* Tình hình nghiên cứu trong nước Viết về chất lượng dịch vụ khách hàng và sự thỏa mãn của khách hàng đến nay theo như tác giả tìm hiểu thì có khá nhiều đề tài như: Đo lường sự thỏa mãn
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Kinh doanh siêu thị từ lâu đã được coi như một điều tất yếu của sự phát triển nền kinh tế Thực tế cho thấy, đây là một loại hình kinh doanh bán lẻ hiện đại, hình thành và phát triển trong quan hệ mật thiết với quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa mạnh mẽ trên thế giới Sự ra đời của siêu thị đầu tiên ở Mỹ vào năm 1930 sau đó mở rộng sang châu Âu được coi là một trong những cuộc "cách mạng" hữu ích nhất đối với người tiêu dùng trong lĩnh vực phân phối ở thế kỷ XX
Ngành bán lẻ Việt Nam được đánh giá một trong những thị trường hấp dẫn trên thế giới Lĩnh vực này có sức bật và thu hút các nhà đầu tư nước ngoài Đây là một thách thức rất lớn đối với các doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ trong nước, phải đối mặt với việc cạnh tranh gay gắt với các tập đoàn bán lẻ nước ngoài
Từ khi Việt Nam áp dụng chính sách mở cửa nền kinh tế cho đến nay thì thu nhập được cải thiện nên nhu cầu mua sắm ngày càng gia tăng Nhiều tập đoàn bán lẻ nước ngoài hùng mạnh vào Việt Nam với các sản phẩm đa dạng hơn, chuyên nghiệp hơn làm cho người tiêu dùng dần dần có mức đòi hỏi cao hơn về chất lượng hàng hóa và dịch vụ Người tiêu dùng giờ đây có nhiều cơ hội hơn để lựa chọn nơi nào mình cảm thấy phù hợp và thỏa mãn nhất như về phong cách phục vụ, các dịch vụ hỗ trợ chăm sóc khách hàng, trang thiết bị hỗ trợ
Co.op Mart là nhà bán lẻ hàng đầu Việt Nam và một trong 500 nhà bán lẻ hàng đầu Châu Á - Thái Bình Dương, chuỗi siêu thị Co.op Mart đã trở nên quen thuộc với người tiêu dùng Việt Nam, cho tới năm 2013 quy mô là 61 siêu thị trong toàn quốc Trong thị trường bán lẻ với những lợi thế nhất định về thị trường và sự hỗ trợ của các cơ quan nhà nước, hệ thống Co.op Mart cũng không nằm ngoài quy luật này Với bối cảnh kinh tế suy thoái vài năm gần đây, chính vì điều đó để giữ được khách hàng cũ và thu hút được khách hàng mới thì Co.op Mart phải không ngừng nâng cao chất lượng về hàng hóa và dịch vụ
Xuất pháp từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: Giải pháp nâng cao chất lượng
Trang 2dịch vụ khách hàng của hệ thống Siêu thị Co.op Mart giai đoạn 2012 - 2015
2 Mục tiêu của đề tài
Nghiên cứu sự tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ khách hàng tại Co.op Mart
Nghiên cứu các biến nhân khẩu học (độ tuổi, giới tính, học vấn, mức thu nhập trung bình ) ảnh hưởng đển chất lượng khách hàng tại Co.op Mart
Gợi ý các giải pháp nhằm nâng cao sự hài lòng cho khách hàng mua sắm tại Co.op Mart thông qua các số liệu khảo sát được đánh giá và phân tích dựa trên các các lý thuyết về sự thỏa mãn khách hàng và những kinh nghiệm rút ra từ cuộc khảo sát
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu : Chất lượng dịch vụ của khách hàng tại Co.op Mart
Khách thể nghiên cứu : Khách hàng mua sắm tại Co.op Mart từ năm 2012
Phạm vi nghiên cứu: Hiện tại hệ thống Co.op Mart gồm 61 siêu thị từ Bắc đến Nam Tuy nhiên, do giới hạn về kinh phí, thời gian nên đề tài tập trung nghiên cứu khảo sát khách hàng mua sắm tại các siêu thị Co.op Mart ở địa bàn Hồ Chí Minh
đủ để tạo ra lợi thế cạnh tranh một cách rõ ràng cho doanh nghiệp nữa Kết quả là việc tìm kiếm lợi thế cạnh tranh lại tiếp tục, lúc này họ chuyển sang sự chú ý là khách hàng
Sự thỏa mãn hài lòng của khách hàng được xem là là yếu tố cạnh tranh quan trọng
Do đó, đề tài chủ yếu tập trung vào phân tích và đánh giá dựa trên cách kết quả khảo sát để làm rõ việc cần nâng cao hơn nữa dịch vụ khách hàng là điều cần thiết và cấp bách
Trang 3* Tổng quan tình hình nghiên cứu
* Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Cho đến thời điểm hiện tại người viết chưa tiếp cận hay nhận được nghiên cứu đầy đủ và hoàn chỉnh của nước ngoài về vấn đề nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng của hệ thống Co.op Mart
* Tình hình nghiên cứu trong nước
Viết về chất lượng dịch vụ khách hàng và sự thỏa mãn của khách hàng đến nay theo như tác giả tìm hiểu thì có khá nhiều đề tài như:
Đo lường sự thỏa mãn khách hàng đối với
chất lượng dịch vụ do ngành điện cung cấp
Vũ Mạnh Hải 2007
Các yêu tố tác động vào sự thỏa mãn khách
hàng và hàm ý của nó đối với hoạt động kinh
doanh siêu thị tại Hồ Chí Minh
Nguyễn Thành Nhân
2003
Nghiên cứu các nhân tố tác động đến sự thỏa
mãn khách hàng khi mua các hóa mỹ phẩm
Lê Hữu Trang 2007
Viết về đề tài Co.op Mart cho đến nay khá nhiều học viên chọn đơn vị này trong đó
có các đề tài tiêu biểu như:
Trang 4Tên đề tài Tác giả Năm
Nghiên cứu mức độ thõa mãn của khách
hàng về chất lượng dịch vụ Siêu thị của hệ
thống siêu thị Co.op Mart tại Thành phố Hồ
Chí Minh
Trần Thị Quế Chi 2005
Xây dựng mô hình kinh doanh nhượng
quyền thương mại chuỗi cửa hàng bán lẻ
Đến nay chưa có 1 nghiên cứu đầy đủ, chuyên sâu nào về nâng cao chất lượng dịch
vụ khách hàng của hệ thống siêu thị Co.op Mart đặc biệt là từ sau 5 năm từ khi Việt Nam gia nhập WTO
5 Những nghiên cứu thực nghiệm hoặc lý thuyết
Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng các lý thuyết về dịch vụ khách hàng siêu thị,
lý thuyết về chất lượng, sự thỏa mãn của khách hàng, các mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ Xét theo tình hình thực tế các khách hàng đã sử dụng dịch vụ của hệ thống siêu thị Co.op Mart, kết quả về kinh doanh, chất lượng dịch vụ khách hàng, kết quả khảo sát
để chọn phương pháp phù hợp với luận văn
Theo đó, luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu như sau: Đề tài kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng thông qua các công cụ : Thống kê mô
tả, Cronbach Alpha, EFA, Hồi quy
6 Trình bày, đánh giá bàn luận các kết quả
Luận văn đã đạt được các kết quả sau:
Phần chương 1: Trình bày cơ sở lý thuyết, lý luận về dịch vụ, khái niệm về dịch vụ khách hàng, chất lượng dịch vụ, sự thỏa mãn của khách hàng, các mô hình đánh giá chất
Trang 5lượng dịch vụ , các nhân tố tác động chất lượng dịch vụ khách hàng của Siêu thị
Phần chương 2: Đi vào tổng quan về ngành kinh doanh siêu thị trên thế giới và Việt Nam đó là sự phát triển tất yếu của xã hội hiện nay Sau đó khái quát về Saigon Co.op đơn vị kinh doanh siêu thị hàng đầu Việt Nam Từ đó đi vào phân tích thực trạng kinh doanh và chất lượng dịch vụ khách hàng của siêu thị Co.op Mart và tổng quan về 1
số đối thủ cạnh tranh chính của Co.op Mart để thấy được tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng
Chương này thể hiện phương pháp nghiên cứu của luận văn bao gồm việc xây dựng thang đo chất lượng, mô hình và quy trình nghiên cứu, lấy mẫu, xử lý số liệu và kết quả của nghiên cứu sau khi xử lý số liệu bằng phần mền SPSS Các kết quả thể hiện chính trong đề tài gồm giới tính, nhóm tuổi, trình độ học vấn, kết quả hệ số tin cậy Crobach Alpha, phân tích nhân tố, đặt tên và giải thích nhân tố, phân tích hồi quy từ mô hình hiệu chỉnh, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự thỏa mãn khách hàng
Phần chương 3: Từ những dữ liệu thu thập được, dựa vào kế hoạch mục tiêu phát triển của Co.op Mart đến năm 2015, dựa vào kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng siêu thị Co.op Mart như phát triển nguồn nhân lực, cải tiến các chương trình khách hàng thành viên, VIP và tích lũy điểm, đa dạng hóa nguồn hàng hóa, đảm bảo chất lượng VSATTP, phát triển các dịch vụ
ăn uống, vui chơi trong siêu thị, cải thiện nâng cấp siêu thị hiện hữu và phát triển mạng lưới, đẩy mạnh hoạt động marketing, xây dựng quảng bá thương hiệu của Co.op Mart
Trang 6Dịch vụ khách hàng - Customer Care ( hay còn gọi là chăm sóc khách hàng ) là tất
cả những gì cần thiết mà doanh nghiệp phải làm để thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng, tức là phục vụ khách hàng theo cách mà họ muốn được phục vụ và làm những việc cần thiết để giữ khách hàng mình đang có Hay có thể hiểu rằng đó là tất cả những gì mà khách hàng nghĩ rằng đó là dịch vụ cần phải có dành cho mình
Dịch vụ khách hàng là một hệ thống được tổ chức để tạo ra mối liên kết mang tính liên tục từ khi tiếp xúc với khách hàng lần đầu cho đến khi sản phẩm được giao, nhận
và được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu khách hàng
Nếu dịch vụ khách hàng đơn thuần là việc cung cấp những gì khách hàng yêu cầu, chủ doanh nghiệp sẽ gặp phải những khó khăn trong việc làm hài lòng những khách hàng khó tính Tuy nhiên, nếu có cách hiểu rộng hơn về ý nghĩa của dịch vụ khách hàng,
là việc tạo cho khách hàng sự hài lòng, đáp ứng những nhu cầu khó nắm bắt hơn, đồng thời xây dựng một "dịch vụ khách hàng" ngay trong nội bộ công ty thì chắc chắn doanh nghiệp sẽ có ưu thế hơn đối thủ của mình trong việc cung cấp dịch vụ chăm sóc khách hàng
1.1.2 Phân loại dịch vụ khách hàng
Để phân loại được chính xác dịch vụ khách hàng đòi hỏi rất nhiều yếu tố Hơn nữa, mỗi một doanh nghiệp có nhiều hạng mục kinh doanh khác nhau nên định nghĩa với khách hàng cũng khác nhau do đó trước khi đi phân loại dịch vụ khách hàng ta cần phân loại khách hàng Đối với doanh nghiệp bán lẻ ta có thể phân loại khách như sau:
Trang 7có khuynh hướng hay trả lại sản phẩm Do vậy, tuỳ từng thời điểm hay nhu cầu kinh doanh cụ thể mới nên tập trung vào Phân đoạn khách hàng giảm giá
- Các khách hàng bốc đồng:
Khi doanh nghiệp thỏa mãn được phân đoạn khách hàng này, họ sẽ nhiệt tình giới thiệu cho người thân, bạn bè Do đó, doanh nghiệp nên đặt trọng tâm vào yếu tố hình thức và trình bày tới nhóm khách hàng này Họ sẽ là những “đại sứ” cung cấp những kiến thức và sự thấu hiểu về sản phẩm của doanh nghiệp với các khách hàng tiềm năng khác
- Các khách hàng dựa trên nhu cầu:
Các khách hàng ở dạng này được định hướng bởi những nhu cầu cụ thể Khi họ vào cửa hàng, siêu thị, họ sẽ nhìn xem liệu họ có thể nhanh chóng được đáp ứng tốt các nhu cầu hay không Nếu không, họ sẽ rời cửa hàng ngay
Họ mua sắm vì nhiều lý do khác nhau chẳng hạn một dịp kỷ niệm cụ thể, một nhu cầu đặc biệt, hay một mức giá xác định Mặc dù khá khó khăn để thoả mãn nhu cầu của các khách hàng này, song họ sẽ mau chóng trở thành những Khách hàng trung thành nếu họ nhận được sự chăm sóc tốt và chu đáo
Các nhân viên bán hàng có thể không thấy ở trong những khách hàng này nhiều điều thú vị để phục vụ, nhưng cuối cùng họ thường đại diện cho những nguồn lực tăng trưởng về dài hạn của doanh nghiệp Đặc biệt các doanh nghiệp rất dễ đánh mất các Khách hàng dựa trên nhu cầu vào những nhà bán lẻ khác hay những cửa hàng trực
Trang 8tuyến, nơi mà sự tiện lợi luôn ở mức tối đa
Để vượt qua mối đe doạ này, doanh nghiệp cần đảm bảo các giao tiếp cá nhân tích cực với họ từ những nhân viên bán hàng trực tiếp Nếu họ được đối xử tại một mức độ
mà các trang web hay những cửa hàng bán lẻ khác không thể cung cấp, cơ hội biến họ thành những Khách hàng trung thành là rất lớn Vì lý do này, các Khách hàng dựa trên nhu cầu luôn hứa hẹn tiềm năng về dài hạn, vượt trội cả những Khách hàng bốc đồng
- Các khách hàng lang thang:
Đối với nhiều công ty bán lẻ, đây là phân đoạn thị trường lớn nhất về mặt số đông, trong khi đem lại một tỷ lệ doanh số bán hàng nhỏ nhất Không có nhiều điều doanh nghiệp có thể làm với nhóm khách hàng này bởi vì con số các Khách hàng lang thang
có sẽ được định hướng bởi vị trí cửa hàng hơn bất cứ điều gì khác
Tuy nhiên, họ có thể không đại diện cho một tỷ lệ lớn doanh số bán hàng ngay tức khắc, song họ là những tiếng nói thực sự cho cộng đồng Rất nhiều Khách hàng lang thang mua sắm đơn thuần vì những giao tiếp và trải nghiệm của họ Trong suy nghĩ của các khách hàng này, việc mua sắm không có nhiều khác biệt so với việc họ tới phòng tập thể dụng mỗi ngày
Xuất phát từ việc tìm kiếm các giao tiếp cộng đồng, các Khách hàng lang thang rất thích thú với việc truyền đạt tới người khác những trải nghiệm của họ tại các cửa hàng mua sắm Vì vậy, mặc dù thời gian dành cho các khách hàng này nên ở mức tối thiểu, song doanh nghiệp không thể bỏ qua họ
Bán lẻ không chỉ là một nghệ thuật, mà phần nào còn là một ngành khoa học Khoa học chính là những thông tin có được từ tài chính cho đến nghiên cứu thị trường Nghệ thuật nằm ở việc doanh nghiệp vận hành các hoạt động kinh doanh như thế nào: cửa hàng, con người và sau chót là khách hàng
Đối với tất cả chúng ta, sức ép cạnh tranh chưa bao giờ lớn mạnh như ngày nay và
nó ngày một trở nên khó khăn vượt qua hơn bao giờ hết Để thành công, đòi hỏi sự kiên nhẫn và hiểu biết về các khách hàng cùng những cấu trúc hành vi định hướng cho quyết định mua sắm của họ
Trang 9Việc sử dụng sự hiểu biết này để biến những khách hàng giảm giá, khách hàng bốc đồng, khách hàng dựa trên nhu cầu và thậm chí cả khách hàng lang thang thành những khách hàng trung thành sẽ nhanh chóng dẫn tới các kết quả tăng trưởng mạnh mẽ doanh thu và lợi nhuận Song cùng thời gian, không thể bỏ qua việc đảm bảo các khách hàng trung thành - những người đem lại khoản lợi nhuận cốt lõi - có được một trải nghiệm mua sắm tuyệt vời mỗi lần họ ghé thăm cửa hàng
* Theo giai đoạn bán hàng:
Theo định nghĩa truyền thống thì khách hàng là bên có nhu cầu mua sản phẩm hoặc dịch vụ, cùng với sự coi trọng công tác phục vụ sau bán hàng và sự phát triển các hình thức khách hàng trên thị trường, các doanh nghiệp ngày nay ngày càng chú trọng duy trì khách hàng vốn có và mở rộng những khách hàng tiềm năng Vì thế, doanh nghiệp có thể căn cứ vào sự khác nhau của giai đoạn trước, trong và sau khi bán hàng để phân loại thông tin khách hàng: thông tin khách hàng tiềm năng, thông tin khách hàng hiện thời
và thông tin khách hàng trước đây
* Theo căn cứ vào khách hàng bên trong và bên ngoài:
Khách hàng bên ngoài là những người không thuộc doanh nghiệp và là đối tượng phục vụ của doanh nghiệp Khách hàng tiềm năng có nhu cầu về sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp, có khả năng thanh toán và doanh nghiệp có khả năng để tiếp cận Khách hàng tiềm năng như tiền trong tài khoản của công ty Nếu không đánh giá đúng khách hàng tiềm năng đồng nghĩa với việc lãng phí thời gian, doanh số và tiền bạc
Khách hàng nội bộ là những người cùng làm việc trong doanh nghiệp và sử dụng sản phẩm và dịch vụ của nhau để phục vụ khách hàng bên ngoài
Khách hàng bên ngoài là người trả lương cho ta (tiền), khách hàng nội bộ cho ta tình cảm (tình) Để sống, ta cần tiền bạc và tình cảm có nghĩa là cần khách hàng
Dựa theo định nghĩa trên, về cơ bản dịch vụ khách hàng siêu thị cũng như các dịch
vụ khác có 4 đặc điểm quan trọng là:
- Tính vô hình: Các dịch vụ đều vô hình Không giống như những sản phẩm vật chất, dịch vụ không thể nhìn thấy được, không nếm được, không cảm thấy được, không nghe thấy được hay không ngửi thấy được trước khi mua chúng Người tiêu dùng chỉ có
Trang 10thể nhận biết được dịch vụ khi đã sử dụng chúng
- Tính không tách rời được: Dịch vụ thường được sản xuất ra và tiêu dùng đi đồng thời Nếu dịch vụ do một người thực hiện thì người cung ứng là một bộ phận của dịch
vụ đó Với khách hàng cũng có mặt khi dịch vụ được thực hiện nên sự tác động qua lại giữa người cung ứng và khách hàng là một tính chất đặc biệt của marketing dịch vụ Cả người cung ứng lẫn khách hàng đều ảnh hưởng đến kết quả của dịch vụ Phải có nhu cầu, có khách hàng thì quá trình sản xuất dịch vụ mới có thể thực hiện được
- Tính không ổn định: Các dịch vụ rất không ổn định và nó phụ thuộc vào người thực hiện dịch vụ, thời gian và địa điểm thực hiện dịch vụ đó Các sản phẩm dịch vụ không thể tiêu chuẩn hóa được bởi do hoạt động cung ứng, các nhân viên dịch vụ không thể tạo ra được dịch vụ như nhau trong thời gian làm việc khác nhau Hơn nữa, người tiêu dùng cũng cảm nhận chất lượng dịch vụ khác nhau bởi cùng một sản phẩm dịch vụ,
họ cảm nhận giá trị cao hơn khi thỏa mãn nhu cầu riêng biệt của họ Dịch vụ vô hình ở đầu ra và quá trình sản xuất tiêu dùng diễn ra đồng thời nên không đo lường và chuẩn hóa được Đó là những yếu tố làm cho dịch vụ có tính không ổn định, không đồng nhất
- Tính không lưu giữ được: Dịch vụ không thể tồn kho, không cất trữ, vận chuyển được Dịch vụ có tính mau hỏng nên việc sản xuất và tiêu dùng bị giới hạn bởi thời gian Đặc điểm này làm mất cân đối trong quan hệ cung cầu của kinh doanh dịch vụ vào các thời điểm khác nhau trong ngày, trong tuần và trong tháng
1.1.3 Tầm quan trọng của dịch vụ khách hàng
Dịch vụ chăm sóc khách hàng là một yêu cầu cần thiết trong công việc kinh doanh Khách hàng ngày nay theo cách nói của các nhà kinh doanh họ là những con người đòi hỏi, muốn được cư xử nhã nhặn, được tôn trọng và được nghe những lời cảm ơn chân thật Những điều mà khách hàng cần hỏi khi mua sản phẩm dịch vụ là rất nhiều và gần như vô tận Vì vậy, hệ thống khách hàng theo một quy trình tận tình và chuyên nghiệp đang ngày càng quan trọng và cần thiết với các nhà kinh doanh
Trước đây, Marketing chỉ được hiểu là việc tập trung mọi nỗ lực để bán được hàng, chỉ đơn thuần xuất phát từ lợi ích doanh nghiệp Nhưng quan điểm Marketing hiện đại chỉ ra rằng mọi mối quan hệ sẽ khó lòng thực hiện được nếu chỉ phát sinh và duy trì dựa
Trang 11trên cơ sở lợi ích từ 1 phía
Vì vậy, thay đổi quan điểm Marketing cho đúng đắn và nhận thức một cách sâu sắc
về nó là rất cần thiết Marketing không nên chỉ xuất phát từ lợi ích doanh nghiệp mà nên xuất phát từ lợi ích của doanh nghiệp và khách hàng Việc hoạch định chiến lược càng chi tiết sẽ củng cố thêm thành công của doanh nghiệp Mặt khác việc nắm rõ các thông tin sự hiểu biết về khách hàng cũng như đối thủ cạnh tranh và thị trường sẽ làm tăng tính sáng tạo của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh
1.2 Lý thuyết về chất lượng
1.2.1 Khái niệm chất lượng
Chất lượng được định nghĩa là: " Đáp ứng hoặc vượt lên trên yêu cầu khách hàng trong hiện tại và tương lai " Điều đó có nghĩa chất lượng được đánh giá ở mức độ hài lòng của khách hàng hay là sự thỏa mãn nhu cầu của khách hàng về sản phẩm, khách hàng sẽ thỏa mãn khi sản phẩm hay dịch vụ phù hợp với mục đích sử dụng của khách hàng
Bản thân chất lượng là một trong bốn mục tiêu chính của hoạt động sản xuất, kinh doanh, đi cùng với chi phí, sự linh động và hoạt động giao hàng (Schroeder, Roger G 2003) Chất lượng được xem không chỉ là một hoạt động sản xuất mà nó còn là điều
gì đó mà toàn bộ tổ chức cần nỗ lực cho khách hàng Chất lượng là nền tảng cho sự thành công trong bất cứ lĩnh vực kinh doanh nào và được xem như một nhân tố chính yếu trong việc đạt được và duy trì lợi thế cạnh tranh vì thế giờ đây chất lượng còn có nghĩa bao gồm sự cải tiến liên tục, lợi thế cạnh tranh và tập trung vào khách hàng
1.2.2 Khái niệm chất lượng dịch vụ
Từ những năm 1930 chất lượng trong lĩnh vực sản xuất đã được xác định như một yếu tố để cạnh tranh, nhưng yếu tố chất lượng thực sự trở nên quan trọng kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 Những tác giả tiên phong trong lĩnh vực này là W.Edwards Deming, Joseph M.Juran và Kaoru Ishikawa Còn lĩnh vực dịch vụ mới phát triển trong vài thập kỷ gần đây Vì thế để định nghĩa, đánh giá cũng như quản lý chất lượng trong lĩnh vực này đều xuất phát từ lĩnh vực sản xuất
Trang 12Theo Parasuraman & ctg, là một trong những người đi tiên phong trong nghiên cứu chất lượng dịch vụ và được đánh giá là khá toàn diện cho rằng: chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi của khách hàng về những tiện ích mà dịch vụ mang lại cho họ và nhận thức của họ sau khi đã sử dụng dịch vụ đó (Parasurman, Zeithaml and Berry, 1985,1988)
Đây được xem là khái niệm tổng quát bao hàm đầy đủ ý nghĩa của dịch vụ, đồng thời cũng chính xác nhất khi xem chất lượng dịch vụ đứng trên quan điểm của khách hàng
1.2.3 Sự thỏa mãn của khách hàng
Sự thỏa mãn của khách hàng là mức độ của trạng thái cảm giác của một khách hàng bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ việc tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ với những kỳ vọng của họ trước đó Mức độ hài lòng phụ thuộc sự khác biệt giữa kết quả nhận được và kỳ vọng, nếu kết quả thực tế thấp hơn kỳ vọng thì khách hàng không hài lòng, nếu kết quả thực tế tương xứng với kỳ vọng thì khách hàng sẽ hài lòng, nếu kết quả thực tế cao hơn kỳ vọng thì khách hàng rất hài lòng
Phương châm hoạt động của các công ty kinh doanh là phải thỏa mãn nhu cầu của khách hàng vì khách hàng là nguồn doanh thu và lợi nhuận của công ty Khi khách hàng hài lòng với hàng hóa, chất lượng dịch vụ của công ty thì khả năng tiếp tục mua lại sản phẩm của công ty là rất cao Mặt khác, khi họ thỏa mãn họ sẽ có xu hướng giới thiệu và nói tốt về sản phẩm của công ty với người khác Sự thỏa mãn của người tiêu dùng đối với dịch vụ là cảm xúc đối với công ty kinh doanh dịch vụ dựa trên việc tiếp xúc hay giao dịch với công ty
Chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn là hai khái niệm khác nhau nhưng có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau trong nghiên cứu về dịch vụ (Parasuraman & ctg, 1988) Các nghiên cứu trước đây cho thấy chất lượng dịch vụ là nguyên nhân dẫn đến sự thỏa mãn
Lý do là chất lượng dịch vụ liên quan đến việc cung cấp dịch vụ còn sự thỏa mãn chỉ được đánh giá sau khi đã sử dụng dịch vụ đó Nếu chất lượng dịch vụ được cải thiện nhưng không dựa trên nhu cầu của khách hàng thì không bao giờ khách hàng hài lòng
và thỏa mãn với chất lượng dịch vụ đó Do đó khi sử dụng dịch vụ, nếu khách hàng cảm
Trang 13nhận được rằng dịch vụ đó có chất lượng cao thì khách hàng sẽ thỏa mãn với dịch vụ đó
Và ngược lại, nếu họ cảm nhận rằng dịch vụ đó có chất lượng thấp thì họ sẽ không hài lòng Trên cơ sở đó chúng ta có giả thuyết như sau: Có mối quan hệ cùng chiều giữa các yếu tố của chất lượng dịch vụ siêu thị và sự thỏa mãn của khách hàng
Sự thoả mãn của khách hàng có vai trò đặc biệt quan trọng quyết định sự thành bại của doanh nghiệp Đây là nhân tố chính mang lại thành công cho doanh nghiệp đang kinh doanh trên bất cứ lĩnh vực nào Tìm hiểu xem những gì khách hàng nói về hoạt động kinh doanh của công ty và để xem chỗ nào công ty cần cải tiến hơn nữa, điều này
sẽ đảm bảo rằng công việc kinh doanh của công ty luôn luôn đáp ứng sự mong mỏi của khách hàng
Nghiên cứu sự thoả mãn của khách hàng là một tất yếu trong kinh doanh Một cuộc điều tra sự thoả mãn của khách hàng (Customer Satisfaction Survey) không chỉ giúp nhận ra các thiếu sót trong kinh doanh, mà còn thể hiện cho khách hàng thấy rằng công
ty thực sự quan tâm tới họ và mong muốn tìm ra những cách tối ưu nhằm cải thiện chất lượng dịch vụ Sự thỏa mãn, hài lòng của khách hàng có những ảnh hưởng tới lòng trung thành với thương hiệu của nhà sản xuất Yếu tố thực sự quyết định lòng trung thành của khách hàng là giá trị dành cho khách hàng Giá trị khách hàng tạo ra sự hài lòng - mức độ thỏa mãn của khách hàng Doanh nghiệp cần đo lường mức độ thỏa mãn của khách hàng của mình và của đối thủ cạnh tranh trực diện Những thông tin về giảm sút mức độ thỏa mãn của khách hàng của doanh nghiệp so với khách hàng của đối thủ là tín hiệu báo trước về tình trạng mất khách hàng, giảm thị phần trong tương lai
1.2.4 Mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ
Mô hình chất lượng của dịch vụ của Parasuraman & ctg với 5 khoảng cách chất lượng dịch vụ ( sơ đồ 1.1)
Mô hình chất lượng này cho chúng ta một bức tranh tổng thể về chất lượng dịch vụ với 5 khác biệt được thể hiện:
- Khác biệt thứ 1: Khi có sự khác biệt giữa kỳ vọng của khách hàng về chất lượng dịch vụ và nhà quản trị cảm nhận về sự kỳ vọng này của khách hàng
Trang 14- Khác biệt thứ 2: Khi công ty dịch vụ gặp khó khăn trong việc chuyển đổi nhận thức của mình về kỳ vọng của khách hàng thành những đặc tính của chất lượng dịch
vụ
Sơ đồ 1.1: Mô hình chất lượng dịch vụ của Parasuraman
- Khác biệt thứ 3: Khi nhân viên dịch vụ không chuyển giao dịch vụ cho khách hàng theo những tiêu chí đã được xác định Trong các ngành dịch vụ, sụ tiếp xúc của nhân viên với khách hàng có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc cảm nhận về chất lượng dịch vụ khách hàng, nhưng nhiều khi các nhân viên này lại không thực hiện theo đúng những gì đã được đề ra
- Khác biệt thứ 4: Khi những kỳ vọng cuả khách hàng có thể được gia tăng thông qua những gì mà họ được hứa hẹn như trên pano quảng cáo, phương tiện truyền thông Nhưng lại không giống những gì mà họ nhận được từ nhà cung cấp dịch vụ
Trang 15- Khác biệt thứ 5: Khi có sự khác biệt giữa chất lượng kỳ vọng bởi khách hàng và chất lượng họ cảm nhận được Chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào khoảng cách này đó
là khi khách hàng cảm thấy không có sự khác biệt giữa chất lượng họ kỳ vọng và chất lượng họ cảm nhận được khi tiêu dùng thì chất lượng của dịch vụ đó được xem là hoàn hảo
Nhưng khác biệt thứ 5 này lại phụ thuộc vào các khoảng cách trước đó Do đó, để làm tăng chất lượng dịch vụ thì các nhà quản trị cần tìm cách để rút ngắn khoảng cách này
Mô hình năm khác biệt là mô hình tổng quát, mang tính chất lý thuyết về chất lượng dịch vụ Để có thể thực hành được, Parasuraman et al đã cố gắng xây dựng thang đo dùng để đánh giá chất lượng trong lĩnh vực dịch vụ, theo ông bất kỳ dịch vụ nào chất lượng cũng được khách hàng cảm nhận dựa trên 10 thành phần sau:
1 Tin cậy (reliability)
9 Hết lòng vì khách hàng (understanding the customer)
10 Phương tiện hữu hình (tangbles)
Mô hình này có ưu điểm bao quát hầu hết mọi khía cạnh của dịch vụ, tuy nhiên rất khó khăn trong việc đánh giá và phân tích Năm 1988, Parasuraman et al đã hiệu chỉnh lại và hình thành mô hình mới gồm năm thành phần (Bảng 1.2)
Trang 16Bảng 1.2: Mô hình khoảng cách gốc (1985) và mô hình hiệu chỉnh (1988) đánh giá
chất lượng dịch vụ của Parasuraman Et Al
Mô hình gốc (1985) Mô hình hiệu chỉnh (1988)
Phương tiện hữu hình Phương tiện hữu hình
Các tác giả này đã khởi xướng và sử dụng nghiên cứu định tính và định lượng để xây dựng và kiểm định thang đo các thành phần chất lượng dịch vụ (gọi là thang đo SERVQUAL) Thang đo SERVQUAL được điều chỉnh và kiểm định ở nhiều loại hình dịch vụ khác nhau
Khi bộ thang đo SERVQUAL (Parasuraman và cộng sự, 1988) được công bố đã có những tranh luận về vấn đề làm thế nào để đo lường chất lượng dịch vụ một cách tốt nhất Gần hai thập kỷ sau đó, nhiều nhà nghiên cứu đã tập trung nỗ lực chứng minh tính hiệu quả của bộ thang đo SERVQUAL
Bộ thang đo gồm 2 phần, mỗi phần có 22 phát biểu Phần thứ nhất nhằm xác định
kỳ vọng của khách hàng đối với loại dịch vụ của doanh nghiệp nói chung Nghĩa là không quan tâm đến một doanh nghiệp cụ thể nào, người được phỏng vấn cho biết mực
Trang 17độ mong muốn của họ đối với dịch vụ đó Phần thứ hai nhằm xác định cảm nhận của khách hàng đối với việc thực hiện dịch vụ của doanh nghiệp khảo sát Nghĩa là căn cứ vào dịch vụ cụ thể của doanh nghiệp được khảo sát để đánh giá Kết quả nghiên cứu nhằm nhận ra các khoảng cách giữa cảm nhận khách hàng về chất lượng dịch vụ do doanh nghiệp thực hiện và kỳ vọng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ đó Cụ thể theo mô hình SERVQUAL, chất lượng dịch vụ được xác định như sau:
& ctg (2003) kiểm định SERVQUAL cho thị trường khu vui chơi giải trí ngoài trời tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy chất lượng dịch vụ này bao gồm bốn thành phần là độ tin cậy, khả năng phục vụ của nhân viên, sự đồng cảm và phương tiện hữu hình Để kết luận do đặc thù của mỗi loại hình dịch vụ nên nhà nghiên cứu cần phải điều chỉnh thang
đo SERVQUAL cho từng nghiên cứu cụ thể
Việc sử dụng mô hình chất lượng và khoảng cách làm cơ sở cho việc đánh giá chất lượng dịch vụ cũng có nhiều tranh luận (Carmen, 1990; Babakus &Boller, 1992; Cronin
& Taylor, 1992) Cronin & Taylor, 1992 với mô hình SERVQERE, cho rằng mức độ cảm nhận của khách hàng đối với sự thực hiện dịch vụ của doanh nghiệp phán ánh tốt nhất chất lượng dịch vụ Theo mô hình SERVPERE thì :
Chất lượng dịch vụ = Mức độ cảm nhận
Kết luận này đã được đồng tình bởi các tác giả khác như Lee và cộng sự (2000), Brady và cộng sự (2002) Bộ thang đo SERVPERE cũng sử dụng 22 phát biểu tương tự như phần hỏi về cảm nhận của khách hàng trong mô hình SERVQUAL, bỏ qua phần kỳ
Trang 18vọng
Riêng Dabholka & ctg (1996) dựa vào nghiên cứu định tính, lý thuyết dịch vụ và thang đo SERVQUAL đã đưa ra năm thành phần của chất lượng dịch vụ bán lẻ, bao gồm: phương tiện hữu hình, độ tin cậy, nhân viên phục vụ, giải quyết khiếu nại và chính sách của cửa hàng Tuy nhiên thang đo của Dabholka & ctg (1996) được phát triển và kiểm định tại Mỹ, môi trường văn hóa và điều kiện phát triển của hệ thống siêu thị khác với tình hình của Việt Nam
Chính vì vậy, trong đề tài này tác giả sử dụng thang đo Sevqual vì tính ứng dụng rộng rãi và đã qua kiểm định của nhiều nghiên cứu
1.2.5 Các nhân tố tác động chất lượng dịch vụ khách hàng của siêu thị
Việc làm khách hàng hài lòng đă trở thành một tài sản quan trọng đối với các doanh nghiệp và tổ chức trong nỗ lực nâng cao chất lượng dịch vụ, để từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Thực tế kinh doanh cho thấy, một doanh nghiệp nếu gia tăng được 5% khách hàng trung thành nhờ sự hài lòng của họ về sản phẩm, dịch vụ, thì lợi nhuận sẽ tăng lên được khoảng 25% đến 85% Các yếu tố sau quyết định đến chất lượng dịch vụ khách hàng của hệ thống siêu thị nói riêng và mọi doanh nghiệp noi chung mà khách hàng cảm nhận được
* Giá cả của sản phẩm
Theo điều tra 17% khách hàng từ chối mua hàng bởi vì giá Một số khách chỉ thích đến những chỗ bán rẻ, chỉ mua khi có đợt hạ giá, nhiều người trước khi mua thường so sánh giá cả rồi quyết định mua chỗ rẻ nhất…Tuy nhiên, việc xác định giá là dựa trên khách hàng mục tiêu của doanh nghiệp Tổ chức phải xác định với những giá trị mang lại cho khách hàng thấy giá như vậy là chấp nhận được không? Phải thay đổi như thế nào? Khi giá cả được khách hàng cảm nhận cao hoặc thấp thì mức độ hài lòng của khách hàng sẽ giảm hoặc tăng tương ứng.Giá cả được xem như nhận thức của người tiêu dùng về việc từ bỏ hoặc hy sinh một cái gì đó để được sở hữu một sản phẩm hoặc một dịch vụ (Zeithaml, 1988) Một trong những phương thức để thông tin (quảng cáo)
ra bên ngoài về dịch vụ là giá cả của dịch vụ (Zeithaml and Bitner, 2000) Trong khi đó ảnh hưởng của giá vào sự hài lòng khách hàng ít nhận được sự quan tâm của các nhà
Trang 19nghiên cứu, hơn là các nhân tố khác (Spreng, Dixon, and Olshavsky, 1993; Voss et al., 1998; Bolton and Lemon, 1999; Varki and Colgate, 2001) theo Zeithaml and Bitner (2000) cho rằng giá của dịch vụ có thể ảnh hưởng rất lớn vào nhận thức về chất lượng dịch vụ, hài lòng và giá trị Bởi sản phẩm dịch vụ có tính vô hình nên thường rất khó để đánh giá trước khi mua, giá cả thường được xem như công cụ thay thế mà nó ảnh hưởng vào sự hài lòng về dịch vụ mà người tiêu dùng sử dụng
* Chất lượng sản phẩm
Theo tiêu chuẩn ISO 9000:2000, chất lượng sản phẩm là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu Mức của chất lượng có thể ở các dạng kém, trung bình, tốt, tuyệt hảo…
Định nghĩa chất lượng này xuất phát từ lĩnh vực sản xuất Nhưng sản phẩm dịch vụ
có đặc điểm vô hình, không thể cân đo đong đếm và rất khó kiểm soát chất lượng; không đồng nhất và thay đổi theo khách hàng, theo thời gian; không thể tách ly, nhất là những dịch vụ có hàm lượng lao động cao và không thể tồn kho Đánh giá chất lượng dịch vụ không dễ dàng, cho đến nay còn rất nhiều tranh cãi giữa các nhà lý thuyết cũng như các nhà nghiên cứu trong việc định nghĩa, đánh giá chất lượng dịch vụ Tuy nhiên, định nghĩa và phương pháp đánh giá chất lượng được các nhà nghiên cứu hay đề cập trong các nghiên cứu của mình
Tóm lại, sự thỏa mãn khách hàng về chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa kỳ vọng và cảm nhận của khách hàng về dịch vụ Sự thỏa măn khách hàng được đánh giá dựa trên năm thành phần: tin cậy, năng lực phục vụ, đáp ứng, phương tiện hữu hình, và cảm thông Trong khi đó giá cả được xem như nhận thức của người tiêu dùng về việc từ
bỏ hoặc hy sinh một cái gì đó để được sở hữu một sản phẩm hoặc một dịch vụ
* Công dụng, lợi ích sản phẩm,dịch vụ
Lợi ích của sản phẩm, dịch vụ mang lại có phù hợp?
Tính thuận tiện trong việc sử dụng sản phẩm,dịch vụ
* Thời gian cung cấp dịch vụ.
Thời gian cung cấp dịch vụ là một trong những yếu tố quyết định tạo ra lợi thế
Trang 20cạnh tranh của doanh nghiệp Thời gian cung cấp dịch vụ thường được đo lường từ khi đặt hàng đến khi nhận được hàng Tổ chức cần phải xác định các yếu tố:
- Mức độ quan trọng về thời gian cung cấp dịch vụ đối với khách hàng
- Thời gian chuẩn cung cấp dịch vụ là bao nhiêu?
- Làm thế nào để giảm thời gian cung cấp dịch vụ…
* Bảo hành sản phẩm:
Tổ chức cần xác định mức thoả măn của khách hàng về bảo hành sản phẩm theo các yếu tố sau đây:
-Chất lượng dịch vụ bảo hành nói chung
-Thời gian xử lý bảo hành khi nhận được yêu cầu
-Chất lượng sản phẩm sau bảo hành
-Thái độ phục vụ của nhân viên bảo hành
-Các dịch vụ khác…
Nhiều tổ chức sau bán hàng, thường không để ý đến khách hàng nữa; điều này
vô tình làm giảm sự thoả mãn khách hàng với công ty
* Thanh toán
Đối với nhiều loại hình kinh doanh và đặc biệt là loại hình kinh doanh siêu thị thì các hoạt động thanh toán trước hay sau thường xuyên diễn ra, vì vậy cần xác định các phương pháp tín dụng nào là tốt nhất cho khách hàng mục tiêu, các nội dung xem xét có thể bao gồm:
-Giảm giá hay chiết khấu khi mua hàng nhiều
-Thanh toán nhiều lần
-Thời gian và số lượng phải thanh toán mỗi lần…
* Tinh thần thái độ phục vụ của cán bộ công nhân viên
Sự quan tâm: 92% số khách hàng được hỏi cho biết sẽ chấm dứt hợp tác nếu
Trang 21không nhận được sự quan tâm.
Coi thường khách hàng: 67% khách hàng cho biết họ sẽ ngừng hợp tác nếu cảm thấy bị coi thường
Không nhiệt tình: 88% khách hàng được hỏi sẽ chấm dứt hợp tác khi họ không nhận được sự nhiệt tình từ phía đối tác
Thiếu sự giúp đỡ - không hiểu biết về nhu cầu: 81% khách hàng từ bỏ nếu họ cảm thấy rằng đối phương không có thiện chí giúp đỡ hoặc không chú ý đến nhu cầu của khách hàng
1.8 Tác phong làm việc chuyên nghiệp của nhân viên:
Theo điều tra 75% khách hàng không cảm thấy hài lòng và dần dần từ bỏ việc cộng tác nếu phía đối tác không nắm vững những kiến thức cơ bản về sản phẩm
Trang 221.3 TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Đây là chương cơ sở lý luận cho toàn bài, theo đó chú trọng vào lý thuyết khái niệm dịch vụ, dịch vụ khách hàng siêu thị, tầm quan trọng của dịch vụ khách hàng Và để đánh giá được khách hàng có thỏa mãn hay không thì dựa theo cơ sở, tiêu chí như thế nào
Tiếp đó tác giả giới thiệu về 2 mô hình là mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ của Parasuraman và mô hình chỉ số lý thuyết hài lòng của khách hàng Từ đó, quyết định lựa chọn mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ của Parasuraman để đi nghiên cứu cho đề tài
Trang 23CHƯƠNG 2:
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀ CHẤT LƯỢNG
DỊCH KHÁCH HÀNG CỦA HỆ THỐNG SIÊU THỊ CO.OP MART
2.1 Tổng quan về Siêu thị - hình thức phân phối hiện đại trên thế giới
Sự ra đời của siêu thị là đổi mới phương thức bán hàng từ những cửa hàng tổng hợp cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20
Tại Mỹ: Năm 1879 nguồn gốc của phương thức kinh doanh siêu thị được coi là thực
sự ra đời với ý tưởng giảm giá bán, giảm lợi nhuận biên để tăng doanh thu Siêu thị đầu tiên ra đời là 4/8/1930 tại Mỹ do Michelle Cullen sáng lập Giá bán thấp song tấc độ quay vòng hàng hóa nhanh và mức quay vòng khoảng 8-9% Theo M Cullen, công thức chung cho siêu thị là:
Hàng thực phẩm và đồ gia dụng + giá rẻ + tự phục vụ + chi phí thấp + bãi đỗ xe
Những chuỗi cửa hàng bán lẻ khác cũng được hình thành năm 1930 như Krogger và Safeway lúc đầu chống lại ý tưởng của Cullen nhưng sau đó cũng xây dựng siêu thị như công thức chung nói trên Nhưng Krogger có sáng kiến hơn khi xây dựng siêu thị với 4 mặt là bãi giữ xe
Siêu thị nhanh chóng phát triển khắp nước Mỹ và lan rộng đến khắp ngoại ô sau chiến tranh thế giời thứ 2 Năm 1962, Cửa hàng đầu tiên của Walmart - tập đoàn bán lẻ nhất thế giới đã ra đời
Tại Pháp: Cửa hàng lớn đầu tiên là La Bell Jardi - Niere, do Pierre Parissot thành
lập ở Paris năm 1824 có phương thức bán hàng đã làm đảo lộn các tập quán mua bán hàng trước đây đó là bán theo giá cố định và thu tiền mặt đó là dựa trên 2 nguyên tắc lớn: sự bán hàng mặc cả về giá hàng giữa người bán - người mua và bán chịu
Năm 1852 Au Bon Marche' Do Aristide Boucicaut cùng với cộng sự là Justin Videau sáng lập có đặc trưng giống siêu thị, tiên phong trong việc áp dụng phương thức bán hàng cải tiến so với những phương thức truyền thống đã có từ trước: hàng hóa được niêm yết giá và dán nhãn rõ ràng, nhiều hàng hóa, quảng cáo, giảm giá bán làm tăng doanh thu bán hàng, khách hàng tự do tiếp xúc, xem xét hàng hóa và không bắt buộc
Trang 24phải mua Bardour là người khai trương siêu thị đầu tiên tại Pháp, chuỗi cửa hàng liên hàng Goulet Tourpin mới ra vào năm 1957 tại Reuil Malmaison Đến 1973 thì đã có hàng nghìn siêu thị tại Pháp, các nhà bán lẻ đã phát triển thành các đại siêu thị (Hypermarket) Đại siêu thị đầu tiên có tên là Caffefour khai trương ngày 15/06/1963 tại Sainte Genevieve - Des Bois, Paris
Hiện nay, Caffefour là nhà bán lẻ đứng thứ 2 trên thế giới Walmart luôn đứng đầu trong top 25, Metro xếp thứ 5, Tesco đứng thứ 6 Từ năm 2002 đến nay Walmart luôn đứng đầu trong danh sách Fortune 500 và được xem là "công ty được ngưỡng mộ nhất ở Mỹ" và nằm trong danh sách 25 nhà kinh doanh có thể làm thay đổi thế giới do CNN và tạp chí Fortune bình chọn, Walmart có doanh thu lớn nhất trong số các công ty bán lẻ trên thế giới, vượt xa công ty bán lẻ đứng thứ 2 là Carrefour Doanh thu của công ty bán
lẻ Caffefour này chỉ gần bằng 1/2 so với Walmart
Tại Châu Á, do sự phát triển kinh tế chậm nên siêu thị cũng xuất hiện muộn hơn, siêu thị chính chức có mặt tại các quốc gia Châu Á cùng với sự khởi sắc của nền kinh tế Châu Á Dẫn đầu là Nhật, Đài Loan, Hàn Quốc, HongKong, Singapore Dần dần siêu thị phát triển rộng khắp các nước Châu Á khác
2.2 Tổng quan về ngành kinh doanh siêu thị Việt Nam
2.2.1 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của Siêu thị tại Việt Nam
Siêu thị chính thức xuất hiện đầu tiên ở nước ta năm 1993 khi Công ty Vũng Tàu Sinhanco khai trương "Siêu thị" Minimart tại thành phố Hồ Chí Minh Minimart có quy
mô nhỏ, số lượng mặt hàng bày bán và doanh thu hàng ngày thấp, chủ yếu phục vụ cho đối tượng khách nước ngoài
Những năm sau đó, một số siêu thị lớn hơn đã xuất hiện ở khu vực trung tâm và dần lan ra các vùng ven đô của thành phố Hồ Chí Minh như Gò Vấp, Tân Bình Hai siêu thị lần đầu được khai trương ở Hà Nội là siêu thị thuộc Trung tâm thương mại số 7-9 Đinh Tiên Hoàng (1/2995) và siêu thị Minimart Hà Nội tại tầng hầm II-Chợ Hôm (3/1995) Đến cuối năm 1995, Việt Nam có 10 siêu thị lớn nhỏ nằm ở 6 tỉnh, thành phố trong cả nước
Trải qua hai thời kỳ thực hiện thành công kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm
Trang 251996-2000 và 2001 -2005, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu ấn tượng, tăng trưởng kinh tế tương đối nhanh và ổn định Thu nhập và mức sống của người dân ngày được nâng cao, môi trường xã hội đã tạo rất nhiều thuận lợi cho hệ thống siêu thị ở Việt Nam hình thành và phát triển, nhất là ở các thành phố và đô thị lớn của cả nước như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng và một số thành phố khác
Theo số liệu thống kê của Bộ thương mại, tính đến ngày 30 tháng 09 năm 2005, số lượng siêu thị trong cả nước lên tới con số 265 siêu thị, nhiều gấp 26.5 lần so với cách đây 10 năm Hơn nữa, nếu như năm 1996, siêu thị chỉ có ở 6 tỉnh thành thì hiện nay, con
số đó đã lên tới 32 tỉnh thành dọc theo chiều dài đất nước từ Lạng Sơn đến Cà Mau
Tình hình cụ thể về việc phát triển hệ thống siêu thị qua các năm được tổng hợp qua bảng số liệu 2.1
Bảng 2.1: Tình hình siêu thị mới mở cửa hàng giai đoạn từ 1996 - 2004
2004 đã mở thêm 32 siêu thị, chiếm tới 68% số siêu thị mới của cả nước trong năm
Nhìn vào bảng 2.1 nhận thấy các siêu thị của Việt Nam vẫn tập chung chủ yếu ở Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh với trên 70% số lượng siêu thị của cả nước
Khoảng thời gian từ năm 2008 - 2011 lượng siêu thị tăng nhanh và bùng phát từ sau
sự kiện Việt Nam gia nhập WTO
Trang 26Bảng 2.2 Số lượng siêu thị theo vùng miền từ năm 2008 -2011
Quy mô siêu thị:
Trải qua gần 20 năm hình thành và phát triển, hệ thống siêu thị của Việt Nam hoạt động với nhiều quy mô khác nhau Theo đó giai đoạn 1996-2004 phần lớn các siêu thị
có mặt bằng kinh doanh quá nhỏ, số lượng hàng hóa bày bán ít, điều kiện trang thiết bị
kỹ thuật và dịch vụ phục vụ khách hàng nghèo nàn, chưa đáp ứng được tiêu chuẩn của một siêu thị được quy định tại Quy chế siêu thị, trung tâm thương mại
Bảng 2.3: Phân hạng siêu thị theo quy chế hiện hành
Diện tích kinh Số lượng tên hàng
Trang 27Hạng 2 Siêu thị kinh doanh tổng hợp 2.000 10.000
Đối chiếu với tiêu chuẩn phân hạng siêu thị của Việt Nam trong quy chế siêu thị Giai đoạn đầu từ 1996 -2004 Siêu thị Việt Nam đa phần quy mô nhỏ và rất nhỏ Theo thống kê của Bộ Thương Mại, năm 2005 thì cả nước có khoảng 33% số lượng siêu thị chưa đáp ứng được tiêu chuẩn phân hạng của siêu thị, 44,7% số lượng siêu thị thuộc tiêu chuẩn 3, 11,5% thuộc hạng 2 và chỉ khoảng 11,6% đạt tiêu chuẩn siêu thị hạng 1
Trong giai đoạn 2008 -2011 Tổng cục thông kê đã thông kê và phân hạng được như sau:
Bảng 2.4: Số lượng siêu thị từ năm 2008 - 2011 theo phân hạng Các hình thức siêu thị
Trang 28Các siêu thị kinh doanh tổng hợp thường có tập hợp hàng hóa rộng và độ sâu của tập hợp tùy thuộc vào quy mô siêu thị Hàng hóa bán trong các siêu thị kinh doanh tổng hợp của Việt Nam ít cũng vài ngàn mặt hàng (siêu thị loại III cũng có tập hợp tối thiểu
là 4000 mặt hàng) nhiều thì có thể lên tới vài chục đến hàng trăm ngàn tên hàng (siêu thị loại I có tập hợp hàng hóa tối thiểu là 20.000 mặt hàng)
Hàng hóa trong siêu thị tổng hợp đa số là hàng tiêu dùng thông thường và hàng thiết yếu như thực phẩm, quần áo, giày dép, đồ gia dụng Có chất lượng đảm bảo và mức giá bán hợp lý trong tương quan với chất lượng
Ngoài siêu thị kinh doanh tổng hợp, ở Việt Nam rất phổ biến loại siêu thị chuyên doanh Thực ra ở nước ngoài đây là hệ thống cửa hàng chuyên doanh ( không gọi là siêu thị) Điển hình có thể kể đến chuỗi siêu thị của Tổng công ty dệt may (Vinatex) trên phạm vi cả nước chuyên bán hàng may mặc và thời trang Những siêu thị chuyên doanh
có thể là siêu thị sách, siêu thị nội thất, siêu thị hàng điện máy, siêu thị hoa quả
Cùng với sự phát triển của thương mại điện tử (TMĐT) ở Việt Nam cũng đã xuất hiện các siêu thị điện tử hay siêu thị ảo Siêu thị Cyber-Mall là siêu thị ảo trên mạng điện tử VNN do Trung tâm dịch vụ giá trị gia tăng (VASC) của Công ty điện tóan và truyền số liệu xây dựng Trong siêu thị có khoảng 500 mặt hàng và hiện có hơn 3.000 khách hàng trong và ngoài nước đã đặt mua các thiết bị viễn thông, tin học, oto, sách báo, hàng tiêu dùng
Đến nay gần 20 năm hình thành và phát triển, chúng ta đã có một hệ thống siêu thị tương đối hoàn chỉnh từ các siêu thị nhỏ tới đại siêu thị ở các thành phố và các đô thị lớn với đa dạng các thương hiệu trong nước và tập đoàn nước ngoài Giờ đây, thuật ngữ siêu thị đã trở nên quen thuộc đối với người dân ở mọi miền tổ quốc
Kinh doanh siêu thị ra đời đã mở ra và thay đổi diện mạo ngành thương mại bán lẻ của đất nước, mở ra một loại cửa hàng văn minh, hiện đại và tiện nghi cho người mua sắm Việt Nam, làm thay đổi cả các thói quen mua sắm truyền thống và đóng gọi vào sự phát triển kinh tế, xã hội đất nước nói chung
2.2.2 Giới thiệu về liên hiệp hợp tác xã Saigon Co.op
Sau đại hội Đảng lần thứ VI, nền kinh tế đất nước chuyển từ cơ chế bao cấp
Trang 29sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN Mô hình kinh tế Hợp tác xã kiểu
cũ không còn được bao cấp, thật sự khó khăn và lâm vào tình thế khủng hoảng phải giải thể hàng loạt Trong bối cảnh như thế, ngày 12/5/1989 UBND Thành phố Hồ Chí Minh có chủ trương chuyển đổi Ban Quản lý HTX Mua Bán Thành phố trở thành Liên hiệp HTX Mua bán Thành phố Hồ Chí Minh - Saigon Co.op với hai chức năng: trực tiếp kinh doanh và tổ chức vận động phong trào HTX Saigon Co.op là tổ chức kinh tế HTX theo nguyên tắc xác lập sở hữu tập thể, hoạt động sản xuất kinh doanh
tự chủ và tự chịu trách nhiệm
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước, các nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam làm cho các doanh nghiệp phải năng động và sáng tạo để nắm bắt các cơ hội kinh doanh, học hỏi kinh nghiệm quản lý từ các đối tác nước ngoài Saigon Co.op đã khởi đầu bằng việc liên doanh liên kết với các công ty nước ngoài
để gia tăng thêm nguồn lực cho hướng phát triển của mình Là một trong số ít đơn vị
có giấy phép XNK trực tiếp của Thành phố, hoạt động XNK phát triển mạnh mẽ mang lại hiệu quả cao, góp phần xác lập uy tín, vị thế của Saigon Co.op trên thị trường trong và ngoài nước
Sự kiện nổi bật nhất là sự ra đời siêu thị đầu tiên của Hệ thống Co.opMart và của Việt nam là Siêu thị Co.opMart Cống Quỳnh vào ngày 09/02/1996, với sự giúp
đỡ của các phong trào HTX quốc tế đến từ Nhật, Singapore và Thụy Điển Từ đấy loại hình kinh doanh bán lẻ mới ra đời, văn minh phù hợp với xu hướng phát triển của Thành phố Hồ Chí Minh đánh dấu chặng đường mới của Saigon Co.op
Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động bán lẻ theo đúng chức năng, lãnh đạo Saigòn Co.op dành thời gian nghiên cứu học tập kinh nghiệm của hệ thống Siêu thị KF (Thụy Điển), NTUC Fair Price (Singapore), Co.op (Nhật Bản) để tạo ra một
hệ thống siêu thị mang nét đặc trưng của phương thức HTX tại TpHCM và Việt Nam Năm 1998 Saigon Co.op đã tái cấu trúc về tổ chức và nhân sự, tập trung mọi nguồn lực của mình để đầu tư mạnh cho công tác bán lẻ Các Siêu thị Co.opMart lần lượt ra đời đánh dấu một giai đoạn phát triển quan trọng: hình thành chuỗi Siêu thị mang thương hiệu Co.opMart, siêu thị Co.opmart là hoạt động chủ lực của Saigon Co.op
Trang 30Năm 2002, Co.opmart Cần Thơ - siêu thị tỉnh đầu tiên ra đời Tiếp theo nhiều siêu thị Co.opmart được ra đời tại các tỉnh, thành phố ở khu vực miền Nam và miền Trung Năm 2012, hệ thống siêu thị Co.opmart thay đổi bộ nhận diện
Tính đến tháng 02 năm 2013, hệ thống Co.opMart có 61 siêu thị bao gồm 25 Co.opMart ở TPHCM ( và 6 Co.opMart ở Đông Nam Bộ, 4 Co.opMart ở Miền Bắc, 11 Co.opmart ở Miền Trung, 12 Co.op ở Tây Nam bộ, 3 Co.op ở Tây Nguyên)
Ngày nay, Co.opMart trở thành thương hiệu quen thuộc của người dân thành phố và người tiêu dùng cả nước Là nơi mua sắm đáng tin cậy của mọi người, mọi nhà
2.2.3 Cơ cấu tổ chức của Co.op Mart
Cơ cấu tổ chức của Liên hiệp HTX Sai Gon Co-op bao gồm Hội đồng quản trị Tổng giám đốc, các phó Tổng giám đốc, các đơn vị trực thuộc, công ty liên doanh, các phòng ban chức năng
Sơ đồ 2.5: Cơ cấu tổ chức của Liên hiệp HTX Saigon Co-op
Trang 312.3 Thực trạng hoạt động kinh doanh của Sài Gòn Co.op cho đến năm 2012
2.3.1 Tình hình phát triển hệ thống phân phối Co.op Mart
Tính đến tháng 5.2008, không kể các hệ thống do nước ngoài đầu tư như Metro, Big C; tại Việt Nam hiện có hơn 10 hệ thống siêu thị do các doanh nghiệp trong nước làm chủ, đang “ăn nên làm ra” với tốc độ tăng trưởng 30- 45%/năm, có mạng lưới từ
5 đến 30 điểm kinh doanh như Co-opmart, Citimart, Bài Thơ Mart, Hapro, Vinatexmart, Fivimart…Tuy nhiên Coop Mart là thương hiệu siêu thị bán lẻ đầu tiên được xây dựng tại Việt Nam
Từ điểm bán lẻ đầu tiên là siêu thị Cống Quỳnh khá thành công với diện tích chỉ 600 m2, Sài Gòn Coop xác định hướng đi mũi nhọn của HTX là đẩy mạnh hoạt động của các siêu thị, tạo thành một hệ thống Coop Mart
Có thể nói rằng, thời điểm 2006 -2008 là thời gian tăng tốc mở rộng hệ thống phân phối của siêu thị Co-op Mart Chỉ trong 3 năm đã có thêm 20 siêu thị Coop Mart được khai trương so với 12 siêu thị trong 8 năm 1996-2004 Tính đến hết tháng 2/2013 ( hơn 04 năm sau) tổng số lượng siêu thị là 61 có nghĩa là đã thêm
36 siêu thị trong vòng 04 năm
Kế hoạch phát triển mạng lưới Co.op Mart dự kiến đến năm 2015 sẽ có thêm 100 siêu thị trên phạm vi cả nước, như vậy bình quân 01 năm khai trương
10 siêu thị mới, địa bàn mà Co.op Mart nhắm tới là thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Biên Hòa và tương lai mong muốn bao phủ toàn quốc
Theo tiêu chuẩn diện tích: Siêu thị tổng hợp loại 1 có diện tích kinh doanh từ 5.000 m2 trở lên, có danh mục hàng hoá kinh doanh từ 20.000 tên hàng trở lên Nếu là siêu thị chuyên doanh loại 1 có diện tích từ 1.000 m2 trở lên với 2.000 tên hàng trở lên
Siêu thị tổng hợp loại 2 có diện tích kinh doanh từ 2.000 m2 – 5000 m2, có từ 10.000 đến 20.000 tên hàng trở lên Nếu là siêu thị chuyên doanh loại 2 có diện tích
từ 500 m2 – 1.000 m2, với từ 1.000 đến 2.000 tên hàng
Trang 32Siêu thị loại 3 tổng hợp phải có diện tích 500 m2 đến 2000 m2, có 4.000 đến 10.000 tên hàng Nếu là siêu thị chuyên doanh loại 3 phải có diện tích từ 250 m2 đến 500 m2, với 500 - 1.000 tên hàng.
Ngoài ra, các siêu thị loại 1, 2, 3 phải có nơi trông giữ xe và khu vệ sinh cho khách hàng phù hợp với quy mô kinh doanh siêu thị, có hệ thống kho, thiết bị bảo quản, sơ chế, đóng gói, tổ chức theo ngành hàng, nhóm hàng, công tác phòng cháy chữa cháy
Theo tiêu chuẩn này thì hầu hết các siêu thị của Co-op Mart ở các tỉnh đều được xếp vào loại 1 Tuy nhiên tại Tp.HCM do rất khó tìm được mặt bằng kinh doanh rộng ở các quận nội thành nên các siêu thị ở đây chỉ có diện tích từ 2000 đến dưới 5000 m2 như siêu thị Co-op Mart Cống Quỳnh, Nguyễn Đình Chiểu, Phú Lâm, Thắng Lợi, Nhiêu Lộc…
Xác định được tầm quan trọng của việc phát triển mạng lưới phân phối, vào tháng 4/2007, Saigon Co.op đã cho ra đời Công ty cổ phần đầu tư phát triển Saigon Co.op (SCID) chuyên về phát triển và khai thác kinh doanh bất động sản thương mại
để tập trung nguồn lực chuyên nghiệp hóa hoạt động phát triển mạng lưới hệ thống Co.opMart
Bà Nguyễn Thị Ánh Hoa - Giám đốc điều hành Công ty TNHH Đông Hưng, chủ đầu tư chuỗi hệ thống siêu thị Citimart cho biết: “Giới kinh doanh siêu thị chúng tôi thường ví mặt bằng như vàng ròng Khi đã có vàng ròng thì coi như siêu thị đã nắm 50% thành công trong tay, 50% còn lại tùy thuộc vào giá cả và chất lượng phục
vụ khách hàng” Và thực tế đã chứng minh, khách đi siêu thị mua sắm cho tiêu dùng hằng ngày thường chọn những siêu thị nằm ở vị trí đẹp, giao thông thuận tiện, quy
mô lớn để có nhiều sự lựa chọn
Diện tích lý tưởng để mở một siêu thị phải từ 2.000 m2 trở lên, nhưng với thực trạng quỹ đất ở trung tâm các thành phố ngày càng eo hẹp, mặt bằng có diện tích trên 2.000 m2 đang được các doanh nghiệp kinh doanh lĩnh vực này xếp vào loại “cực hiếm, cực quý”
Hầu hết các doanh nghiệp kinh doanh siêu thị hiện nay đều phải thuê mặt bằng,
Trang 33giá thuê mặt bằng đắt nhất hiện thuộc về trung tâm khu vực quận 1 và quận 3 (Tp.HCM) với giá trung bình 15-100 USD/m2 Các quận khác hoặc vùng ven thành phố khoảng 15-20 USD/m2
Theo tính toán của các doanh nghiệp, trung bình suất đầu tư vào siêu thị (gồm chi phí xây dựng và trang thiết bị phụ trợ) ước 1.000-1.200 USD/m2, chi phí này sẽ tăng thêm 10-15% nếu qui mô siêu thị càng hiện đại Do đó, khi đã tìm được địa điểm, vấn đề còn lại là tính toán chi phí đầu tư sau cho có hiệu quả
2.3.2 Tình hình doanh thu, lợi nhuận trong những năm gần đây
Mặc dù phải chịu sức ép cạnh tranh gay gắt từ các siêu thị trong nước và các tập đoàn bán lẻ nước ngoài cũng như nạn đại dịch cúm gia cầm, dịch lợn tai xanh, lở mồm long móng, nhưng với chiến lược phát triển đúng đắn, Liên hiệp Hợp tác xã Sài Gòn Co-op đã phấn đấu đưa doanh thu của hệ thống siêu thị Co-op Mart tăng khá cao qua các năm ( Bảng 2.4)
Tốc độ tăng doanh thu của CoopMart trên đây phụ thuộc chủ yếu vào hai yếu tố chính là tăng lượng khách hàng ở mỗi điểm bán hàng và phát triển hệ thống phân phối thêm mỗi năm
Bảng 2.6: Doanh thu, lợi nhuận và nộp thuế của Sài Gòn Coop (ĐVT: Tỷ VNĐ)
(Nguồn số liệu của phòng kế toán tổng hợp Sài Gòn Coop )
2.3.3 Tình hình khách hàng của Co.op Mart
Song song với việc tăng doang số qua các năm thì lượng khách hàng đến với Coop Mart cũng tăng theo Việc mở thêm nhiều địa điểm kinh doanh rộng khắp đã giúp gia
Trang 34tăng lượt khách hàng lên 20% - 40%/năm, góp phần quảng bá và nâng cao uy tín thương hiệu Co.opMart trên khắp mọi miền đất nước
Do đó, bên cạnh việc giữ lượng khách hàng đã có, Co.op Mart luôn quan tâm đến khách hàng mới Không chỉ chú trọng việc phát triển về số lượng, Saigon Co.op còn không ngừng phát triển sâu về chất lượng kinh doanh và dịch vụ Với phương châm kinh doanh "Co.opMart - bạn của mọi nhà" đã triển khai chương trình mua hàng có tích lũy điểm để trở thành khách hàng thành viên và khách hàng thân thiết nhằm thu hút khách hàng đi mua sắm Việc duy trì và nâng cao chất lượng chương trình Khách hàng thnh thiết - Thành viên Co.opMart đã giúp gia tăng nhanh chóng lượng khách hàng thân thiết thành viên của hệ thống, đồng thời giúp cho các siêu thị mới khai trương gia tăng doanh số đạt chỉ tiêu kế hoạch
2.3.4 Tình hình hàng hóa của Co.op Mart
Với phương châm phục vụ: "Nơi mua sắm đáng tin cậy - Bạn của mọi nhà", Co.op Mart xem hàng hóa là yếu tố quan tâm hàng đầu Hàng hóa cần phong phú và chất lượng giá cả phải chăng và ưu tiên cho những nhà sản xuất được cấp chứng nhận ISO hoặc các chứng nhận quàn lý chất lượng tương đương, chọn sản phẩm được người tiêu dùng bình chọn là hàng Việt Nam chất lượng cao Tất cả các nhà cung cấp cam kết chịu trách nhiệm về nguồn gốc, chất lượng sản phẩm phù hợp với quy định; nhà sản xuất phải chịu trách nhiệm giải quyết trong trường hợp có phát sinh khiếu nại của NTD Sài Gòn Co.op cũng tổ chức mua hàng tập trung, ký hợp đồng với cơ quan trong gian trong việc giám sát chất lượng hàng
Bên cạnh đó, Co.op Mart cũng xây dựng cho mình nhiều nhãn hàng riêng của hệ thống như thời trang SGC, các mặt hàng thực phẩm tươi sống, đông lạnh, khô và chế biến sẵn nhãn hiệu Co.op Mart, hàng gia dụng như đồ lau nhà, khăn, giấy Nhờ sự hợp tác của siêu thị với các công ty như Kinh Đô, công ty bột giặt Lix, giấy Sài Gòn, dệt Phong Phú, công ty San Miguel Đáp ứng nhu cầu mua sắm đa dạng của người tiêu dùng Có thể nói việc đẩy mạnh phát triển tỉ trọng NHR trên các quầy kệ Co.op Mart đã mang lại rất nhiều lợi ích thiết thực cho người tiêu dùng Sản phẩm NHR có giá hấp dẫn chính vì khi mua khách hàng chủ yếu chi trả tiền cho công năng của sản phẩm mà không chịu nhiều khoản khác như quảng cáo, phân phối Bên cạnh đó, lợi thế về giá
Trang 35cũng như ưu đãi khi số lượng tiêu thụ cao giúp cho NHR Co.opmart giảm thêm giá thành sản phẩm cho người tiêu dùng: " Giá NHR rẻ hơn so với giá sản phẩm cùng loại
từ 5% - 20% nhờ phối hợp tốt với NCC khai thác hiệu quả công suất nhà máy, mua hàng với số lượng lớn, tiết giảm công suất nhà máy, mua hàng với số lượng lớn, tiết giảm tối đa chi phí quảng bá tuyên truyền, quảng bá, đầu tư tiếp thị cho sản phẩm
Việc phát triển NHR là chiến lược tất yếu của Saigon Co.op, khi mô hình kinh doanh siêu thị phát triển, mạng lưới rộng khắp, thương hiệu đã được định vị trong lòng NTD Trong điều kiện kinh tế khó khăn như hiện nay, phát triển NHR càng cần được đẩy mạnh để đáp ứng xu thế của người tiêu dùng trước tình hình lạm phát là tìm đến những sản phẩm có giá rẻ hơn
2.3.5 Tình hình cơ sở vật chất, kỹ thuật của Co.op Mart
Với tổng kho Trung tâm phân phối có diện tích trên 15.000m2 và kho Thực phẩm tươi sống trữ lạnh rộng 4.500m2 tại Bình Dương, Saigon Co.op đã đảm bảo quản lý và kiểm soát tốt chất lượng hàng hoá, điều phối và luân chuyển kịp thời hàng hoá trên toàn hệ thống Co.opMart và các cửa hàng Co.op, không để xảy ra tình trạng sốt hàng vào những thời điểm nhạy cảm Bên cạnh đó, một quy trình quản lý chất lượng chặt chẽ đạt tiêu chuẩn ISO 9001:2000 cũng được Saigon Co.op trang bị từ năm 2002 nhằm đảm bảo tốt việc kiểm soát và đánh giá chất lượng hoạt động kinh doanh của toàn hệ thống
Quan tâm ứng dụng, cải tiến mạng lưới Công nghệ thông tin trong quản lý điều hành, xây dựng hệ thống thông tin tài chính – kế toán nhằm tạo lập khả năng kết nối
từ khâu mua hàng, nhập kho, bán hàng và quản lý thông qua một hệ thống cơ sở dữ liệu đã góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh và nâng cao sức cạnh tranh cho hệ thống siêu thị Co.opMart
Ngày 24.1, Microsoft và Liên hiệp HTX Thương mại TP.HCM (Saigon Co.op)
đã ký kết thỏa thuận về việc Saigon Co.op sẽ mua và sử dụng các phần mềm có bản quyền của Microsoft Theo đó, Microsoft sẽ cung cấp và hỗ trợ kỹ thuật cho Saigon Co.op triển khai chuẩn hóa hệ thống CNTT với những phần mềm có bản quyền của Microsoft Ngoài ra, Microsoft cũng sẽ hỗ trợ, tư vấn, đào tạo cho nhân viên Saigon Co.op trong quá trình triển khai đồng bộ tối ưu hóa hạ tầng CNTT, quản lý vận hành