1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khảo sát việc chuyển thể tác phẩm truyện văn học thành phim truyện điện ảnh trong lịch sử văn học và điện ảnh việt nam

226 568 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 226
Dung lượng 1,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong Lịch sử điện ảnh thế giới, tác giả Iêc-Gi Te-Plix viết: “Điện ảnh với hình thức phổ biến nhất của nó là phim truyện,…là giai đoạn hiện đại của sự phát triển nghệ thuật kể chuyện,

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỔ CHÍ MINH

TỪ TÁC PHẨM VĂN HỌC ĐẾN TÁC PHẨM ĐIỆN ẢNH

Khảo sát việc chuyển thể tác phẩm truyện văn học thành phim truyện điện ảnh

trong lịch sử văn học và điện ảnh Việt Nam

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỔ CHÍ MINH

PHAN BÍCH THỦY

TỪ TÁC PHẨM VĂN HỌC ĐẾN TÁC PHẨM ĐIỆN ẢNH

Khảo sát việc chuyển thể tác phẩm truyện văn học thành phim truyện điện ảnh

trong lịch sử văn học và điện ảnh Việt Nam

Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM

Mã số : 62 22 34 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

TS LÂM VINH

PGS.TS.LÊ THU YẾN

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2012

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Văn hóa dân tộc là sự chắt lọc tinh túy nhất từ quan niệm sống, giao tiếp ứng xử của con người trong quá khứ, hiện tại và tương lai Văn hóa cũng là cái hữu hình và cái vô hình trong quan hệ giữa con người với nhau, với thiên nhiên

và ngay trong bản thân con người Qua văn học nghệ thuật những nét đẹp của văn hóa truyền thống dân tộc không những được thể hiện sinh động mà còn được gìn giữ, bảo tồn và thăng hoa trong ý nghĩa nhân văn cao cả

Các tác phẩm văn học luôn là sự tìm tòi, khám phá những bí ẩn, những trăn trở về cuộc đời, về thân phận con người để con người nghiền ngẫm, chiêm nghiệm Con người và đời người luôn là vấn đề văn học quan tâm hàng đầu,

“Lịch sử văn học chính là lịch sử tâm hồn nhân loại… nhiệm vụ chủ yếu và lâu

dài của văn học trong việc phản ánh hiện thực vẫn là mô tả số phận con người, khắc họa tính cách con người” (Lê Thanh Nghị) [99, tr.45] Đó cũng là mục tiêu

chung của các loại hình nghệ thuật, trong đó có điện ảnh

Vì vậy, kể từ khi nghệ thuật điện ảnh ra đời đến nay, việc chuyển thể những tác phẩm văn học nổi tiếng trên thế giới ngày càng trở nên phổ biến và nhiều bộ phim chuyển thể văn học đã là những tác phẩm điện ảnh kinh điển Tương tự, trong điện ảnh Việt Nam lúc hoàng kim cũng như lúc khủng khoảng, năm nào cũng có hơn một nửa số phim truyện được chuyển thể từ văn học Những kinh nghiệm của các thế hệ nhà văn, đạo diễn khi đưa tác phẩm văn học lên màn ảnh rất phong phú và có giá trị thực tiễn cao, đóng góp một phần lớn cho sự phát triển của điện ảnh thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng

Số lượng phim chuyển thể từ văn học nở rộ ở hầu hết các thể loại phim truyện và luôn được người xem chào đón nhiệt tình Có nhiều nguyên nhân đem lại thành công cho phim truyện chuyển thể từ văn học, một nguyên nhân nổi bật

Trang 4

không thể phủ nhận là các tác phẩm văn học đã mang đến cho phim truyện một sức mạnh nội tại mạnh mẽ, sức mạnh tư tưởng của bộ phim Tuy nhiên, so với điện ảnh thế giới những bộ phim truyện chuyển thể thành công từ tác phẩm văn học của điện ảnh Việt Nam còn khá khiêm tốn

Chọn đề tài Từ tác phẩm văn học đến tác phẩm điện ảnh, người viết

không ngoài mong muốn được hiểu rõ và yêu hơn vẻ đẹp lung linh từ những trang viết đến hình ảnh được tái hiện trên màn ảnh Từ đó, đi sâu tìm hiểu quá trình chuyển thể từ tác phẩm văn học sang phim truyện điện ảnh và sự ảnh hưởng sâu sắc của văn học đối với điện ảnh Cùng với các công trình khoa học khác, luận án góp thêm tiếng nói khẳng định sự ảnh hưởng của văn học đối với điện ảnh, đặc biệt những đóng góp của lí luận văn học và tác phẩm văn học trong quá trình sản xuất phim truyện điện ảnh Qua đó, đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao giá trị của phim chuyển thể văn học, để điện ảnh nước nhà có thêm nhiều bộ phim truyện xứng tầm trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay

2.MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

2.1.MỤC ĐÍCH

Trong quá trình hình thành và phát triển, nghệ thuật điện ảnh có nhiều điểm chung về chức năng đối tượng phản ánh, về mỹ học cơ bản, về văn hóa…

với các ngành nghệ thuật khác Đặc biệt, có một điểm chung bao trùm là “Trong

nghệ thuật những chuẩn mực Chân – Thiện – Mỹ đã và đang còn lâu dài là định hướng và nội dung của sáng tạo nghệ thuật ”(Hồ Sĩ Vịnh) [172, tr.83] Nội

dung đó in dấu ấn đậm nét qua những tác phẩm văn học và phim truyện chuyển thể điện ảnh Đề tài nghiên cứu của luận án góp phần giúp tất cả những ai quan tâm đến vấn đề chuyển thể tác phẩm văn học sang tác phẩm điện ảnh có thêm sự hiểu biết về mối quan hệ giữa văn học và điện ảnh, đặc biệt các tác giả - chủ thể sáng tạo phim chuyển thể điện ảnh từ văn học

Là một giảng viên văn học trong trường nghệ thuật, tôi luôn khát khao được chiếm lĩnh một cách đầy đủ, trọn vẹn những kiến thức văn học và điện ảnh

Trang 5

trong quá trình sáng tạo phim truyện chuyển thể từ văn học Qua đó trau dồi thêm kiến thức văn học và điện ảnh trong quá trình giảng dạy, để truyền thụ cho sinh viên, những giá trị đích thực của tác phẩm nghệ thuật, giúp họ có định hướng đúng về tư tưởng và thẩm mỹ trong sáng tạo tác phẩm nghệ thuật

2.2.NHIỆM VỤ

Thông qua phim truyện điện ảnh chuyển thể, mối quan hệ giữa nghệ thuật văn học và điện ảnh ngày càng trở nên gắn bó và giá trị của tác phẩm văn học một lần nữa được khẳng định và thăng hoa Đúng như nhà văn Chu Lai nhận

xét: “Văn học và điện ảnh - Cuộc nhân duyên này đã nằm ngay từ trong bản

chất ” [75, tr.23] Cho nên, việc nghiên cứu những cặp tác phẩm văn học và điện

ảnh nhằm đúc kết lí luận và thực thực tiễn, đưa ra một số nhiệm vụ sau:

- Đánh giá những ảnh hưởng tác động to lớn và tích cực của lý luận văn học và tác phẩm văn học trong việc xây dựng kịch bản văn học điện ảnh và phim truyện chuyển thể điện ảnh

- Phân tích sự tương đồng gần gũi và khác biệt cơ bản giữa tác phẩm văn học và phim truyện điện ảnh, để từ đó thấy được quá trình sáng tạo nghệ thuật trong văn chương và điện ảnh đều vô cùng vất vả, đòi hỏi người nghệ sĩ phải có

ý thức, tinh thần trách nhiệm cao

- Qua đó, giúp sinh viên, khán giả yêu nghệ thuật có thêm sự hiểu biết sâu sắc về công việc của các tác giả sáng tạo ra những tác phẩm nghệ thuật

3 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Điện ảnh xuất hiện khi những loại hình nghệ thuật khác như Điêu khắc,

Hội họa - đồ họa, Văn chương, Âm nhạc, Múa, Sân khấu đã phát triển đến độ

chín Vì vậy, điện ảnh có cơ hội vận dụng những phương tiện nghệ thuật sẵn có, đồng thời tự tạo cho mình những kỹ thuật và phương pháp biểu hiện mới hiện đại phong phú Thành công của một tác phẩm điện ảnh là thành công của sự kết hợp nhuần nhuyễn và tuyệt vời giữa các loại hình nghệ thuật, cùng với các ngành khoa học kỹ thuật và công nghệ

Trang 6

Trong các công trình mỹ học và lí luận nghệ thuật đã nêu rõ vấn đề mối

quan hệ giữa các loại hình nghệ thuật Trong Mỹ học cơ bản và nâng cao, Ôpxiannhicốp (chủ biên) đã phân tích: “Sự tác động qua lại của các nghệ thuật

dẫn tới trao đổi lẫn nhau, các thành tựu và đặc điểm đặc thù, dẫn đến ảnh hưởng của một số nghệ thuật này đến các nghệ thuật khác”, và “Đặc trưng của mỗi nghệ thuật hình thành do ảnh hưởng của toàn bộ hệ thống nghệ thuật nói chung” [112, tr.482, 484] Trong Nguyên lý lý luận văn học của Timôphêep và Dẫn luận nghiên cứu văn học của Pôxpêlốp cũng nêu vấn đề mối quan hệ giữa

văn học và các loại hình nghệ thuật Cùng nội dung trên, có tài liệu bài giảng

Văn học và các loại hình nghệ thuật của Lâm Vinh [168] và công trình nghiên

cứu của Lê Lưu Oanh [113]

Trong các loại hình nghệ thuật, văn học và điện ảnh có mối quan hệ đặc biệt ngay từ những ngày đầu điện ảnh mới hình thành Điều này, thể hiện rõ qua lịch sử hình thành và phát triển của điện ảnh thế giới và Việt Nam

3.1 TRÊN THẾ GIỚI

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, khi khoa học kỹ thuật phát triển, nghệ

thuật điện ảnh ra đời Ban đầu là những trích đoạn văn học, rồi dần dần toàn bộ tác phẩm văn học được chuyển thể sang điện ảnh Hàng loạt các tác phẩm văn học được chuyển thể sang điện ảnh ngay từ thời kỳ phim câm Các nhà nghiên cứu điện ảnh đều khẳng định: phim truyện là sự kế thừa những phương cách xây dựng câu chuyện phim từ văn học, muốn có một bộ phim truyện, đầu tiên phải

có kịch bản văn học, trước khi được quay và dựng thành phim Trong Lịch sử

điện ảnh thế giới, tác giả Iêc-Gi Te-Plix viết: “Điện ảnh với hình thức phổ biến nhất của nó là phim truyện,…là giai đoạn hiện đại của sự phát triển nghệ thuật

kể chuyện,… là người kế thừa chủ yếu của tiểu thuyết” [33, tr.9]

Ngay từ năm 1915, M.Gorki nhà văn Nga nổi tiếng (người có gần 20 tác phẩm văn học được dựng thành phim) đã nhận định về sức lôi cuốn của nghệ

thuật điện ảnh và khẳng định: “Không nghi ngờ gì nữa, tương lai nó sẽ chiếm

Trang 7

một địa vị xuất sắc trong đời sống” [80, tr.32] Năm 1919, V.Lênin đã ký sắc

lệnh quốc hữu hóa ngành điện nhiếp ảnh, là bước ngoặt lịch sử của điện ảnh Nga Đây là nền điện ảnh có ảnh hưởng rất lớn đến điện ảnh Việt Nam sau này,

vì hầu hết các nghệ sĩ Việt Nam được đào tạo tại Liên xô cũ

Kịch bản văn học điện ảnh là biểu hiện cụ thể của tính văn học trong điện ảnh Những yếu tố cơ bản của tác phẩm văn học cũng là những yếu tố cơ bản trong kịch bản văn học điện ảnh như xây dựng bối cảnh, cốt truyện và đặc biệt là tạo dựng hình tượng nhân vật… Các yếu tố trên được định hình trên giấy trước khi được chuyển hóa thành câu chuyện trên màn ảnh

Năm 1930, tuyển tập kịch bản điện ảnh đầu tiên được điện ảnh Liên xô cho ra đời, đã khẳng định vai trò vững chắc về tư tưởng và nghệ thuật của kịch bản văn học trong sản xuất tác phẩm phim truyện điện ảnh

Năm 1935, trong bài viết Văn học với điện ảnh, nhà văn M.Gorki kêu gọi các nhà văn nên tham gia vào công tác điện ảnh và nhà văn, đạo diễn là “hai lực

lượng không thể riêng biệt mà bổ sung, hỗ trợ cho nhau” [80, tr.33]

Những chuyên luận của nhà nghiên cứu Nga M.Bakhtin như Lý luận và

thi pháp tiểu thuyết, Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki… Những phương thức

cơ bản trong xây dựng tác phẩm của văn học đã là tiền đề cho các tác giả điện ảnh trong việc tái hiện những câu chuyện, nhân vật từ trang sách lên màn ảnh

Trong cuốn Bàn về văn học, M.Gorki đã nhận xét: “Bằng ngôn ngữ tiểu thuyết

nhà văn có thể tác động trực tiếp đến tri giác, thính giác, xúc giác của người đọc, làm cho họ cảm giác được nhân vật một cách vật chất ” [34, tập1, tr.156]

Những hình tượng nhân vật được vật chất hóa qua trí tưởng tượng đã làm độc

giả say mê, và là cơ sở khởi nguồn để các tác giả điện ảnh tạo dựng nên những nhân vật sống động trên màn ảnh Những tác phẩm văn học nổi tiếng bao giờ cũng có những nhân vật ấn tượng, khiến người xem yêu mến và mong mỏi được

“gặp gỡ” nhân vật “bằng xương bằng thịt” trên màn ảnh

Trang 8

Bên cạnh những công trình lý luận của văn học, những tài liệu điện ảnh

phong phú đã cung cấp khá đầy đủ những kiến thức điện ảnh cơ bản như Lịch sử

điện ảnh thế giới của Iêc-Gi Te-Plix (Vũ Quang Chính dịch) 20 bài học điện ảnh của Laurent Tirard (Hải Linh -Việt Linh dịch) Để viết một kịch bản điện ảnh của Michel Chion (Phương Thư dịch) Ngôn ngữ điện ảnh và truyền hình

của Bruno Toussant (bản dịch), do Hội điện ảnh Việt Nam xuất bản Giáo trình

chuyên ngành điện ảnh Nghệ thuật điện ảnh của David Bordwel và Kristin

Thompson (nhiều tác giả dịch), cung cấp khá toàn diện những lí luận cơ bản và

lịch sử của nghệ thuật điện ảnh gồm sáu phần: Sản xuất phát hành và chiếu

phim, Hình thức phim, Các loại hình phim, Phong cách phim, Phân tích phê bình phim, Lịch sử phim ảnh…và nhiều công trình nghiên cứu khác

Trong quá trình hình thành và phát triển, điện ảnh luôn gắn bó với văn học qua từng thời kỳ: phim câm, phim có tiếng nói, phim có màu và ngày nay là phim hiện đại 2D, 3D, 4D… Thời kỳ nào cũng có những bộ phim chuyển thể văn học xuất sắc, để lại những dấu ấn ngoạn mục trong lịch sử điện ảnh thế giới

Đó là những tác phẩm điện ảnh mẫu mực như Cuốn theo chiều gió, Ben Hur, Bố

già, Titaníc (Mỹ), Bác sĩ Zhivago (Ý), Những người khốn khổ, Không gia đình

(Pháp), Triệu phú khu ổ chuột (Anh), Chiến tranh và hòa bình, Sông Đông êm

đềm (Nga), Thủy hử, Cao lương đỏ (Trung Quốc)…

3.2 Ở VIỆT NAM

Điện ảnh Việt Nam ra đời năm 1953, khi điện ảnh thế giới đã phát triển ở trình độ khá hoàn chỉnh cả về màu sắc và âm thanh Gần 60 năm qua, những bộ phim truyện chuyển thể thành công của điện ảnh Việt Nam đã được đánh giá cao

trong nước và quốc tế như Chị Tư Hậu, Con chim vành khuyên, Thời xa vắng,

Tướng về hưu, Đời cát, Đừng đốt…Điện ảnh kế thừa các phương pháp xây dựng

kịch bản phim truyện từ văn học, trong đó quan trọng nhất là phương pháp tự sự,

khi kể lại câu chuyện văn học lên màn ảnh Cho nên, “Trong lúc tuân theo các

yêu cầu thể hiện có tính đặc thù của ngôn ngữ điện ảnh Kịch bản văn học điện

Trang 9

ảnh vẫn không để mất những tiêu chuẩn của một tác phẩm văn học hoàn chỉnh”(Trần Luân Kim)[102, tr.3] Và“…những tiêu chuẩn của một tác phẩm văn học hoàn chỉnh” trong kịch bản văn học điện ảnh đã làm nên mối quan hệ

gần gũi giữa văn học và điện ảnh trong sáng tác phim truyện

Những công trình khoa học của các nhà nghiên cứu văn học trong nước

như Lý luận văn học của Hà Minh Đức cung cấp cho đề tài những kiến thức lí luận về: “Nghệ thuật – Một hình thái ý thức xã hội đặc thù”, “Nghệ thuật và đời

sống xã hội ”…Công trình Văn học…xa và gần của Hoàng Ngọc Hiến phân tích

những: “Quan điểm tiếp cận văn học và quan điểm tiếp cận thực tế của Hồ Chủ

tịch”,“Chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa nhân đạo”…Công trình Trên đường nghiên cứu và giảng dạy tác phẩm văn chương của Đặng Thai Mai cung cấp

những kiến thức lý luận văn học như “Nội dung và hình thức”,, “Ý nghĩa của hai

thời kỳ lớn trong lịch sử văn học Việt Nam”… Công trình Phê bình nghiên cứu văn học của Lê Đình Kỵ với những kiến thức lý luận như “Chân lý nghệ thuật”,

“Vấn đề là chất lượng,”…Công trình Tự sự học – Một số vấn đề lý luận và lịch

sử, Tự sự học – Từ kinh điển đến hậu kinh điển, Tự sự học – Một bộ môn nghiên cứu liên ngành giàu tiềm năng của Trần Đình Sử cung cấp những lý luận về tự

sự Công trình Lý luận và văn học của Lê Ngọc Trà, đã phân tích những vấn đề

mang tính triết lý sâu sắc như “Nghệ thuật – Tiếng nói của con người ,“Về vấn

đề văn học phản ánh hiện thực”, “Vấn đề con người trong văn học” và đặc biệt

vai trò của người “nghệ sĩ ” trong quá trình sáng tạo nghệ thuật Công trình Lý

luận văn học xuất bản năm 2010, của Huỳnh Như Phương cung cấp những kiến

thức như “Văn học và ngôn ngữ ”, “Nhà văn và sáng tạo văn học ”, “Người đọc

và tiếp nhận văn học ”… Các tài liệu, công trình khoa học trên đã đặt ra một loạt

vấn đề thiết thực, có ý nghĩa lý luận và thời sự của đời sống xã hội và đặc trưng hoạt động sáng tạo của người nghệ sĩ Việt Nam trong hoàn cảnh Việt Nam

Qua mỗi giai đoạn lịch sử của dân tộc, văn học đã cung cấp cho điện ảnh những mẫu hình tượng nhân vật đa dạng, phong phú từ diện mạo đến tính cách

Trang 10

Nhiều công trình nghiên cứu, bài viết đi sâu tìm hiểu con người Việt Nam qua nhân vật trong văn học và điện ảnh ở nhiều phương diện, gắn với lịch sử thăng

trầm của dân tộc Mai Quốc Liên đã đề cập đến vấn đề này qua bài: Góp một cái

nhìn về bản sắc dân tộc trong điện ảnh [76] Lại Nguyên Ân với bài: Nhân xem phim Đêm hội long trì nghĩ về một lối tiếp cận lịch sử [6, tr.395] Hồ Sĩ Vịnh với

bài: Nghĩ về phim truyện Việt Nam [173]…

Các công trình lý luận về điện ảnh không nhiều như văn học, nhưng đã

cung cấp những kiến thức cơ bản về điện ảnh như Đường vào điện ảnh của Lê Dân cung cấp một số vấn đề lý luận như“Bản sắc văn hóa dân tộc trong tác

phẩm điện ảnh”,“Thể hiện truyền thống nhân nghĩa trong phim truyện”… Công

trình Nghệ thuật làm phim, diễn viên & kịch bản của Lê Dân đã cung cấp những

kiến thức về quy trình làm phim, kịch bản và diễn viên Trong Hồi ký điện ảnh,

Đặng Nhật Minh phân tích công việc của biên kịch và đạo diễn điện ảnh và

những kinh nghiệm trong quá trình làm phim Các công trình khác như Đặc

trưng ngôn ngữ điện ảnh của Bùi Phú, Lịch sử điện ảnh cách mạng Việt Nam

(sơ khảo) do Cục điện ảnh xuất bản, Tính hiện đại và tính dân tộc trong điện

ảnh của Ngô Phương Lan, Nghệ thuật quay phim điện ảnh của Dương Quang

Viễn, Dạo chơi vườn điện ảnh và Ý tưởng nghề nghiệp của Việt Linh, Làm sao

viết kịch bản phim của Phạm Thùy Nhân…

Năm 2011, trong Nhận thức điện ảnh, khi nói về giá trị của phim truyện

điện ảnh, Trần Luân Kim khẳng định điện ảnh có mối quan hệ đặc biệt với văn

học Ông viết: “Tính văn học trong điện ảnh chiếm vị trí mấu chốt vì nó quyết

định nội dung tác phẩm, đồng thời cũng quyết định hình thức thể hiện.” [55,

tr.23] Luận án đã chứng minh làm rõ luận điểm này bằng cách phân tích kỹ các

phim chuyển thể từ văn học tiêu biểu của điện ảnh trong và ngoài nước

Tác phẩm văn học đã trở thành nguồn nguyên liệu quý giá, phong phú, là

cơ sở vững chắc cần thiết trong xây dựng những kịch bản văn học cho phim truyện Chu Lai, một nhà văn có nhiều truyện ngắn, tiểu thuyết đã được đưa lên

Trang 11

màn ảnh, nhận xét: “Một tác phẩm điện ảnh hay bao giờ cũng có một giá trị văn

học…Văn học là cái nền, điện ảnh bay lên từ cái nền vững chắc đó”[75, tr.8]

Vấn đề này đã được nhiều nhà văn, đạo diễn và giới chuyên môn đã trao đổi qua các cuộc hội thảo, bài viết tâm huyết như Nguyễn Mai Loan với bài:

Phim chuyển thể - Những khái niệm [79].Lê Cẩm Lượng với bài: Cải biên tác phẩm văn học sang kịch bản điện ảnh [78] Huyền Thanh với bài: Tác phẩm chuyển thể: những mặt mạnh và yếu [151]…

Điện ảnh là một loại hình nghệ thuật tổng hợp, nên muốn phát triển, bên cạnh kịch bản, điện ảnh còn có những vấn đề về kỹ thuật và kinh tế luôn được giới chuyên môn đặc biệt quan tâm Hải Ninh, một đạo diễn kỳ cựu nổi tiếng đã

bày tỏ quan điểm qua bài: Thử bàn về một số phong cách nghệ thuật trong điện

ảnh Việt Nam [104] Trịnh Đình Khôi với bài: Tính chuyên nghiệp của Điện ảnh hiện nay [59] Hoàng Lan với bài: Điện ảnh không thể phát triển tách rời các nghệ thuật khác [77].Trần Mai Khanh đề cập đến vấn đề về khoa học công nghệ

hiện đại qua bài: Phim 3D tương lai của nghệ thuật điện ảnh [61] …

Các nhà văn cũng dành sự quan tâm chú ý đến điện ảnh qua nhiều bài phê bình và trao đổi các quan điểm về lý luận và thực tiễn, nhằm góp phần ngày càng có nhiều phim truyện xứng tầm, đáp ứng được mong mỏi của những người

yêu nghệ thuật Nguyên Ngọc với bài: Khi nhà văn viết kịch bản [110] Minh Trang với bài: Các nhà văn nói gì về điện ảnh [159] Thăng Long với bài: Nhà

văn Ma văn Kháng: Điện ảnh và văn học cần có sự kết hợp [82]…

Trong kỷ yếu hội thảo quốc tế Những lằn ranh văn học năm 2011 do

ĐHSP TP.HCM tổ chức, có những bài viết phân tích mối quan hệ giữa văn học

và điện ảnh qua bộ phim truyện chuyển thể như Cánh đồng bất tận và cuộc đối

thoại giữa văn học - điện ảnh của Lê Thị Dương [57, tr.465], Nhìn lằn ranh giữa văn học và điện ảnh qua Sắc, Giới của Phan Thu Vân [57, tr.596]…

Trên các website của diễn đàn mạng xã hội, phim chuyển thể từ văn học cũng là vấn đề được các nhiều độc giả quan tâm, với những bài viết tiêu biểu

Trang 12

như Thời của kịch bản chuyển thể của Quỳnh Trang [165], Tiếc nuối từ phim

Cánh đồng bất tận của Anh Thư [164] Khoảng cách văn học – điện ảnh ở phim

‘Ngọc viễn đông’ của Thoại Hà [43], phân tích bảy câu chuyện phim ngắn

chuyển thể từ bảy truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Thị Minh Ngọc…

Nhận xét về sự cần thiết của tính văn học trong kịch bản văn học và phim

truyện, nhà văn Nguyễn Khắc Phục đã viết: “Nói đến kịch bản là dính đến văn

xuôi Nền điện ảnh không thể hùng mạnh được khi văn xuôi kém Chính nền văn xuôi sẽ cung cấp cho điện ảnh từ hình ảnh, ngôn ngữ, tạo dựng tâm lí, tính cách nhân vật, thúc đẩy hành động, tình huống trong phim ảnh Kịch bản hay thì phim làm sẽ hay, sẽ có giá trị” [159, tr.27]

Những công trình bài viết, nhận định trên, đã gợi ý giúp người viết thực hiện hành trình đi từ nhận xét khái quát đến khảo sát chi tiết cụ thể, đầy đủ và có

hệ thống Từ đó thấy rõ vai trò và sự gắn kết của hai loại hình nghệ thuật văn học và điện ảnh trong quá trình sản xuất bộ phim truyện chuyển thể thành công

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

4.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Luận án nghiên cứu khảo sát từ văn bản văn học đến kịch bản văn học điện ảnh và phim truyện điện ảnh chuyển thể Đối tượng chính là

- Các tác phẩm văn xuôi như tiểu thuyết, truyện ngắn, nhật ký…

- Kịch bản và phim truyện điện ảnh chuyển thể từ tác phẩm văn học 4.2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Ngoài các tài liệu về lí luận, luận án chủ yếu nghiên cứu những tác phẩm văn học và phim truyện Việt Nam qua các thời kỳ hình thành và phát triển của văn học và điện ảnh Việt Nam Sau đây là một số cặp tác phẩm văn học và phim truyện chuyển thể tiểu biểu:

Thời kỳ kháng chiến chống Pháp

Truyện dài Một chuyện chép ở bệnh viện và phim Chị Tư Hậu

Truyện ngắn Câu chuyện một bài ca và phim Con chim vành khuyên

Trang 13

Thời kỳ trong và sau kháng chiến chống Mỹ

Tiểu thuyết Thời xa vắng và phim cùng tên Tiểu thuyết Bến không chồng

và phim cùng tên Truyện ngắn Tướng về hưu và phim cùng tên Truyện ngắn

Ba người trên sân ga và phim Đời cát Cuốn Nhật ký Đặng Thùy Trâm và phim Đừng đốt Truyện ngắn Trăng nơi đáy giếng và phim cùng tên…

Ngoài những tác phẩm kể trên, chúng tôi có sử dụng thêm một số tác phẩm văn học, phim truyện Việt Nam và nước ngoài, để dẫn chứng, bổ sung và làm rõ các luận điểm nêu ra trong luận án

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trong luận án đã kết hợp sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp kết hợp liên ngành các khoa học lý thuyết và lịch sử (lý luận

lịch sử văn học, lý luận lịch sử điện ảnh, xã hội học, tâm lý học… ) nhằm tìm

hiểu lịch sử mối quan hệ giữa các loại hình nghệ thuật, mối quan hệ giữa hai ngành nghệ thuật văn học và điện ảnh trong quá trình sản xuất phim truyện chuyển thể từ văn học

Phương pháp loại hình và so sánh nhằm tìm hiểu những đặc trưng tương

đồng và khác biệt giữa hai loại hình nghệ thuật văn học và điện ảnh, thông qua việc tập hợp, tìm hiểu theo thể loại một số tác phẩm chuyển thể tiêu biểu

Phương pháp chọn mẫu và phân tích tác phẩm nhằm giới thiệu, phân tích

giá trị của những tác phẩm văn học và phim truyện điện ảnh tiêu biểu

Phương pháp hệ thống và tổng hợp nhằm giúp người nghiên cứu làm rõ

một cách hệ thống những tương đồng và khác biệt của những tác phẩm văn học gốc và phim truyện chuyển thể trong quá trình thực hiện việc chuyển thể

Trong quá trình nghiên cứu, phương pháp kết hợp liên ngành các khoa

học lý thuyết và lịch sử được sử dụng đầu tiên và xuyên suốt quá trình nghiên

cứu Tiếp theo là phương pháp loại hình và so sánh, chọn mẫu và phân tích tác

phẩm được sử dụng khá nhiều để làm rõ các luận điểm của luận án Cuối cùng

phương pháp hệ thống và tổng hợp được dùng để kết luận vấn đề

Trang 14

6 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

Phần nghiên cứu quá trình sáng tạo phim truyện từ tác phẩm văn học chủ yếu kế thừa những kết quả nghiên cứu đã có trước đây Tuy nhiên, luận án đã cố gắng tìm hiểu thêm một số vấn đề mới chưa được các nhà nghiên cứu đề cập hoặc có đề cập, nhưng chưa đi sâu Có thể tổng hợp một số đóng góp mới sau:

- Góp phần thấy rõ bản chất mối quan hệ giữa văn học và điện ảnh

- Đặc trưng của việc xây dựng hình tượng nhân vật, cốt truyện, hoàn cảnh lịch sử, bối cảnh xã hội và thiên nhiên từ văn học đến điện ảnh

- Bước đầu hệ thống những thuận lợi và khó khăn trong quá trình chuyển thể tác phẩm văn học sang phim truyện điện ảnh

7 CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN

Phần thứ nhất : MỞ ĐẦU (12 trang)

Gồm: Mục đích ý nghĩa, Đối tượng và phạm vi nghiên cứu, Lịch sử vấn

đề, Phương pháp nghiên cứu, Đóng góp mới của luận án, Cấu trúc của luận án

Phần thứ hai : NỘI DUNG (189 trang) gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận của việc chuyển thể tác phẩm văn học sang

phim truyện điện ảnh (55 trang)

Chương 2 Cơ chế và quy trình thực hiện việc chuyển thể từ tác phẩm

văn học sang phim truyện điện ảnh.(68 trang)

Chương 3 Một số thành tựu của phim truyện chuyển thể từ tác phẩm

văn học (66 trang)

Phần thứ ba : KẾT LUẬN (5 trang)

Danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục

Trang 15

những bộ phim nổi tiếng chuyển thể từ văn học như Chị Tư Hậu, Vợ chồng A

Phủ, Con chim vành khuyên, Mùa gió chướng, Ván bài lật ngửa, Người đàn bà mộng du Mê Thảo - Thời vang bóng…Vì vậy, nghiên cứu quá trình chuyển thể

từ tác phẩm văn học sang tác phẩm điện ảnh không thể không tìm hiểu một số

cơ sở lí luận về mối quan hệ giữa hai loại hình nghệ thuật văn học và điện ảnh

1.1 VĂN HỌC - ĐIỆN ẢNH VÀ HỆ THỐNG CÁC LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT

1.1.1 NGHỆ THUẬT VÀ HỆ THỐNG CÁC LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT

Qua hàng nghìn năm lịch sử, nghệ thuật đã đóng góp một vai trò to lớn trong nền văn minh vật chất và tinh thần của nhân loại Trên con đường sáng tạo theo quy luật của cái đẹp, nghệ thuật với tính cách là cái đẹp vượt trội không ngừng được bổ sung, cải tiến nâng cao ngày một phong phú, đa dạng nhằm phản ánh cuộc sống và đáp ứng nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của con người Sự phong phú đa dạng đó thể hiện trong việc hình thành hệ thống các loại hình loại thể nghệ thuật từ cổ đại đến ngày nay

Trong quá trình phát triển nghệ thuật đã trải qua một chặng đường dài từ

tư duy nguyên hợp cổ đại về các nữ thần nghệ thuật đến tư duy hình thái học xác lập bảng danh mục những loại hình nghệ thuật khác nhau

Trong Mỹ học, nhà triết học Hegel đã nói đến năm ngành nghệ thuật là

kiến trúc, điêu khắc, hội họa, âm nhạc và thơ ca [36, tập1, tr.169-181]

Trang 16

Nhà mỹ học Nga M.Cagan trong công trình Hình thái học nghệ thuật đã

đúc kết lịch sử phân loại nghệ thuật và đề xuất 3 bộ tiêu chí để phân loại nghệ

thuật: “Nghệ thuật không gian/ thời gian; nghệ thuật miêu tả/ không miêu tả ;

nghệ thuật một chức năng/ hai chức năng” [14, tr.367]

Trong Giáo trình mỹ học, nhà mỹ học hiện đại M.F Ôpxiannhicôp đã đưa

ra một bảng danh mục gồm 13 loại hình nghệ thuật: “Văn học nghệ thuật, kiến

trúc, nghệ thuật trang trí, điêu khắc, hội họa, đồ họa, âm nhạc, nghệ thuật nhảy múa, sân khấu, nghệ thuật nhiếp ảnh, điện ảnh, vô tuyến truyền hình, nghệ thuật tạp kỹ và xiếc.” [112, tr.383]

Tiếp thu những ý kiến phân loại nghệ thuật của các nhà nghiên cứu trong

quá khứ, trong cuốn Nguyên lý mỹ học Mác Lênin tác giả người Nga Lukin đã nhận định: “Loại hình nghệ thuật là một lĩnh vực hoạt động nghệ thuật đặc biệt

của con người, được phân biệt dựa theo đối tượng của sự phản ánh, dựa theo tính chất và kiểu loại hình tượng, theo phương thức thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ của con người, theo chất liệu và theo các quy luật xây dựng hình tượng nghệ thuật đặc trưng của mình.” [113, tr.96]

Kế thừa tư tưởng phân loại của các nhà mỹ học đi trước, trong chuyên đề

Văn học và các loại hình nghệ thuật, nhà nghiên cứu Lâm Vinh đã xây dựng 5

bộ tiêu chí và bảng danh mục hai hệ thống nghệ thuật thuần túy ( 7 loại hình) và nghệ thuật ứng dụng (14 loại hình) [168, tr.1,2] Trong đó có văn học thuần túy

và điện ảnh thuần túy để phân biệt với văn học ứng dụng và điện ảnh ứng dụng Văn học là nghệ thuật đơn vì sử dụng một hình thức ngôn ngữ là ngôn từ, điện ảnh là nghệ thuật tổng hợp vì sử dụng một số hình thức ngôn ngữ của các loại hình nghệ thuật như văn học, nhiếp ảnh, hội họa, âm nhạc và diễn xuất của diễn viên để sản xuất phim truyện

Tác phẩm điện ảnh được bắt đầu từ kịch bản văn học điện ảnh, là yếu tố đầu tiên đảm bảo chất lượng của bộ phim tương lai Trong quá trình sản xuất

Trang 17

phim truyện, giai đoạn sáng tác kịch bản văn học điện ảnh là giai đoạn thể hiện tập trung nhất mối quan hệ mật thiết giữa hai nghệ thuật văn học và điện ảnh 1.1.2 MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HỌC VÀ ĐIỆN ẢNH

Mối quan hệ giữa các loại hình nghệ thuật là một đối tượng nghiên cứu của mỹ học và nghệ thuật học Đây là mối quan hệ của những loại hình cùng gắn

bó trong một hệ thống và quan hệ giữa loại hình này với loại hình khác, thường

diễn ra ở hai dạng động và tĩnh “Ở dạng tĩnh, đó là quan hệ so sánh để tìm

những điểm giống nhau (sự tương đồng) hoặc khác nhau (sự tương dị) Ở dạng động, đó là quan hệ có sự hợp tác liên kết trong quá trình sáng tạo (quan hệ tương tác).” (Lâm Vinh) [168, tr.10]

Mối quan hệ động và tĩnh giữa các nghệ thuật đã làm cho hệ thống các loại hình nghệ thuật ngày càng phát triển đa dạng và phong phú Tác giả

Kôginốp đã viết: “Có thể gọi các loại hình nghệ thuật theo một trong các loại

hình nghệ thuật khác: Kiến trúc là âm nhạc ngưng tụ, âm nhạc bằng đá Hoa văn là âm nhạc được khắc họa, âm nhạc của thị giác Nhảy múa là âm nhạc của

cơ thể Thơ trữ tình là âm nhạc của ngôn ngữ Âm nhạc là kiến trúc có âm thanh, là hoa văn của thính giác, là thơ trữ tình không lời.” [113, tr.96]

Điều này đã thể hiện rõ trong quan hệ tương đồng giữa tác phẩm văn học

và phim truyện điện ảnh Khi khán giả xem phim Cuốn theo chiều gió được thấy

một câu chuyện tương tự với câu chuyện nhà văn Magơrit Mitchel miêu tả trong tiểu thuyết Hai nhân vật chính Rhett và Scarlett trở thành đôi “nam thanh nữ tú” được người xem say mê từ trong trang sách đến màn ảnh, qua diễn xuất tuyệt vời của hai diễn viên tài năng Clark Gable và Vivien Leigh [144, tr.80] Hay hình ảnh ấn tượng khó quên của chàng Anđrây và nàng Natasa trong tiểu thuyết

và phim Chiến tranh và hòa bình…và cũng tương tự như vậy ở những bộ phim

chuyển thể trong văn học Việt Nam Đó là những mâu thuẫn xã hội sau ngày miền Nam giải phóng qua hai thế hệ nhân vật trong gia đình ông Sĩ trong tiểu

thuyết Những khoảng cách còn lại của nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và phim Xa

Trang 18

và gần của đạo diễn Huy Thành Hay câu chuyện về thân phận của những người

phụ nữ công giáo trong tiểu thuyết Bão biển của nhà văn Chu Văn và phim Ngày

lễ thánh của nữ đạo diễn Bạch Diệp…

Trong công trình Cơ sở lý luận văn học Lê Bá Hán nhận xét: “Nhắc đến

tên một bộ tiểu thuyết, một truyện vừa, một truyện ngắn hoặc một kịch bản văn

học quen biết, chúng ta liền nghĩ đến câu chuyện và những con người được thể

hiện trong đó…” [40, tập 1, tr.74] Từ tác phẩm văn học đến phim truyện chuyển

thể đều mang lại cho người thưởng thức một nội dung trong cùng hoàn cảnh,

cùng hình tượng nhân vật Quan hệ của văn học và điện ảnh được thể hiện ở cả

dạng động và tĩnh Những yếu tố cơ bản trong xây dựng tác phẩm ở văn học và

kịch bản văn học là quan hệ tĩnh với những điểm giống và khác nhau được thể

hiện qua chữ viết (trong kịch bản, tác giả chỉ sử dụng những câu chữ có thể hình

dung được) Quá trình chuyển từ kịch bản thành phim truyện là quan hệ động

(có sự hợp tác liên kết trong quá trình sáng tạo như bối cảnh, máy quay, ánh

sáng, phục trang, âm thanh…và đặc biệt sự hiện diện của diễn viên theo chỉ đạo

của đạo diễn, để đưa nội dung văn học từ chữ viết lên màn ảnh)

Như vậy, mối quan hệ giữa văn học và điện ảnh được thể hiện qua ba cấp

độ: tính đồng nhất (về đặc trưng phản ánh - hình tượng), tính tương đồng (về nội

dung tư tưởng, đối tượng phản ánh) và tính khác biệt (về chất liệu, ngôn ngữ -

phương tiện phản ánh)

1.2 VĂN HỌC – ĐIỆN ẢNH VÀ MỐI QUAN HỆ ĐỒNG NHẤT CÙNG MỘT HÌNH THÁI Ý THỨC XÃ HỘI

Chủ nghĩa duy vật lịch sử là hệ thống quan điểm triết học và xã hội, chỉ ra

mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, hạ tầng cơ sở và thượng tầng

kiến trúc Tồn tại xã hội là đời sống vật chất, đóng vai trò quyết định đối với đời

sống tinh thần Hạ tầng cơ sở là quan hệ sản xuất, thượng tầng kiến trúc là toàn

bộ quan điểm chính trị, pháp luật, triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật…Tất

cả cùng phụ thuộc vào hạ tầng cơ sở do hạ tầng cơ sở quyết định, và có tác dụng

Trang 19

trở lại đối với hạ tầng cơ sở Đó là quan điểm triết học về vai trò, vị trí của ý thức xã hội, trong đó có ý thức thẩm mỹ - nghệ thuật

Văn học và điện ảnh cùng đứng trong một hình thái ý thức, ý thức thẩm

mỹ - nghệ thuật, cùng có đặc tính chung, chức năng chung và chịu sự quyết định

của đời sống xã hội, như Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã nhận định: “Xã hội thế nào

văn nghệ thế ấy” Lịch sử văn học nghệ thuật nói chung, lịch sử văn học và điện

ảnh nói riêng đã chứng minh quy luật này qua những tác phẩm nghệ thuật Tuy rằng nghệ thuật không phản ánh trực tiếp thực tiễn xã hội, phải trải qua nhiều con đường trung gian, khúc khuỷu nhưng xét đến cùng ít nhiều sáng tác nghệ thuật vẫn là “tấm gương phản chiếu” thực tiễn xã hội

Nghệ thuật là hình thức đặc biệt để con người cảm nhận và tư duy về cuộc

sống, với những chức năng chủ yếu: thẩm mỹ, nhận thức - phản ánh và giáo

dục, giúp con người vươn đến khát vọng về Chân, Thiện, Mỹ Thông qua cái

đẹp, nghệ thuật giúp con người nhận thức được chính mình một cách sâu sắc, làm cho mỗi con người phải tự nghiền ngẫm, xem xét bản thân và các mối quan

hệ với người khác, với toàn xã hội và môi trường sống của mình Vì vậy, nghệ thuật không đơn giản là sự giải phẫu cơ thể mà còn là sự giải phẫu đời sống tinh thần con người Với ý nghĩa đó, nghệ thuật hướng con người vươn tới các giá trị tích cực của xã hội, đến với chân lý một cách lãng mạn, tự giác và lâu dài

Lấy con người làm đối tượng chủ yếu, nghệ thuật bao giờ cũng nhìn nhận hiện thực qua cái nhìn của con người Qua cái nhìn đó, nghệ thuật phát hiện ra bản chất của hiện thực và trở lại nhận thức sâu sắc hơn về con người

Vì vậy, thông qua tác phẩm nghệ thuật, con người tìm được bạn tri âm tri

kỷ, đồng điệu về tâm hồn cảm xúc, được bộc lộ tự do cá tính, trí tưởng tượng và

những khát vọng thầm kín Bởi “Nghệ thuật là kính hiển vi mà nghệ sĩ đem soi

vào những bí ẩn của tâm hồn mình rồi trình bày những bí ẩn chung cho tất cả mọi người”(Lê Ngọc Trà)[137, tr.17] Mặt khác, qua tác phẩm văn học nghệ

thuật con người không chỉ có cơ hội đến với những tư tưởng lớn lao, mới mẻ của

Trang 20

nhân loại, mà còn mở rộng tầm hiểu biết, giao lưu tới những vùng văn hóa và những dân tộc khác trên thế giới Đó là mục đích nhân văn cao cả mà nghệ thuật

cần hướng tới, như nhà văn Nam Cao từng trăn trở: “Một tác phẩm thật giá trị,

phải vượt lên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho loài người Nó phải chứa đựng một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình… Nó làm cho người gần người hơn.” [187, tập1, tr.614]

“Văn học là nhân học”(M.Gorki), là câu chuyện về cuộc đời, về cõi nhân

sinh Cùng hình thái ý thức nghệ thuật với văn học, ngay từ khi mới ra đời, điện ảnh đã sử dụng nguồn tư liệu quý giá từ những tác phẩm văn học trong kho tàng văn học của nhân loại, để làm nên những bộ phim truyện kinh điển và bằng cách

đó góp phần phát triển nghệ thuật điện ảnh Khi nhận xét về sự đồng nhất của

các loại hình nghệ thuật, các nhà mỹ học dân chủ Nga đã khẳng định: “Mọi loại

hình nghệ thuật đều phản ánh cuộc sống, đều biểu hiện các tư tưởng tình cảm của con người, nên đều có nội dung chung nhưng khác nhau về hình thức thể hiện.” [113, tr.94] Vì vậy, những bộ phim chuyển thể khác với văn học ở hình

thức thể hiện, nhưng nội dung vẫn mang tinh thần của văn học

Ở phương Tây, nước Pháp - nơi khai sinh ra nghệ thuật điện ảnh, rất nhiều tác phẩm văn học nổi tiếng được dàn dựng thành những bộ phim truyện điện ảnh

lừng danh Tiêu biểu là hai cuốn tiểu thuyết Nhà thờ Đức bà Pari, Những người

khốn khổ của nhà văn vĩ đại Victo Huygô Ông được các nhà nghiên cứu đánh

giá là “Nhà tiên tri của hòa bình trên toàn thế giới.” [170, tr.497]

Điện ảnh Nga đặc biệt gần gũi với điện ảnh Việt Nam với những tác phẩm

văn học và điện ảnh Nga có giá trị nhân văn sâu sắc như Tội ác và hình phạt,

Sông đông êm đềm, Số phận con người, Thép đã tôi thế đấy, Người mẹ…

Điện ảnh Việt Nam đã được khẳng định vị thế trên thế giới và trong nước

qua các bộ phim chuyển thể từ văn học như Con chim vành khuyên, Chị Tư Hậu,

Mùa gió chướng, Tướng về hưu, Thương nhớ đồng quê, Đời cát, Đừng đốt…

Trang 21

Cùng hình thái ý thức xã hội với văn học, điện ảnh đã dễ dàng ảnh hưởng

và thẩm thấu những sự kiện của xã hội, thời đại và dân tộc được phản ánh trong văn học, tạo nên sự đồng nhất trong phản ánh hiện thực ở tác phẩm văn học và phim truyện chuyển thể Những tác phẩm văn học thành công đã trở thành nguồn chất liệu phong phú bất tận cho điện ảnh

Như vậy, tính đồng nhất của văn học và điện ảnh là cùng một hình thái ý thức, cùng phản ánh thế giới khách quan và hiện thực đời sống bằng một phương thức tư duy – tư duy hình tượng

1.3.1 SỰ TƯƠNG ĐỒNG CỦA HAI LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT VĂN

HỌC VÀ ĐIỆN ẢNH

Nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội Văn học và điện ảnh là những loại hình nghệ thuật nên đồng nhất về ý thức thẩm mỹ, ý thức nghệ thuật trong phản ánh những vấn đề của đời sống xã hội Từ đó dẫn đến những tương đồng

về nội dung tư tưởng, nội dung cụ thể, khuynh hướng - trường phái và thể loại

trong tác phẩm văn học và điện ảnh

Nội dung tư tưởng

Nhà văn, biên kịch, đạo diễn, diễn viên, quay phim, nhạc sĩ…là những người nghệ sĩ có cùng sự đa cảm, trí tưởng tượng và sự tinh nhạy điêu luyện của các giác quan, khí quan thẩm mỹ (thính giác, thị giác…) Cho nên tư duy của người nghệ sĩ sáng tạo tác phẩm nghệ thuật, khác hẳn với tư duy của nhà nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học kỹ thuật Hình thức của tư duy nghệ thuật, là sự phản ánh hiện thực theo quy luật của cái đẹp, là một loại mô hình đặc biệt nhằm tái hiện và tái tạo một cách sinh động hiện thực cuộc sống, với những nhu cầu

và khát vọng của con người

Tư duy của nhà biên kịch, đạo diễn gần gũi với tư duy của nhà văn nên khi tiếp cận tác phẩm văn học, các tác giả điện ảnh dễ dàng thẩm thấu tư tưởng tình cảm của nhà văn gửi gắm trong tác phẩm Sự “đồng thanh tương ứng” đã

Trang 22

làm nên tiếng nói chung trong xây dựng hình tượng nghệ thuật Sáng tạo nghệ thuật là lĩnh vực của cảm xúc, là sự mách bảo của con tim, nên tâm hồn nghệ sĩ thường gặp nhau qua tác phẩm Nhà văn khi viết tiểu thuyết hay truyện ngắn không hề nghĩ “đứa con tinh thần” của mình sẽ có đời sống thứ hai trên màn

ảnh Nhưng “Thơ ca chân chính bao giờ cũng là thơ ca của trái tim, cũng là

tiếng hát của tâm hồn” (M.Gorki) [34, tập1, tr.52] Các tác giả điện ảnh đã tìm

thấy sự đồng điệu “của trái tim…” qua các tác phẩm văn học và mong muốn biến lời ca “ tiếng hát của tâm hồn” hiện hữu lên màn ảnh

Trương Nghệ Mưu, một đạo diễn tài ba của điện ảnh Trung Quốc đã

chuyển thể thành công nhiều bộ phim từ tác phẩm văn học như Cúc Đậu, Đèn

lồng đỏ treo cao, Phải sống Trong số đó nổi tiếng nhất là phim Cao lương đỏ,

dựa theo tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn Mạc Ngôn Đạo diễn đã biến hóa tài tình những con chữ trừu tượng của Mạc Ngôn thành những hình ảnh sinh động

trong phim Cao lương đỏ Nói về cảm xúc từ tác phẩm văn học, đạo diễn cho biết “Những miêu tả của Mạc Ngôn về màu sắc, đó là lọai cảm giác tả ý sâu

sắc Tôi thích sự hào sảng, khoáng đạt của câu chuyện Hành động của các nhân vật đều rất mạnh mẽ, cốt chuyện cũng rất có sức mạnh, chúng đặc biệt hấp dẫn tôi.” [133, tr.21-23] Trước khi trở thành đạo diễn, Trương Nghệ Mưu là nhà

quay phim Cao lương đỏ là bộ phim đầu tiên ông làm đạo diễn, cũng từ bộ

phim này, tên tuổi của ông đã vượt ra khỏi biên giới Trung Quốc

Như vậy, từ cảm hứng chân thành với những tác phẩm văn học, các tác giả điện ảnh đã có cơ sở vững chắc về tư tưởng tình cảm để sáng tạo nên những kịch bản văn học điện ảnh chất lượng và một bộ phim giá trị trong tương lai Trong nghệ thuật, tình cảm bao giờ cũng chứa đựng tư tưởng, và tư tưởng bao giờ cũng thấm đượm tình cảm, đó là mối quan hệ biện chứng, không thể tách

rời Với ý nghĩa đó, tư tưởng trong tác phẩm nghệ thuật đã trở thành sự nung

nấu dằn vặt, là ngọn lửa tình yêu mà người nghệ sĩ gửi gắm trong tác phẩm làm nên vẻ đẹp, sức hấp dẫn cho tác phẩm và do đó thuyết phục người xem

Trang 23

Từ tư tưởng nhân văn cao cả, cách viết sinh động, giàu hình tượng cảm

xúc, nhà văn Mỹ Lew Wallace đã tái hiện chân thực đến kỳ lạ một thời kỳ lịch

sử trong tiểu thuyết Ben Hur Đó là thế giới La Mã cổ với tất cả sự huy hoàng

lộng lẫy và giàu sang của nó, sự ham mê khoái lạc tà giáo và sự suy thoái Đặc biệt sự tàn ác dã man của tầng lớp thống trị La Mã muốn hủy diệt niềm tin vào giáo lý cao đẹp của đông đảo quần chúng Với những trang viết sinh động của nhà văn, các tác giả điện ảnh đã chuyển thành bộ phim kinh điển, nhận được 11

giải Oscar, trong đó có giải kịch bản chuyển thể hay nhất năm 1959 Diễn viên Charlton Heston nhận giải Oscar cho vai diễn người hùng Ben Hur và trở thành

“người hùng” trong lòng khán giả yêu nghệ thuật

Tư tưởng trong tác phẩm nghệ thuật luôn được người nghệ sĩ xác định hết sức rõ ràng ngay từ khi thai nghén đứa con tinh thần của mình Đạo diễn tài ba Nga Stanislapski cho rằng : nghệ thuật chính là “thánh đường của sự thật” Đạo

diễn Dantrencô, nổi tiếng với phim Đất, Sư trưởng Sooc-xơ khẳng định nghệ

thuật là “trường học của cuộc sống” Đạo diễn Eisenstein với bộ phim kinh điển

Chiến hạm Potemkin lại tin rằng người nghệ sĩ thông qua màn ảnh để “thanh lọc

cuộc đời” Từ những quan điểm rõ ràng về tư tưởng, người nghệ sĩ xác đinh hướng đi đúng cho tư tưởng tình cảm và sáng tạo ra những tác phẩm nghệ thuật

có giá trị và trở thành những tác giả nổi tiếng

Qua những trang viết của mình, nhà văn lớn M.Gorki đã thổi vào văn học một luồng gió mới, buộc những người cầm quyền đương thời phải thay đổi những suy nghĩ đã thành nếp về con người về cuộc đời Bằng trái tim nhân đạo cách mạng, M.Gorki mô tả cuộc sống bị đàn áp, đói khổ của các tầng lớp dưới đáy xã hội, đồng thời thấu hiểu ánh sáng lương tâm trong tâm hồn họ Nhà văn

cho rằng: “Nghệ thuật căn bản là một cuộc đấu tranh hoặc là để tán thành hoặc

là để phản đối, chứ không có và không thể có một nền nghệ thuật bàng quan, bởi vì con người không phải là một chiếc máy ảnh, con người không ghi chép hiện thực mà hoặc là xác nhận, hoặc là thay đổi ” [34, tr.17] Nội dung tư tưởng

Trang 24

ấy, hiện diện trong hầu hết các tác phẩm của ông Trong tài sản gần 20 tác phẩm văn học bao gồm cả tiểu thuyết, truyện ngắn và kịch của M.Gorki đã được

chuyển thể sang điện ảnh, tiêu biểu nhất là bộ phim câm Người mẹ [80, tr.32]

Nội dung tư tưởng trong tác phẩm nghệ thuật rõ ràng có vai trò hết sức quan trọng đối với toàn bộ cơ cấu của tác phẩm, được quyết định bởi tư tưởng của tác giả Tư tưởng tác phẩm có thể sâu sắc hay nông cạn, đúng đắn hay sai lầm, khẳng định hay phủ định Tất cả đều phụ thuộc vào sự lĩnh hội nhận thức thế giới của người nghệ sĩ, liên quan mật thiết với lập trường tư tưởng, thế giới

quan, lý tưởng xã hội thẩm mỹ Nhà nghiên cứu Biêlinxki nhận định: “Trong

những tác phẩm nghệ thuật chân chính, tư tưởng đâu phải là một khái niệm trừu tượng được thể hiện một cách giáo điều, mà nó là linh hồn của chúng, nó chan hòa trong chúng như ánh sáng chan hòa trong pha lê ” [19, tr.123]

Trong tác phẩm nghệ thuật, từ ngôn ngữ đến các phương tiện nghệ thuật

đều mang dấu ấn của tư tưởng, được người nghệ sĩ thể hiện “chan hòa”qua các

hiện tượng, sự kiện, nhân vật, chi tiết…theo một khuynh hướng tư tưởng – thẩm

mỹ nhất định Tất cả hợp thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt các chủ đề, làm nền tảng cho tác phẩm Nếu tư tưởng như định hướng cho chủ đề, thì chủ đề là cách thể hiện tập trung tư tưởng và làm nên giá trị tác phẩm Đúng như các nhà nghiên

cứu từng khẳng định: “Trong một tác phẩm tính tư tưởng không thể tách rời với

tính nghệ thuật ” [19, tr.242] Điều này đã làm nên thành công của những áng

văn chương và điện ảnh nổi tiếng trên thế giới và Việt Nam

Cùng tương đồng về nội dung tư tưởng, nên nhiều tác phẩm văn học đã trở thành “nỗi ám ảnh” thôi thúc các tác giả điện ảnh muốn tái hiện câu chuyện văn học lên màn ảnh Đạo diễn nổi tiếng Trung Quốc Lý An khi chuyển thể tác

phẩm Sắc, Giới của nhà văn Trương Ái Linh đã chia sẻ: “Lúc đầu không nghĩ

đến việc dựng thành phim, nhưng vì không thể quên được, nên cuối cùng phải bắt tay vào làm phim để khám phá xem nguyên nhân khiến mình không thể quên được điều ấy là gì…”[57, tr.596] Từ sự trăn trở, đòi hỏi khám phá ấy, các tác giả

Trang 25

điện ảnh đã đưa tư tưởng trong văn học vào phim truyện một cách thuyết phục

và mang lại nhiều cảm xúc cho người xem

Nói về ý nghĩa của nội dung tư tưởng trong tác phẩm điện ảnh, đạo diễn

Iran Abbas Kiarostami viết: “…Bằng phương tiện điện ảnh chúng ta sáng tạo ra

một thế giới khác, thật hơn, công bằng hơn Đó không phải là thế giới giả tạo

mà ngược lại, làm bật ra sự đối chọi giữa thực tế và lí tưởng, giúp ta hiểu biết mình hơn, tiến gần cuộc sống ước mơ hơn.” [25, tr.35]

Như vậy, một khi đã xác định được nội dung tư tưởng, người nghệ sĩ sẽ thổi những tư tưởng tình cảm ấy vào từng chi tiết, từng nội dung cụ thể của tác phẩm và làm nên giá trị tư tưởng nghệ thuật cho tác phẩm

Nội dung cụ thể

Đề tài

Đề tài là “Khái niệm chỉ loại các hiện tượng đời sống được miêu tả phản

ánh trực tiếp trong sáng tác văn học.” [121, tr.78] Khái niệm đề tài được dùng

khá linh hoạt ở tầm vĩ mô, đề tài khái quát những lĩnh vực hoạt động rộng lớn của xã hội như chính trị, tôn giáo, quân sự, kinh tế, văn hóa…Ở những đề tài hẹp hơn như khoa học, kỹ thuật trong nông nghiệp, công nghiệp…Trong vô vàn những nhu cầu đa dạng của con người trong xã hội, có những đề tài về tình yêu, lòng nhân ái, sự tha thứ, lòng tham, sự ích kỷ… Văn học đã trở thành kho tàng bách khoa toàn thư về muôn mặt của cuộc sống xã hội Trong cuộc “Đối thoại giữa Kenzaburo với Mạc ngôn và Trương Nghệ Mưu”, đạo diễn Trương Nghệ

Mưu chia sẻ với các nhà văn: “Các phim của tôi đều chuyển thể từ tiểu

thuyết Tôi thường xem tiểu thuyết để tìm đề tài điều khó nhất đối với tôi là ngồi trước trang giấy trắng hoặc ngồi trước máy vi tính, bắt tôi làm việc từ con

số không Cho nên tôi rất khâm phục các nhà văn, sao họ có thể viết ra nhiều câu chuyện đến thế ? ” [133, tr.21]

Từ vô vàn những hiện tượng của cuộc sống, người nghệ sĩ đã lĩnh hội và chọn lựa theo cảm nhận riêng của mình Đề tài mang dấu ấn rõ rệt của đời sống

Trang 26

khách quan nhưng nó cũng là sự ghi nhận chủ quan của người sáng tác Mỗi nghệ sĩ với thế mạnh và khả năng riêng biệt về một vài đề tài tiêu biểu, đã tạo nên phong cách độc đáo trong phản ánh hiện thực Nhà biên kịch Nga nổi tiếng

Gabrilôvich nhận xét: “Không một bộ phim nào, dù quy mô đến đâu, lại có thể

tồn tại bên ngoài số phận con người, ngoài những quan hệ phức tạp của con người, thậm chí hết sức phức tạp” [71, tr.123] Cùng chọn con người và xã hội

con người làm đề tài phản ánh hiện thực, văn học và điện ảnh có sự gần gũi, tương đồng về đề tài

Nhà văn Nguyễn Tuân nổi tiếng với khả năng sáng tạo biến hóa tuyệt vời

ngôn từ qua những tác phẩm như Vang bóng một thời, Tùy bút Sông Đà Giáo

sư Hoàng Như Mai nhận xét: “Đã nửa thế kỷ, trong kho tàng văn chương ta có

thêm một viên trân châu: ‘Vang bóng một thời’, từ ấy đến nay, người ta không ngừng nâng niu ngắm nghía nó Và đúng như đối với một viên ngọc quý, càng nhìn, càng đẹp, xem đến bao nhiêu lần vẫn chưa thỏa mãn, vẫn muốn xem nữa” [88, tr.90] Cùng cảm nhận sâu sắc vẻ đẹp đất nước và con người qua tác

phẩm của nhà văn Nguyễn Tuân, nữ đạo diễn Việt Linh chọn Chùa đàn trong

Vang bóng một thời để phỏng theo và cho ra đời bộ phim truyện nghệ thuật Mê Thảo - Thời vang bóng

Văn học Việt Nam trước năm 1945, đề tài phản ánh hiện thực xã hội đen tối, bất công đối với những con người cùng khổ được chú ý nhất, nhưng mỗi tác giả có cách phát hiện và ghi nhận hiện thực theo chủ quan của riêng mình Phạm

vi hiện thực cuộc sống trong đề tài có thể hẹp hay rộng phụ thuộc nhiều vào cảm hứng sáng tạo, sở trường và khả năng sáng tạo và trách nhiệm của người nghệ sĩ trước cuộc sống

Trong Tắt đèn, nhà văn Ngô Tất Tố miêu tả nỗi thống khổ, sự kiệt quệ của

người nông dân vì nạn sưu cao thuế nặng Nhà văn bộc lộ tấm lòng thương cảm của mình với những cảnh đời bị chà đạp tàn nhẫn và lên án mạnh mẽ thói tham lam vô độ của bọn cường hào, địa chủ trong xã hội cũ

Trang 27

Ở các tác phẩm của nhà văn Nam Cao, cũng là cái đói, cái nghèo đeo

đẳng, hành hạ con người đến cùng cực như Lão Hạc, kiếp người vật vờ, bị chà

đạp, hủy hoại cả nhân tính như Chí Phèo, hay cuộc sống quẩn quanh không lối thoát của giới giáo chức trong Sống mòn Từ yêu mến đề tài trong tác phẩm văn học của Ngô Tất Tố, đạo diễn Phạm Văn Khoa đã dựng thành phim Chị Dậu

năm 1980 Cùng đề tài về kiếp sống tủi nhục của con người trong xã hội cũ, qua

ba tác phẩm Chí Phèo, Lão Hạc, Sống mòn của Nam Cao, đạo diễn Phạm văn Khoa chuyển thể thành phim Làng Vũ Đại ngày ấy năm 1983

Đề tài không chỉ mang đậm sắc thái cá nhân gắn liền với kinh nghiệm sống và sự từng trải của người nghệ sĩ mà còn chứa đựng ý nghĩa xã hội và nhân sinh sâu sắc Việc lựa chọn đề tài đã thể hiện khá rõ khuynh hướng trong lập trường tư tưởng của người nghệ sĩ Vì vậy, đề tài trong tác phẩm có quan hệ mật thiết với chủ đề và tư tưởng

Chủ đề

Chủ đề được hình thành và thể hiện trên cơ sở của đề tài, là yếu tố quan trọng cấu thành nội dung tư tưởng của tác phẩm nghệ thuật Chủ đề của tác phẩm luôn là những vấn đề nảy sinh từ đời sống xã hội, thông qua khả năng khái

quát của nhà văn Đó là những “Vấn đề cơ bản, vấn đề trung tâm được tác giả

nêu lên, đặt ra qua nội dung cụ thể của tác phẩm văn học.” [121, tr.43]

Xưa nay, những chủ đề có tính vĩnh cửu như hạnh phúc, tình yêu, ước

mơ, hy vọng, sống chết luôn là những chủ đề được con người quan tâm hàng đầu, dù có rất nhiều dị biệt về cách cảm nhận ở từng thời đại và con người khác nhau Nhưng những tác phẩm nghệ thuật mang những chủ đề này vẫn luôn buộc con người phải thổn thức buồn vui căm giận

Bàn về cách lựa chọn chủ đề của người nghệ sĩ trong nghệ thuật điện ảnh,

đạo diễn Nga Poudovkin viết: “Chủ đề là một khái niệm chung cho các môn

nghệ thuật Mỗi ý nghĩ của con người đều có thể trở thành chủ đề của tác phẩm Điện ảnh cũng như các môn nghệ thuật khác, không bị hạn chế trong việc lựa

Trang 28

chọn chủ đề Vấn đề duy nhất là xem nó có giá trị đối với khán giả hay không…” [26, tr.122] Chủ đề có vai trò trong phát hiện, đặt vấn đề và giải quyết

vấn đề trong tác phẩm Nhưng quan trọng hơn cả là sự tác động của tác phẩm vào nhận thức tư tưởng của người thưởng thức Cho nên, người nghệ sĩ sáng tác trong quá trình xây dựng tác phẩm thường tập trung “trí và lực” để nêu bật vấn

đề mình muốn đề cập qua các hệ thống hình tượng cảm xúc, hình tượng nhân vật, hoặc qua những yếu tố biến cố, sự kiện khác thường…Cũng có khi thể hiện qua các chi tiết: tên tác phẩm, lời thọai của nhân vật hay lời bình của tác giả

Trong văn học và điện ảnh thế giới, rất nhiều tác phẩm nổi tiếngcó chủ đề

thể hiện ngay ở tựa đề như Chiến tranh và hòa bình của L.Tônxtôi, Tội ác và

trừng phạt của Đôstôievski, Số phận con người của Sôlôkhôp, Những người

khốn khổ của V.Huygô, Không gia đình của H Malôt …

Điều này cũng thể hiện trong văn học và điện ảnh Việt Nam qua những

tiểu thuyết và phim truyện như Xa và gần, Thời xa vắng…Hay truyện ngắn và

phim như Con chim vành khuyên, Tướng về hưu, Trăng nơi đáy giếng…Ý nghĩa

tựa đề của mỗi tác phẩm đã mang đến cho người xem những cảm nhận đầu tiên, bao quát về những vấn đề mà tác phẩm đặt ra

Chủ đề có thể nảy sinh trong kinh nghiệm của nhà văn do cuộc sống gợi

ra, nhưng được ẩn náu trong kho tàng ấn tượng của nhà văn dưới nhiều dạng thức như chi tiết, sự kiện, tình huống…nhưng phổ biến là những lời bình của tác giả hoặc lời thoại nhân vật trong tác phẩm

Trong Sống mòn, nhà văn Nam Cao thể hiện sâu sắc chủ đề, khi ông viết:

“Đời y sẽ mốc lên, sẽ mòn, sẽ mục ra ở một xó nhà quê Người ta sẽ khinh y,

chính y sẽ khinh y Rồi y sẽ chết mà chưa làm gì cả, chết mà chưa sống” [187,

tập2, tr.318] Trong bộ phim Làng Vũ Đại ngày ấy, đạo diễn Phạm văn Khoa

cũng sử dụng ý tưởng trên, làm chủ đề trung tâm cho phim Trên phim, thầy giáo Thứ như một nhân chứng sống, chứng kiến cuộc sống khốn khổ của người dân làng Vũ Đại, mà tiêu biểu là cái chết bi thương của Lão Hạc, Chí Phèo Mắt

Trang 29

thấy tai nghe những điều bất công đã buộc thầy giáo Thứ quyết định đi khỏi làng, để tìm ra con đường sống cho bản thân, gia đình và bà con làng Vũ Đại

Chủ đề tiểu thuyết Con đường đau khổ được nhà văn Nga A Tônxtôi bộc

lộ qua lời tâm sự của Rôtsin nói với Katia: “Mọi cuộc chiến tranh rồi sẽ qua đi,

cách mạng sẽ thôi gào thét, chỉ còn tấm lòng em dịu dàng ngàn đời bất diệt”

Chủ đề từ văn học được các tác giả điện ảnh diễn tả thật lôi cuốn qua hình ảnh những biến cố dữ dội của cách mạng Nga tháng Hai và tháng Mười năm 1917, thông qua số phận thăng trầm và mối tình thủy chung của hai nhân vật chính Rôtsin và Katia trong phim

Như vậy, khi chuyển thể tác phẩm văn học sang điện ảnh, các tác giả điện ảnh thường chọn chủ đề gần gũi với tác phẩm văn học gốc Đó cũng là một lý do

mà ngày càng nhiều tác phẩm văn học có đời sống thứ hai trên màn ảnh

Sự kiện, nhân vật

Thông qua các sự kiện, số phận và tính cách của hình tượng nhân vật được bộc lộ và phát triển Hiện thực khách quan với những quy mô xã hội khác nhau trong đó con người tham gia hoạt động xoay quanh các sự kiện xã hội Đó

có thể là sự đấu tranh giữa các mặt đối lập của cuộc sống : cái tốt và cái xấu, cái mới và cái cũ, sự sống và cái chết, tích cực và tiêu cực …Hoặc là cuộc đấu tranh diễn ra trong từng con người, từng sự vật hiện tượng, có khi giữa các nhóm, các giai cấp, các dân tộc Những xung đột xã hội, là môi trường để tính cách nhân vật được bộc lộ và tỏa sáng chủ đề tư tưởng của tác phẩm

Tiểu thuyết Tắt đèn của nhà văn Ngô Tất Tố, mô tả sự kiện sưu thuế nặng

nề, vô lý đè nặng lên đôi vai héo mòn của những người nông dân nghèo đói những năm trước Cách mạng tháng Tám Không có tiền nộp sưu cho chồng, và người em chồng đã chết, chị Dậu phải buộc lòng mang con Tý và đàn chó bán

cho địa chủ Nghị Quế “Mấy con chó thôi ăn, kéo nhau trở lại chỗ con chó cái

bỏ dở cả mấy đống cơm Nghị Quế sai thằng nhỏ hốt hết vào rá, đưa cho con

Tý Ra giọng nhân từ, ông đại biểu của dân bảo đứa con nít khốn nạn:

Trang 30

-Con bé kia! Cầm lấy rá com ăn đi kẻo phí của trời Ăn bốc cũng được, không phải đũa bát

Nước mắt chảy ra như mưa, cái Tý ngần ngại nhìn rá cơm nguội, không muốn chìa tay ra đón Ông đại biểu cho dân hầm hầm nét mặt:

-Mày không ăn thừa cơm chó phải không?

Bà Nghị nổi cơn tam bành:

- Mẹ mày dạy mày thế đấy chừ, con ranh con? Ở đây với bà mày cứ giữ cái thói khoảnh ấy, thì bà dần từng cái xương Này bà bảo cho mà biết: mày ăn cơm chó nhà bà cũng chưa đáng đâu Con chó nhà bà còn được mấy chục, con người như mày, bà chỉ mua có một đồng đấy thôi Đừng khoảnh với bà.”

[208, tr 93]

Hình ảnh con Tý bốc từng hạt cơm thừa của đàn chó trên sân nhà địa chủ Nghị Quế, trong âm thanh giọng nói chì chiết của vợ chồng Nghị Quế trên phim khiến người xem uất nghẹn vì cảm thương Đạo diễn Phạm Văn Khoa cùng đồng nghiệp đã chọn lọc các chi tiết điển hình, những đoạn văn giàu ý nghĩa nhất để tái hiện chân thực sự kiện lịch sử đau thương của dân tộc lên màn ảnh Qua đó lột tả rõ nét tính cách độc ác, vô lương tâm của tầng lớp thống trị, mà vợ chồng địa chủ Nghị Quế là đại diện và tình cảnh đáng thương khốn cùng của những người dân vô tội như gia đình chị Dậu

Mỗi sự kiện được xác định bởi tính lịch sử xã hội nhất định nên nó tương ứng với mẫu tính cách nhân vật phù hợp, bởi một tính cách là đại diện trong

mức độ nhất định cho một hoàn cảnh lịch sử cụ thể Tính cách của Chị Dậu đại

diện cho những người phụ nữ nông dân bần cùng khốn khổ trước năm 1945

Sự kiện và tính cách nhân vật luôn có quan hệ biện chứng để đảm bảo chân thực tính lịch sử cho tác phẩm nghệ thuật

Mối liên hệ giữa sự kiện và nhân vật đặc biệt rõ nét qua tiểu thuyết Những

khoảng cách còn lại của nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn Tác phẩm miêu tả sự kiện

mang tính thời sự nóng hổi: sự đối lập giữa hai hệ tư tưởng, hai cách sống trong

Trang 31

một gia đình sau ngày giải phóng Đó là cuộc sum họp sau mấy chục năm xa cách của hai tuyến nhân vật: ông Sĩ cùng những người con trưởng thành ở miền Bắc, bà Thuận Thành cùng những người con sinh sống trong xã hội Sài gòn cũ Ngày đất nước thống nhất, họ gặp lại nhau trong niềm vui mừng khôn xiết của những người ruột thịt lâu ngày mới gặp, nhưng thật ngỡ ngàng vì khoảng cách

về quan điểm xã hội Tính thời sự của tiểu thuyết Những khoảng cách còn lại đã

hấp dẫn đông đảo độc giả, nhanh chóng được dựng thành vở kịch nói, tạo được tiếng vang lớn trên sân khấu thành phố HCM thời bấy giờ

Dựa vào chất liệu văn học, đạo diễn Huy Thành đã dựng thành phim

truyện với tựa đề Xa và gần Những người trong gia đình ông Phú Sĩ từ cha mẹ,

vợ chồng đến con cái anh em, là những người thật Gần trong quan hệ huyết thống gia đình, nhưng họ cũng thật Xa trong nhận thức, lối sống Điều kiện,

hoàn cảnh chiến tranh kéo dài hơn ba mươi năm, đã sinh ra những tính cách

khác biệt, những uẩn khúc éo le được nhà văn mô tả chân thực trong tiểu thuyết

Bộ phim Xa và gần bám sát nội dung tiểu thuyết, làm sống dậy những sự kiện xã

hội một cách thuyết phục và được khán giả đón nhận nhiệt tình

Tương tự như tiểu thuyết Xa và gần, nội dung truyện Cánh đồng bất tận

của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư đã tạo được dư luận xã hội, trước khi được chuyển thành phim truyện Do cùng đề tài, chủ đề, nên khi xem phim, người đọc

dễ dàng nhận diện được “hài hình” của truyện trong phim

Qua những ví dụ trên cho thấy đề tài, chủ đề, sự kiện và nhân vật là những nội dung tương đồng giữa tác phẩm văn học và phim truyện chuyển thể

Khuynh hướng – Trường phái nghệ thuật

Trong lịch sử phát triển ý thức xã hội và ý thức cá nhân qua từng thời đại, văn học và các loại hình nghệ thuật có sự giao thoa gần gũi về đề tài, chủ đề tư tưởng, quan niệm và các trào lưu, khuynh hướng nghệ thuật Tính khuynh hướng trong tác phẩm nghệ thuật được toát ra một cách tự nhiên từ sự miêu tả

Trang 32

sinh động hiện thực, thể hiện xu thế tư tưởng bắt nguồn từ cuộc sống xã hội, được người nghệ sĩ phản ánh qua nội dung và hình thức của tác phẩm

Trong những năm 20-30 của thế kỷ XX, điện ảnh- ngành nghệ thuật thứ bảy ra đời, có sức hấp dẫn khán giả rất lớn Sự trông đợi của công chúng đã buộc các tác giả điện ảnh hướng đến những ý tưởng, chủ đề gần gũi với các khuynh hướng hiện đại trong các loại hình nghệ thuật như văn học, hội họa, sân khấu, âm nhạc…Điều đó là tiền đề của sự xuất hiện các trào lưu điện ảnh lớn ở

châu Âu Những khuynh hướng sáng tác nổi bật như Chủ nghĩa biểu hiện Đức (1919-1926), Chủ nghĩa ấn tượng và siêu thực Pháp (1918- 1930), Chủ nghĩa

hiện thực mới Italy (1942-1951), Làn sóng mới ở Pháp(1959 -1964) [24, tr.584]

Những khuynh hướng sáng tác này đã góp phần làm cho nghệ thuật điện ảnh non trẻ phát triển ngày càng phong phú và đa dạng

Theo các nhà nghiên cứu: “khái niệm khuynh hướng ghi nhận tính cộng

đồng về cơ sở tư tưởng thẩm mỹ của nội dung nghệ thuật, tính cộng đồng này được quy định bởi sự thống nhất về truyền thống nghệ thuật và văn hóa”[5,

tr.174] Cho nên, mỗi thời đại xã hội khác nhau, có những khuynh hướng tư tưởng khác nhau Khuynh hướng có liên quan trực tiếp đến phương diện sáng tác của người nghệ sĩ qua cảm hứng sáng tạo, lí tưởng thẩm mỹ, thị hiếu thẩm

mỹ, trong cách tạo dựng nhân vật… Trong văn học thế giới và Việt Nam đã từng có nhiều khuynh hướng tư tưởng khác nhau như lãng mạn, hiện thực, trừu tượng…Do cùng chung hình thái ý thức xã hội, văn học đã có chung khuynh hướng tư tưởng với các loại hình nghệ thuật khác cùng thời đại, đặc biệt là điện ảnh, qua những bộ phim truyện điện ảnh chuyển thể từ văn học Một số khuynh hướng tiêu biểu trên thế giới được thể hiện qua các cặp tác phẩm văn học và phim truyện chuyển thể điện ảnh nổi tiếng như sau:

Khuynh hướng lãng mạn: trong văn học có nhà văn Victo Huygô với

tiểu thuyết Những người khốn khổ thì trong điện ảnh có phim chuyển thể cùng

tên của đạo diễn Bille August Nhà văn Mỹ Margaret nổi tiếng với tiểu thuyết

Trang 33

Cuốn theo chiều gió, thì trong điện ảnh có bộ phim chuyển thể cùng tên của đạo

diễn Victor Fleming

Khuynh hướng hiện thực: trong văn học có nhà văn Xtăngđan với tiểu

thuyết Đỏ và đen và bộ phim chuyển thể của đạo diễn Gerard Philipe

Khuynh hướng trừu tượng: trong văn học có nhà văn Hêmingway với

tác phẩm Giã từ vũ khí và bộ phim chuyển thể của đạo diễn Frank Borage

Là nghệ thuật của ngôn ngữ trực giác nhìn và nghe, nên tính khuynh hướng ở điện ảnh thể hiện qua từng góc quay, từng câu thoại, từng mỗi đạo cụ, từng mỗi động tác của diễn viên…tất cả đều được tận dụng để làm đậm đặc tính khuynh hướng của mỗi nội dung cụ thể Vì vậy, những tác phẩm điện ảnh xuất sắc thường có tác động mạnh mẽ và có sức lan tỏa trong đời sống xã hội

Đầu thế kỷ XX, cuộc cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại đã tạo nên một bước ngoặt lớn trong lịch sử thế giới, làm thay đổi những khuynh hướng sáng

tác trong nghệ thuật Những bộ phim kinh điển của điện ảnh Nga như Chiến

hạm Potemkin, Người mẹ… phản ánh chân thực sâu sắc vấn đề nóng bỏng của

thời đại cách mạng vô sản Tiếp theo là những bộ phim như Đội cận vệ thanh

niên, Số phận con người, Con đường đau khổ…Tất cả được sáng tác theo

khuynh hướng mới: hiện thực cách mạng Đó là những bộ phim chuyển thể từ những tác phẩm văn học nổi tiếng của văn học hiện đại Nga Những tác phẩm nghệ thuật này đã có ảnh hưởng sâu sắc đến khuynh hướng sáng tác nghệ thuật ở Việt Nam và được đông đảo quần chúng yêu thích đón nhận

Điện ảnh cách mạngViệt Nam ra đời năm 1953 cũng có chung khuynh hướng hiện thực cách mạng với văn học Những tác phẩm văn học theo khuynh hướng này đã trở thành biểu tượng đẹp đẽ của người Việt Nam trong đấu tranh

bảo vệ và xây dựng đất nước như Kim Đồng, Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô

Hoài, Đất nước đứng lên của nhà văn Nguyên Ngọc…và nhiều bộ phim truyện

chuyển thể từ những tác phẩm của các nhà văn nổi tiếng khác như Chị Tư Hậu,

Mẹ vắng nhà, Mùa gió chướng, Thương nhớ đồng quê …

Trang 34

Thể loại

Văn học có ba loại lớn là tự sự, trữ tình và kịch.“Trong phạm vi mỗi loại

văn học là các thể (“thể loại” hoặc “thể tài”), chúng được phân chia căn cứ vào tố chất thẩm mỹ chủ đạo, vào giọng điệu, vào dung lượng và cấu trúc chung của tác phẩm”[5, tr.188] Thể loại phim trong điện ảnh cũng tương tự như thể

loại văn học, có nhiều thể loại phim được người xem đặc biệt thích thú vì nó bộc

lộ thế mạnh của điện ảnh khi vận dụng công nghệ và kỹ xảo để lột tả sinh động những nội dung văn học Sau đây là một số thể loại tiêu biểu trong phim truyện điện ảnh được chuyển thể từ văn học

Thể loại lịch sử

Thể loại lịch sử là những câu chuyện có thật đã xảy ra qua các thời đại ở

một vùng đất hay một quốc gia Những sự kiện, nhân vật lịch sử khi vào văn học

và điện ảnh, không còn đơn thuần là tư liệu lịch sử, vì đã có sự hư cấu nghệ thuật nhất định, tuy nhiên vẫn trung thành với những yếu tố chính của lịch sử

Những bộ phim lịch sử nổi tiếng chuyển thể từ văn học Nga như Con

đường đau khổ, Người thợ cạo Sibir, Giải phóng, Taras Bulba… Đặc biệt, tiểu

thuyết Chiến tranh và hòa bình, bộ sử thi vĩ đại nhất của L.Tônxtôi về xã hội Nga đầu thế kỷ XIX với hai biến cố lớn: chiến tranh và hòa bình, qua các giai đoạn lịch sử: 1805- 1812, 1812- 1820 Phim truyện Chiến tranh và hòa bình đã

cuốn hút người xem bằng bối cảnh hoành tráng của những sự kiện, những trận chiến khốc liệt giữa quân đội Napônêông và Nga hoàng Từng thước phim tái hiện thật sinh động lịch sử qua từng thân phận sóng gió của mỗi nhân vật Nhà phê bình văn học Pháp William Lyon Phelps đã gọi trường thiên tiểu thuyết

“Chiến tranh và hòa bình là cuốn từ điển về đời người.” [204, tr.5]

Năm 2010, phim truyện Việt Nam Long thành cầm giả ca đã đem lại cho

người xem một món ăn tinh thần quý giá về văn hóa dân tộc Bộ phim được phỏng theo bài thơ cùng tên của Nguyễn Du, một câu chuyện hư cấu được xây dựng dựa theo lịch sử triều đại cuối Lê đầu Nguyễn Đạo diễn Đào Bá Sơn

Trang 35

không miêu tả các cảnh chiến tranh, khói lửa mà tập trung khai thác yếu tố tâm

lý, cảm xúc thể hiện qua mối tình lãng mạn của nhà thơ Nguyễn Du với nàng Cầm, người con gái gảy đàn ở Thăng Long, khiến người xem trân trọng, cảm

phục trước tình người cao cả Phim Long thành cầm giả ca đã làm sống dậy

không khí cổ kính, uy nghiêm của kinh đô Thăng Long xưa thật gần gũi và quen thuộc, được giới chuyên môn và người xem đánh giá cao [148, tr.6-8]

Dã sử: Cũng nằm trong thể loại lịch sử, nhưng là kí ức lịch sử được lưu

truyền trong dân gian, được truyền miệng từ đời này qua đời khác, dưới dạng truyền thuyết, cổ tích Dã sử do các tác giả thu thập trong nhân dân và biên soạn thành sách nên có thể không có tên tác giả Trong dã sử, cốt lõi lịch sử đôi khi bị che lấp bởi trí tưởng tượng, hoặc được tô vẽ thêm nhiều tình tiết hấp dẫn, li kỳ qua nhiều dị bản và cách kể khác nhau Tuy nhiên, nội dung chính của dã sử vẫn phản ánh trung thành sự kiện lịch sử và thái độ của quần chúng nhân dân đối với

sự kiện và nhân vật lịch sử

Tiểu thuyết Đêm hội long trì của Nguyễn Huy Tưởng được viết theo dạng

dã sử Nhà văn đã chọn giai đoạn lịch sử điển hình cho sự suy thoái của xã hội phong kiến Việt Nam để khai thác các mâu thuẫn và xung đột, qua đó triển khai các mạch truyện và chủ đề Từ cảm quan của văn học dân gian, nhà văn diễn giải những ý tưởng rút ra từ lịch sử để soi sáng các vấn đề đặt ra trong tác phẩm

Từ câu chuyện văn học Đêm hội long trì, điện ảnh Việt Nam đã có một bộ

phim dã sử - cổ trang, gồm 2 tập: Cầu hôn và Quả báo do đạo diễn Hải Ninh dàn dựng năm 1989 Bộ phim quy tụ một dàn diễn viên xuất sắc của điện ảnh Việt Nam những năm cuối thế kỷ XX Bối cảnh phim được xây dựng công phu trên nền câu chuyện đã được nhà văn Nguyễn Huy Tưởng mô tả đầy lôi cuốn những mưu mô chốn cung đình, vì vậy mang lại cho người xem một câu chuyện lịch sử hấp dẫn và nhiều bài học ý nghĩa

Điện ảnh Trung Quốc nổi tiếng với những bộ phim dã sử - cổ trang hoành

tráng hấp dẫn như: Hoa mộc lan dựa theo truyền thuyết của Trung Quốc Đại

Trang 36

chiến Xích bích phỏng theo tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩa, một sự kiện lịch sử

xảy ra thời Tam quốc, với những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử như Tôn Quyền, Chu Du, Lưu Bị, Quan Vũ và Tào Tháo Từ câu chuyện trong lịch sử và văn học, các tác giả điện ảnh đã xây dựng kịch bản với hai nhân vật hư cấu là Li

Cơ (vũ nữ của Tào Tháo) và Tôn Thư Tài trên phim Bộ phim do đạo diễn Ngô

Vũ Sâm dàn dựng năm 2008 Trên phim các tác giả điện ảnh đã dàn dựng những trận giao chiến ngoạn mục trên sông và nhiều cảnh quay hoành tráng nên rất hấp dẫn và được người xem nhiệt tình ủng hộ

Thể loại trinh thám, tình báo

Tập trung miêu tả sự đối lập giữa chính nghĩa và gian tà, giữa bản năng đen tối và sự phản kháng kiên cường của con người Nhân vật trong những bộ phim thể loại này là những hình tượng nhân vật có năng lực siêu phàm xuất chúng, gây ấn tượng mạnh cho người xem, nên là những hình tượng nhân vật được người xem chờ đợi ngưỡng mộ Vì vậy, phim trinh thám, tình báo luôn hấp dẫn người xem ở tính năng hồi hộp, bí ẩn và giữ chân người xem trong bầu không khí căng thẳng khẩn trương

Điện ảnh Việt Nam những năm 80 của thế kỷ XX, có một bộ phim tình

báo tạo được dấu ấn đặc biệt Đó là bộ phim Ván bài lật ngửa, chuyển thể từ tiểu thuyết tình báo Giữa biển giáo rừng gươm của nhà văn Nguyễn Trương Thiên

Lý (Trần Bạch Đằng) do đạo diễn Lê Hoàng Hoa (Khôi Nguyên) dàn dựng trong

8 năm (1982-1987) Bộ phim dài 8 tập có tên theo thứ tự như sau Đứa con nuôi

vị giám mục, Quân cờ di động, Phát súng trên cao nguyên, Cơn hồng thủy và bản tango số 3, Trời xanh qua kẽ lá, Lời cảnh cáo cuối cùng, Cao áp và nước lũ,

Vòng hoa trước mộ [231] Nam diễn viên Nguyễn Chánh Tín đã tỏa sáng trong

vai điệp viên Nguyễn Thành Luân (Phạm Ngọc Thảo), người chiến sĩ tình báo dũng cảm hoạt động trong bộ máy của chính quyền Ngô Đình Diệm Bộ phim được giới chuyên môn đánh giá rất cao và quần chúng nhiệt tình đón nhận Tiểu

Trang 37

thuyết Giữa biển giáo rừng gươm khi tái bản được nhà văn đổi tên theo phim là

Ván bài lật ngửa

Điện ảnh thế giới đã có rất nhiều bộ phim nổi tiếng về thể loại này, những

tác phẩm được chuyển thể từ những tác phẩm văn học xuất sắc như Sherlork

Holmes của nhà văn S.A.Conan Doyle, Thanh kiếm và lá chắn của nhà văn

Vadim Kozhevnikov, Bố già tác phẩm nổi tiếng của nhà văn Mario Puzo…

Sherlork Holmes là thám tử người Anh lừng danh trong loạt truyện trinh

thám của nhà văn S.A.Conan Doyle Những cuốn sách của ông đã làm say mê độc giả trên toàn thế giới và đã có 214 lần các câu chuyện về hành trình phá án

ly kỳ của thám tử Sherlork Holmes được dàn dựng thành phim cùng tên Theo

sách kỷ lục Guinness: Sherlork Holmes là nhân vật văn học được chuyển thể

nhiều nhất sang điện ảnh

Phim Thanh kiếm và lá chắn chuyển thể từ cuốn tiểu thuyết tình báo cùng

tên của nhà văn - phóng viên chiến trường Vadim Kozhevnikov (1909 - 1984)

Từ tiểu thuyết đến phim là câu chuyện về số phận chìm nổi của Aleksandr Belov, một chiến sĩ tình báo Xôviết hoạt động ở Đức trong những năm chiến tranh thế giới lần thứ II dưới tên giả Johann Weiss Từ một nhân viên, Johann Weiss được thăng lên cấp bậc Trung úy và điều động về Berlin làm việc trực tiếp tại Tổng hành dinh SS Tại đây, Weiss đã nắm chắc được một nguồn cung cấp thông tin mật vô cùng giá trị Bộ phim ra đời năm 1968, gồm 38 tập, phản ánh cuộc chiến hiểm nguy, căng thẳng tột cùng và sự hy sinh thầm lặng của các chiến sĩ tình báo Liên xô trên mặt trận phản gián

Phim Bố già của điện ảnh Mỹ sản xuất (tập 1 năm 1972, tập 2 năm 1974)

của đạo diễn danh tiếng F.Coppola, chuyển thể từ tác phẩm văn học nổi tiếng

của nhà văn Mario Puzo Phim Bố già đã chuyển tải sâu sắc câu chuyện từ văn

học : những mối quan hệ trong giới xã hội đen qua các cuộc thanh trừng đẫm máu và tâm trạng bất an của những người trong cuộc Bộ phim được giới chuyên

Trang 38

môn và công chúng đánh giá rất cao, là một trong 100 bộ phim hay nhất của viện phim Mỹ

Thể loại kinh dị

Mẫu hình chung của phim kinh dị là dựa trên nỗi khiếp sợ về môi trường, như thảm họa hạt nhân, động đất hoặc những thảm họa khác được con người tạo

nên những quái vật đột biến trong phim như Quái vật sông Hàn (Hàn Quốc)

Công viên khủng long, Vùng đất chết (Mỹ)…Chủ yếu gây ra cho người xem

những hiệu quả cảm xúc đặc biệt Đối tượng làm động lực của cốt truyện phim dạng này là những con quỷ, những thây ma hay ma cà rồng hoặc những biến hóa của các đối tượng, khiến mọi người ớn lạnh Phim kinh dị có thể tạo hiệu quả cảm xúc bằng hóa trang và những kỹ xảo đặc biệt, nên được các nhà làm phim

có nguồn kinh phí thấp ưa chuộng Ngày nay phim kinh dị là kiểu làm phim được khai thác phổ biến nhất, đặc biệt ở các nước Âu Mỹ

Tiểu thuyết Bá tước Dracula là một con ma cà rồng trong câu chuyện

kinh dị hư cấu nổi tiếng do Bram Stoker viết 1897 và được dựng thành phim

năm 1931 Dracula là một nhân vật có thật, một lãnh chúa khét tiếng hung bạo ở

xứ Valachie thế kỷ thứ XV, gắn với lịch sử đau đớn và tàn bạo của Rumani Nhà văn Bram Stoker đã sử dụng các chất liệu dân gian phương Tây, các tài liệu

và sử ký cổ xưa để xây dựng thành một nhân vật văn học hoang đường Điều đó

tạo nên sức hấp dẫn lôi cuốn và phim Dracula trở thành một trong những bộ

phim kinh điển tiêu biểu cho thể loại phim kinh dị.[24, tr.162]

Thể loại phim kinh dị hoàn toàn vắng bóng trong điện ảnh cách mạng Việt Nam Bắt đầu từ năm 1990, khán giả được chứng kiến sự trở lại của thể loại

phim kinh dị với phim Ngôi nhà oan khốc và Chiếc mặt nạ da người của đạo

diễn Nguyễn Chánh Tín Năm 2007, hãng phim Phước Sang hợp tác với Hàn

Quốc làm phim Mười Hãng phim Chánh Phương ra mắt Suối oan hồn, Ngôi

nhà bí ẩn, Chết lúc nửa đêm Hãng phim Thiên Ngân trong hai năm (2009 và

2010) đầu tư phim Khi yêu đừng quay đầu lại và Bóng ma học đường Các phim

Trang 39

đều được quảng cáo bằng những lời có cánh, nhưng khi trình chiếu chỉ mang lại

sự thất vọng cho khán giả Một nhà sản xuất phim phát biểu: “Làm phim kinh dị

ở Việt Nam không khéo sẽ thành phim “dị nghị”, phim tốn tiền đầu tư mà khi chiếu thì bị cắt bỏ hết các phân đoạn bị cho là“mê tín dị đoan”, chiếu lên không “ép phê” gì hết, khán giả chê không xem Là một nhà sản xuất, tôi chẳng

Điều này hoàn toàn trái ngược với phim kinh dị ở các nước, càng làm càng hay và càng được người xem chờ đợi ủng hộ Phim kinh dị Việt Nam dở vì nhiều lý do: Kịch bản không hấp dẫn, diễn viên diễn chưa tới, đầu tư kỹ xảo còn

nhiều hạn chế Đạo diễn Bùi Thạc Chuyên, tác giả phim Lời nguyền huyết ngải năm 2011 nhận xét: “Phim kinh dị quan trọng nhất là phải có ý tưởng lạ, sau đó

mới tính đến chuyện để cho đạo diễn trổ tài Làm phim để kéo được nhiều khán

hết là kịch bản sáng tác, chưa có phim truyện chuyển thể từ văn học

Thể loại thần thoại

Chủ yếu dựa vào các truyền thuyết, cổ tích có sẵn trong kho tàng văn học gian của nhân loại, còn được gọi là thể loại thần thánh Vì vậy, có những bộ phim, nhân vật thần thoại đã trở nên quen thuộc với đông đảo công chúng thế

giới như Con vịt xấu xí, Con ngỗng hoang, Nàng tiên cá…Những phim này

được chuyển thể từ những chuyện cổ tích nổi tiếng của nhà văn người Đan Mạch H.C.Andersen và được dàn dựng thành phim 202 lần *

Truyện cổ Grimm của hai anh em người Đức Jacob và Wilhelm có đến

197 lần * được chuyển thể sang điện ảnh.Đặc biệt, nàng Bạch Tuyết - nhân vật được dàn dựng thành phim nhiều nhất trong vô số các nhân vật trong chuyện cổ tích của anh em Grimm

Phim thần thoại có tác dụng giải trí lành mạnh, thỏa mãn trí tưởng tượng -

* An ninh thế giới cuối tháng, tháng 2/2010

Trang 40

đồng thời hướng người xem xác định rõ những gì diễn ra trên phim là tưởng tượng không có thật trong đời sống Tuy nhiên, nó vẫn lôi cuốn mạnh mẽ người xem tin rằng ước vọng đó là sự thực Loại phim này hấp dẫn vì hàm chứa nhiều yếu tố huyền hoặc, bí ẩn và siêu phàm như người bay qua núi cao, biển rộng, miệng phun ra lửa hoặc rắn rết…Cùng với sự phát triển của điện ảnh, thể loại phim này ngày càng lôi cuốn người xem trước những hình ảnh mới lạ, hoành tráng đẹp mắt và kỹ xảo biến hóa phi thường

Bộ phim dài tập Tây du ký của điện ảnh Hoa ngữ là một điển hình Tiểu thuyết Tây du ký của nhà văn Ngô Thừa Ân là bộ tiểu thuyết thần thánh ma quỉ

vĩ đại nhất của văn học Trung Quốc cổ đại, dựa trên cơ sở truyền thuyết dân

gian từ Tây du ký bình thoại và tạp kịch Tây du ký Thông qua truyện cổ tích

thần thánh, tác giả Ngô Thừa Ân mang đến cho người đọc một sự nghiên cứu sâu sắc về văn hóa, xã hội và cuộc sống trong khoảng thời gian giữa và cuối đời

Minh Những cảnh âm tào, địa phủ, thiên đình, long cung mà Tây du ký miêu tả

chính là hình ảnh tồn tại của con người ở nhân gian Chuyến đi thỉnh kinh đầy

vất vả với “81 nạn quỷ ngăn đường, 72 phép yêu cản lối” đã dẫn dắt trí tưởng

tượng của tuổi thơ bay bổng vượt qua không gian thời gian đến những cánh đồng, ngọn núi, vượt qua bao sông suối thác ghềnh với những điều bí ẩn những phép màu yêu ma, những khám phá kỳ lạ

Cuốn tiểu thuyết được nữ đạo diễn Dương Khiết, thế hệ đạo diễn đầu tiên của Trung Quốc theo đuổi và dàn dựng thành phim trong gần chục năm trời Bộ phim được chia làm hai phần : phần 1 gồm 25 tập, phần 2 gồm 16 tập Đạo diễn

Dương Khiết đã nhận giải thưởng lớn quốc gia với phần 1 của Tây du Ký và trở

thành một trong “Mười đạo diễn xuất sắc nhất Trung Quốc” năm 1988

Đầu thế kỷ XXI, công nghệ 3D tuyệt hảo với kỹ thuật hóa ý tưởng đã cho

ra đời những siêu phẩm điện ảnh, tiếp tục chinh phục khán giả bằng kỹ xảo và

hiệu ứng hình ảnh Phim Ailice ở xứ thần tiên dựa theo tiểu thuyết cổ của nhà

văn Anh Lewis Carroll, xuất bản năm 1865 Tác phẩm văn học này được chuyển

Ngày đăng: 20/05/2016, 21:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Arixtốt (1999), Nghệ thuật thơ ca, Nxb Văn học, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thơ ca
Tác giả: Arixtốt
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1999
2. Arnauđốp N (1978), Tâm lý học sáng tạo văn học, Nxb Văn học HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học sáng tạo văn học
Tác giả: Arnauđốp N
Nhà XB: Nxb Văn học HN
Năm: 1978
3. Andrêmốp (1962), Hình tượng nghệ thuật, Nxb Văn hóa, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình tượng nghệ thuật
Tác giả: Andrêmốp
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1962
4. Lại Nguyên Ân (1984), Văn học và phê bình, Nxb Tác phẩm mới, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và phê bình
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1984
5. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1999
6. Lại Nguyên Ân (2003), Sống với văn học cùng thời, Nxb Thanh niên, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sống với văn học cùng thời
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2003
7. Hồng Anh (2009), “Cuốn theo chiều gió”, ĐANN (số 7- 8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuốn theo chiều gió
Tác giả: Hồng Anh
Nhà XB: ĐANN
Năm: 2009
8. Hoàng Anh (2003),“Vài số liệu về phim Người đàn bà mộng du”, ĐANN (số 104) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài số liệu về phim Người đàn bà mộng du
Tác giả: Hoàng Anh
Nhà XB: ĐANN
Năm: 2003
9. Tạ Hoàng Anh (2002), “Tản mạn về chất thơ trong điện ảnh”, ĐANN (số 92) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tản mạn về chất thơ trong điện ảnh”, "ĐANN
Tác giả: Tạ Hoàng Anh
Năm: 2002
10. Bakhtin M (1992), Lí luận và thi pháp tiểu thuyết (Phạm Vĩnh Cư tuyển chọn), Nxb Văn hóa thông tin thể thao, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: Bakhtin M
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin thể thao
Năm: 1992
11. Bakhtin M (1998), Thi pháp tiểu thuyết Dostoievski, (Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn dịch), Nxb Giáo dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp tiểu thuyết Dostoievski
Tác giả: Bakhtin M
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
12. Bruno Toussaint (2007), Ngôn ngữ điện ảnh và truyền hình, (Nguyễn Thị Hương, Phạm Tố Uyên dịch ) Hội điện ảnh Việt Nam xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ điện ảnh và truyền hình
Tác giả: Bruno Toussaint
Nhà XB: Hội điện ảnh Việt Nam
Năm: 2007
13. Bernard Rouquette (1999), “Nhà biên kịch chỉ viết những gì sẽ thấy được trên màn ảnh”, (trích dịch) TGĐA (số 2 tháng 12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà biên kịch chỉ viết những gì sẽ thấy được trên màn ảnh”, (trích dịch) "TGĐA
Tác giả: Bernard Rouquette
Năm: 1999
14. Cagan. M (2004), Hình thái học của nghệ thuật (Phan Ngọc dịch), Nxb Hội nhà văn, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình thái học của nghệ thuật
Tác giả: Cagan, M
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2004
15. Trường Chinh (2007), Về văn hóa văn nghệ, Nxb Văn học, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về văn hóa văn nghệ
Tác giả: Trường Chinh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2007
16. Nguyễn Văn Dân (1999), Nghiên cứu văn học – Lí luận và ứng dụng, Nxb Giáo dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn học – Lí luận và ứng dụng
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
17. Nguyễn Văn Dân (2003), Lí luận văn học so sánh, Nxb Đại học quốc gia HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học so sánh
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia HN
Năm: 2003
18. Nguyễn Văn Dân (2006), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Nxb khoa học xã hội, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb khoa học xã hội
Năm: 2006
19. Hà Minh Đức, chủ biên (2000) Lí luận văn học, Nxb Giáo dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
20. Hà Minh Đức (1998), Nhà văn nói về tác phẩm, Nxb văn học HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn nói về tác phẩm
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb văn học HN
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w