh qua các tháng

(kg/ngày)

Khối lượng (kg/tháng)

(Nguồn: Ban quản lý Vệ sinh môi trường Đô thị huyện Đại Từ, 2012,)

Qua bảng trên ta thấy lượng chất thải y tế có xu hướng tăng lên qua các tháng Bốn tháng đầu năm 2012 lượng chất thải còn tăng lên nhanh chóng so với năm 2011, nguyên nhân là do nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân ngày càng cao, số lượt người khám và vào điều trị tại bệnh viện tăng nhanh Bình quân mỗi ngày bệnh viện thải ra 13kg rác thải nguy hại

Trang 36

Hình 4.2: Khối lượng rác thải y tế phát sinh qua các tháng

Bảng 4.5: Lượng rác thải nguy hại phát sinh tại các khoa của bệnh viện

(Nguồn: Số liệu cân rác trong các tháng, 2012)

Qua bảng trên cho thấy lượng rác thải phát sinh hàng tháng của khoa Sản và khoa Ngoại chiếm khối lượng lớn nhất trong các khoa của bệnh viện Khoa sản trung bình mỗi tháng là 216 kg, khoa Ngoại là 146 kg, còn lại các khoa khác phát sinh với khối lượng ít hơn

Trang 37

Hình 4.3: Lượng rác thải y tế phát sinh tại các khoa của bệnh viện

Qua biểu đồ cho thấy, bốn tháng đầu năm 2012 lượng rác thải y tế phát sinh tại khoa Sản là lớn nhất 866,5 kg, sau đó là khoa Ngoại với 584,5

Tỷ lệ (%) lượng (kg) Khối Tỷ lệ (%) lượng (kg) Khối Tỷ lệ (%)

Ngày đăng: 21/05/2016, 09:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Hồng Hải (2010), “Tổn thương do vật sắc nhọn gây ra với cán bộ y tế chiếm tỷ lệ cao” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tổn thương do vật sắc nhọn gây ra với cán bộ y tế chiếm tỷ lệ cao
Tác giả: Hồng Hải
Năm: 2010
7. Nguyên Hằng (2011), “Đề án tổng thể xử lý chất thải y tế giai đoạn 2011- 2015 và định hướng đến năm 2020”, Tạp chí môi trường, (số 12), tr 16 – 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án tổng thể xử lý chất thải y tế giai đoạn 2011- 2015 và định hướng đến năm 2020”, "Tạp chí môi trường
Tác giả: Nguyên Hằng
Năm: 2011
10. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Nguyên (2010), “Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2005- 2010” Sách, tạp chí
Tiêu đề: (2010), “Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2005- 2010
Tác giả: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Nguyên
Năm: 2010
11. Nguyễn Thị Kim Thái (2011), “Quản lý chất thải từ các bệnh viện ở Việt Nam Thực trạng và định hướng trong tương lai”, Tạp chí môi trường, (số 12), tr 43- 44- 45- 46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý chất thải từ các bệnh viện ở Việt Nam Thực trạng và định hướng trong tương lai”," Tạp chí môi trường
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Thái
Năm: 2011
12. Thái San (2012), Hơn 500 bệnh viện không có hệ thống xử lý chất thải y tế, http://www.baomoi.com/Hon-500-benh-vien-khong-co-he-thong-xu-ly-chat-thai-y-te/82/7742930.epi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hơn 500 bệnh viện không có hệ thống xử lý chất thải y tế
Tác giả: Thái San
Năm: 2012
14. UBND huyện Đại Từ (2011), Đề án bảo vệ môi trường trên địa bàn huyện Đại Từ giai đoạn 2011 – 2015.II. Tài liệu tiếng anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án bảo vệ môi trường trên địa bàn huyện Đại Từ giai đoạn 2011 – 2015
Tác giả: UBND huyện Đại Từ
Năm: 2011
15. Miller, R.K. and M.E. Rupnow (1992), Survey on medical waste management, Lilburn, GA: Future Technology Surveys Sách, tạp chí
Tiêu đề: Survey on medical waste management
Tác giả: Miller, R.K. and M.E. Rupnow
Năm: 1992
16. WHO (1997), Treatment waste from hospitals and other health care establishment, Malaysia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Treatment waste from hospitals and other health care establishment
Tác giả: WHO
Năm: 1997
1. Bệnh viện Đa khoa huyện Đại Từ (2012), Biên bản nghiệm thu và xác nhận khối lượng rác thải y tế Khác
2. Bệnh viện Đa khoa huyện Đại Từ (2012), Biên bản xác định giá trị thanh toán xử lý chất thải y tế Khác
3. Bệnh viện Đa khoa huyện Đại Từ (2010), Hồ sơ đăng kí chủ nguồn thải chất thải nguy hại Khác
4. Bệnh viện Đa khoa huyện Đại Từ (2012), Hợp đồng về việc bốc xếp, vận chuyển, xử lý chất thải y tế Khác
6. Bộ Y tế, Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế về quy chế quản lý chất thải y tế Khác
13. Thông tư số 12/2011/TT- BTNMT ngày 14 tháng 04 năm 2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về quản lý chất thải nguy hại Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Thành phần rác thải y tế - Báo cáo tốt nghiệp ngành khoa học môi trường Đánh giá hiện trạng và đề xuất
Bảng 2.1 Thành phần rác thải y tế (Trang 4)
Bảng 2.2: Thành phần rác thải ở bệnh viện Việt Nam - Báo cáo tốt nghiệp ngành khoa học môi trường Đánh giá hiện trạng và đề xuất
Bảng 2.2 Thành phần rác thải ở bệnh viện Việt Nam (Trang 5)
Bảng 2.7: Lượng chất thải phát sinh tại các khoa trong bệnh viện - Báo cáo tốt nghiệp ngành khoa học môi trường Đánh giá hiện trạng và đề xuất
Bảng 2.7 Lượng chất thải phát sinh tại các khoa trong bệnh viện (Trang 11)
Bảng 2.6: Lượng chất thải phát sinh tại các khoa trong bệnh viện - Báo cáo tốt nghiệp ngành khoa học môi trường Đánh giá hiện trạng và đề xuất
Bảng 2.6 Lượng chất thải phát sinh tại các khoa trong bệnh viện (Trang 11)
Bảng 4.1: Nhân lực y tế của bệnh viện - Báo cáo tốt nghiệp ngành khoa học môi trường Đánh giá hiện trạng và đề xuất
Bảng 4.1 Nhân lực y tế của bệnh viện (Trang 32)
Hình 4.1: Sơ đồ quy trình chung quản lý rác thải của bệnh viện - Báo cáo tốt nghiệp ngành khoa học môi trường Đánh giá hiện trạng và đề xuất
Hình 4.1 Sơ đồ quy trình chung quản lý rác thải của bệnh viện (Trang 33)
Bảng 4.3: Nguồn gốc phát sinh rác thải y tế tại bệnh viện - Báo cáo tốt nghiệp ngành khoa học môi trường Đánh giá hiện trạng và đề xuất
Bảng 4.3 Nguồn gốc phát sinh rác thải y tế tại bệnh viện (Trang 34)
Hình 4.2: Khối lượng rác thải y tế phát sinh qua các tháng - Báo cáo tốt nghiệp ngành khoa học môi trường Đánh giá hiện trạng và đề xuất
Hình 4.2 Khối lượng rác thải y tế phát sinh qua các tháng (Trang 36)
Hình 4.5: Sơ đồ phân loại chất thải tại bệnh viện - Báo cáo tốt nghiệp ngành khoa học môi trường Đánh giá hiện trạng và đề xuất
Hình 4.5 Sơ đồ phân loại chất thải tại bệnh viện (Trang 39)
Bảng 4.9: Khối lượng rác thải y tế được thu gom, vận chuyển - Báo cáo tốt nghiệp ngành khoa học môi trường Đánh giá hiện trạng và đề xuất
Bảng 4.9 Khối lượng rác thải y tế được thu gom, vận chuyển (Trang 44)
Bảng 4.10: Các loại hình xử lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện - Báo cáo tốt nghiệp ngành khoa học môi trường Đánh giá hiện trạng và đề xuất
Bảng 4.10 Các loại hình xử lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện (Trang 45)
Hình 4.6: Hiểu biết của nhân viên về quy chế quản lý chất thải y tế - Báo cáo tốt nghiệp ngành khoa học môi trường Đánh giá hiện trạng và đề xuất
Hình 4.6 Hiểu biết của nhân viên về quy chế quản lý chất thải y tế (Trang 48)
Bảng 4.14: Hiểu biết và nhận thức của nhân viên về quản lý rác thải của - Báo cáo tốt nghiệp ngành khoa học môi trường Đánh giá hiện trạng và đề xuất
Bảng 4.14 Hiểu biết và nhận thức của nhân viên về quản lý rác thải của (Trang 50)
Bảng 4.15: Hiểu biết về công tác quản lý chất thải của bệnh viện - Báo cáo tốt nghiệp ngành khoa học môi trường Đánh giá hiện trạng và đề xuất
Bảng 4.15 Hiểu biết về công tác quản lý chất thải của bệnh viện (Trang 51)
Hình 4.8: Sơ đồ quy trình vô khuẩn dụng cụ - Báo cáo tốt nghiệp ngành khoa học môi trường Đánh giá hiện trạng và đề xuất
Hình 4.8 Sơ đồ quy trình vô khuẩn dụng cụ (Trang 54)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w