thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh logistic 3PL tại Việt Nam. Hoạt động của doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistic 3PL vinafco Mục lục 1 Phần I: Cơ sở lý thuyết 2 I. Các phương thức hoạt động của Logistics: 2 II. Quy trình Logistics: 3 1. Đối với nền kinh tế quốc dân: 4 2. Đối với doanh nghiệp 5 Phần II: Vận dụng thực tế 7 I. Thực trạng ngành Logistics 3PL tại Việt Nam: 7 1. Tình hình hiện tại: 7 2. Khó khăn của ngành Logistics Việt Nam: 10 3. Xu hướng phát triển ngành Logistics: 14 II. Đại diện cho doanh nghiệp 3PL tại Việt Nam: 16 1. Giới thiệu công ty: 16 2. Mục tiêu và tầm nhìn của VINAFCO trong tương lai: 17 PHẦN III: KẾT LUẬN 20
Trang 1MỤC LỤC
Mục lục 1
Phần I: Cơ sở lý thuyết 2
I Các phương thức hoạt động của Logistics: 2
II Quy trình Logistics: 3
1 Đối với nền kinh tế quốc dân: 4
2 Đối với doanh nghiệp 5
Phần II: Vận dụng thực tế 7
I Thực trạng ngành Logistics 3PL tại Việt Nam: 7
1 Tình hình hiện tại: 7
2 Khó khăn của ngành Logistics Việt Nam: 10
3 Xu hướng phát triển ngành Logistics: 14
II Đại diện cho doanh nghiệp 3PL tại Việt Nam: 16
1 Giới thiệu công ty: 16
2 Mục tiêu và tầm nhìn của VINAFCO trong tương lai: 17
PHẦN III: KẾT LUẬN 20
Trang 2Phần I: Cơ sở lý thuyết
I. Các phương thức hoạt động của Logistics
Logistics bên thứ nhất( 1PL): là hoạt động Logistics do người chủ sở hữu sản phẩm/ hàng hóa mình tổ chức và thực hiện để đáp ứng nhu cầu của bản thân doanh nghiệp
Logistics bên thứ 2( 2PL): chỉ hoạt động Logistics do người cung cấp dịch vụ Logistics cho một hoạt dộng đơn lẻ trong chuỗi cung ứng để đáp ứng nhu cầu của chủhàng
Logistics bên thứ 3( 3PL): là người thay mặt chủ hàng tổ chức thực hiện và quản
lý các dịch vụ Logistics cho từng bộ phận chức năng: thay mặt cho người gửi hàng thực hiện thủ tục xuất nhập khẩu, cung cấp chứng từ giao nhận - vận tải và vận
chuyển nội địa hoặc thay mặt cho người nhập khẩu làm thủ tục thông quan hàng hóa
và đưa hàng đến điểm đến quy định 3PL bao gồm nhiều dịch vụ khác nhau, kết hợp chặt chẽ việc luân chuyển, tồn trữ hàng hoá, xử lý thông tin có tính tích hợp vào dây chuyền cung ứng của khách hàng
3PL là các hoạt động do một công ty cung cấp dịch vụ Logistics thực hiện trên danh nghĩa của khách hàng dựa trên các hợp đồng có hiệu lực tối thiểu là một năm hoặc các yêu cầu bất thường
Sử dụng 3PL là việc thuê các công ty bên ngoài để thực hiện các hoạt động
Logistics, có thể là toàn bộ quá trình quản lý Logistics hoặc chỉ là một số hoạt động
có chọn lọc
Các công ty sử dụng 3PL và nhà cung cấp dịch vụ Logistics có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm thực chia sẻ thông tin, rủi ro, và các lợi ích theo một hợp đồng dài hạn.Logistics bên thứ tư( 4PL) là hình thức mà mọi hoạt động Logistics được thực hiện bởi nhà cung ứng Logistics thứ 3 và các tổ chức này bị kiểm soát bởi 1 ông chủ hay còn gọi là nhà cung ứng thứ 4, có quyền như 1 tổng giám sát
Trang 4II Quy trình Logistics:
Xét theo chiều vận động hàng hóa trong chuỗi cung ứng cấp từ đầu vào đến đầu ra, tại 1 công ty có thể phân chía ra 3 quá trình chính: Logistics mua hàng, hỗ trợ sản xuất, Logistics phân phối
Khi một sản phẩm hoặc nguyên liệu nào đó được mua, thì giá trị cộng thêm của dòng dự trữ bắt đầu hình thành và cứ tiếp tục gia tăng qua các khâu trong chuỗi cung ứng thể hiện việc chuyển giao quyền sở hữu cho khách hàng Quá trình này được nhìn nhận dưới 2 dòng là dòng dự trữ và dòng thông tin
Dòng thông tin bắt đầu từ khách hàng đi tới công ty để hình thành nên các hoạt động bán hàng, dự báo và đặt hàng Các thông tin quan trọng được tinh lọc thành kế hoạch sản xuất, trao đổi và mua sắm Dòng dự trữ liên quan đến việc dự trữ các nguyên liệu và sản phẩm.Từ các trao đổi ban đầu về vật liệu và bán thành phẩm, các quá trình Logistics cộng thêm giá trị vào dòng dự trữ nhờ chúng đưa đến các vị trícần thiết Nếu quá trình cung cấp tốt, các vật liệu và bán thnahf phẩm sẽ thu được giá trị cộng thêm tại bước trao đổi cho đến khâu cuối cùng Để hỗ trợ sản xuất, dự trữ trong sản xuất cần được định vị tốt Chi phí mỗi bộ phận và chi phí di chuyển nó là một phần quá trình làm tăng giá trị Để đạt được sự thống nhất bên trong công ty, các dòng thông tin và dự trữ các quá trình này cần được phối hợp chặt chẽ với nhau.III Vai trò của Logistics
Ngành Logistics có vị trí ngày càng quan trọng trong các nền kinh tế hiện địa
và có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển kinh tế của quốc gia và toàn cầu Phần giá trịgia tăng do ngành Logistics tạo ra ngày càng lớn và tác động của nó thể hiện rõ dưới các khía cạnh dưới đây
Trang 51 Đối với nền kinh tế quốc dân:
Logistics là công cụ liên kết các hoạt động kinh tế trong một quốc gia và toàn cầu qua việc cung cáp nguyên liệu, lưu thông, phân phối, mở rộng thị trường Trong nền kinh tế hiện đại, sự gia tăng của các thị trường về số lượng khách hàng đã thúc đẩy sự gia tăng của các thị trường hàng hóa và dịch vụ trong nước và quốc tế Hàng nghìn sản phẩm và dịch vụ mới đã được giới thiệu, đang được bán ra và phân phối hàng ngày đến các ngõ ngách của thế giới trong thập kỉ vừa qua Để giải quyết các thách thức do thị trường phải mở rộng và sự tăng nhanh của hàng hóa dịch vụ, các hãng kinh doanh phải mở rộng quy mô và tính phức tạp, phát triển của các nhà máy liên hợp thay thế cho các nhà máy đơn Hệ thống Logistics hiện đại đã giúp các hãng làm chủ được toàn bộ năng lực cung ứng của mình qua việc liên kết các hoạt động cung cấp, sản xuất, lưu thông, phân phối kịp thời chính xác Nhờ đó mà đáp ứng được những cơ hội kinh doanh trong phạm vi toàn cầu
Tối ưu hóa chu trình lưu chuyển sản xuất, kinh doanh từ khâu đầu vào đến khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng Logistics hỗ trợ sự di chuyển và dòng chảy của nhiều hoạt động quản lý hiệu quả, nó tạo thuận lợi cho việc bán hầu hết các loại hàng hóa và dịch vụ Để hiểu hơn về hình ảnh hệ thống này, có thể thấy rằng nếu hànghóa không đến đúng thời điểm , không đến đúng vị trí với các điều kiện mà khách hàng yêu cầu thì khách hàng không thể mua chúng, và việc không bán được hàng hóa
sẽ làm mọi hoạt động kinh tế trong chuỗi cung ứng bị vô hiệu
Tiết kiệm và giảm chi phí trong lưu thông phân phối Với tư cách là tổ chức kinh
doanh cung cấp các dịch vụ Logistics chuyên nghiệp, các doanh nghiệp Logistics mang lại đầy đủ các lợi ích của các third- party cho các ngành sản xuất kinh doanh khác Từ đó mang lại hiệu quả cao không chỉ ở chất lượng dịch vụ cung cấp mà còn tiết kiệm tối đa về thời gian và tiền bạc cho các quá trình lưu thông phân phối trong nền kinh tế
Mở rộng thị trường buôn bán quốc tế, góp phần giản chi phí, hoàn thiện và tiêu chuẩn hóa chứng từ trong kinh doanh đặc biệt trong buôn bán và vận tải quốc tế Trong thời đại toàn cầu hóa, thương mại quốc tế là sự lựa chọn tất yếu cho mọi quốc
Trang 6gia trong tiến trình phát triển đất nước Các giao dịch quốc tế chỉ thực hiện và mang lại hiệu quả cho quốc gia khi thực hiện được và mang lại hiệu quả cho quốc gia khi dựa trên hệ thống Logistics Hệ thống này giúp cho mọi hàng hóa được lưu chuyển thuận lợi, suôn sẻ từ quốc gia này đến quốc gia khác nhờ việc cung ứng kịp thời, phânphối chính xác, chứng từ tiêu chuẩn, thông tin rõ ràng…
2 Đối với doanh nghiệp
Logistics nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu chi phí sản xuất, tăng cường
sức mạnh cạnh tranh cho doanh nghiệp Quan điểm marketing cho rằng, kinh doanh
tồn tại dựa trên sự thỏa mãn nhu cầu khách hàng và cho thấy 3 thành phần chử yếu của khái niệm này là sự phân hợp các nỗ lực marketing, thảo mãn khách hàng và lợi nhuận công ty Logistics đóng vai trò quan trọng với các thành phần này theo cách thức khác nhau Nó giúp phối hợp các biển số marketing-mix, gia tăng sự hài lòng của khách hàng trực tiếp làm giảm tri phí, gián tiếp làm tăng lợi nhuận trong dài hạn
Logistics tạo ta giá trị gia tăng về thời gian và địa điểm: Mỗi sản phầm được sản xuất ra luôn mang một hình thái hữu dụng và giá trị nhất định với con người Tuy nhiên đề được khách hàng tiêu thụ, hầu hết các sản phẩm này cần có hiều hơn thế
Nó cần được đưa ra đến đúng vị trí, đúng thời gian và có khả năng trao đổi với khách hàng Các giá trị này cộng thêm vào sản phẩm và vượt xa phần giá trị tạo ra trong sản xuất được gọi là lợi ích địa điểm, lợi ích thời gian và lợi ích sở hữu Lợi ích địa điểm là giá trị cộng thêm vào sản phẩm qua việc tạo cho nó khả năng trao đổi hoặc tiêu thụ vị trí Lợi ích thời gian là giá trị được sáng tạo ra bằng ttaoj ra khả năng để sản phẩm tới đúng thời điểm mà khách hàng có nhu cầu, những lợi ích này
là kết quả của hoạt động Logistics Như vậy Logistics góp phần tạo tra tính hữu ích
về thời gian và địa điểm cho sản phẩm, nhờ đó mà sản phẩm có thể đến đúng thị trường tiêu thụ và nguồn cung ứng ngày càng trở nên xa cách về mặt địa thị thường tiêu thụ và nguồn cung ứng ngày càng trở nên xa cách về mặt địa lý thì các lợi ích
Trang 7về thời gian và địa điểm do Logistics mang trở nên đặc biệt cần thiết cho việc tiêu dùng sản phẩm.
Logistic cho phép doanh nghiệp di chuyển hàng hóa và dịch vụ hiệu quả đến
hiệu quả khách hàng: Logistics không chỉ góp phần tối ưu hóa về vị trí mà còn tối
ưu hóa các dòng hàng hóa và dịch vụ tại doanh nghiệp nhờ vào việc phân bố mạng lưới các cơ sở kinh doanh và điều kiện phục vụ phù hợp với yêu cầu vận động hang hóa Hơn thế nữa, các mô hình quan trị và phương án tối ưu trong dự trữ, vận
chuyển, mua hàng… và hệ thống thông tin hiện đại sẽ tạo điều kiện để đưa hàng hóađến nơi khách hàng yêu cầu nhanh nhất với chi phi thấp, cho phép doanh nghiệp thực hiện quả các hoạt động của mình
Logistics có vai trò hỗ trợ nhà quản lý ra quyết định chính xác trong hoạt động
sản xuất kinh doanh, là một nguồn lợi tiềm tàng cho doanh nghiệp: Một hệ thống
Logistics hiệu quả và kinh tế cũng tương tự như một tài sản vô hình cho công ty Nếu môt công ty có thể cung cấp sản phẩm cho khách hàng của mình một cách nhanh chóng với chi phí thấp thì có thể thu lợi thế về thị phần so với đối thủ cạnh tranh, điều này có thể giúp cho hiệu quả hoặc cung cấp dich vụ khách hàng với trình
độ cao hơn do đó tạo ra uy tín
Trang 8Phần II: Vận dụng thực tế
I Thực trạng ngành Logistics 3PL tại Việt Nam:
1 Tình hình hiện tại:
Theo thống kê, tổng diện tích hệ thống các trung tâm phân phối tại Việt Nam hiện
khoảng 300 ha, phân bố rải rác từ Bắc vào Nam
Hoạt động hệ thống ICD ở phía Nam phát triển mạnh mẽ hơn phía Bắc với sản
lượng hàng hóa thông qua gấp khoảng 3.5 lần, và trung chuyển được khoảng 50% hàng
hóa cho hệ thống cảng miền Nam
Tỷ lệ thuê ngoài Logistics tại Việt Nam
Cơ bản Giá trị gia tăng
2008 2012 Nguồn: Hiệp hội Logistics Việt Nam
Trong nền kinh tế, xu hướng thuê ngoài các hoạt động Logistics ngày càng cao,
đặc biệt là trong mảng quản lý chuỗi cung ứng như quản lý hàng tồn kho, quản lý
nguồn cung Xu hướng thuê ngoài gia tăng từ hai động lực chính: Một là, khối doanh
nghiệp nước ngoài ngày càng gia tăng đầu tư vào Việt Nam, mang theo tư duy sản
xuất chuyên môn hóa, mức độ thuê ngoài cao Hai là, các doanh nghiệp trong nước
cũng dần chuyển hướng, tập trung vào điểm mạnh cốt lõi để phát triển trong môi
Trang 9trường cạnh tranh, do đó gia tăng hoạt động thuê ngoài Từ xu hướng này, dịch vụ3PL tất yếu sẽ phát triển mạnh mẽ trong tương lai, tương quan với xu hướng thuêngoài.
Theo thống kê từ dữ liệu Amstrong & Associates, thị trường cung cấp 3PL tại ViệtNam trong năm 2014 ước tính đạt 1,2 tỷ USD tỷ lệ còn rất thấp so với mức trung bình thếgiới Bên cạnh các 3PL tên tuổi có mặt khá lâu tại Việt Nam như DAMCO, APLLogistics, OOCL Logistics (phát triển đi lên từ hãng tàu), Schenker, DKSH, NipponExpress, Kuehne & Nagel, DHL, TNT, Toll ( phát triển từ các công ty giao nhận )….Thời gian gần đây họ đã tăng trưởng đầu tư mở rộng hoạt động tại Việt Nam Bên cạnh
đó, các doanh nghiệp trong nước cũng có các chuyển động với những mô hình chiến lước3PL đặc thù: VINAFCO, tổng công ty Tân cảng Sài Gòn, công ty CP Đầu tư Bắc Kỳ,Transimex Saigon, ITL, Gemadept, Vinalink Một số cảng biển cũng phát triển dịch vụLogistics như Cảng Đình Vũ và đặc biệt gần đây tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xây dựngchiến lược Logistics Park bên cạnh Cảng nước sâu Cái Mép
Tỷ trọng 3PL trong nền kinh tế 60%
Nguồn: Amstrong & Associates
Trang 10Thực tế những năm gần đây đã xuất hiện các mô hình chiến lược 3PL :
Liên doanh, hợp tác với DN nước ngoài trong đó có thể sử dụng các lợi thế địa phươngcủa doanh nghiệp trong nước, nhằm tạo thương hiệu ban đầu hoặc cơ hội học hỏi pháttriển nghề nghiệp
Tự dầu tư DN với sự giúp sức của các chuyên gia, tư vấn trong và ngoài nước, phục vụthị trường trong nước
Liên kết, hợp tác trong nước hoặc thông qua mua bán, sát nhập ( M&A) hoặc làm vệtinh cho các chủ hàng có quy mô chuỗi cung ứng lớn
Tiến hành qua nhiều phân kỳ, quy mô lớn dần, chọn phân khúc thị trường phù hợp,song song với việc đào tạo huấn luyện nâng cao năng lực nguồn nhân lực và CNTTNhận gia công một phần chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp 3PL, 4PL nước ngoài
Mỗi một mô hình chiến lược 3PL trên đây sẽ đem lại cho chủ hàng, nhà sản xuất
VN nhiều giá trị gia tăng, tăng lợi thế cạnh tranh trên thị trường sẽ là chiến lược 3PLvững chắc, hiệu quả, các bên cùng hợp tác và hưởng lợi
Tuy vậy, cũng có DN dịch vụ Logistics tiến hành chiến lược 3PL nhằm mục tiêucủng cố các dịch vụ truyền thống như vận tải, cảng, kho hàng… mà ở đó lợi nhuận manglại từ các hoạt động gia tăng giá trị (3PL) đóng góp rất ít vào hiệu quả chung, hầu như chỉlàm tăng lợi thế cạnh tranh của DN Điều này cho thấy một khía cạnh khác của chiến lược3PL
Trang 112 Khó khăn của ngành Logistics Việt Nam:
a) Cơ sở hạ tầng
Hiện nay hạ tầng cơ sở Logistics tại VN nói chung còn nghèo nàn, manh mún, bốtrí bất hợp lý Các cảng đang trong quá trình container hóa nhưng chỉ có thể tiếp nhận cácđội tàu nhỏ và chưa được trang bị các thiết bị xếp dỡ container hiện đại, còn thiếu kinhnghiệm trong điều hành xếp dỡ container Khả năng bảo trì và phát triển đường bộ cònthấp, đường không được thiết kế để vận chuyển container, các đội xe tải chuyên dùnghiện đang lạc hậu, năng lực vận tải đường sắt không đựơc vận dụng hiệu quả do chưađược hiện đại hóa Đường hàng không hiện nay cũng không đủ phương tiện chở hàng(máy bay) cho việc vận chuyển vào mùa cao điểm
b) Về tổ chức quản lí và pháp luật
Về tổ chức quản lí, tổ chức quản lý còn chồng chéo Các cơ quan chủ quản hiệnnay đang giảm dần việc quản lý doanh nghiệp Logistics trực thuộc mà tập trung vào việclập ra chính sách, cơ chế quản lý nhà nước Tuy nhiên, cơ chế phân cấp quản lý theongành dọc tạo ra sự chuyên biệt trong kinh doanh giao nhận và vận tải như là hai lĩnh vựckinh doanh riêng rẽ
Về pháp luật điều chỉnh hoạt động Logistics Luật Thương mại VN quy định hoạtđộng Logistics là hành vi thương mại, công việc chính là cung cấp các dịch vụ phục vụvận tải hàng hóa, tổ chức vận chuyển nhưng khi đảm nhận việc vận chuyển thì phải tuântheo pháp luật về vận chuyển Tuy nhiên, hiện nay luật cũng chưa cụ thể hóa quy chế củangười chuyên chở không có tàu trong pháp luật về Logistics Việc cấp phép hoạt độngcho các công ty tư nhân của chính quyền địa phương lại được thực hiện đại trà mà khôngxem xét khả năng tài chính, cơ sở vật chất của đơn vị xin phép hoạt động Các quy định
về dịch vụ phát chuyển nhanh hiện nay còn coi là dịch vụ bưu điện chứ chưa đựơc coi là
Trang 12một loại hình dịch vụ Logistics và còn chịu sự điều tiết của các nghị định, thông tư vềbưu chính viễn thông Đây là điều rất bất hợp lý
Ví dụ trong giao nhận chính quyền TW và chính quyên địa phương có nhiềuquy định làm cho việc giao nhận hàng khó khăn và tốn kém hơn: cấm xe tải hoạt độngtrong thành phổ; phải có giấy phép chuyên chở hàng hóa quá tải, quá khổ, các doanhnghiệp giao nhận vận tải phải có nhiều loại giấy phép từ các cơ quan khác nhau chomột chuyến hành trình (Ví dụ: từ Hà Nội đến TP Hồ Chí Minh) Các rào cản phi thuếquan trong logstics Nhà nước chưa có chính sách mở cửa rộng hơn cho các nhà đầu tưnước ngoài đầu tư vào hoạt động Logistics tại Việt Nam Còn phân biệt đổi xử trongthuế và biểu phí cảng biển Thủ tục thông quan còn nhiều khó khăn, phức tạp, mấtnhiều thới gian và chi phí
c) Về nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực cho hoạt động Logistics hiện đang thiếu trầm trọng Theo ướctính của VIFFAS, nếu chỉ tính các nhân viên trong các công ty hội viên (khoảng 140) thìtổng số khoảng 4.000 người Đây là lực lượng chuyên nghiệp, ngoài ra ước tính khoảng4.000-5.000 người thực hiện bán chuyên nghiệp Nguồn nhân lực được đào tạo từ nhiềunguồn khác nhau Đội ngũ quản lý gồm các cán bộ chủ chốt điều động vào các công tyLogistics chủ yếu Đội ngũ này đang được đào tạo và tái đào tạo để đáp ứng nhu cầu quản
lý Đội ngũ nhân viên nghiệp vụ, phần lớn tốt nghiệp đại học nhưng không chuyên Lựclượng trẻ chưa được tham gia trong hoạch định đường lôi, chính sách Đội ngũ công nhânlao đông trực tiếp: đa số trình độ học vấn thấp, chưa được đào tạo tác phong làm việcchuyên nghiệp Sự yếu kém này là do phương tiện lao động còn lạc hậu, chưa đòi hỏi laođộng chuyên môn
d) Về quy mô và trình độ Logistics
Về quy mô của các tổ chức Logistics ở Việt Nam: nhìn lại các doanh nghiệp kinh