Mỗi đảng khi đưa người ra ứng cử với một đường lối, chiến lược và quan điểm điều hành nước Mỹ khác nhau nhưng đều tuân theo một nguyên tắc hoạt động chung của đảng phái trong hệ thống ch
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG
SO SÁNH HOẠT ĐỘNG CỦA ĐẢNG DÂN CHỦ VÀ ĐẢNG CỘNG HÒA TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ MỸ
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
Hà Nội - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG
SO SÁNH HOẠT ĐỘNG CỦA ĐẢNG DÂN CHỦ VÀ ĐẢNG CỘNG HÒA TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ MỸ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những kết quả trong luận văn này là trung thực, chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Tôi xin chịu trách nhiệm về những kết quả nghiên cứu trong công trình này
Học viên
Nguyễn Thị Huyền Trang
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Thầy hướng dẫn - GS TS Nguyễn Thiết Sơn - người đã tận tình hướng dẫn, theo sát quá trình nghiên cứu của tôi, đưa ra những gợi ý, lời khuyên xác đáng để tôi hoàn thành Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tới các Thầy, Cô Phòng sau Đại học và giảng viên Khoa Khoa học chính trị, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
Tôi cũng xin cảm ơn anh, chị, em học viên lớp Cao học Chính trị học khóa 2013 – 2015 đã ủng hộ, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn
Cuối cùng, tôi muốn dành lời cảm ơn đến Lãnh đạo, đồng nghiệp trường Đại học Đại Nam – nơi tôi đang làm việc; cảm ơn gia đình, người thân
và bạn bè đã luôn ở bên ủng hộ, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi thực hiện luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 12/2015
Học viên
Nguyễn Thị Huyền Trang
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Dự kiến đóng góp của đề tài 6
7 Kết cấu của đề tài 6
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ ĐẢNG PHÁI TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ MỸ 7
1.1 Một số khái niệm cơ bản 7
1.1.1 Hệ thống chính trị Mỹ 7
1.1.2 Đảng chính trị 15
1.1.3 Đảng cầm quyền 18
1.2 Quá trình hình thành và phát triển của Đảng phái chính trị Mỹ 18
1.2.1 Sự hình thành của hệ thống đa đảng ở Mỹ 18
1.2.2 Các giai đoạn phát triển của Đảng chính trị 21
1.3 Cơ cấu tổ chức của Đảng chính trị Mỹ 28
1.3.1 Đảng cấp quốc gia (Đảng chính trị toàn quốc) 30
1.3.2 Đảng cấp bang 32
1.3.3 Đảng cấp địa phương 33
Tiểu kết chương 1 35
Chương 2 HOẠT ĐỘNG CỦA ĐẢNG DÂN CHỦ VÀ ĐẢNG CỘNG HÒA TỪ NĂM 2001 ĐẾN NAY 37
2.1 Hoạt động bầu cử 37
2.1.1 Vài nét về bầu cử ở Mỹ 37
2.1.2 Cuộc tranh cử của Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa 41
Trang 62.2 Hoạt động kinh tế - xã hội 46
2.3 Về hoạt động an ninh quân sự 51
2.4 Cuộc chiến chống chủ nghĩa khủng bố của hai Đảng sau sự kiện 11/9/2001 54
2.4.1 Cuộc chiến chống khủng bố dưới chính quyền Tổng thống George W Bush (2001 đến 2009) 55
2.4.2 Cuộc chiến chống khủng bố dưới chính quyền Tổng thống Barack Obama (2009 – đến nay) 61
2.5 Chính sách của hai Đảng đối với khu vực Châu Á – Thái Bình Dương 65
Tiểu kết chương 2 70
Chương 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐẢNG DÂN CHỦ VÀ ĐẢNG CỘNG HÒA 71
3.1 Nguyên tắc hoạt động của Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa 71
3.1.1 Nguyên tắc dân chủ 71
3.1.2 Nguyên tắc theo đa số 73
3.1.3 Nguyên tắc phi tập trung 73
3.2 Học thuyết của George W Bush và Barack Obama 74
3.2.1 Học thuyết Bush 75
3.2.2 Học thuyết Obama 79
3.3 Triển vọng bầu cử năm 2016 của Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa 82
Tiểu kết chương 3 93
KẾT LUẬN 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 7DR-CAFTA Dominican Republic-Central
American Free Trade Agreement
Hiệp định Thương mại Tự
do Trung Mỹ Cộng hòa Dominican
IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế
GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
GNP Gross National Product Tổng sản phẩm quốc dân
R&D Research & Development Nghiên cứ và phát triển
Trang 8TPP Trans – Pacific Partnership Hiệp định Đối tác xuyên
Thái Bình Dương
WMD Weapon of mass destruction Vũ khí hủy diệt hàng loạt
giới
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nước Mỹ là một trong những quốc gia xuất hiện muộn, lịch sử hình thành và phát triển không dài - hơn 200 năm Tuy nhiên, nước Mỹ đã vươn lên và trở thành cường quốc số một, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các nước trên thế giới Là một quốc gia đa dạng về chủng tộc, có nhiều đảng chính trị khác nhau, nhưng từ khi Đảng chính trị được ra đời tại Mỹ cho đến nay, chỉ
có hai đảng lớn là Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa thay nhau cầm quyền, giữ vai trò quan trọng trên chính trường nước Mỹ Và trong hoạt động bầu cử Tổng thống, cũng chỉ có hai đảng này giành được chiến thắng Các ứng cử viên trong cuộc chạy đua vào Nhà Trắng chủ yếu đều thuộc hai đảng lớn, dù đảng thứ ba có xuất hiện trong các cuộc bầu cử Tổng thống, thì đảng này cũng chưa bao giờ giành được chiến thắng Mỗi đảng khi đưa người ra ứng cử với một đường lối, chiến lược và quan điểm điều hành nước Mỹ khác nhau nhưng đều tuân theo một nguyên tắc hoạt động chung của đảng phái trong hệ thống chính trị, nhằm đạt mục tiêu duy trì vị thế lãnh đạo thế giới của Mỹ, duy trì hình ảnh một cường quốc quan trọng và giàu có nhất trên hành tinh
Câu hỏi đặt ra ở đây là tại sao một quốc gia dân chủ, đa dạng như Hoa
Kỳ lại duy trì tình trạng chỉ có hai đảng chủ chốt thay nhau cầm quyền? Yếu
tố nào chi phối sự tồn tại, phát triển bền vững và ảnh hưởng mạnh mẽ từ trước đến nay của các đảng cầm quyền? Trong nhiệm kỳ của mình, các Tổng thống – thuộc Đảng Dân chủ hay Đảng Cộng hòa, đã đưa ra những chính sách, phương thức hoạt động riêng, mang đặc trưng, dấu ấn của đảng mình để duy trì sự phát triển, tăng cường các mối quan hệ quốc tế, mở rộng quan hệ đồng minh
Bước sang thế kỷ XXI, tình hình thế giới có nhiều thay đổi, tác động đến nhiều quốc gia và Mỹ cũng không ngoại lệ Sự kiện khủng bố ngày 11/9/2001 vào nước Mỹ, làm gần 3000 người thuộc khoảng 90 quốc gia thiệt
Trang 10mạng và mất tích, nước Mỹ lâm vào khủng hoảng, thế giới bất ổn Lúc đó, nước Mỹ với sự cầm quyền của Tổng thống George W.Bush – Đảng Cộng hòa đã phát động cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa khủng bố trên phạm vi toàn thế giới Trong thời gian từ năm 2001 đến nay (2015), nước Mỹ với sự cầm quyền của Tổng thống George Bush và Tổng thống Barack Obama (đương nhiệm) đã đưa ra những chiến lược an ninh quốc gia mới, thực hiện chống chủ nghĩa khủng bố cực đoan, khôi phục và phát triển kinh tế…, nhằm đảm bảo cho nước Mỹ có an ninh và thịnh vượng, duy trì được vị thế lãnh đạo thế giới của mình
Nước Mỹ đang bước vào mùa bầu cử năm 2016 để bầu ra một Tổng thống mới, có khả năng lãnh đạo nước Mỹ đương đầu với những thách thức trong và ngoài nước, đưa nước Mỹ tiếp tục đi lên Cuộc bầu cử Tổng thống
Mỹ diễn ra vào tháng 11/2016 với các hoạt động tranh cử của ứng viên thuộc Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa không những ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình chính trị trong nước mà còn thu hút sự quan tâm, tác động mạnh đến nhiều nước, trong đó có Việt Nam Do vậy, việc nghiên cứu hoạt động của hai đảng lớn tại Mỹ trong thời điểm hiện nay đang đặt ra yêu cầu ngày càng cấp bách với giới nghiên cứu Việt Nam
Nhiều công trình nghiên cứu của các học giả, tác giả trong và ngoài nước đã chứng minh rằng, chính sách đối nội và đối ngoại của các Tổng thống
Mỹ thuộc Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa có tác động đến nhiều quốc gia trên thế giới Mặc dù vấn đề về đảng chính trị tại Mỹ là một vấn đề không mới nhưng trong sự biến đổi của bối cảnh an ninh – chính trị nước Mỹ sau vụ khủng bố 11/9 và hậu quả mà nó để lại cho Mỹ thì đó thực sự là một trong những vấn đề quốc tế nổi bật
Việc tìm hiểu, nghiên cứu hoạt động và vai trò của Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa là vấn đề quan trọng, để hiểu rõ hơn về tầm ảnh hưởng của
Trang 11nhất là đối với việc tăng cường hơn nữa quan hệ ngày càng mở rộng giữa hai nước Tuy nhiên, từ năm 2001 đến nay, các nghiên cứu hầu như chưa đề cập sâu đến việc so sánh hoạt động của hai đảng chính trị lớn ở Mỹ Chính vì vậy, việc nghiên cứu vấn đề trở nên cấp thiết hiện nay, và tác giả đã mạnh dạn
chọn đề tài: “So sánh hoạt động của Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa
trong hệ thống chính trị Mỹ từ năm 2001 đến nay” để làm Luận văn Thạc sĩ
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hoạt động của Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa từ trước tới nay vẫn luôn là vấn đề thu hút sự quan tâm và nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước Có nhiều công trình nghiên cứu về chính sách, hoạt động của hai đảng cầm quyền ở Mỹ, nhưng những công trình đó do xuất phát từ những quan điểm nghiên cứu khác nhau, nên kết quả nghiên cứu ít nhiều có quan điểm khác nhau
Trước tiên phải kể đến Cuốn “Hệ thống chính trị Mỹ” do TS.Vũ Đăng
Hinh chủ biên (NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2001) Tác giả đã trình bày chi tiết về lịch sử hình thành, các nguyên tắc hoạt động, đến các thiết chế, thể chế chính trị; các đảng phái chính trị, những nhóm lợi ích trong hệ thống chính trị Mỹ và các hoạt động chính trị Tác giả đã có cách tiếp cận mới để đi đến việc nghiên cứu hệ thống chính trị một cách toàn diện, từ thể chế, đến thiết chế
Cuốn “Nước Mỹ những năm đầu thế kỷ XXI” của tác giả Nguyễn Thiết
Sơn (NXB Khoa học Xã hội Hà Nội, 2002) đã đề cập rõ về khả năng và những chính sách của nước Mỹ về quân sự, kinh tế ngoại giao… nhằm bảo vệ quyền thống trị của Mỹ
Cuốn “Logic chính trị Mỹ” của Samuel Kernell và Gary C Jacobson
(NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2007) Đây là một cuốn giáo trình về chính quyền Mỹ được nghiên cứu và trình bày công phu, chặt chẽ, phác họa toàn bộ cấu trúc của hệ thống chính trị Mỹ Trong Chương 12 về “Đảng chính trị Mỹ”,
Trang 12tác giả giải thích một cách cặn kẽ, chi tiết về nguyên nhân và tại sao đảng phái được hình thành; nêu ra sự phát triển và biến đổi của hệ thống đảng phái…
Cuốn “Hệ thống chính trị Anh, Pháp, Mỹ” (mô hình tổ chức và hoạt
động) do GS.TS Nguyễn Văn Huyên chủ biên (NXB Lý luận chính trị, Hà Nội, 2007) Tác giả đã tập trung nghiên cứu về quá trình hình thành, mô hình
tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị Anh, Pháp, Mỹ Đánh giá ưu, nhược điểm, hiệu lực và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị Anh, Pháp,
Mỹ Đặc biệt, tác giả đã phân tích và nêu ra những giá trị tham khảo cho việc đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay
“Một số vấn đề về Đảng cầm quyền và đảng đối lập trong đời sống chính trị Hoa Kỳ” của tác giả Nguyễn Thị Hạnh (NXB Khoa học xã hội, Hà
Nội, 2012) Trong tác phẩm này, tác giả đã giúp người đọc có cái nhìn đầy đủ
về các vấn đề của đảng cầm quyền và đảng đối lập trong đời sống chính trị Hoa Kỳ Đặc biệt, tác giả đã có những đánh giá phù hợp về đảng cầm quyền
và đảng đối lập, từ đó nhận định về tính bền vững của hệ thống hai đảng chủ yếu thay nhau cầm quyền tại Hoa Kỳ
Ngoài ra các bài viết: “Tìm hiểu vai trò và phương thức lãnh đạo của Đảng cầm quyền ở Mỹ” (Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, số 11/2007, tr 3-19, số 12/2007, tr 3-17) và bài viết“Chính sách và vai trò của Mỹ ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương” (Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, số 1/2005, tr 3-11) của tác giả Nguyễn Thiết Sơn; “Chính sách đối ngoại Mỹ trong những năm cuối nhiệm kỳ của Tổng thống Geogre W Bush” (Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, số 2/2007, tr 21-32) của Nguyễn Thái Yên Hương; bài viết “Sự hình thành của
hệ thống lưỡng đảng trong nền chính trị Hoa Kỳ” của tác giả Lê Lan Anh (Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, tháng 8/2005) và bài viết của nhiều tác giả khác
đăng trên Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế với các nội dung chủ yếu tập trung vào phân tích hoạt động, việc điều chỉnh chiến lược, chính sách của nước Mỹ dưới chính quyền Tổng thống G Bush và Tổng
Trang 13Những công trình trên đây đã trình bày sâu sắc và khá toàn diện về đảng phái ở Mỹ, cho chúng ta thấy được những nét cơ bản của quá trình hình thành, phát triển, vai trò và tác động của các đảng chính trị Mỹ trong đời sống
xã hội Mỹ Mặc dù vậy, vẫn còn nhiều vấn đề cần được lý giải và nghiên cứu cụ thể hơn, cập nhật hơn về hệ thống đảng phái ở Mỹ, nhằm làm sáng tỏ hơn bản chất, vai trò, ý nghĩa của các đảng chính trị trong đời sống xã hội Mỹ hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài Luận văn có mục đích nghiên cứu là so sánh hoạt động của Đảng Cộng hòa và Đảng Dân chủ ở Mỹ từ 2001 đến nay trong một số lĩnh vực như: bầu cử, kinh tế xã hội, an ninh quân sự, cuộc chiến chống khủng bố và chính sách “xoay trục” sang Châu Á – Thái Bình Dương dưới thời Tổng thống Bush
và Tổng thống Obama Từ đó tìm ra sự giống và khác nhau trong mô hình hoạt động của hai đảng trong hệ thống chính trị Mỹ
Để đạt được mục đích đó, Luận văn có nhiệm vụ:
- Nghiên cứu, tìm hiểu và làm rõ khái niệm, bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị, hệ thống đảng phái chính trị trong hệ thống chính trị Mỹ
- Nghiên cứu các khái niệm về đảng chính trị, đảng cầm quyền; quá trình hình thành và các giai đoạn phát triển của đảng chính trị ở Mỹ cho đến nay
- Trọng tâm nghiên cứu là về hoạt động của hai đảng lớn: Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa trong giai đoạn từ năm 2001 đến nay, dưới thời hai Tổng thống George Walker Bush của Đảng Cộng hòa và Tổng thống Barack Obama của Đảng Dân chủ
- Đưa ra một số nhận xét về hoạt động của Đảng Cộng hòa và Đảng Dân chủ để hiểu rõ hơn bản chất và vai trò của hai đảng đó
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Nghiên cứu, so sánh hoạt động của Đảng Cộng hòa và Đảng
Dân chủ trong hệ thống chính trị Mỹ từ 2001 đến nay
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề liên
quan đến hoạt động của hai đảng lớn tại Mỹ từ năm 2001 đến nay (Mốc thời gian hiện tại là đến năm 2015)
Trang 145 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử được áp dụng trong đề tài luận văn, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học chính trị, phương pháp so sánh, phương pháp nghiên cứu lịch sử, các phương pháp thu thập tài liệu, phân tích
và tổng hợp Lấy phương pháp so sánh làm phương pháp nghiên cứu chính của Luận văn
6 Dự kiến đóng góp của đề tài
- So sánh hoạt động của Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa từ năm
2001 đến nay, trong hoạt động bầu cử, kinh tế xã hội, an ninh quân sự, cuộc chiến chống chủ nghĩa khủng bố và sự điều chỉnh chính sách hướng về Châu
Á – Thái Bình Dương dưới thời Tổng thống George Wakler Bush 2009) và Tổng thống Barack Obama (2009 – 2016), nhằm hiểu rõ hơn về quan điểm, chính sách điều hành chính quyền của Tổng thống G Bush và
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về đảng phái trong hệ thống chính trị Mỹ
Chương 2: Hoạt động của Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa từ năm
2001 đến nay
Chương 3: Một số nhận xét về hoạt động của Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN VỀ ĐẢNG PHÁI TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ MỸ 1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Hệ thống chính trị Mỹ
Năm 1768, cuộc đấu tranh giành độc lập của Mỹ dưới sự lãnh đạo của George Washington bắt đầu Năm 1776, Đại hội Lục địa tại Philadenphia đã thông qua bản Tuyên ngôn độc lập của Mỹ, tuyên bố thành lập nhà nước Liên bang gồm 13 bang đầu tiên Vào giai đoạn này, cơ cấu liên bang còn rất lỏng lẻo, chỉ là một hợp bang, hay một liên minh hữu nghị giữa các bang được thành lập Trung tâm của liên minh này là Quốc hội một viện, được gọi là Đại hội hợp bang Mỗi bang có một phiếu, không phụ thuộc vào quy mô của bang Các hoạt động quan trọng đều phải cần đến sự đồng thuận của ít nhất 9 bang
và đối với các nội dung trong điều khoản liên bang phải do cả 13 bang đồng ý [15, 227] Hợp bang không có cơ quan hành pháp và hệ thống tòa án, Quốc hội không có khả năng đánh thuế, mà chỉ được yêu cầu các bang hỗ trợ ngân quỹ Mỗi bang vẫn giữ chủ quyền, tự do và độc lập Quốc hội cũng không có quyền hạn trực tiếp nào đối với các công dân
Đứng trước những vấn đề đó, mùa hè năm 1787, một Hội nghị lập hiến được triệu tập với sự tham dự của các đại biểu của 13 bang để soạn thảo Hiến pháp mới cho nước Mỹ, đến tháng 6 – 1788, sau khi đã có tối thiểu 9 chữ ký, Hiến pháp mới chính thức có hiệu lực Đây cũng là thời điểm chính thức đánh dấu sự ra đời của hệ thống chính trị Mỹ
Hệ thống chính trị Mỹ hiện nay gồm hai bộ phận cấu thành chính là thể chế và thiết chế Thể chế gồm các loại định chế như: Hiến pháp, pháp luật và
cá quy định hành chính trong đó Hiến pháp là định chế quan trọng nhất Hiến pháp có vị trí quan trọng số một trong các loại hình định chế vì nó là văn bản pháp lý chứa đựng những thỏa thuận chung nhất giữa các lực lượng chính trị, những thỏa thuận này được coi như những nguyên tắc để xây dựng lên toàn
Trang 16bộ hệ thống chính trị Liên bang Mỹ Thiết chế gồm hai bộ phận: thiết chế chính thức, đó là bộ máy công quyền và thiết chế phi chính thức, đó là các đảng phái chính trị, các nhóm lợi ích, các phong trào chính trị…
Theo Hiến pháp, Nhà nước Liên bang Hoa kỳ gồm 3 bộ phận: lập pháp, hành pháp và tư pháp Mỗi bộ phận có chức năng và quyền hạn độc lập với nhau Hệ thống chính trị của Mỹ hiện nay có nhiều điểm khác biệt so với thời
kỳ mới hình thành nước Mỹ, tuy nhiên, những nguyên tắc cơ bản, những bộ phận cấu thành chủ yếu được hình thành từ khi lập nước vẫn còn tồn tại cho tới ngày nay
Ngành lập pháp
Trong hệ thống chính trị Mỹ, ngành lập pháp có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng thể chế để quản lý xã hội và kiềm chế - đối trọng với các thiết chế khác trong hệ thống chính trị Theo quy định của Hiến pháp
Mỹ, Quốc hội đóng vai trò là trung tâm của hệ thống chính trị, có những quyền lực rất lớn, như quyền làm ra luật cho toàn quốc, quyền sửa đổi điều luật, giám sát hoạt động của bộ máy hành pháp, tư pháp và các tổ chức chính trị khác Quốc hội Mỹ là một thể chế lưỡng viện, gồm hai nhánh: Thượng viện và Hạ viện
+ Thượng viện có quy chế làm việc tự do hơn so với Hạ viện Quy mô của
Quốc hội Mỹ phát triển theo quy mô phát triển của đất nước Với quy chế mỗi bang chỉ có hai thượng nghị sĩ, Quốc hội đầu tiên của Mỹ chỉ có 26 thành viên Khi có một bang mới, Thượng viện sẽ tăng thêm 2 thành viên và vì vậy, Thượng viện Mỹ hiện nay có 100 thượng nghị sĩ được bầu từ 50 bang khác nhau
Ứng cử viên Thượng viện phải từ 30 tuổi trở lên, là công dân Mỹ ít nhất 9 năm và là người cư trú tại chính bang mà họ đại diện Các khu hành chính trực thuộc không có đại diện tại Thượng viện Các Thượng nghị sĩ có nhiệm kỳ 6 năm và được bầu lại bởi cử tri các bang Cứ hai năm một lần,
Trang 17Tổng thống đồng thời là Chủ tịch Thượng viện Song trên thực tế, điều hành công việc hàng ngày của Thượng viện là thủ lĩnh phe đa số trong Thượng viện Phó Tổng thống chỉ bỏ phiếu khi cần thiết để tránh bế tắc, trong trường hợp Thượng viện rơi vào tình huống 50/50 về một vấn đề nào đó [57]
+ Hạ viện: So với Thượng viện, Hạ viện có quy mô lớn hơn Quốc hội
đầu tiên của Mỹ có 67 hạ nghị sĩ Do dân số tăng lên, quy mô Hạ viện cũng tăng theo Năm 1992, Quốc hội đã thông qua một đạo luật quy định số lượng thành viên cố định của Hạ viện là 435 hạ nghị sĩ [15, 246] Khác với Thượng viện, ứng cử viên Hạ viện phải là công dân Mỹ từ 25 tuổi trở lên, đã có 7 năm mang Quốc tịch Mỹ và là công dân của bang mà họ đại diện trước ngày bầu
cử Hạ viện có nhiệm kỳ hai năm và các nghị sĩ được bầu lên từ các đơn vị bầu cử của bang Số hạ nghị sĩ đại diện cho bang phụ thuộc vào dân số của bang Mỗi bang có quyền có tối thiểu một hạ nghị sĩ Việc phân bổ số hạ nghị
sĩ cho các bang được tiến hành 10 năm một lần dựa trên kết quả điều tra dân
số Đứng đầu Hạ viện là Chủ tịch Hạ viện Chủ tịch Hạ viện có thể là người
có thế lực lớn thứ hai trong nền chính trị Mỹ sau Tổng thống Với tư cách là người đứng đầu phe đa số, Chủ tịch Hạ viện có vai trò thúc đẩy, hoặc loại bỏ một số dự luật không có lợi cho đảng của mình
Cả hai viện đều có quyền quyết định chiến tranh, kiểm soát các lực lượng vũ trang, đánh thuế, vay tiền, phát hành tiền, điều tiết thương mại, và ban hành luật cần thiết cho hoạt động của chính quyền Trong đó, Thượng viện có đặc quyền cố vấn, thông qua các hiệp ước mà Chính phủ ký với nước
ngoài và các chức vụ do Tổng thống bổ nhiệm Ví dụ, Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ được Chính phủ hai nước ký tháng 7 năm 2000 và đến tháng 11 năm 2001 mới được Thượng viện Hoa Kỳ thông qua và đến 10/12/2001 mới có hiệu lực thi hành
Cả Thượng viện và Hạ viện đều có những Uỷ ban riêng của mình Tuy nhiên, giữa Thượng viện và Hạ viện có một số uỷ ban phối hợp để xử lý một
Trang 18số công việc chung Cả Thượng viện và Hạ viện đều có quyền đưa ra văn bản pháp lý về bất cứ vấn đề gì, trừ các dự luật về thu ngân sách là phải bắt nguồn
từ Hạ viện Các bang lớn bề ngoài dường như có nhiều ảnh hưởng đối với công quỹ hơn so với bang nhỏ Thượng viện có thể không tán thành một dự luật về thu ngân sách của Hạ viện, hoặc bất kỳ một dự Luật nào liên quan đến vấn đề này Trong trường hợp đó, một tiểu ban tham vấn sẽ được thành lập, gồm các thành viên của cả hai viện, để đi tới một thỏa hiệp có thể chấp nhận
đối với cả hai bên, trước khi dự luật trở thành luật
Thượng viện có quyền xác nhận sự bổ nhiệm của Tổng thống đối với các quan chức cấp cao và các đại sứ của chính quyền liên bang, cũng như phê chuẩn tất cả các hiệp ước với 2/3 số phiếu thuận Khi đó, hành động không ủng hộ của Thượng viện sẽ vô hiệu hóa hành động của ngành hành pháp
Hạ viện có toàn quyền đưa ra lời buộc tội về hành vi bất chính có thể dẫn tới việc xét xử ở tòa án Khi ấy, Thượng viện cũng có toàn quyền kiểm tra những trường hợp luận tội và xác minh xem các quan chức là có tội, hay vô tội Các quan chức liên bang sẽ buộc phải rời khỏi cơ quan nhà nước khi bị
phát hiện là phạm tội
+ Quyền hạn của Quốc hội
Quốc hội là nơi diễn ra các sự thỏa hiệp của các đảng chính trị, do chính trị quyết định, hay nói một cách khác, hoạt động của nó luôn phụ thuộc vào từng cơ quan, lực lượng chính trị, mà hai Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa đóng vai trò quyết định Hiến pháp Mỹ trao cho Quốc hội quyền hành rất lớn, đó là quyền lập pháp, quyền sửa đổi hiến pháp và pháp luật Điều I, mục
8 của Hiến pháp Hoa Kỳ đã quy định quyền hạn rộng lớn của Quốc hội như sau [55]:
+ Đánh thuế và thu thuế; vay tiền cho công quỹ; thiết lập các luật lệ và các quy chế điều chỉnh quan hệ thương mại giữa các bang và với nước ngoài; thiết lập các quy định thống nhất cho việc nhập tịch của công dân nước ngoài; thiết lập hệ
Trang 19Ngoài ra, hiến pháp cũng có những điều cấm cụ thể đối với những hoạt động nhất định của Quốc hội Quốc hội không được phép [55]:
+ Thông qua các luật trong đó lên án ai đó về sự phạm tội, hay hành vi phạm pháp, mà không thông qua tòa án; Đánh thuế trực thu lên công dân, trừ trường hợp dựa trên cơ sở một cuộc điều tra dân số đã được tiến hành; Đánh thuế hàng xuất khẩu từ bất cứ bang nào và nhiều điều cấm khác…
kế nhiệm Tổng thống trong trường hợp Tổng thống qua đời, từ chức, hay không có đủ năng lực
Ngành hành pháp là một trong ba thiết chế chính thức trong hệ thống chính trị của Mỹ Nó có vai trò to lớn, đặc biệt ngày càng nổi bật trong đời
sống chính trị của Mỹ Theo Điều 2, Khoản 1 Hiến pháp Hoa Kỳ “Quyền hành pháp sẽ giao cho một vị Tổng thống Hợp chủng Quốc Châu Mỹ” Tổng
thống có chức năng thực thi pháp luật, kiềm chế hai nhánh quyền lực khác trong chính quyền và tham gia vào quá trình hoạch định chính sách Như vậy, ngành hành pháp được quyền ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện luật và những phương tiện buộc các đối tượng bị điều chỉnh của luật phải thực thi, được quyền có tiếng nói quyết định trong những vấn đề quan trọng cùng hai nhánh quyền lực hữu quan, được quyền hoạch định chính sách
Hiến pháp đòi hỏi Tổng thống phải là công dân Mỹ, sinh ra trên đất Mỹ
và có tuổi đời ít nhất là 35 tuổi Các ứng cử viên Tổng thống được các chính đảng bầu chọn nhiều tháng trước cuộc bầu cử Tổng thống, được tổ chức 4 năm một lần Điều sửa đổi Hiến pháp thứ 22, được phê chuẩn năm 1951, đã
Trang 20giới hạn Tổng thống chỉ được giữ chức hai nhiệm kỳ [55] Nhiệm vụ của Tổng thống bao gồm việc thảo luận các hiệp ước quốc tế, ký hoặc phủ quyết các dự luật, bổ nhiệm các thành viên nội các, thẩm phán, đại sứ, cũng như ân
xá những ai vi phạm luật liên bang Tất cả các dự luật liên bang được Quốc hội liên bang thông qua, phải được Tổng thống ký mới trở thành luật Hiến pháp cho phép Tổng thống quyền phủ quyết dự luật đã được Quốc hội liên bang thông qua Vì quyền lực lớn như vậy, nên Tổng thống Mỹ thường được
ví như là người có quyền lực lớn nhất trên thế giới Tuy nhiên, những quyền hạn lớn của Tổng thống cũng bị giới hạn, vì có sự kiểm tra và giám sát của các cơ quan khác được ghi trong Hiến pháp Nhưng trong thời gian gần đây, sức mạnh của báo chí và tầm quan trọng của chính sách ngoại giao đã làm tăng vị thế của Tổng thống
Ngoài Tổng thống, bộ máy hành pháp Hoa Kỳ còn có Phó Tổng thống,
15 bộ và trên 60 Ủy ban độc lập Các bộ trưởng do Tổng thống bổ nhiệm và phải được Thượng viện thông qua Phó Tổng thống là Chủ tịch Thượng viện, giám sát các vấn đề thủ tục và có quyền biểu quyết trong trường hợp phiếu của các thượng nghị sỹ rơi vào thế cân bằng Phó tổng thống cũng chủ trì phiên họp chung của Quốc hội khi Quốc hội chính thức đếm phiếu của cuộc bầu cử Tổng thống Vị trí của Phó Tổng thống đã được củng cố trong thế kỷ 20, khi theo tục lệ Phó Tổng thống được mời tham dự các cuộc họp của nội các Và hơn nữa vào năm 1949, Quốc hội đã cho phép Phó Tổng thống trở thành một trong bốn thành viên chính thức của Hội đồng An ninh Quốc gia [68]
Trong hệ thống hành pháp liên bang còn có Văn phòng Nhà trắng, Văn phòng quản trị và tài chính, các hội đồng cố vấn Các hội đồng cố vấn đóng vai trò quan trọng trong hoạch định chính sách của Tổng thống Đáng chú ý nhất là Hội đồng an ninh quốc gia, Hội đồng cố vấn kinh tế, và Hội đồng chính sách phát triển
Ngành hành pháp Mỹ có hệ thống hành pháp liên bang và hệ thống
Trang 21Ở các bang, thẩm quyền của Thống đốc là khác nhau, những Thống đốc bang
có nhiệm kỳ ngắn (dưới 4 năm) thường phải chia sẻ quyền hành với một số quan chức hành pháp bang khác như Phó Thống đốc bang, Bộ trưởng Tài chính, Bộ trưởng Tư pháp Thống đốc bang kiểm soát cảnh sát và quân đội Trong lĩnh vực lập pháp, Thống đốc bang chịu trách nhiệm thi hành một phần, chứ không phải tất cả luật pháp Khác với Tổng thống Hoa Kỳ, Thống đốc bang thường có cấp dưới là các viên chức hành chính do dân bầu ra Những người này có thể độc lập thực hiện công việc của mình, mà không cần đến sự chỉ đạo của Thống đốc Ngoài ra, Thống đốc còn có thể vươn lên chức vụ cao hơn Khi một Thượng nghi sĩ chết, vị Thống đốc bang này có thể từ chức và
để vị Phó Thống đốc bang bổ nhiệm mình vào Thượng viện
Ngành tƣ pháp
Là ngành thứ ba trong chính quyền liên bang, ngành tư pháp bao gồm một hệ thống tòa án rải trên khắp đất nước, đứng đầu là Tòa án tối cao Hợp chúng quốc Hoa Kỳ Ngành tư pháp có chức năng bảo vệ hiến pháp và pháp luật, thông qua hoạt động xét xử mọi hành vi vi phạm Hiến pháp và pháp luật; giải thích hiến pháp và luật phục vụ cho quản lý xã hội; kiềm chế các thiết chế khác trong hệ thống chính trị [15, 216]
Hệ thống tòa án Mỹ được Quốc hội thành lập sau khi thông qua đạo luật về tư pháp năm 1789 và những đạo luật sau đó Hệ thống tòa án được chia thành những cấp bậc từ thấp đến cao Tuy nhiên, chế độ liên bang đã dẫn đến sự tồn tại song song hai hệ thống tòa án: Tòa án liên bang và tòa án các bang Hệ thống tòa án liên bang được điều chỉnh bởi pháp luật liên bang và hệ thống tòa án các bang chịu sự điều chỉnh của pháp luật các bang Tuy nhiên, hai hệ thống này không hoàn toàn tách biệt nhau, bởi theo quy định, hiến pháp
và các đạo luật của các bang phải phù hợp với luật pháp liên bang
+ Hệ thống tòa án liên bang đã tồn tại từ trước khi Hiến pháp được dự
thảo Hiến pháp trao cho tòa án liên bang một quyền lực hạn chế Điều III của
Trang 22Hiến pháp nêu rõ cơ sở của hệ thống tòa án liên bang là: "Quyền lực tư pháp của Hợp chúng quốc được trao cho Tòa án Tối cao và các tòa án cấp dưới
mà Quốc hội có thể thiết lập trong một số trường hợp” [56] Hệ thống tòa án liên
bang gồm ba cấp xét xử: tòa sơ thẩm là các tòa án khu vực liên bang; tòa phúc thẩm là các tòa phúc thẩm lưu động liên bang và Tòa án tối cao liên bang
- Các nhóm lợi ích
Ở Mỹ, ngoài Hiến pháp, hệ thống đảng chính trị, tổ chức bộ máy Nhà nước thì các nhóm lợi ích (nhóm áp lực) cũng là những bộ phận của hệ thống chính trị, có vai trò rất quan trọng, bảo đảm sự tồn tại và phát triển của hệ thống chính trị, tác động rất lớn đến nền chính trị nước Mỹ Các nhóm lợi ích được coi là những quyền lực đứng đằng sau giật dây hệ thống chính trị, để phục vụ cho những nhu cầu của họ Hiến pháp Mỹ không đề cập nhiều đến các nhóm lợi ích Tuy nhiên, người soạn thảo Hiến pháp 1787 đã thừa nhận nhiều nhóm lợi ích khác nhau trong xã hội, nhưng lại không công nhận vai trò của chúng trong việc điều hành đất nước
Các nhóm lợi ích tạo cho người Mỹ một phương tiện để bày tỏ quan điểm của họ đối với các nhà hoạch định chính sách Trong khi các đảng chính trị cạnh tranh với nhau để giành các vị trí quyền lực trong bộ máy công
Trang 23Nguồn tài chính của các nhóm lợi ích là những khoản đóng góp hay các khoản lệ phí thành viên Các thành viên của nhóm lợi ích liên lạc với nhau chủ yếu qua các bản tin, thư từ, hội thảo
Có nhiều dạng nhóm lợi ích khác nhau: nhóm lợi ích kinh doanh, nhóm công đoàn, nhóm nghề nghiệp và nhóm lợi ích công Hoạt động của các nhóm lợi ích chủ yếu là vận động hành lang và tham gia vào hoạt động bầu cử
Là một quốc gia ra đời muộn dựa trên những bài học kinh nghiệm từ các mô hình chính trị đã có trong lịch sử, cũng như từ những kinh nghiệm thực tế của các bang đầu tiên, các nhà lập quốc Mỹ đã thiết kế cho mình một
mô hình chính trị riêng Về cơ bản, hệ thống chính trị Mỹ hiện nay vẫn giữ nguyên những nguyên tắc đã được định hình từ thời lập quốc và với cách thức
tổ chức bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tam quyền phân lập triệt để, hình thành cơ chế kiểm soát và cân bằng quyền lực giữa các cơ quan trong bộ máy công quyền Bộ máy công quyền được phân quyền, đồng thời có nhiều quy định để kiềm chế lẫn nhau, nên không có nhánh quyền lực nào được toàn quyền ở lĩnh vực nào Điều này đã hạn chế một cách đáng kể khả năng lạm quyền của các cơ quan công quyền
1.1.2 Đảng chính trị
Đảng là tập hợp một nhóm người có chung mục đích, lý tưởng Người
ta gọi đảng phái có nghĩa là cơ cấu chính trị trong đó nhiều đảng tranh giành quyền lãnh đạo chính quyền một cách hòa bình với nhau thông qua bầu cử
Ngày nay, trên thế giới không có quốc gia nào lại không có đảng chính trị Hình thức tiền thân của đảng chính trị là các nhóm chính trị, các câu lạc
bộ chính trị… Sự ra đời và phát triển của các đảng chính trị có liên quan chặt chẽ với quyền tồn tại của các nhóm khác nhau trong xã hội, quyền các nhóm được kiểm soát, chi phối lãnh đạo và hạn chế quyền của đảng cầm quyền Có thể thấy, các đảng phái là sản phẩm của một logic chính trị, xuất phát từ những hành động mang tính chiến lược của các chính trị gia và các công dân
Trang 24khi theo đuổi những mục tiêu chính trị của họ trong khuôn khổ những thể chế
do Hiến pháp tạo ra Tùy theo số lượng đảng chính trị lớn ở trong một nước, người ta chia thành các loại lưỡng đảng, đa đảng…
Đảng chính trị với đúng nghĩa của nó chỉ bắt đầu xuất hiện vào những năm cuối thế kỷ XVIII (1791), sau khi Nhà nước Mỹ được thành lập dưới chính quyền Tổng thống Washington Năm 1800, nước Mỹ trở thành quốc gia đầu tiên phát triển các chính đảng non trẻ trên toàn quốc nhằm thực hiện việc chuyển giao quyền hành pháp từ đảng này sang đảng khác thông qua bầu cử Theo một khía cạnh nào đó, đảng phái đã trở thành một bộ phận không thể tách rời của bộ máy thể chế trong nền chính trị Mỹ Sự phát triển và mở rộng các đảng
phái chính trị sau đó gắn kết chặt chẽ với việc mở rộng quyền bầu cử
Các học giả trên thế giới đã đề xuất rất nhiều định nghĩa về đảng chính trị Hai trong số những định nghĩa nổi bật nhất hoàn toàn trái ngược nhau là của Edmund Burke và Anthony Downs Edmund Burke, một chính trị gia và
là nhà khoa học chính trị của nước Anh thể kỷ XVIII định nghĩa: “Đảng phái
là một tổ chức của những người tập hợp với nhau nhằm thúc đẩy lợi ích quốc gia, thông qua những nỗ lực chung của họ, dựa trên một số nguyên tắc cụ thể được tất cả nhất trí” [36, 495] Anthony Downs, trong nghiên cứu kinh điển
thời hiện đại của ông với nhan đề “Một lý thuyết kinh tế về nền dân chủ” (An
Economic theory of Democracy) đã định nghĩa đảng phái là: “Một nhóm người tìm cách kiểm soát bộ máy chính quyền bằng việc giành lấy những chức vụ trong các cuộc bầu cử được tổ chức theo thời hạn” [36, 495]
Theo từ điển Bách khoa thư Việt Nam, Đảng chính trị là bộ phận tích
cực nhất và có tổ chức của một giai cấp, làm công cụ đấu tranh cho lợi ích của giai cấp đó Các đảng chính trị xuất hiên ngay từ những giai đoạn phát triển cao của xã hội có giai cấp, gắn liền với sự khác nhau về lợi ích của các giai cấp và của các tập đoàn hợp thành giai cấp
Theo các học giả Mỹ, một tổ chức chính trị được gọi là đảng phái
Trang 251 Có biểu tượng và có tên đảng để hoạt động và thể hiện trên hòm phiếu
2 Phải gây được một ấn tượng tâm lý đáng kể với cử tri để khi hành động,
họ tự hào nhận rằng “tôi là người Dân chủ” hay “tôi là người Cộng hòa”
3 Phải tổ chức được hội nghị toàn quốc theo định kỳ để lựa chọn người ra ứng cử vào chức vụ tổng thống
4 Có một văn phòng họp riêng ở cơ quan lập pháp để các đại biểu Quốc hội có thể trao đổi với đại diện của đảng
5 Có một trụ sở quốc gia với một Chủ tịch và những người cộng sự Tuy nhiên, đây mới chỉ là dấu hiệu bên ngoài, còn dấu hiệu mang tính cốt lõi của một đảng chính trị ở Mỹ “là một tổ chức cùng chung lý tưởng, tích cực tìm cách kiểm soát bộ máy nhà nước thông qua tuyển cử” Ở đây, điều hết sức căn bản về thực chất tồn tại của “tổ chức” này là lợi ích Bởi lẽ thông qua
sự kiểm soát bộ máy nhà nước lợi ích của đảng cầm quyền được thực hiện ở mức cao nhất
Với những quan điểm như trên, đảng chính trị ở Mỹ được định nghĩa
như sau: “Đảng chính trị là một nhóm các cá nhân, được tổ chức lại nhằm giành chiến thắng trong cuộc bầu cử để điều hành chính phủ và quyết định chính sách công cộng.” [12, 14]
Dựa trên những quan điểm và cách giải thích về đảng chính trị như trên, tôi cho rằng, đảng chính trị là một tổ chức chính trị gắn chặt với hoạt động chủ yếu là giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước Các đảng thông qua việc thực hiện những lợi ích chung của nhân dân, để đạt được lợi ích của phe nhóm và giai cấp mà đảng chính trị đại diện
Chính vì vậy, hoạt động của các đảng chính trị ngày nay luôn gắn với cuộc đấu tranh giành chính quyền, để từ đó hiện thực hóa lợi ích của phe nhóm, giai cấp Các đảng chính trị luôn mong muốn trở thành đảng cầm quyền, đứng ra thành lập chính phủ để thể hiện ý chí và lợi ích của tầng lớp, giai cấp mình đại diện Hay trở thành đảng cầm quyền chính là nhiệm vụ chủ yếu làm cơ sở cho việc thực hiện các nhiệm vụ khác của đảng chính trị
Trang 261.1.3 Đảng cầm quyền
Sự tồn tại của một đảng chính trị gắn với cuộc đấu tranh giành chính quyền, thực hiện những lợi ích của giai cấp, đạt được mục tiêu cuối cùng là trở thành đảng cầm quyền và đương nhiên, thành lập chính phủ để thể hiện ý chí thống trị xã hội của giai cấp mình
Đảng cầm quyền là khái niệm dùng để chỉ đảng đang nắm quyền, đang nắm giữ và lãnh đạo chính quyền, để điều hành quản lý nhà nước, nhằm thực hiện lợi ích của giai cấp Để trở thành một đảng cầm quyền, các đảng chính trị cần bảo đảm các điều kiện như sau: 1/ Đảng và giai cấp mà đảng đại diện phải
có cơ sở kinh tế- xã hội và được hình thành từ trong quá trình phát triển của quốc gia 2/ Đảng tồn tại và hoạt động hợp pháp 3/ Đảng phải tranh cử để thắng trong các cuộc bầu cử và nắm quyền hành pháp 4/ Đảng phải có chương trình hành động vừa bảo vệ lợi ích giai cấp, vừa thống nhất với lợi ích quốc gia dân tộc, vừa theo kịp xu thế của thời đại 5/ Đảng phải có hệ tư tưởng, đường lối chính sách, cương lĩnh cầm quyền đúng đắn để bảo đảm thắng cử trong các cuộc bầu cử 6/ Đảng phải biết tập hợp quần chúng nhân dân, vận động quần chúng ủng hộ
Như vậy, khi đảng nào điều hành chính phủ thì gọi là đảng cầm quyền, còn đảng kia đóng vai trò là đảng đối lập Hiện tại, Đảng Dân chủ đang là đảng cầm quyền ở Mỹ, năm quyền hành pháp dưới sự điều hành của Tổng thống Barack Obama, còn Đảng Cộng hòa là đảng đối lập
1.2 Quá trình hình thành và phát triển của Đảng phái chính trị Mỹ
1.2.1 Sự hình thành của hệ thống đa đảng ở Mỹ
Có thể gọi các Đảng phái chính trị là “đứa con ngoài ý muốn của Hiến Pháp Mỹ” [36] Trong những năm đầu thành lập Hợp chúng quốc Hoa kỳ, nhận thức chung của mọi người là phản đối kịch liệt các đảng phái chính trị Tuy nhiên, những ý muốn chủ quan không ngăn cản được việc xuất hiện các
Trang 27biểu tham dự hội nghị đã bị chia rẽ thành hai nhóm: nhóm những người theo
tư tưởng liên bang và nhóm những người chống lại tư tưởng liên bang
Nhóm những người ủng hộ liên bang (Federalists) do Alexander Hamilton, Bộ trưởng tài chính dưới chính quyền của Tổng thống Washington đứng đầu Phe ủng hộ liên bang phần lớn là những thương gia, chủ ngân hàng
và các địa chủ bảo thủ Họ ủng hộ việc phê chuẩn Hiến pháp và chủ trương thành lập một chính phủ trung ương đủ mạnh để thúc đẩy các lợi ích tài chính thông qua việc sản xuất và buôn bán; nâng đỡ giới công nghiệp - tài chính miền Đông Bắc
Nhóm những người chống liên bang do Thomas Jefferson – Bộ trưởng ngoại giao đứng đầu, bao gồm những tiểu chủ của các đồn điền ở các bang miền Trung – Tây, công nhân ở các thành thị mới xây dựng và những người
nô lệ da đen ở miền Nam Phái này ủng hộ tự do và quyền của các bang với một nền cộng hòa phi tập trung, được phân quyền cho các địa phương, đồng thời chống lại sự chuyên chính của chính phủ liên bang
Chính những bất đồng trên quan điểm của hai phái khi thông qua Hiến pháp, đã dẫn đến việc hình thành hai đảng vào năm 1791
Sau khi Hiến pháp liên bang được phê chuẩn năm 1789, phái liên bang trở nên mạnh hơn và hoạt động như một đảng chính trị T Jefferson không được Tổng thống Washington ủng hộ nên từ chức, năm 1793, ông đã lập ra một đảng đối lập: Đảng Dân chủ - Cộng hòa (Democratic – Republican), được coi là tiền thân của Đảng Dân chủ ngày nay Năm 1800, dưới danh nghĩa đảng này, Jefferson ra tranh cử Tổng thống và đã thắng cử, trở thành Tổng thống thứ 3 của nước Mỹ
Từ năm 1824 do những mâu thuẫn nội bộ, Đảng Dân chủ - Cộng hòa đã
bị chia rẽ thành nhiều phe phái khác nhau và đến năm 1828, đảng này bị chia
rẽ thành hai đảng mới là Đảng Dân chủ (Democratic Party) và Đảng Whig (Whig Party) Đây được coi là thời điểm đánh dấu sự ra đời chính thức của
Trang 28Đảng Dân chủ ngày nay ở Mỹ và nó trở thành Đảng chính trị lâu đời nhất trên thế giới
Thời kỳ từ năm 1828 đến trước cuộc nội chiến ở Mỹ (1861 – 1865), Đảng Dân chủ và Đảng Whig thay nhau cầm quyền Năm 1854, một liên minh của Đảng Whig với những người thuộc Đảng Dân chủ có xu hướng chống chế độ nô lệ và một số đảng khác đã thành lập lên Đảng Cộng hòa Năm 1860, Abraham Lincon trở thành Tổng thống đầu tiên và là người của Đảng Cộng hòa
Trong hầu hết các cuộc bầu cử từ năm 1860 đến năm 1932, Đảng Cộng hòa nhận được sự ủng hộ của một bộ phận lớn cử tri và kiểm soát nhánh hành pháp trong suốt thời gian đó Khi những người Đảng Dân chủ giành lại được chiếc ghế Tổng thống, họ cũng chỉ giữ được nó trong một thời gian ngắn Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933 đã tác động mạnh mẽ đến nước Mỹ, làm tê liệt nước Mỹ, làm cho chính sách của Đảng Cộng hòa hoàn toàn bị phá sản, uy tín của đảng bị suy giảm trong nhiều năm và phải nhường chỗ cho Đảng Dân chủ Có thể thấy, trước nội chiến 1861 – 1865, Đảng Dân chủ gần như liên tục nắm chính quyền, sau chiến tranh lại nắm chính quyền từ năm
1885 đến năm 1889, từ năm 1893 đến năm 1897, từ 1913 đến năm 1925 và từ năm 1933 đến năm 1945 [39, 248] Như vậy, cho đến những năm 70 của thế
kỷ XX, những người dân chủ đã có 32 năm cầm quyền, làm chủ Nhà trắng, 44 năm nắm giữ vai trò kiểm soát cả hai viện Còn trong thời gian này, Đảng Cộng hòa đã phải trải qua quá trình nỗ lực đổi mới về tổ chức, chính trị và tư tưởng do những người đại diện khởi xướng và tham gia hoạt động [39, 246] Với sự nỗ lực đó Đảng Cộng hòa đã đạt được thắng lợi trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 1980 và 1984, giữ được quan điểm thực tế của mình trong Quốc hội, trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 1982 Lần đầu tiên từ năm
1946, số người ủng hộ ứng cử viên Đảng Cộng hòa trong Quốc hội lên đến gần 50% Trong khi đó, trong cuộc bầu cử năm 1980 và 1984, Đảng Dân chủ
Trang 29lại chỉ có 41% cử tri ủng hộ Năm 1980, lần đầu tiên sau nhiều năm cầm quyền Đảng Dân chủ bị mất đa số phiếu tín nhiệm trước các nhóm bầu cử là lao động chân tay, thành viên công đoàn và một số nhóm dân tộc ít người
Từ năm 1980 đến năm 1992, chức Tổng thống Mỹ thuộc về Đảng Cộng hòa Năm 1992, ứng cử viên Đảng Dân chủ Bill Clinton đã thắng cử Đảng Cộng hòa tuy đã thất bại trong cuộc bầu cử Tổng thống, nhưng vẫn giành được đa số ghế ở cả hai viện trong Quốc hội Ngày 5/11/1996, Bill Clinton, lại tiếp tục đắc cử và cũng trong lần bầu cử này, trong số 11 ghế thống đốc bang bầu lại, Đảng Dân chủ giành được 7 ghế, Đảng Cộng hòa chỉ giành được
4 ghế; trong số 34 ghế ở Thượng Nghị viện thì Đảng Cộng hòa giành được 20 ghế, Đảng Dân chủ được 14 ghế Từ năm 2001 – 2009, ứng của viên George
W Bush của Đảng Cộng hòa đã nắm giữ chức Tổng thống nước Mỹ Trong cuộc bầu cử tháng 11/2008, ứng viên Đảng Dân chủ - Barack Obama đã chiến thắng, giành lại quyền kiểm soát Nhà trắng cho Đảng Dân chủ sau 8 năm rơi vào tay Đảng Cộng hòa, đồng thời giành được quyền kiểm soát cơ quan lập pháp ở cả Thượng viện và Hạ viện
Như vậy, ngay sau khi Nhà nước Liên bang Mỹ được thành lập dưới chính quyền Tổng thống Washington, hệ thống lưỡng đảng cũng ra đời ở Mỹ Đảng Cộng hòa và Đảng Dân chủ đã trở thành hai đảnh chính trị tồn tại song song trong nền chính trị Hoa Kỳ, đồng thời là hai đảng ra đời sớm nhất trên thế giới Điều đó chứng tỏ, đảng phái và thể chế dân chủ Hoa kỳ cùng sinh ra, cùng tồn tại và phát triển trong mối liên hệ cộng sinh mật thiết
1.2.2 Các giai đoạn phát triển của Đảng chính trị
Như đã trình bày ở phần trên, trong quá trình xây dựng nhà nước liên bang, hệ thống hai đảng ở Mỹ cũng đã hình thành Nước Mỹ là một nước có nhiều đảng phái khác nhau, trong đó có cả đảng cộng sản và đảng xã hội Tuy nhiên, trong suốt chiều dài lịch sử hơn 200 năm chỉ có hai đảng lớn là Đảng Dân chủ và Cộng hòa thay nhau cầm quyền Hai đảng này luôn chiếm ưu thế
ở mọi cấp độ chính quyền và luôn khống chế nền chính trị Mỹ Các đảng
Trang 30thiểu số đôi khi cũng giành được một số chức vụ trong chính quyền cấp dưới, nhưng hầu như không có vai trò quan trọng trong nền chính trị Mỹ Cuộc ganh đua giữa Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa là một trong những đặc điểm nổi bật và lâu đời nhất của nền chính trị Mỹ từ năm 1860, phản ánh những đặc trưng về mặt cơ cấu của hệ thống chính trị Mỹ và sự khác biệt về mặt đảng phái của Mỹ so với các nước khác Cả Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa đều không có một cương lĩnh hoạt động thường xuyên, cố định, tổ chức lỏng lẻo
và cũng không có danh sách đảng viên thường trực Mà các thành viên tham gia đảng phái ở Mỹ dựa trên nguyên tắc tự nguyện Dựa trên lịch sử hình thành, phát triển nước Mỹ, có thể phân chia quá trình cầm quyền của hai đảng Dân chủ và Cộng hòa thành các giai đoạn như sau:
a Giai đoạn một đảng cầm quyền từ năm 1801 - 1828
Như đã trình bày ở phần 1.2.1: “Sự hình thành và phát triển của hệ thống đa đảng ở Mỹ” Năm 1973, sau khi Thomas Jefferson rời khỏi chính phủ của George Washington và lập lên Đảng Dân chủ - Cộng hòa Đến năm
1800 Jefferson đã ra tranh cử và đắc cử, mở ra kỷ nguyên cầm quyền 24 năm của Đảng Dân chủ – Cộng hòa qua các đời Tổng thống: Từ 1801 – 1809: Thomas Jefferson; Từ 1809 – 1817: James Madison; Từ 1817 – 1825: James Monroe; Từ 1825 – 1829: John Quicy Adams
24 năm nắm quyền cũng là khoảng thời gian không có sự cạnh tranh giữa hai Đảng tại Mỹ và là thời kỳ thắng thế đầu tiên của Đảng Cộng hòa – Dân chủ mà sách báo Mỹ gọi đây là “kỷ nguyên thiện cảm”, kỷ nguyên thống trị của Đảng Dân chủ - Cộng hòa Thời kỳ Đảng Dân chủ - Cộng hòa cầm quyền là thời kỳ mà nền nông nghiệp Mỹ phát triển phong phú Đảng Dân chủ
- Cộng hòa với đường lối hoạt động đúng đắn đã nhận được sự ủng hộ mạnh
mẽ của những người dân nghèo, nô lệ da đen, tầng lớp tiểu chủ kinh doanh sản xuất nông nghiệp ở các bang miền Nam Ngay từ khi tiến hành vận động tranh cử và cả khi đắc cử, điều đầu tiên mà đảng thực hiện là kêu gọi sự hòa
Trang 31hợp thống nhất với khẩu hiệu “tất cả chúng ta đều là người Cộng hòa, tất cả chúng ta đều là người Liên bang” [12, 224], đồng thời với lời hứa của Tổng
thống về chính sách đối nội, đối ngoại nhằm khôi phục, phát triển nền kinh tế
và đảm bảo thực hiện quyền tự do trên mọi lĩnh vực cho nhân dân
Về chính sách đối nội: họ tập trung mọi cố gắng nhằm xây dựng chính
phủ Trung ương nhỏ gọn và vững mạnh Thực hiện chính sách giảm thuế, giảm lực lượng vũ trang, tiết kiệm chi tiêu công cộng… Bên cạnh đó, đảng còn thực hiện chính sách giảm nợ đến mức thấp nhất, thực hiện một số quyền với phụ nữ
Về chính sách đối ngoại: Đảng Dân chủ – Cộng hòa chủ trương xây
dựng mối quan hệ thân thiện với các dân tộc Đặc biệt, trong thời gian cầm quyền, Đảng này đã thực hiện chính sách mở rộng lãnh thổ nước Mỹ và đạt được những thành quả nhất định
Đến năm 1824, nội bộ Đảng Dân chủ – Cộng hòa có sự mâu thuẫn về lợi ích đã bị chia rẽ thành hai bộ phận và phát triển thành hai đảng mới là Đảng Dân chủ và Đảng Whig
b Giai đoạn từ 1828-1865: Thời kỳ thống trị của Đảng Dân chủ và Đảng Whig
Năm 1828, một số đảng viên Đảng Dân chủ - Cộng hòa do sự bất đồng
về lợi ích đã tách ra khỏi đảng và hình thành bè phái chống lại Andrew Jackson Phái ủng hộ Andrew Jackson, ủng hộ chế độ dân chủ đã lập lên Đảng Dân chủ năm 1828, đánh dấu sự ra đời của Đảng Dân chủ tại Mỹ Còn phái chống đối, bảo thủ hơn do Henky Clay, W Henry Harrison và Daniel Webster lãnh đạo đã thành lập một đảng đối lập – Đảng Whig Đảng Whig là Đảng của các chủ ngân hàng, nhà buôn và đồn điền miền Nam
Trong các cuộc bầu cử Tổng thống, Đảng Whig đã hai lần thắng cử với
sự cầm quyền của Tổng thống Wiliam Henry Harrison năm 1840 và Zachary Taylor 1848 Từ đó hệ thống hai đảng phát triển mạnh Tuy nhiên, từ cuối
Trang 32những năm 1840, việc giải quyết vấn đề nô lệ dẫn đến mâu thuẫn gay gắt trong nội bộ đã làm cho các đảng phái bị suy yếu, thể hiện trong sự chia rẽ của Đảng Dân chủ và sự sụp đổ của Đảng Whig vào năm 1850
Ngay sau sự thất bại đó, Đảng Dân chủ đã củng cố lại tổ chức và tiếp tục thúc đẩy các chính sách cơ bản trong hoạt động đối nội và đối ngoại Kết quả là từ năm 1852 đến 1860, Đảng Dân chủ lại giành quyền kiểm soát Nhà trắng Trong bối cảnh đó, năm 1854, một liên minh của Đảng Whig gồm những người dân chủ chống chế độ nô lệ và một số đảng nhỏ khác đã lập lên Đảng Cộng hòa với mục đích chống chế độ nô lệ Đảng Cộng hòa đã trở thành đảng đại diện cho khu vực miền Bắc và Đảng Dân chủ trở thành đảng đại diện cho chế độ nô lệ ở Miền Nam Tuy nhiên, từ năm 1861 – 1865, ở Mỹ
đã xảy ra cuộc nội chiến, tác động mạnh mẽ đến các đảng chính trị
c Giai đoạn từ sau cuộc nội chiến nước Mỹ đến hết năm 1896: Thời
kỳ Đảng Cộng hòa xác định vị trí lãnh đạo
Đảng Cộng hòa chính thức thành lập năm 1854 Ban đầu đảng này với tên gọi là Đảng Cộng hòa Quốc gia, do những người theo chủ nghĩa liên bang lập lên Abraham Lincon trở thành Tổng thống đầu tiên của Đảng Cộng hòa Năm 1861 – 1865, nước Mỹ xảy ra cuộc nội chiến gay gắt Sau khi cuộc nội chiến kết thúc, Mỹ bắt tay vào công cuộc xây dựng đất nước và trở thành nước công nghiệp phát triển Cùng với sự ra đời của thị trường quốc gia thống nhất và sự phát triển nhanh chóng của nền đại công nghiệp cơ khí, thời kỳ này các hãng sản xuất công nghiệp lớn ra đời đã làm cho nước Mỹ có nhiều biến đổi Chính những thành tựu đó đã giúp Đảng Cộng hòa lấy lại lòng tin của nhân dân Đảng Cộng hòa từ chỗ yếu kém đã trở thành biểu tượng của sự thành công và giành được thắng lợi trong cuộc bầu cử năm 1896 với cương lĩnh tranh cử đẩy mạnh phát triển kinh tế và hiện đại hóa đất nước Trong khi
đó, ứng cử viên Đảng Dân chủ với cương lĩnh “tiền tệ tự do” đã thất bại Với cương lĩnh của mình, Đảng Cộng hòa đã dành được sự ủng hộ của các lực
Trang 33lượng như: Hiệp hội các nhà công nghiệp; Liên minh cựu chiến binh; công nhân ở các đô thị miền Bắc, tầng lớp trí thức… Đảng Dân chủ chỉ dành được
sự ủng hộ của những người nhập cư, những người da trắng miền Nam, nhưng lại mất đi sự ủng hộ của những người chủ trang trại lớn Chính vì vậy, người
Mỹ đã gọi thời kỳ này là “Kỷ nguyên mà Đảng Cộng hòa đã xác định được địa vị thống trị của mình trong nền chính trị Hoa Kỳ” [36]
d Giai đoạn từ thế kỷ XX đến nay: Thời kỳ Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa thay nhau cầm quyền
Bước sang thế kỷ XX nền kinh tế Mỹ vươn lên dẫn đầu thế giới cả về quy mô và năng suất lao động Năng suất công nghiệp của Mỹ đến giữa thế
kỷ XX cao, ít nhất gấp hai lần so với bất kỳ quốc gia nào ở Châu Âu Năng suất và sản lượng nông nghiệp cũng rất cao Đây là thời kỳ kinh tế Mỹ giữ vai trò độc tôn trong thế giới tư bản về tất cả các mặt như: tổng thu nhập quốc dân, thương mại, dự trữ vàng, tài chính Trên đà phát triển đó, đến nay Mỹ vẫn luôn là cường quốc đứng đầu trong thế giới tư bản trên các lĩnh vực Vì vậy, trong giai đoạn thế kỷ XX, Đảng Dân chủ và Cộng hòa là đại diện cho những tập đoàn tư bản Mỹ đều đã mạnh lên ngang sức, ngang tài nên sự cạnh tranh quyền lực giữa hai đảng chính trị lớn trở nên gay gắt, dẫn đến việc hai đảng liên tục thay nhau cầm quyền, kiểm soát Quốc hội, không một đảng thứ
ba nào giành được sự thắng lợi trong cuộc bầu cử
Trong những năm đầu thế kỷ XX, Tổng thống Đảng Cộng hòa – Theodore Roosevelt đã tìm cách đưa đảng của mình theo hướng tiến bộ, nhưng không được phái bảo thủ ủng hộ Do vậy, năm 1912 Đảng Cộng hòa phân chia thành hai phái: phái bảo thủ và phái tiến bộ Sự chia rẽ này đã trở thành yếu tố quan trọng giúp ứng cử viên Đảng Dân chủ Woodrow Wilson giành thắng lợi
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, Đảng Cộng hòa trở lại nắm quyền với thắng lợi của Warren Harding năm 1920, tiếp đó là Cabrin Coolidge từ 1923 – 1929; Herbert Hoover từ 1929 – 1933
Trang 34Song sự sụp đổ của thị trường chứng khoán và ảnh hưởng của cuộc đại suy thoái những năm 1929 – 1933 đã gần như nhấn chìm nền kinh tế, làm cho nước Mỹ lâm vào tình trạng khó khăn Trước tình hình đó, chính quyền do Đảng Cộng hòa lãnh đạo không có biện pháp giải quyết hiệu quả nên đã bị chỉ trích, uy tín bị giảm sút Do vậy, lực lượng ủng hộ Đảng Cộng hòa trước đây
là những người nhập cư theo đạo Thiên Chúa, đạo Tin Lành và rất nhiều người da trắng đã quay sang ủng hộ Đảng Dân chủ Đặc biệt, Đảng Cộng hòa
đã mất đi những lực lượng ủng hộ trung thành ở các thành phố [12, 49]
Khi đó, ứng cử viên đắt giá nhất là Frankelin Roosevelt của Đảng Dân chủ đã đưa ra chương trình kinh tế đầy sức hấp dẫn với tên gọi “Chương trình kinh tế mới – The New Deal” Mục tiêu của chương trình là: cứu giúp những người lao động; phục hồi hoạt động của các ngân hàng và đề ra biện pháp điều chỉnh kinh tế Bằng chương trình này, Đảng Dân chủ đã trở lại chiếm lĩnh vũ đài chính trị với việc F Roodevelt đắc cử Tổng thống nước Mỹ liên tiếp trong các năm: 1936, 1940, 1944 Ông là Tổng thống duy nhất của nước
Mỹ đắc cử 4 nhiệm kỳ liên tiếp và được coi như một ngoại lệ đặc biệt trong lịch sử Hoa Kỳ Trong cuộc bình chọn về vị trí các Tổng thống năm 1962, F Roosevelt được xếp thứ ba trong tổng số 31 tổng thống, thứ ba trong tổng số 5 Tổng thống vĩ đại nhất nước Mỹ, xếp trên Tổng thống Wilson và xếp dưới Tổng thống Washington đồng thời được bình chọn là tổng thống tốt nhất của thế kỷ XX Tháng 4/1945 F Roosevelt chết, Harry Truman lên thay và đắc cử Tổng thống trong cuộc bầu cử năm 1948
Từ đó đến những năm 70 của thế kỷ XX, do ảnh hưởng sâu rộng của chính sách kinh tế mới của tổng thống Roosevelt, Đảng Dân chủ vẫn liên tiếp giành quyền kiểm soát Chính phủ, Đảng Cộng hòa chỉ giành thắng lợi trong
ba cuộc bầu cử Tổng thống vào các năm 1952, 1968, 1972 Vì thế các nhà nghiên cứu chính trị Mỹ gọi giai đoạn này là “kỷ nguyên của Đảng Dân chủ -
kỷ nguyên của New Deal và hậu Deal”
Trang 35Đây là thời kỳ với đặc điểm nổi bật là Đảng Dân chủ và Cộng hòa thay nhau điều hành và kiểm soát chính phủ mà người Mỹ gọi đó là thời kỳ có sự
“điều chỉnh” lại đảng phái [12, 51] Tuy nhiên, cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam kéo dài đã góp phần ảnh hưởng đến nền chính trị nước Mỹ những năm 80 của thế kỷ XX Thêm vào đó, tình hình kinh tế Mỹ suy thoái vào đầu những năm 1970 của thế kỷ XX làm cho nạn thất nghiệp, lạm phát ở mức cao cùng với cuộc khủng hoảng con tin ở Iran năm 1979 càng làm cho cử tri mất lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng Dân chủ Do đó, từ 1980 đến 1992, quyền lực chính trị lại về tay Đảng Cộng hòa, với hai Tổng thống Regan (1980 – 1988) và Tổng thống George Henbert Walker Bush (1988 – 1992), đã để lại dấu
ấn đậm nét về chương trình hành động của Đảng Cộng hòa trong thập kỷ này
Tuy nhiên, những cải cách và chương trình hành động của hai Tổng thống không đáp ứng được tình hình thực tế của nước Mỹ sau kỷ nguyên chiến tranh lạnh đã đưa nước Mỹ vào tình trạng thâm hụt ngân sách nặng nề,
nợ nước ngoài tăng vọt và việc tiến hành cuộc chiến tranh Vùng Vịnh đã làm cho Tổng thống George Henbert Walker Bush không tái đắc cử nhiệm kỳ hai Trước tình hình đó, ứng cử viên Đảng Dân chủ - Bill Clinton đã đưa ra chương trình cải cách kinh tế ngắn hạn, dài hạn, chương trình phúc lợi xã hội tạo được lòng tin của dân chúng và ông đã đắc cử Tổng thống giữ hia nhiệm
kỳ từ năm 1992 – 2000
Như vậy, từ năm 1932 đến 2000, Đảng Dân chủ đã giành thắng lợi trong 11 cuộc bầu cử Tổng thống, trong khi đó, Đảng Cộng hòa chỉ giành được 7 lần, nhưng điều đáng nói là Đảng Cộng hòa đã giành thắng lợi 5 lần liên tiếp trong số 7 lần
Đến cuộc bầu cử tháng 11 năm 2000, ứng cử viên George Walker Bush của Đảng Cộng hòa đã giành phần thắng và trở lại nắm quyền sau một thập kỷ thất bại Tuy nhiên, trong thời gian cầm quyền, chính quyền G Bush với những chính sách cứng rắn, bảo thủ truyền thống của Đảng Cộng hòa đã gặp nhiều rắc rối trong chính sách đối ngoại Đặc biệt, cuộc tấn công vào lầu năm
Trang 36góc, NewYork của chủ nghĩa khủng bố ngày 11/9/2001 đã giáng một đòn nặng nề vào nước Mỹ Những cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa khủng bố với chiến lược “đánh đòn phủ đầu” đã được Tổng thống G Bush phát động trên nhiều quốc gia Cuộc tấn công vào Afghanistan, Iraq đã gây tổn thất nghiêm trọng cho Mỹ cả về người và của, thêm vào đó là tình trạng vi khuẩn bệnh than lan tràn, tình trạng khủng hoảng kinh tế năm 2008 Những điều đó đã khiến dân chúng mất lòng tin ở chính quyền Tổng thống G Bush Mọi người nhận định G Bush là Tổng thống “tệ hại” nhất trong lịch sử nước Mỹ Sau những nỗ lực duy trì nền thống trị trong hai nhiệm kỳ của Đảng Cộng hòa, đến cuộc bầu cử tháng 11/2008, quyền lực lại được chuyển giao cho Đảng Dân chủ với thắng lợi rất ấn tượng của ứng cử viên Barack Obama, trở thành Tổng thống thứ 44 của nước Mỹ Đây là lần đầu tiên nước Mỹ có một Tổng thống da màu Ngay khi lên cầm quyền, Obama đã đưa ra những chính sách khôi phục nền kinh tế nước Mỹ, giải quyết các vấn đề do chính quyền tiền nhiệm để lại Với những nỗ lực trong việc khôi phục nền kinh tế, cùng những chính sách đối ngoại mở rộng hợp tác quốc tế và việc chấm dứt cuộc chiến tranh ở Iraq đã giúp ông Obama tiếp tục đắc cử nhiệm kỳ hai, nắm quyền điều hành nước Mỹ đến năm 2016
1.3 Cơ cấu tổ chức của Đảng chính trị Mỹ
Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa chỉ khác nhau về sắc thái tư tưởng, chứ không khác nhau về bản chất, nên sự thay đổi của đảng viên là rất dễ xảy
ra Mỗi đợt bầu cử, Đảng Dân chủ và Cộng hòa đều có những chiến lược riêng
để thu hút sự ủng hộ của cử tri Tại mỗi bang ở Mỹ lại có sự khác biệt rất lớn
về mặt tổ chức đảng phái Có thể hình dung, cơ cấu Đảng Dân chủ hay Đảng Cộng hòa giống như kim tự tháp với các tổ chức đảng địa phương nằm ở dưới cùng (khu dân cư, phường, thị trấn), các ủy ban cấp hạt ở trên, tiếp theo là ủy ban cấp bang Ủy ban toàn quốc của mỗi đảng đứng trên tất cả và các đại hội
Trang 37nhau hoàn toàn độc lập, không chịu sự kiểm soát và chi phối của cấp trên đối
với cấp dưới Chỉ có hai tổ chức đảng cấp địa phương và đảng cấp bang là
những tổ chức có quyền hành thực sự Còn tầng trên cùng là đảng chính trị toàn
quốc biểu hiện quyền lực tối cao nhưng không có thực quyền
Mô hình cơ cấu tổ chức của đảng phái chính trị Mỹ:
(Nguồn: Thomas E Patterson The American Democracy McGraw
Hill Publishing Company, 1990, tr.282)
Các thành viên của đảng trong quốc hội
Đại hội toàn quốc Ủy ban toàn quốc
Trang 381.3.1 Đảng cấp quốc gia (Đảng chính trị toàn quốc)
Đảng Cộng hòa và Đảng Dân chủ, mỗi đảng đều có một tổ chức cao nhất gọi là Đảng chính trị toàn quốc
Tổ chức Đảng toàn quốc bao gồm một Ủy ban toàn quốc, một Chủ tịch đảng và một số tổ chức giúp việc Quyền lực của đảng chính trị toàn quốc được quyết định tại Đại hội toàn quốc, tổ chức 4 năm một lần Nhiệm vụ của Đại hội là đề cử ứng cử viên Tổng thống và Phó Tổng thống, đồng thời soạn thảo, phê chuẩn Cương lĩnh của đảng Cương lĩnh của đảng được soạn thảo phải thể hiện đầy đủ đường lối chính sách của đảng trong việc giải quyết những vấn đề cấp thiết của đất nước, cũng như những nhu cầu của cử tri mà đảng đại diện Cương lĩnh của đảng đưa ra trước kỳ bầu cử, về thực chất là sự thỏa thuận giữa các phe phái trong nội bộ đảng, nhằm mục đích tạo ra sự ổn định trong đảng trước khi đảng tiến hành tổ chức chiến dịch vận động bầu cử Tổng thống Đồng thời, cương lĩnh còn chính là những lời hứa hẹn của ứng cử viên đối với cử tri, để lôi kéo sự ủng hộ của họ Trên thực tế, nhiều điều hứa hẹn sau khi đảng thắng cử đều được chú ý thực hiện, dù rằng không triệt để Theo thống kê, phần lớn các ứng cử viên Tổng thống của đảng thắng cử đều thực hiện những lời cam kết hứa hẹn trước cử tri, và ¾ những lời hứa đó đã được trở thành luật, hoặc dự luật được chính phủ trình trước Quốc hội
Đại biểu tham dự hội nghị thường là những người có ảnh hưởng lớn như các nghị sĩ Quốc hội, các thống đốc bang, các thị trưởng và các quan chức trong đảng Các đại biểu được lựa chọn theo nhiều cách: thông qua các cuộc bầu cử sơ bộ chọn ứng cử viên Tổng thống để bầu đại biểu đi dự đại hội; hoặc thông qua đại hội cấp bang, cấp quận, tỉnh; trong một số trường hợp, ủy ban đảng cấp bang cử đại biểu tham dự đại hội toàn quốc
Giúp việc cho Đại hội toàn quốc có một ủy ban soạn thảo nghị quyết -
Ủy ban này được nhóm họp trong vài ngày đầu của Đại hội để soạn thảo
Trang 39trình hoạt động của đảng thường không vi phạm những nguyên tắc của đảng – nghĩa là không được có bất kỳ điều gì có thể làm mất lòng đội ngũ đảng viên, hoặc cử tri
Theo nguyên tắc, Ủy ban toàn quốc được thành lập tại Đại hội toàn quốc của mỗi đảng Thành viên của Ủy ban toàn quốc bao gồm thống đốc bang, các nghị sỹ Quốc hội, Chủ tịch đảng bang và một số thành viên khác được lựa chọn từ đảng các bang, mỗi bang hai người, một nam, một nữ và một
số thành viên khác được lựa trọn trên cơ sở dân số và sức mạnh của đảng ở các bang đó Ủy ban toàn quốc họp một năm hai lần Chức năng chính là chỉ đạo và phối hợp các hoạt động của đảng trong nhiệm kỳ 4 năm giữa hai kỳ đại hội
Nhiệm vụ của Ủy ban toàn quốc là chỉ đạo các hoạt động của đảng trong chiến dịch vận động tranh cử các cấp trên phạm vi toàn liên bang; lựa chọn địa điểm và chuẩn bị cho Đại hội toàn quốc tiếp theo; bầu Chủ tịch đảng toàn quốc Nếu ứng cử viên Tổng thống của đảng thất bại trong cuộc bầu cử tháng 11, thì Ủy ban toàn quốc mới ra quyết định thay đổi Chủ tịch đảng do chính ủy ban lựa chọn Ngược lại, ứng cử viên của đảng đắc cử Tổng thống, cho dù không có vai trò chính thức trong ủy ban, thì vẫn có quyền kiểm soát mọi hoạt động của ủy ban và các thành viên của nó Trong trường hợp, Tổng
thống muốn thay đổi Chủ tịch đảng thì Ủy ban phải tuân thủ sự lựa chọn đó
Chủ tịch đảng toàn quốc do ứng cử viên Tổng thống đề cử và được ủy ban toàn quốc phê chuẩn, có nhiệm vụ điều hành, giám sát quá trình vận động bầu cử cấp quốc gia, nhưng trên thực tế người điều hành cuộc vận động này ít khi là chủ tịch đảng Trong một số trường hợp, Chủ tịch đảng rất có ảnh hưởng và quyền lực đối với các tổ chức đảng cấp bang và địa phương Chủ tịch đảng là người trực tiếp quyết định thiết lập trụ sở của đảng (trụ sở của Đảng Cộng hòa và Đảng Dân chủ đều được đặt ở Washington DC); gây quỹ
và phân bổ quỹ vận động bầu cử, đồng thời xuất hiện trước phương tiện truyền thông đại chúng với tư cách phát ngôn viên của đảng mình Chủ tịch
Trang 40Đảng là người cùng ứng cử viên Tổng thống hoạch định chiến lược vận động tranh cử của đảng Chủ tịch bổ nhiệm chức vụ Chủ tịch Ủy ban tài chính của đảng Tất cả các chức vụ được Chủ tịch đảng bổ nhiệm phải có sự đồng ý của
Ủy ban và chịu trách nhiệm trước Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Trong trường hợp Chủ tịch Ủy ban qua đời, từ chức hay không đủ tư cách đảm nhiệm chức
vụ, thì các cố vấn và Chủ tịch Ủy ban Tài chính sẽ vẫn tiếp tục nhiệm vụ của mình cho đến khi Chủ tịch mới được bổ nhiệm và chỉ định các chức vụ mới thay thế
Mỗi đảng có hai Ủy ban đặc biệt tại Hạ nghị viện và Thượng nghị viện, hai Ủy ban này có ngân quỹ riêng để giúp các hạ nghị sĩ và thượng nghị sĩ trong các cuộc vận động bầu cử Ủy ban đặc biệt của Hạ viện và Thượng viện hoàn toàn độc lập với Ủy ban toàn quốc của đảng Những hoạt động đó đã phần nào thể hiện chế độ phi tập trung hóa quyền lực của Đảng chính trị Mỹ Trong nội bộ mỗi đảng thường xuyên có xung đột giữa lãnh đạo đảng ở Quốc hội và các lãnh tụ của các tổ chức đảng trên toàn quốc có xu hướng ủng hộ các cuộc vận động bầu cử Tổng thống Quan hệ căng thẳng này thường biểu hiện qua sự đối địch giữa Ủy ban vận động bầu cử Quốc hội và Ủy ban toàn quốc của đảng
Giữa hai kỳ họp của Đại hội toàn quốc bốn năm một lần thì Ủy ban toàn quốc cũng ngừng hoạt động, mặc dù nó có vị trí cao nhất trong hệ thống thứ bậc thường trực của tổ chức đảng, song nó không hoạt động thực sự và thường xuyên như Ủy ban đảng cấp bang và không có ảnh hưởng trực tiếp đối với dân chúng Vai trò của đảng ở cấp quốc gia và Chủ tịch đảng cũng chỉ nổi lên trong thời kỳ bầu cử, đồng thời nhóm lãnh đảo đảng cấp quốc gia cũng chỉ nắm quyền một thời gian và khi thất cử phải nhường quyền cho nhóm mới
1.3.2 Đảng cấp bang
Tất cả các bang ở Mỹ đều có Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa Nước