Song song các giải pháp về kinh tế xã hội, từ năm 1992 thành phố đã có chủ trương cấp sổ khám chữa bệnh miễn phí, sau đó là thẻ khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo [43],[44][70] và t
Trang 1PHẠM VĂN BẮC
THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THẺ BẢO HIỂM Y TẾ NGƯỜI NGHÈO VÀ CHI CỦA BẢO HIỂM Y TẾ CHO NGƯỜI NGHÈO NĂM 2007 TẠI TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2012
Trang 2PHẠM VĂN BẮC
THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THẺ BẢO HIỂM Y TẾ NGƯỜI NGHÈO VÀ CHI CỦA BẢO HIỂM Y TẾ CHO NGƯỜI NGHÈO NĂM 2007 TẠI TP HỒ CHÍ MINH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Ký tên,
Phạm Văn Bắc
Trang 4Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
ĐẶT VẤN ĐỀ – MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Khái niệm về chuẩn nghèo 4
1.2 Công bằng trong chăm sóc sức khoẻ 6
1.3 Tổ chức BHYT chăm lo sức khoẻ cho người nghèo ở một số nước 9
1.3.1 Ở Đức 9
1.3.2 Ở Pháp 11
1.3.3 Ở Canada 11
1.3.4 Ở Mỹ 12
1.3.5 Ở Nhật Bản 13
1.3.6 Ở Hàn Quốc 14
1.3.7 Ở Thái Lan 15
1.3.8 Ở Singapore 16
1.3.9 Ở Trung Quốc 17
1.3.10 Ở Philippine 19
1.3.11 Ở Việt Nam 20
1.4 Các văn bản về chăm sóc sức khoẻ cho người nghèo ở Việt Nam 22
1.4.1 Các bộ luật liên quan 22
1.4.2 Các văn bản của Đảng về chăm sóc sức khoẻ cho người nghèo 23
1.4.3 Các văn bản của TP.Hồ Chí Minh về CSSK người nghèo 24
1.5 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 24
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Đối tượng nghiên cứu 31
2.2 Phương pháp nghiên cứu 31
2.2.1 Áp dụng cho mục tiêu 1,2,3 31
2.2.2 Áp dụng cho mục tiêu 4 33
2.2.2.1 Giai đoạn 1: NC định tính 33
2.2.2.2 Giai đoạn 2: NC cắt ngang 35
2.2.3 Áp dụng cho mục tiêu 5 39
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 40
3.1 Tỉ lệ đặc điểm dân số học của người nghèo được cấp BHYT 40
3.2 Tỉ lệ người nghèo có thẻ BHYT đã sử dụng khi bị bệnh 42
3.3 Tỉ lệ các nhóm bệnh người nghèo đã sử dụng BHYT 45
3.4.Những yếu tố liên quan đến khả năng không sử dụng BHYT người nghèo 47
3.5.Số tiền chi trung bình của BHYT cho một lượt người nghèo KCB tại TP.Hồ Chí Minh trong năm 2007 62
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 70
4.1 Đặc điểm dân số học của người nghèo được cấp BHYT 70
4.2 Tỉ lệ sử dụng BHYT người nghèo 71
Trang 5PHỤ LỤC
1 Bộ hướng dẫn phỏng vấn trong nghiên cứu định tính
2 Bộ câu hỏi phỏng vấn trong nghiên cứu cắt ngang
3 Danh sách 1067 người được chọn vào mẫu nghiên cứu
4 Danh sách những người tham gia thảo luận nhóm
5 Danh sách những người trả lời phỏng vấn sâu
6 Danh sách 509 người trả lời phỏng vấn nghiên cứu cắt ngang
Trang 6BHYT: Bảo hiểm y tế
Trang 7Bảng 3.2 Người nghèo được cấp BHYT phân bố theo tuổi 40
Bảng 3.3 Người nghèo được cấp BHYT phân bố theo dân tộc 41
Bảng 3.4 Người nghèo được cấp BHYT phân bố theo trình độ học vấn 41
Bảng 3.5 Người nghèo được cấp BHYT phân bố theo tình trạng lao động 41
Bảng 3.6 Người nghèo được cấp BHYT phân bố theo tình trạng sức khỏe 42
Bảng 3.7 Số người nghèo sử dụng thẻ BHYT phân bố theo giới 42
Bảng 3.8 Số người nghèo sử dụng thẻ BHYT phân bố theo học vấn 43
Bảng 3.9 Số người nghèo sử dụng thẻ BHYT phân bố theo tuổi 43
Bảng 3.10 Số người nghèo sử dụng BHYT phân bố theo tình trạng sức khỏe 44
Bảng 3.11 Số người nghèo sử dụng BHYT phân bố theo tình trạng lao động 44
Bảng 3.12 Số người đã sử dụng BHYT để điều trị bệnh (nội và ngọai trú) 45
Bảng 3.13 Bình quân số lượt sử dụng thẻ BHYT/thẻ/ trong năm 2007 45
Bảng 3.14 Phân loại theo tuyến điều trị 46 Bảng 3.15 Phân loại theo nhóm bệnh 46 Bảng 3.16 Mẫu NC cắt ngang phân bố theo giới 55 Bảng 3.17 Mẫu NC cắt ngang phân bố theo tuổi 56 Bảng 3.18 Mẫu NC cắt ngang phân bố theo địa phương 56 Bảng 3.19 Mẫu NC cắt ngang phân bố theo trình độ học vấn 56 Bảng 3.20 Mẫu NC cắt ngang phân bố theo tình trạng việc làm 57 Bảng 3.21 Tỉ lệ sử dụng thẻ BHYT trong những người có bệnh năm 2007 57
Bảng 3.22 Mối liên quan giữa yếu tố thủ tục rườm rà với không sử dụng BHYT 57
Bảng 3.23 Mối liên quan giữa yếu tố thời gian chờ đợi với không sử dụng BHYT 58 Bảng 3.24 Mối liên quan giữa yếu tố ảnh hưởng công việc với không sử dụng BHYT 58
Bảng 3.25 Mối liên quan giữa yếu tố tình trạng việc làm với không sử dụng BHYT 58 Bảng 3.26 Mối liên quan giữa thái độ không niềm nở với không sử dụng BHYT 59
Bảng 3.27 Mối liên quan giữa yếu tố không đầy đủ thuốc
Trang 8Bảng 3.31 Những yếu tố liên quan đến khả năng không sử dụng BHYT,
phân tích đa biến với hồi qui logistic 60 Bảng 3.32 Chi của BHYT cho người nghèo điều trị ngọai trú năm 2007
tại các bệnh viện tuyến quận huyện 62 Bảng 3.33 Chi của BHYT cho người nghèo điều trị ngọai trú năm 2007
tại các bệnh viện tuyến thành phố 64 Bảng 3.34 Chi của BHYT cho người nghèo điều trị ngọai trú năm 2007
tại các bệnh viện tuyến trung ương 65 Bảng 3.35 Chi của BHYT cho người nghèo điều trị nội trú năm 2007
tại các bệnh viện tuyến quận huyện 65 Bảng 3.36 Chi của BHYT cho người nghèo điều trị nội trú năm 2007
tại các bệnh viện tuyến thành phố 66 Bảng 3.37 Chi của BHYT cho người nghèo điều trị nội trú năm 2007
tại các bệnh viện tuyến trung ương 68 Bảng 3.38 Tóm tắt số tiền BHYT đã chi cho người nghèo điều trị ngọai trú 68 Bảng 3.39 Tóm tắt số tiền BHYT đã chi cho người nghèo điều trị nội trú 69
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Chương trình xóa đói giảm nghèo thành phố Hồ Chí Minh (TP.Hồ Chí Minh) kết thúc giai đoạn 1 (1992-2003) đã đạt những thành tựu to lớn trên nhiều mặt[8] Từ đầu năm 2004, thành phố đã khởi động thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2 (2004-2010), nâng mức chuẩn nghèo theo tiêu chí thu nhập bình quân đầu người trong hộ dưới 6 triệu đồng năm, với mục tiêu phấn đấu đến cuối năm 2010 thành phố cơ bản không còn
hộ nghèo theo mức chuẩn nghèo này [71] Để thực hiện đựợc mục tiêu trên đây đòi hỏi phải huy động mọi nguồn lực của toàn xã hội cùng tham gia thực hiện
Chương trình quốc gia xóa đói giảm nghèo và việc làm là một chương trình tổng hợp có tính chất liên ngành trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Mục đích là tạo các điều kiện thuận lợi, phù hợp để hỗ trợ người nghèo, hộ nghèo, xã nghèo phát triển sản xuất, tăng thu nhập, tiếp cận các dịch vụ xã hội nhằm xóa đói giảm nghèo và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân
Được sự chỉ đạo xuyên suốt của Thành Ủy [26],[27],[28],[29],[30] ngay từ năm 1992 Ủy ban nhân dân thành phố đã thành lập Ban chỉ đạo chương trình xóa đói giảm nghèo thành phố để tổ chức thực hiện và thúc đẩy chương trình xóa đói giảm nghèo ở TP Hồ Chí Minh [68] Hàng lọat các giải pháp đã được thực hiện để hỗ trợ người nghèo như: vay vốn để lao động sản xuất, tạo công ăn việc làm, giáo dục dạy nghề…[4],[5],[6]
Song song các giải pháp về kinh tế xã hội, từ năm 1992 thành phố đã
có chủ trương cấp sổ khám chữa bệnh miễn phí, sau đó là thẻ khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo [43],[44][70] và thực hiện hỗ trợ một phần viện phí cho các trường hợp gặp khó khăn đột xuất nhưng không thuộc đối tượng được hưởng chế độ khám chữa bệnh cho người nghèo do mắc các bệnh nặng, chi phí cao khi điều trị ở bệnh viện nhà nước, người lang thang,
cơ nhỡ Đến năm 2001, thành phố chuyển sang thực hiện mua thẻ bảo
Trang 10hiểm y tế cho người nghèo, hộ nghèo và kể cả người già yếu, neo đơn hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội bằng nguồn ngân sách thành phố và nguồn vận động xã hội hóa Bình quân cấp khoảng 250.000 sổ, thẻ/năm, mỗi năm thành phố đều dành khoảng 2 tỷ đồng cho các trung tâm y tế quận - huyện
và trạm y tế (TYT) phường - xã cấp phát thuốc và thực hiện các xét nghiệm
cơ bản miễn phí cho dân nghèo; đồng thời, tại các bệnh viện chuyên khoa của thành phố đều dành 20% số giường để khám chữa bệnh và thực hiện miễn, giảm viện phí cho bệnh nhân nghèo Riêng năm 2007, thành phố đã mua 244.565 thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo với tổng số tiền là 19.565.200.000 đồng.[8]
Đây là những chủ trương và việc làm hết sức phù hợp với quan điểm của đảng ta về chăm sóc sức khoẻ là xây dựng hệ thống y tế theo hướng công bằng, hiệu quả và phát triển, nhằm tạo cơ hội thuận lợi cho mọi ngươì dân được bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ với chất lượng ngày càng cao…[33],[42],[60] Tuy nhiên, qua nhiều năm thực hiện, hiệu quả của việc
sử dụng thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo chưa được đánh giá bằng những
đề tài khoa học thực sự Nghiên cứu này được thực hiện nhằm trả lời câu hỏi: Ở người nghèo tại TP Hồ Chí Minh được cấp thẻ bảo hiểm y tế năm
2007 có những đặc điểm dân số học gì, tỉ lệ sử dụng là bao nhiêu, những loại bệnh tật nào người nghèo hay mắc, những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc không sử dụng thẻ và số tiền chi trung bình của BHYT cho một lượt người nghèo đi khám chữa bệnh năm 2007 là bao nhiêu?
Trang 11MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Xác định tỉ lệ đặc điểm dân số học của người nghèo được cấp thẻ bảo hiểm y tế nghèo: giới, tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn, tình trạng lao động
2 Xác định tỉ lệ người nghèo có thẻ bảo hiểm y tế đã sử dụng khi bị bệnh
3 Xác định tỉ lệ các nhóm bệnh người nghèo mắc phải đã sử dụng BHYT
4 Xác định những yếu tố có liên quan đến khả năng người nghèo không
sử dụng thẻ bảo hiểm y tế khi bị bệnh
5 Xác định số tiền chi trung bình của BHYT cho một lượt người nghèo khám chữa bệnh tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2007
Trang 12CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Khái niệm về chuẩn nghèo
Là một khái niệm động , nó biến động theo không gian và thời gian
Về không gian, nó biến đổi theo trình độ phát triển kinh tế-xã hội của từng vùng hay từng quốc gia Ví dụ như ở Việt Nam, chuẩn nghèo biến động theo
3 vùng sinh thái khác nhau, đó là vùng đô thị, vùng nông thôn đồng bằng và vùng nông thôn miền núi
Về thời gian, chuẩn nghèo cũng có sự biến động lớn và nó được thay đổi theo trình độ phát triển kinh tế-xã hội và nhu cầu của con người theo từng giai đoạn lịch sử, kinh tế-xã hội phát triển thì đời sống của con người cũng được cải thiện tốt hơn và chuẩn nghèo cũng được điều chỉnh theo
1.1.1 Chuẩn nghèo quốc gia
Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đã 3 lần công bố chuẩn nghèo tính theo thu nhập bình quân đầu người cho các giai đoạn cụ thể khác nhau: giai đoạn 1993-1995, giai đoạn 1996-2000 và giai đoạn 2001-2005
Giai đoạn 2001-2005: Quyết định số 143/2001/QĐ-TTg ngày 27/9/2001 về chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2001-2005 [61]:
Vùng đô thị : 150.000 đồng/tháng/người (1,8 triệu/năm/người)
Vùng nông thôn đồng bằng:100.000 đồng/tháng/người (1,2triệu/năm/người) Vùng nông thôn miền núi: 80.000 đồng/tháng/người (0,96triệu/năm/người) Giai đoạn 2006-2010: Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 8/7/2005 về chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010 như sau: [62]
Khu vực nông thôn, những hộ có thu nhập bình quân đầu người một tháng
từ 200.000 đồng trở xuống (2.400.000 đ/người/năm) trở xuống là hộ nghèo Khu vực thành thị, những hộ có thu nhập bình quân đầu người một tháng từ 260.000 đồng trở xuống (3.120.000 đ/người/năm) trở xuống là hộ nghèo
1.1.2 Chuẩn nghèo và hộ nghèo TP.Hồ Chí Minh
Xây dựng chuẩn nghèo dựa trên 2 tiêu chí [7]: Tiêu chí mức thu nhập bình
Trang 13của người dân được chấp nhận trong từng thời điểm để tính chuẩn nghèo (thông thường đó là những người có mức thu nhập dưới 1/3 mức thu nhập trung bình của xã hội) và khả năng tiếp cận, hưởng thụ các dịch vụ xã hội,
cụ thể như sau:
Trong giai đoạn 1 (1992-2003) thành phố đã 5 lần điều chỉnh chuẩn nghèo:
Vào đầu tháng 2 năm 1992, chương trình xóa đói giảm nghèo mới triển khai thí điểm ở các huyện ngoại thành và các phường có nông nghiệp của 4 quận: quận 8, Bình Thạnh, Gò Vấp, và Tân Bình, đã xác định ngay diện hộ nghèo đói là những hộ thiếu đói (thường bị đứt bữa ăn nhiều tháng) có trong danh sách trợ cấp xã hội hàng năm ở nông thôn ngoại thành Số hộ này thực sự có mức thu nhập bình quân đầu người dưới 500.000 đ/năm (40.000đ/tháng, tương đương 13 kg gạo)
Vào tháng 10/1992, chương trình được sơ kết và mở rộng ra toàn thành phố, chuẩn nghèo được điều chỉnh và có phân loại riêng ra chuẩn nghèo ở các huyện nông thôn ngoại thành và ở các quận nội thành do điều kiện và mức sống của 2 khu vực này có chênh lệch nhau, cụ thể là mức thu nhập bình quân hàng năm của hộ nghèo đói ở ngoại thành là 700.000đ/người và ở nội thành là 1 triệu đ/người
Năm 1995, tiếp tục điều chỉnh chuẩn nghèo là 1 triệu/người/năm ở ngoại thành và 1,5 triệu/người/năm ở nội thành
Năm 1996 chuẩn nghèo là 2 triệu/người/năm ở ngoại thành và 2,5 triệu/người/năm ở nội thành
Năm 1997 đến 2003 chuẩn nghèo là 3 triệu/người/năm đối với các quận nội thành gồm quận 1,3,4,5,6,8,10,11, Bình Thạnh, Phú Nhuận, Gò vấp, Tân Bình; 2,5 triệu/người/năm đối với các huyện ngoại thành và quận mới gồm quận 2, 7, 9, 12, Thủ Đức, huyện Bình Chánh, Hóc Môn, Củ Chi, Nhà Bè, Cần Giờ
Bắt đầu giai đoạn 2 (2004-2010), chương trình xóa đói giảm nghèo thành
phố đã điều chỉnh nâng chuẩn nghèo theo tiêu chí thu nhập bình quân đầu
Trang 14người 6 triệu đồng/người/năm trở xuống (không phân biệt quận nội thành và huyện ngoại thành); được phân kỳ thực hiện như sau:
Bước 1: trong thời gian 2 năm 2004-2005: phấn đấu thực hiện cơ bản không còn hộ nghèo có mức thu nhập 4 triệu đồng/người/năm trở xuống
Bước 2: trong thời gian 5 năm từ 2006-2010; phấn đấu thực hiện đạt mục tiêu cơ bản không còn hộ nghèo có mức thu nhập 6 triệu đồng/người/năm trở xuống
1.2 Công bằng trong chăm sóc sức khỏe (CSSK)
Luật Bảo Vệ Sức Khỏe Nhân Dân [54] ghi rõ: “Sức khoẻ là vốn quý nhất của con người, là một trong những điều cơ bản để con người sống hạnh phúc, là mục tiêu và là nhân tố quan trọng trong việc phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và bảo vệ Tổ quốc” Như vậy, tất cả mọi công dân đều “có quyền được bảo vệ sức khoẻ, nghỉ ngơi, giải trí, rèn luyện thân thể; được bảo đảm vệ sinh trong lao động, vệ sinh dinh dưỡng, vệ sinh môi trường sống và được phục vụ về chuyên môn y tế” Công bằng trong CSSK là một loại công bằng xã hội Công bằng trong CSSK có những điểm không giống như công bằng trong các dịch vụ xã hội khác (giáo dục, du lịch, thể dục thể thao ) Tính phổ biến của nhu cầu CSSK cao hơn nhiều so với công bằng trong các dịch vụ xã hội khác Bởi vì tất cả mọi người đều có nhu cầu CSSK, trong khi đối với các dịch vụ khác chỉ có một số người có nhu cầu
So với các loại hình dịch vụ văn hoá xã hội khác, nhu cầu về CSSK có tính phổ biến rộng nhất trong xã hội [42]
Xét về tính đối xử theo nhu cầu, để có công bằng trong CSSK cần thực hiện
sự chia sẻ từ người khoẻ cho người ốm, từ người đang ở độ tuổi lao động (tức là người tạo của cải vật chất nhiều hơn) cho trẻ em và người già (tức là người tạo ra của cải vật chất ít hơn), từ người giàu cho người nghèo nhằm tạo ra cách đối xử theo nhu cầu (chứ không phải là đối xử ngang nhau) về sức khoẻ Đó là những công việc xã hội mang đầy tính phức tạp, không chỉ
Trang 15tinh thần Công bằng trong CSSK đôi khi không thể áp dụng khái niệm công bằng giữa cống hiến và hưởng thụ như trong các loại hình dịch vụ khác Những người bị bệnh bẩm sinh, khả năng lao động kém không thể cống hiến cho xã hội như những người bình thường, nhưng xã hội vẫn phải dành một khoản kinh phí lớn để CSSK cho họ Những người mắc bệnh xã hội, bệnh mạn tính không có nhiều cống hiến cho xã hội, nhưng xã hội vẫn phải dành một nguồn tài chính đáng kể để chăm sóc cho họ
Tuỳ thuộc vào trình độ kinh tế, người ta chọn tiêu chí cho công bằng trong CSSK một cách khác nhau Có hai loại tiêu chí: Tiêu chí ‘tiếp cận” và tiêu chí ‘sàn”[42]
Tiêu chí "tiếp cận" lấy khả năng đáp ứng nhu cầu tiếp cận của dân với hệ
thống y tế là tiêu chí đánh giá công bằng trong CSSK Theo tiêu chí này, một hệ thống y tế mà người dân càng dễ tiếp cận bao nhiêu (không phân biệt giữa giàu nghèo, sự xa cách về địa lý ) thì tính chất công bằng càng được thể hiện bấy nhiêu Trái lại nếu người dân càng không dễ tiếp cận với hệ thống y tế khi họ có nhu cầu về CSSK thì tính chất công bằng càng hạn chế bấy nhiêu
Tiêu chí "sàn" quy định những dịch vụ thiết yếu và công bằng được đánh
giá ở chỗ không một người dân nào được đáp ứng thấp hơn những dịch vụ thiết yếu đó
Tuy chúng ta chưa quan tâm nhiều việc nghiên cứu về tiêu chí của công bằng trong CSSK, nhưng trên thực tế chúng ta theo đuổi cách áp dụng tiêu chí "tiếp cận" Điều này thể hiện rõ nhất ở chỗ chúng ta phấn đấu xây dựng một nền y tế sao cho mọi người dân, không phân biệt giàu nghèo, không phân biệt dân tộc đa số hay dân tộc thiểu số, không phân biệt sống ở nông thôn hay thành thị, miền xuôi hay miền ngược, đều được tiếp cận với các dịch vụ CSSK kể cả phòng bệnh lẫn chữa bệnh và phục hồi chức năng Khi xác định mục tiêu của nền y tế Việt Nam từ 2001 đến 2010, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ (số 35/2001/QĐ-TTg ngày 19 tháng 3 năm 2001) đã
Trang 16chỉ rõ: "Mục tiêu chung: Phấn đấu để mọi người dân được hưởng các dịch
vụ CSSK ban đầu, có điều kiện tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế có chất lượng Mọi người đều được sống trong cộng đồng an toàn, phát triển tốt về thể chất và tinh thần Giảm tỷ lệ mắc bệnh, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ
và phát triển giống nòi" [60] Khi đề cập đến công tác CSSK, văn kiện đại hội IX đã nhấn mạnh:" Nâng cao tính công bằng và hiệu quả trong tiếp cận
và sử dụng các dịch vụ chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân"[32] Nghị quyết số 46/NQ-TW ngày 23 tháng 2 năm 2005 về "Công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới" đã nêu rõ một trong năm quan điểm của đảng ta về CSSK là:"Đổi mới và hoàn thiện hệ thống y
tế theo hướng công bằng, hiệu quả và phát triển, nhằm tạo cơ hội thuận lợi cho mọi người dân được bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ với chất lượng ngày càng cao, phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Phát triển BHYT toàn dân, nhằm từng bước đạt tới công bằng trong CSSK, thực hiện việc chia sẻ giữa người khoẻ với người ốm, người giàu với người nghèo, người trong độ tuổi lao động với trẻ em, người già; công bằng trong đãi ngộ đối với cán bộ y tế."[33]
Bảo hiểm y tế (BHYT) chính là biện pháp thực hiện công bằng trong CSSK nhằm xoá đi sự bất công giữa người giàu và người nghèo, để mọi người có bệnh đều được điều trị với điều kiện họ có tham gia BHYT Với BHYT, mọi người sẽ được bình đẳng hơn, được điều trị theo bệnh, đây là một đặc trưng ưu việt của BHYT BHYT mang tính nhân đạo cao cả và được xã hội hoá theo nguyên tắc “Số đông bù số ít” Số đông người tham gia để hình thành quỹ và quỹ này được dùng để chi trả chi phí khám chữa bệnh cho một
số ít người không may gặp phải rủi ro bệnh tật Tham gia BHYT vừa có lợi cho mình, vừa có lợi cho xã hội Sự đóng góp của mọi người chỉ là đóng góp phần nhỏ so với chi phí khám chữa bệnh khi họ gặp phải rủi ro ốm đau, thậm chí sự đóng góp của cả một đời người cũng không đủ cho một lần chi
Trang 17hình thành nên quỹ BHYT là tối cần thiết và được thực hiện theo phương châm: “Mình vì mọi người, mọi người vì mình”, khi khoẻ thì để hỗ trợ người ốm đau, khi không may ốm đau thì ta lại nhận được sự đóng góp của cộng đồng, điều này đã thực sự mang lại sự công bằng trong khám chữa bệnh BHYT giúp cho người tham gia khắc phục khó khăn cũng như ổn định về mặt tài chính khi không may gặp phải rủi ro ốm đau [1],[58],[73] Nhờ có BHYT, người dân sẽ an tâm được phần nào về sức khoẻ cũng như kinh tế, bởi vì họ đã có một phần như là quỹ dự phòng của mình giành riêng cho vấn đề chăm sóc sức khoẻ [50],[57],[59],[89],[91], đặc biệt với những người nghèo chẳng may mắc bệnh
Vì những lý do trên đây, BHYT được xem là một bộ phận của chính sách xã hội đã được chính phủ các nước quan tâm và người dân nhiệt tình hưởng ứng [50],[58] Cho đến nay hàng trăm nước trên thế giới đã thực hiện BHYT với nhiều hình thức, mức độ, phạm vi hoạt động khác nhau Mặc dù ở mỗi nước khác nhau thì sẽ có các hình thức tổ chức khác nhau, có nước tổ chức độc lập với loại hình bảo hiểm khác, có nước lại coi đây là một trong những chế độ của bảo hiểm xã hội (BHXH) [1],[50],[76] Nhưng mục đích triển khai, BHYT là tương đối thống nhất, đó là: nhằm chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ ban đầu cho mọi người dân trong cộng đồng và giảm bớt phần nào khó khăn đối với những gia đình nghèo khó, thu nhập thấp trên cơ sở tham gia BHYT cộng đồng đóng góp [50]
1.3 Tổ chức BHYT chăm lo sức khỏe cho người nghèo ở một số quốc gia trên thế giới
1.3.1 Ở Đức
Trước khi có hệ thống BHYT theo luật định (còn gọi là BHYT công), ở Đức tồn tại nhiều nhóm tương trợ lẫn nhau mang tính chất tự nguyện, họ đóng góp một khoản tiền nào đó để hỗ trợ nhau khi gặp rủi ro, ốm đau Đặc biệt, trong thời kỳ cách mạng công nghiệp, số lượng người lao động làm công ăn lương tăng nhanh, nguồn sống của họ phụ thuộc chủ yếu vào thu
Trang 18nhập do nghề nghiệp mang lại và vào sự đối xử của các ông chủ Những rủi
ro, tai nạn trong hoạt động công nghiệp xảy ra đã làm thu nhập của họ bị giảm hoặc mất hẳn Vì vậy, bên cạnh sự giúp đỡ lẫn nhau, giai cấp công nhân còn đấu tranh, buộc giới chủ phải có biện pháp bảo đảm thu nhập cho
họ trong những trường hợp ốm đau, tai nạn, tuổi già v.v [58]
Năm 1883, nước Đức dưới thời Thủ tướng Bismark đã ban hành đạo luật BHYT Đạo luật này phát triển dần theo đà phát triển của xã hội
Theo quy định của luật pháp, hai loại hình BHYT công và BHYT tư nhân đang tồn tại và phát triển BHYT công, là hình thức bảo hiểm mang tính chất nghĩa vụ bắt buộc, hoạt động theo nguyên tắc tương trợ cộng đồng: người giàu hỗ trợ tài chính cho người nghèo, người không có con hoặc ít con hỗ trợ tài chính cho người có con, nhiều con BHYT tư nhân, là bảo hiểm thương mại, bảo hiểm căn cứ vào rủi ro của cá nhân Nếu tính cả BHYT công và BHYT tư nhân gần 100% người dân Đức đã được BHYT[48]
Đối tượng chủ yếu của BHYT công là người làm công ăn lương và thân nhân của họ Trước hết là những người làm công ăn lương với ngưỡng thu nhập nhất định (năm 2005 có ngưỡng quy định là 3.900 Euro/tháng) Người
có thu nhập trên 3.900 Euro/tháng được tự lựa chọn tham gia hoặc không tham gia Thân nhân của người làm công ăn lương gồm con, vợ hoặc chồng, bạn đời không có nguồn thu nhập, được tham gia BHYT kèm theo với người lao động (được miễn đóng phí BHYT) Người về hưu là đối tượng thực hiện BHYT công theo luật định Những đối tượng khác tham gia BHYT tự nguyện Người tham gia BHYT tự nguyện có mức đóng tối thiểu bằng ngưỡng quy định là 3.900 Euro/ tháng nhân với tỷ lệ mức thu do quỹ BHYT quy định Những người có thu nhập vượt ngưỡng quy định không có nghĩa vụ bắt buộc tham gia BHYT công, được nhà nước đài thọ 50% chi phí khám chữa bệnh, được lựa chọn tham gia loại hình bảo hiểm bổ sung của
Trang 19của mình [50],[48]
1.3.2 Ở Pháp
Từ giữa thế kỷ 19, phát triển các công ty hỗ trợ tương hỗ, tiền thân của các công ty “tương hỗ” Vào thời kỳ này đây chính là một hình thức tổ chức không chính thống của nghiệp đoàn, một hình thái tổ chức đoàn kết giữa các thành viên để đối mặt với rủi ro về bệnh tật
Những năm 1945 – 1946, hệ thống an sinh xã hội của Pháp được xây dựng ngay sau khi Chiến tranh Thế giới thứ II kết thúc Mục đích của hệ thống này là bảo đảm cho người dân trong mọi hoàn cảnh đều có thể có những phương tiện cần thiết để tồn tại trong những điều kiện chấp nhận được Hệ thống an sinh xã hội của Pháp bao gồm các quỹ BHYT (bệnh tật thông thường, bệnh nghề nghiệp và cả trường hợp tai nạn lao động), quỹ dành cho người già, quỹ dành cho trợ cấp gia đình và quỹ cho trợ cấp thất nghiệp Nghĩa là xã hội đặt ra một mức sống tối thiểu nào đó, nếu khả năng của người dân không đạt được mức đó thì Nhà nước sẽ hỗ trợ để họ có quyền được sống với đúng phẩm giá con người và không phải quá lo sợ về một tương lai bấp bênh, mờ mịt [50] BHYT tế toàn dân ra đời năm 1999, quy định quyền được hưởng BHYT cho toàn bộ cá nhân thường trú tại đất nước[76] Luật mang tính đoàn kết phổ cập giữa người ốm đau và người khoẻ mạnh, thể hiện ở chỗ các khoản đóng góp chỉ phụ thuộc vào thu nhập
mà không phụ thuộc vào số người được bảo hiểm (hoặc độ tuổi hay giới tính…) Hệ thống này mang tính gia đình: chồng/vợ và con cái của người lao động có quyền đầy đủ và trọn vẹn mặc dù mức đóng góp thu nhập của
cá nhân này bằng mức đóng góp của một người sống độc thân và không có con cái [76],[89]
1.3.3 Ở Canada
Canada là một nước lớn ở Bắc Mỹ, với diện tích 9,98 triệu km2 (lớn thứ hai
thế giới sau Nga) và dân số hơn 32 triệu người Canada là nước rất giàu tài nguyên thiên nhiên, 90% dân số sống tập trung ở ven biển Thái Bình
Trang 20Dương, Đại Tây Dương và trong phạm vi 200 km dọc biên giới với Mỹ Canada là quốc gia liên bang với 10 tỉnh và 3 vùng lãnh thổ Mỗi tỉnh có nghị viện, chính phủ và toà án riêng Về pháp luật, có luật liên bang và luật tỉnh (ở Canada không gọi là bang mà gọi là tỉnh) Về mặt an sinh xã hội, Canada thực hiện đầy đủ các chế độ về BHXH, bảo trợ xã hội và phúc lợi xã hội mà Tổ chức Lao động quốc tế khuyến nghị Các chế độ BHXH thực hiện theo nguyên tắc có đóng có hưởng, các chế độ bảo trợ xã hội và phúc lợi xã hội cũng rất cao [65],[77] Do đặc thù là chi phí khám chữa bệnh hoàn toàn do ngân sách nhà nước cấp hàng năm nên không có quỹ BHYT, do đó cũng không có bộ phận làm nhiệm vụ quản lý quỹ
Về điều kiện tham gia Chương trình chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, tất cả người dân có quốc tịch Canada đều là đối tượng được BHYT Các tỉnh ở Canada đều có luật BHYT khác nhau, nhưng đối tượng đi khám chữa bệnh
ở tỉnh khác trong những trường hợp theo pháp luật quy định thì cũng được thanh toán, thậm chí khám chữa bệnh ở nước ngoài nếu đủ điều kiện cũng được thanh toán Người dân Canada được hưởng nhiều chế độ BHYT mà ít nơi có, như chữa bệnh tâm thần, chữa răng, vật lý trị liệu… Mọi người dân được hưởng miễn phí các dịch vụ khám chữa bệnh và các chi phí về thuốc Nhìn toàn cảnh bức tranh về BHYT của Canada, ta thấy rằng chế độ BHYT
ở Canada là rất hoàn hảo Như vậy là Canada đã đạt đến đỉnh cao của BHYT, đó cũng là cái đích mà nhiều nước khác mơ ước tới [50],[65]
1.3.4 Ở Mỹ
Bảo hiểm tai nạn lần đầu tiên được cung cấp tại Hoa Kỳ do Công ty Bảo hiểm Y tế Franklin của tiểu bang Massachusetts thành lập năm 1850, bảo hiểm thương tật phát sinh từ tai nạn đường sắt và tàu hơi nước Đến khoảng năm 1950 và 1960 các chương trình BHYT của Chính phủ mới bắt đầu mở rộng Năm 1965, Tổng thống Lyndon Johnson ký ban hành chương trình Medicare và Medicaid[94] Theo trang web Centers for Medicare and
Trang 21toàn ở cấp liên bang và tập trung chủ yếu vào số dân 65 tuổi trở lên, những người tàn tật và những bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối Medicaid là một chương trình không chỉ được tài trợ ở cấp liên bang mà còn nhận được đóng góp kinh phí từ các tiểu bang Medicaid là một chương trình bảo trợ xã hội đúng hơn là một chương trình BHXH Điều kiện được hưởng chủ yếu dựa trên thu nhập Chương trình cung cấp bảo hiểm sức khỏe cho một số cá nhân có thu nhập thấp, kể cả trẻ em, phụ nữ mang thai… để họ có thể "trả tiền cho một số hoặc tất cả các hóa đơn y tế của họ" Mỗi tiểu bang có thể
có tên riêng của mình cho chương trình Medicaid Ví dụ như " Medi-Cal "ở California," MassHealth "tại Massachusetts," Oregon Health Plan "ở Oregon… [78],[94]
BHYT ở Mỹ chủ yếu là do các công ty tư nhân đảm trách và tất cả các hãng bảo hiểm ở Mỹ đều thuộc loại doanh nghiệp có mục đích kiếm lời, mục tiêu của các hãng bảo hiểm là lợi nhuận, chứ không phải vì sức khoẻ của người dân, Mỹ không có chương trình BHYT toàn dân [75],[90],[94], [95] Theo
số liệu báo cáo của US Census Bureau 2007, ít nhất 15,3% dân số là hoàn toàn không có bảo hiểm và 35% có BHYT không hoàn toàn hoặc không có khả năng trang trải các chi phí cho nhu cầu y tế của họ [95] tiền phải trả thêm của người dân cho chăm sóc sức khỏe tại Hoa Kỳ lớn hơn bất kỳ quốc gia nào khác trên thế giới [87],[97]
Đối tượng tham gia BHYT theo quy định của pháp luật Nhật Bản rất rộng, bao gồm những người làm công ăn lương, lao động tự do, nông dân và
Trang 22người khơng cĩ nghề nghiệp Luật BHYT Nhật Bản xác định riêng hai loại quỹ cho các đối tượng để cĩ sự hỗ trợ cho những đối tượng cĩ thu nhập thấp Quỹ BHYT cộng đồng, áp dụng cho lao động tự do, nơng dân và người khơng cĩ nghề nghiệp Nhà nước bảo trợ nhiều hơn cho loại quỹ này,
vì đối tượng của quỹ thường cĩ thu nhập thấp và khơng ổn định Quỹ BHYT của người làm cơng ăn lương, đây là đối tượng cĩ thu nhập thường xuyên và
ổn định [46]
Đối với BHYT cộng đồng, Chính phủ tài trợ 50% chi phí dịch vụ y tế cho quỹ BHYT của chính quyền địa phương, 47% quỹ BHYT của hiệp hội Số tiền giảm phí đĩng gĩp cho một số đối tượng của quỹ BHYT cộng đồng được hỗ trợ 50% từ ngân sách nhà nước, 25% từ ngân sách địa phương và 25% từ ngân sách của thành phố
Người tham gia BHYT và người phụ thuộc được hưởng tại các dịch vụ y tế bao gồm: khám bệnh, cung cấp thuốc và vật tư y tế, điều trị trong các trường hợp cấp cứu, phẫu thuật và các điều trị y khoa khác, chăm sĩc y tế tại nhà, nằm viện và điều dưỡng Người tham gia BHYT được tự do lựa chọn nơi khám chữa bệnh và phải thực hiện cùng chi trả chi phí cho các dịch vụ y tế nhận được Mức cùng chi trả hiện nay là 30% và cĩ áp dụng mức thấp hơn cho một số đối tượng như: 20% đối với trẻ em dưới 3 tuổi, với hộ gia đình
cĩ mức thu nhập nhất định theo quy định, 10% đối với người già từ 70 tuổi trở lên [46],[88]
1.3.6 Ở Hàn Quốc
Tháng 12/1963, Luật BHYT cĩ hiệu lực và bắt đầu được thực thi tại Hàn Quốc, đến tháng 12 năm 1976 Luật BHYT đã được sửa đổi gần như hồn tồn Đầu tiên thí điểm BHYT cho những người lao động tự do ở khu vực nơng thơn, sau đĩ đến năm 1989, triển khai đến tất cả người lao động tự do
ở khu vực thành thị Quá trình mở rộng đối tượng tham gia BHYT cũng bị tác động bởi các yếu tố về chính trị và kinh tế Năm 1963, quân đội Hàn
Trang 23đưa vào thực thi ngay trong năm đó[38] Năm 1987 là năm mở rộng BHYT đến người lao động tự do thì cũng là lúc Hàn Quốc bầu cử Tổng thống mới
Về khía cạnh kinh tế, năm 1977 là năm đầu tiên thực hiện Luật BHYT sửa đổi cũng là thời điểm mà kinh tế Hàn Quốc phát triển nhanh thông qua chính sách xuất khẩu công nghiệp, lúc này các phúc lợi xã hội như là phần thặng dư của phát triển kinh tế Từ năm 1986 - 1988 là thời gian mở rộng BHYT đến người lao động tự do, tại thời điểm này Hàn Quốc bùng nổ về kinh tế, tăng trưởng hàng năm đạt đến 12% Bên cạnh đó, các vấn đề về công bằng đã nảy sinh Trước khi triển khai BHYT toàn dân, khoảng cách giữa chi phí chăm sóc y tế theo quy định cho người có BHYT với những người không có BHYT tăng cao Tuy nhiên, có chương trình trợ giúp y tế cho người nghèo Trong đó tài chính được cấp từ thu thuế hàng năm của Chính phủ và do cơ quan BHYT quốc gia Hàn Quốc (NHI) quản lý Có sự chia sẻ đóng góp giữa chính quyền Trung ương và địa phương theo tỷ lệ (80:20) không kể ở Seoul Người được hưởng lợi không phải đóng tiền Chương trình này BHYT cho khoảng 3 - 4 % dân số và không áp dụng đồng chi trả hoặc nếu đồng chi trả thì có sự miễn giảm Quỹ trợ giúp y tế nhằm giúp ngăn ngừa sự bần cùng hoá của một số gia đình do bị ốm đau [38],[53]
1.3.7 Ở Thái Lan
Từ năm 1975, Chính phủ Thái Lan đã thực hiện BHYT cho nhóm người nghèo và nhóm người bị thiệt thòi Đến năm 1981, Chính phủ triển khai chương trình cấp thẻ cho người có thu nhập thấp Năm 1983, chương trình
mở rộng đến những người già trên 60 tuổi Vào năm 1993, được mở rộng đến trẻ em dưới 12 tuổi và các lãnh đạo tôn giáo Thái Lan bắt đầu triển khai BHYT toàn dân từ năm 1996, đến năm 2001 chương trình BHYT toàn dân được thực hiện thành công Hệ thống BHYT Thái Lan được coi là một trong những hệ thống BHYT phức tạp trong khu vực Để quản lý BHYT có sự tham gia của bốn Bộ Bộ Tài chính thực hiện BHYT cho công chức, viên chức và công nhân làm việc trong các doanh nghiệp nhà nước Bộ Lao động
Trang 24và Phúc lợi Xã hội thực hiện BHYT thông qua cơ quan bảo hiểm xã hội (BHXH) cho công nhân làm việc trong các đơn vị ngoài quốc doanh Bộ Y
tế thực hiện BHYT toàn dân và BHYT cho người nghèo Bộ Thương mại thực hiện bảo hiểm tai nạn giao thông [1],[74] BHYT toàn dân được thực hiện theo nguyên tắc mỗi người được cấp một thẻ BHYT Người có thẻ mỗi lần đi khám bệnh hoặc vào nằm viện thì nộp 30 baht (khoảng 0,7 USD) trước khi khám hoặc trước khi vào nằm viện (ngoại trừ bệnh nhân có thẻ thu nhập thấp được miễn), chi phí còn lại của lần điều trị đó được cơ quan BHYT thanh toán toàn bộ (theo quy định của danh mục kỹ thuật và danh mục thuốc) Thẻ BHYT có màu vàng nên được gọi là "Thẻ vàng 30 baht", chương trình BHYT này cũng được gọi là "Chương trình 30 baht" hay chương trình BHYT toàn dân[66],[86]
1.3.8 Ở Singapore
Hệ thống y tế của Singapore là sự kết hợp giữa sự trợ giá của chính phủ và trách nhiệm của cá nhân Nhà nước đảm bảo các dịch vụ y tế thiết yếu, cá nhân đóng góp chi phí dịch vụ y tế cao Để giúp cho người dân có thể chi trả cho chi phí y tế cá nhân, chính phủ sử dụng hệ thống “3M” bao gồm 3 công
cụ Medisave, Medishield and Medifund, qua đó kết hợp trách nhiệm của cá nhân và chính phủ để hỗ trợ cho nhu cầu CSSK của những người thu nhập thấp[91] Medisave, Singapore áp dụng chương trình tiết kiệm y tế bắt buộc
từ năm 1984, nhằm giúp cá nhân tiết kiệm tiền cho chi phí y tế Tuy nhiên, tài khoản y tế cá nhân không thể đủ trang trải chi phí y tế lớn do không có
sự san sẻ rủi ro theo nguyên lý bảo hiểm Do đó 1990, Chính phủ Singapore triển khai chương trình BHYT mang tên Medishield, là chương trình bảo hiểm quốc gia để sử dụng trong trường hợp các bệnh hiểm nghèo Nó sẽ chi trả cho phần lớn các chi phí trị liệu của các bệnh kéo dài hoặc nghiêm trọng
mà quỹ Medisave không chi trả Như vậy, chương trình BHYT bán tự nguyện Medishield là sự bổ sung không thể thiếu cho chương trình tiết kiệm
Trang 25năm 1993 để hỗ trợ hỗ trợ cuối cùng cho những bệnh nhân nghèo trong trường hợp họ không đủ tiền thanh toán các chi phí y tế mặc dù họ đã sử dụng quỹ Medisave và Medishield [50],[64],[91]
1.3.9 Ở Trung Quốc
Trung Quốc là nước đất rộng (hơn 9,6 triệu km vuông) người đông (1,36 tỷ người, 60% sống ở nông thôn), đa sắc tộc, đa văn hóa, có sự khác biệt rất lớn giữa các vùng, giữa các tỉnh, thành phố Có tỉnh, thành phố rất phát triển nhưng cũng có vùng còn rất nghèo nàn, lạc hậu; sự rất khác biệt giữa thành phố và nông thôn là rất lớn, mức chênh lệch giàu nghèo là rất cao Năm
2002, chênh lệnh thu nhập giữa thành phố và nông thôn là 13 lần và đã giảm còn 3,2 lần năm 2005 [79] Về phát triển kinh tế, hiện Trung quốc vừa song song tồn tại những thành phố công nghiệp rất hiện đại với những vùng nông nghiệp truyền thống
Đây là một đặc thù mà rất ít nước có Đặc điểm này làm cho Trung quốc khó có thể xây dựng được một hệ thống an sinh xã hội thống nhất, phù hợp chung với tất cả các vùng Vì vậy, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hay khu tự trị với tính chất phân cấp, phân quyền cao đều được khuyến khích hình thành hệ thống an sinh xã hội phù hợp với điều kiện từng địa phương Ngay từ những ngày đầu Trung Quốc giành độc lập, các chính sách, chế độ về an sinh xã hội đã được ban hành Năm 1951, chính sách, chế
độ bảo hiểm về hưu trí, tàn tật, tử tuất, ốm đau, chăm sóc y tế, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản đã được đưa ra Sau đó Trung Quốc đã ban hành một loạt các chính sách, chế độ về an sinh xã hội bao gồm cả cứu tế xã hội, chế độ đối xử và chăm sóc đặc biệt nhằm không ngừng đẩy mạnh và điều chỉnh cho phù hợp với nhu cầu nâng cao của xã hội Trung Quốc hiện
có 2 chương trình BHYT khác nhau: BHYT cho khu vực thành thị và BHYT cho khu vực nông thôn BHYT thành thị gồm 2 chương trình: BHYT cho cán bộ, nhân viên nhà nước và BHYT cho người lao động, được tổ chức thực hiện ở Trung quốc từ những năm 50 BHYT cho cán bộ, nhân viên nhà
Trang 26nước: bao phủ cho các đối tượng là cán bộ nhà nước, thương binh, nhân viên các cơ sở nhà nước nhưng không bao gồm người ăn theo Kinh phí đóng BHYT do ngân sách nhà nước các cấp chi trả Chương trình này còn gọi là Chương trình chăm sóc y tế miễn phí vì do nhà nước bao cấp để đáp ứng nhu cầu cơ bản về y tế trong điều kiện khả năng ngân sách nhà nước và điều kiện thực tế của hệ thống y tế hiện tại BHYT cho người lao động: quy
mô lớn hơn, bao phủ cho các đối tượng gồm: công nhân các nhà máy, xí nghiệp của nhà nước và của các hợp tác, hưu trí và người ăn theo Mức phí
và đóng góp: hầu hết do chủ lao động đóng (vì vậy, còn gọi là quỹ phúc lợi của công nhân) BHYT nông thôn, áp dụng Mô hình y tế hợp tác (Cooperative Medical Schemes) trong chăm sóc y tế ở nông thôn được hình thành và trở lên phổ biến từ những năm 60-70 nhưng không ổn định và sụp
đổ hoàn toàn khi hệ thống hợp tác xã, hệ thống kinh tế kế hoạch tập trung không còn tồn tại ở Trung quốc [83],[96] Để giải quyết vấn đề nghèo đói của nông dân do phải chi trả chi phí khám chữa bệnh, từ năm 1993, chính phủ Trung quốc quyết định phục hồi mô hình y tế hợp tác và nhiều dự án thí điểm đã được thực hiện với sự giúp đỡ về kỹ thuật của các tổ chức quốc tế Năm 2002, mô hình y tế hợp tác mới được hình thành và sau 5 năm thí điểm với các nghiên cứu, đánh giá và điều chỉnh, mô hình được chính thức triển khai trên cả nước bắt đầu từ 2007 Tính đến tháng 6/2007, số huyện thực hiện mô hình y tế hợp tác mới là 2429, chiếm khoảng 85% tổng số huyện cả nước và bao phủ khoảng 720 triệu người [96] Hiện nay, mô hình y tế hợp tác mới được đánh giá là giải pháp tài chính hữu hiệu đầu tiên trong lịch sử Trung quốc để bảo đảm chăm sóc sức khỏe cơ bản cho nhân dân nông thôn Đặc điểm của mô hình y tế hợp tác mới là đối tượng bao phủ toàn bộ các thành viên trong hộ gia đình và dựa trên cơ sở tự nguyện Mức đóng được xác định hàng năm dựa trên tỷ lệ thu nhập của người dân, khoảng 1-2% và
có sự chia sẻ giữa ngân sách Trung ương, địa phương và người dân, trong
Trang 27Với các đặc điểm trên có thể coi mô hình y tế hợp tác mới là hình thức BHYT dựa vào cộng đồng có sự hỗ trợ một phần kinh phí từ Chính phủ và hợp tác xã Trên cơ sở định hướng của nhà nước, Bộ Y tế phối hợp với Bộ Tài chính và Nội vụ đã ban hành hướng dẫn chính thức về mô hình y tế hợp tác mới và mục tiêu đến 2010 sẽ bao phủ toàn bộ nông dân với cam kết hỗ trợ ngân sách của nhà nước các cấp để đảm bảo thực hiện [24],[85],[98]
bộ, viên chức nhà nước; người lao động làm việc trong các doanh nghiệp có thu nhập ổn định hàng tháng Đối với những người nghỉ hưu: quỹ BHXH đóng BHYT cho họ Nhóm đối tượng người nghèo: mức đóng BHYT của đối tượng này là 1.200 Peso/hộ/năm Trong đó ngân sách trung ương đảm bảo 70%; ngân sách địa phương 30% Nhóm đối tượng là người lao động tự do: mức đóng của đối tượng này là đồng nhất 1.200 Peso/người/năm, người tham gia phải tự đóng 100% Tuy nhiên số người nghèo được Nhà nước mua thẻ BHYT không nhiều và chỉ sau 1 - 2 năm số này sẽ không còn thuộc diện nghèo, lúc đó họ là đối tượng của BHYT tự nguyện Do phụ thuộc vào kinh phí (của Trung ương và địa phương) để mua BHYT cho người nghèo, đến thời điểm hiện tại mới có khoảng 5 triệu người nghèo được mua BHYT trong số gần 35 triệu người nghèo của Philippines (chiếm khoảng 1/7) Do
Trang 28vậy, số người nghèo còn lại cùng với các bộ phận dân cư khác phải tham gia BHYT tự nguyện để được chăm sóc sức khỏe [36],[59]
1.3.11 Ở Việt Nam
Ngày 25/08/1992, căn cứ vào luật tổ chức HĐBH ngày 04/07/1981 và căn
cứ vào Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ
y tế, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định 299/HĐBT chính thức công bố sự ra đời của BHYT tại nước CHXHCN Việt Nam, và có hiệu lực
từ ngày 01/10/1992 [36] Trong giai đoạn đầu thực hiện Nghị Định 299/HĐBT, Bộ y tế giao cho BHYT Việt Nam chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện trong phạm vi toàn quốc Ngoài chức năng quản lý về chuyên môn nghiệp vụ đối với BHYT các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương và các ngành đặc thù trong cả nước, BHYT Việt Nam còn trực tiếp khai thác và quản lý các cơ quan xí nghiệp thuộc Trung ương đóng trên địa bàn thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Để phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội và khắc phục những điểm chưa phù hợp trong cơ chế tổ chức quản lý BHYT, tạo điều kiện cho BHYT hoạt động có hiệu quả và ngày càng lớn mạnh, ngày 13/08/1998 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 58/1998/NĐ-
CP kèm theo Điều lệ BHYT [15] Tuy nhiên, Điều lệ BHYT này chưa xếp người nghèo vào đối tượng BHYT bắt buộc, người nghèo muốn tham gia BHYT phải mua BHYT tự nguyện Do đó nếu không có khả năng mua BHYT thì người nghèo sẽ rất khó khăn khi mắc những bệnh nặng, chi phí điều trị cao Để tháo gỡ vấn đề này ngày 15/10/2002, thủ tướng chính phủ
đã ban hành Quyết định 139/2002/QĐ-TTg về khám chữa bệnh cho người nghèo Qua đó các địa phương bắt đầu thành lập các quỹ khám chữa bệnh cho người nghèo, cấp thẻ/ sổ khám chữa bệnh cho người nghèo và mua BHYT cho người nghèo Đến năm 2005 Nghị định 58/1998/NĐ-CP được thay bằng NĐ 63/2005/NĐ-CP [16], với nghị định này đối tượng tham gia BHYT được mở rộng ra rất nhiều và người nghèo đã được xếp vào đối
Trang 29BHYT là một bước đổi mới quan trọng về cơ chế, chính sách quản lý y tế, huy động sự đóng góp của cộng đồng để nâng cao chất lượng KCB, làm thay đổi cơ bản chính sách KCB từ bao cấp sang hạch toán - một cơ chế đảm bảo tài chính y tế mang tính xã hội cao dựa trên nguyên tắc đoàn thể, tương trợ, chia sẻ rủi ro trong cộng đồng, hướng tới mục tiêu công bằng, hiệu quả và phát triển của ngành y tế BHYT đã từng bước đi vào cuộc sống, được nhân dân chấp nhận thể hiện qua số người tham gia ngày càng tăng, phạm vi bao phủ BHYT ngày càng rộng; nhóm người nghèo đã được bao phủ với sự hỗ trợ của ngân sách Nhà nước Cùng với chính sách BHXH, BHYT đã góp phần hình thành và phát triển mạng lưới an sinh xã hội nước
ta Song song với việc thúc đẩy tính công bằng, hiệu quả, nguồn kinh phí từ BHYT đã góp phần quan trọng, ổn định trong việc đảm bảo ngân sách hoạt động của các bệnh viện và từng bước nâng chất lượng dịch vụ của các cơ sở
y tế Nguồn thanh toán chi phí KCB từ quỹ BHYT từ chỗ chỉ chiếm một tỷ
lệ nhỏ trong tổng chi y tế, cho đến nay quỹ BHYT luôn chiếm 1/3 ngân sách nhà nước dành cho y tế và chiếm một tỷ trọng xấp xỉ 50-60% ngân sách nhà nước dành cho công tác KCB ở một số địa phương Việc mở rộng KCB BHYT tại tuyến xã đã góp phần củng cố và phát triển y tế cơ sở, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận các dịch vụ y tế của người có thẻ BHYT Thông qua việc thực hiện BHYT học sinh đã góp phần khôi phục và phát triển hệ thống y tế trường học, chăm sóc sức khỏe ban đầu cho hàng triệu học sinh trong cả nước Chính sách BHYT đã góp phần vào thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo và công bằng xã hội BHYT đã giúp cho hàng triệu người có thu nhập thấp, người nghèo, người mắc bệnh nặng được KCB
mà vẫn không ảnh hưởng đến sinh hoạt của gia đình, không lâm vào cùng quẫn về kinh tế khi mắc bệnh phải điều trị với chi phí lớn Song, một số đối tượng cận nghèo, một số đối tượng kiếm sống bằng nghề tự do… vẫn chưa được BHYT Luật BHYT số 25/2008/QH12 được ra đời với lộ trình thực hiện BHYT toàn dân vào năm 2014 [55]
Trang 30Theo Luật BHYT, đối tượng của BHYT bắt buộc là những người lao động hưởng tiền lương, tiền công theo quy định của pháp luật; cán bộ, công chức, viên chức; cán bộ hưu trí, người thuộc hộ gia đình nghèo và một số đối tượng hưởng trợ cấp xã hội Các thân nhân của người lao động hưởng lương, thân nhân cán bộ công chức, người thuộc hộ gia đình nông nghiệp, lâm nghiêp, hộ kinh doanh cá thể…là các đối tượng có thể mua BHYT tự nguyện Cán bộ hưu trí và các đối tượng hưởng trợ cấp xã hội, người thuộc
hộ gia đình nghèo, người dân tộc thiểu số được cấp thẻ BHYT và do cơ quan BHXH hoặc ngân sách nhà nước đóng 100% phí BHYT Đối tượng BHYT tự nguyện phải tự đóng phí BHYT[55] Trước năm 2009 (theo NĐ 63/2005/NĐ-CP ) người có thẻ BHYT đi khám chữa bệnh đúng tuyến sẽ được thanh toán 100% chi phí [16], nhưng từ năm 2010 theo Nghị định 62/2009/NĐ-CP việc chi trả chi phí khám chữa bệnh cho người có thẻ BHYT được thực hiện theo phương thức cùng chi trả 20% chi phí khám chữa bệnh theo giá viện phí đối với một số đối tượng gồm người lao động làm việc trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, các doanh nghiệp
sử dụng thẻ BHYT đúng tuyến, riêng các đối tượng BHYT người nghèo, cán bộ hưu trí, người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hằng tháng thì mức cùng chi trả là 5%.[17],[55]
1.4 Các văn bản về CSSK cho người nghèo ở Việt Nam
1.4.1 Các bộ luật liên quan
Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989: “Sức khoẻ là vốn quý nhất của con người, là một trong những điều cơ bản để con người sống hạnh phúc, là mục tiêu và là nhân tố quan trọng trong việc phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và bảo vệ Tổ quốc[54]
Luật BHYT năm 2008: Điều 4 Về chính sách của Nhà nước về bảo hiểm y tế: “Nhà nước đóng hoặc hỗ trợ tiền đóng BHYT cho người có công với
Trang 311.4.2 Các văn bản của Đảng về chăm sóc sức khỏe cho người nghèo
Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương khóa VII (1991): tổng kết nhiệm kỳ 1986-1991, báo cáo của Ban Chấp Hành Trung ương khóa 7 tại đại hội đại biểu tòan quốc lần thứ VII nêu nội dung về CSSK mới dừng ở mức chung, chưa đề cập đến sức khỏe của người nghèo:“Công tác bảo vệ sức khỏe, nâng cao thể lực của nhân dân vẫn được duy trì trong điều kiện có nhiều khó khăn.”, “Việc thu viện phí chưa hợp lý, gây nhiều lộn xộn”[30]
Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương khóa VIII(1996): đánh giá 5 năm thực hiện nghị quyết VII và 10 năm đổi mới, đảng ta đề nghị: “Bảo đảm cho những người nghèo, những người trong diện chính sách được CSSK, khám chữa bệnh được giảm hoặc miễn phí.”[31]
Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương khóa IX(2001): chiến lược phát triển kinh tế - xã hội được báo cáo tại đại hội đại biểu tòan quốc của đảng khóa
IX (trang 214) đề cập đến công tác CSSK người nghèo như sau: “Đổi mới
cơ chế, chính sách viện phí; mở rộng y tế tự nguyện, tiến tới BHYT tòan dân Có chính sách trợ giúp cho người nghèo được khám chữa bệnh.”[32] Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương khóa X(2006): định hướng phát triển
về Văn hóa xã hội nhấn mạnh: “Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác bảo vệ và CSSK nhân dân: Tăng đầu tư của Nhà nước và tạo chuyển biến mạnh mẽ trong việc nâng cấp mạng lưới y tế cơ sở, y tế dự phòng, các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, huyện, các trung tâm y tế vùng, các cơ sở y tế chuyên sâu; đồng thời, có chính sách trợ giúp các đối tượng chính sách, người nghèo, người có thu nhập thấp được tiếp cận dịch vụ y tế [34]
Chỉ thị số 38-CT/TW của Ban bí thư Trung ương Đảng (khoá X) về đẩy mạnh công tác bảo hiểm y tế trong tình hình mới, cũng nêu rõ: “Có nhiều hình thức BHYT, nhưng hình thức mang tính ưu việt nhất mà nước ta phải hướng tới trong chính sách BHYT là BHYT bắt buộc toàn dân với nguyên tắc mọi người dân đóng góp BHYT theo thu nhập cá nhân, người nghèo và người trong diện chính sách xã hội được nhà nước hỗ trợ, nhưng khi khám
Trang 32bệnh, chữa bệnh hưởng theo quyền lợi đã được quy định dựa trên nhu cầu bệnh tật.”[35]
1.4.3 Các văn bản của thành phố Hồ Chí Minh CSSK cho người nghèo
Ngày 03 tháng 7 năm 1997, Ban chỉ đạo chương trình xóa đói giảm nghèo thành phố và Sở Y Tế thành phố cùng ký cam kết hợp đồng trách nhiệm thực hiện chính sách chăm lo sức khỏe cho người nghèo: Ban xóa đói giảm nghèo (XĐGN) Quận Huyện cung cấp danh sách người nghèo; Ngành Y tế
tổ chức cấp sổ khám chữa bệnh miễn phí và tổ chức các tuyến khám và điều trị bệnh đảm bảo chất lượng khám điều trị cho bệnh nhân nghèo, nhằm tạo điều kiện cho người nghèo có đủ sức khỏe làm ăn sinh sống để giảm nghèo
và vượt nghèo [3]
Ngày 31 tháng 8 năm 1999 Liên Sở Y Tế và Ban chỉ đạo chương trình XĐGN thành phố ra văn bản số 04/LS-SYT-XĐGN hướng dẫn Ban chỉ đạo XĐGN Quận Huyện và các Trung tâm Y tê Quận Huyện thực hiện chính sách chăm lo sức khỏe cho người nghèo thuộc hộ XĐGN thành phố [43] Ngày 23 tháng 6 năm 2000 Ủy ban nhân dân thành phố có công văn số 2183/UB-VX chỉ đạo việc mua sổ BHYT cho người nghèo cho số người thuộc diện trợ cấp xã hội thường xuyên và số người thuộc diện quá nghèo[70]
Ngày 18 tháng 7 năm 2000 Liên Sở Lao động – Thương binh Xã hội và Sở
Y tế ra văn bản Hướng dẫn số 1580/LĐTBXH-YT hướng dẫn các Phòng Lao động –Thương Binh Xã hội và các Trung tâm y tế Quận Huyện phối hợp thực hiện Sổ khám chữa bệnh miễn phí và Thẻ khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo trong khi chờ cấp Thẻ BHYT [44]
1.5 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
1.5.1 Kết quả điều tra hộ nghèo năm 2004 của Cục thống kê TP HCM cho
thấy một số tỉ lệ đặc điểm dân số học của người nghèo tại thành phố Hồ Chí
Minh như sau: nữ chiếm 52,34%; phân bố theo tuổi, dưới 6 tuổi (8%), 7-9
Trang 33(15%), 50-59 tuổi (7%), 60-69 tuổi (4%), 70-79 tuổi (3%), ≥ 80 tuổi (1%); phân bố theo trình độ học vấn, mù chữ (17%), cấp 1 (35%), cấp 2 (33%), cấp 3 (13%), cao đẳng-đại học (2%); phân bố theo tình trạng lao động, không việc làm (17%), có việc làm thu nhập ổn định (36%), có việc làm thu nhập không ổn định (14%), nội trợ (8%), chỉ đi học (23%), vừa đi học vừa
đi làm (1%); phân bố theo tình trạng sức khỏe, sức khỏe bình thường (88%), bệnh nan y mạn tính và tàn tật (12%) [13]
1.5.2 Nghiên cứu ”Viện phí và nguời nghèo ở Việt Nam” Phạm Huy Dũng
và cộng sự công bố năm 1999[22] Tác giả nhận thấy chất lượng chăm sóc y
tế cho người nghèo kém hơn so với chất lượng của các bệnh nhân trả tiền Phân tích số liệu từ bệnh án của bác sĩ cho thấy số ngày nằm viện của những bệnh nhân được miễn phí dài hơn số ngày nằm viện của những bệnh nhân trả tiền Ngược lại, chi phí khám chữa bệnh cho những bệnh nhân này thấp nhất ở tất cả các địa phương trừ tỉnh Bắc Kạn, Trong khi đó, chi phí cho thuốc chiếm chủ yếu trong chi phí khám chữa bệnh Do đó, những bệnh nhân này có thể đã được chữa bệnh với số lượng thuốc ít hơn và rẻ hơn so với những bệnh nhân trả tiền
1.5.3 Nghiên cứu “Chăm sóc sức khỏe cho người nghèo trong giai đoạn
hiện nay” của Lê Quang Hoành và cộng sự công bố tại Viện Chiến lược và Chính sách Y tế năm 2000 Các tác giả kết luận: Có nhiều hình thức KCB miễn giảm phí cho người nghèo Tuy nhiên, cấp thẻ BHYT cho người nghèo
là hình thức có tính ưu việt nhất [39]
1.5.4 Nghiên cứu: “Những yếu tố chính ảnh hưởng tới việc sử dụng dịch
vụ khám chữa bệnh tại 2 trạm y tế xã ở một huyện của Hải Phòng” của tác giả Nguyễn Thị Thanh, và cộng sự công bố tại Viện Chiến lược và Chính sách Y tế năm 2002[56] Tác giả sử dụng hai phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, tiến hành tại 2 xã thuộc huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng Hai trăm hộ gia đình được điều tra nhằm thu thập các thông tin về tình hình ốm đau cũng như tình hình sử dụng dịch vụ y tế của người dân
Trang 34Kết quả: Tỉ lệ sử dụng dịch vụ y tế của người dân ở 2 xã nghiên cứu rất
khác nhau, 45,7% và 15,8% Lý do chính của việc ít sử dụng dịch vụ tại trạm y tế (TYT) xã của người nghèo là khó khăn về kinh tế Người nghèo chủ yếu tự mua thuốc điều trị ở hiệu thuốc tư nhân Đối với người dân không nghèo, việc người dân lựa chọn hoặc không lựa chọn TYT xã để khám chữa bệnh phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau Thứ nhất, sự phát triển của y tế tư nhân (bao gồm cả thầy thuốc công có khám chữa bệnh ngoài giờ) làm cho người dân có nhiều khả năng lựa chọn hơn và thường đến y tế tư nhân khám chữa bệnh Thứ hai, chất lượng khám chữa bệnh của TYT xã cũng là yếu tố có ảnh hưởng tới việc sử dụng dịch vụ y tế tại TYT
xã của người dân Hầu hết người dân đều mong muốn được khám chữa bệnh (KCB) tại TYT xã nếu chất lượng khám chữa bệnh của TYT xã được nâng cao Yếu tố ảnh hưởng thứ ba là chi phí khám chữa bệnh và cách chi trả Kết quả nghiên cứu cho thấy chi phí KCB tại TYT xã cao hơn chi phí KCB ở cơ
sở y tế tư nhân, người dân phải chi trả trực tiếp và chi trả ngay cho cơ sở y
tế nhà nước trong khi có thể được nợ tiền khi KCB ở cơ sở y tế tư nhân Sự thuận tiện của cơ sở y tế về khoảng cách cũng là yếu tố ảnh hưởng tới việc
sử dụng dịch vụ y tế tại TYT xã của người dân
1.5.5 Nghiên cứu “Sự mất công bằng trong chăm sóc sức khỏe và trong
việc sử dụng các dịch vụ y tế ở Ba Vì, Hà Tây” Phạm Huy Dũng và cộng sự công bố năm 2002[23] Tác giả nhận thấy có sự chênh lệch về tỷ lệ tử vong,
tỷ lệ mắc bệnh và khả năng tiếp cận các dịch vụ CSSK giữa các nhóm xã hội khác nhau Nhóm nghèo, cận nghèo có tỷ lệ tử vong, tỷ lệ mắc bệnh cao hơn nhưng khả năng tiếp cận các dịch vụ CSSK lại thấp hơn so với nhóm khá, giàu Tất cả các nhóm xã hội sử dụng dịch vụ y tế tư nhân cao gấp 3 lần dịch vụ y tế công
1.5.6 Nghiên cứu “Tác động của quỹ khám chữa bệnh cho người nghèo đối
với hộ gia đình nghèo tại hai tỉnh Hải Dương và Bắc Giang” Đàm Viết
Trang 35điểm còn hạn chế khi triển khai quỹ khám chữa bệnh cho người nghèo như: năng lực của tuyến tỉnh và các tuyến dưới trong việc quản lý quỹ khám chữa bệnh cho người nghèo còn yếu; nhận thức của người nghèo về quỹ khám chữa bệnh cho người nghèo còn rất hạn chế; sự hài lòng của người nghèo đối với các dịch vụ y tế được cung cấp bao gồm cả nội trú và ngoại trú nhìn chung còn thấp; có một tỉ lệ đáng kể người hưởng lợi từ quỹ khám chữa bệnh cho người nghèo đã không sử dụng thẻ bảo hiểm y tế/thẻ khám chữa bệnh cho người nghèo khi đi khám ở các cơ sở y tế nhà nước
1.5.7 Nghiên cứu “Sự khác biệt về giới trong sẵn sàng chi trả cho mô hình
BHYT dựa vào cộng đồng ở một vùng nông thôn Việt Nam” Vương Lan Mai công bố năm 2005[49] Tác giả nhận thấy: so với nam giới, nữ giới có trình độ học vấn thấp hơn, tỷ lệ có bảo hiểm (bất kỳ loại nào) thấp hơn, tỷ lệ
nữ giới là nông dân cao hơn, thuộc hộ nghèo cao hơn Những đặc điểm này
đã ảnh hưởng tới sự khác bịêt trong sẵn sàng chi trả cho mô hình BHYT dựa vào cộng đồng của nam và nữ Nam giới sẵn sàng chi trả cao hơn nữ giới Mức phí trung bình nam giới sẵn sàng chi trả là 20.073 đồng trong khi đó nữ giới sẵn sàng chi trả 16.682 đồng Người nghèo sẵn sàng chi trả thấp hơn người giàu
1.5.8 Nghiên cứu: “Khảo sát chỉ số hài lòng của người dân về dịch vụ
công năm 2006 tại thành phố Hồ Chí Minh” [52] Nguyễn Văn Quang
và cộng sự ghi nhận:
Về việc chọn nơi khám, chữa bệnh, ý kiến trả lời của người dân được khảo sát cho thấy có nhiều nguyên nhân: cơ sở y tế gần nhà 18,7%, cơ sở y tế có đăng ký BHYT 17,0%, có khả năng khám điều trị tốt 14,4%, có y bác sĩ giỏi 2,1%, có trang bị y tế tốt 8,8%, vài ý kiến cho là do loại bệnh đòi hỏi tuyến
y tế chuyên ngành điều trị Thời gian chờ khám cũng là một trong những yếu tố quyết định đến mức độ hài lòng của người dân, có đến 47% ý kiến cho rằng chờ khám bệnh chỉ mất dưới 30 phút, 30,9% ý kiến cho rằng phải mất từ 30 đến 60 phút chờ đợi để được khám, chữa bệnh và thời gian chờ
Trang 36đợi để được khám, chữa bệnh ở khu vực y tế tư nhân ít hơn các tuyến y tế nhà nước Chất lượng phục vụ còn thể hiện ở tỷ lệ hài lòng về chẩn đoán và điều trị đúng bệnh, sự cảm nhận của người bệnh được chẩn đoán đúng bệnh, cho đúng thuốc khá cao, đạt 88% ý kiến Về thái độ phục vụ, 59,6% ý kiến cho rằng các tuyến y tế, nhân viên y tế có thái độ sẵn sàng tiếp nhận khám chữa bệnh là tốt, 34,8% là bình thường và vẫn còn 5,2% là không tốt
Về kiến nghị chung: hầu hết ý kiến đều đề cập đến những vấn đề đang bức xúc hiện nay của ngành y tế như: đầu tư thiết bị hiện đại, nhất là cho các Trung tâm y tế Quận Huyện (14,6%); Mở nhiều cơ sở khám bệnh, nhất là các bênh viện lớn trên địa bàn thành phố (14,3%); Cần chấn chỉnh thái độ phục vụ (10,6%); Giảm bớt chi phí khám chữa bệnh (10,5%)
1.5.9 Nghiên cứu “Đánh giá tình hình chăm sóc sức khỏe cho người nghèo
tại năm tỉnh miền núi phía Bắc và Tây nguyên” Đàm Viết Cương và cộng sự công bố năm 2007[20] phát hiện: trạm y tế xã là cơ sở y tế chủ yếu cung cấp các dịch vụ khám chữa bệnh (KCB) ngoại trú cho người nghèo ở các tỉnh nghiên cứu, chiếm 82% Y tế tư nhân có vai trò không đáng kể trong việc cung cấp dịch vụ CSSK, số lần sử dụng dịch vụ KCB ngoại trú trung bình của người dân là 1 lần khám/người/năm, bệnh viện huyện là cơ sở y tế chủ yếu cung cấp các dịch vụ KCB nội trú, số lần sử dụng dịch vụ nội trú trung bình là: 4 lần KCB/100 người dân/năm, quỹ KCB cho người nghèo có tác động tích cực tới việc CSSK cho người nghèo trong nâng cao khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế cũng như giảm gánh nặng tài chính cho nhóm đối tượng hưởng lợi Tuy nhiên một số đối tượng hưởng lợi chưa thực sự được hưởng lợi từ Quỹ KCB cho người nghèo Nhiều người nghèo không đi KCB tại các cơ sở y tế Một số yếu tố ảnh hưởng tới việc sử dụng dịch vụ của người nghèo là: bệnh chưa nặng và khó khăn trong đi lại; chất lượng dịch vụ, đặc biệt tại tuyến xã còn hạn chế; khoảng cách, khó khăn về giao thông và thiếu hiểu biết về CSSK của một số đồng bào dân tộc thiểu số là
Trang 37một số đối tượng gặp khó khăn về tài chính trong KCB do phải trả thêm chi phí cho thuốc hoặc các chi phí gián tiếp khác như ăn uống và đi lại; thủ tục hành chính là một rào cản trong việc tiếp cận các dịch vụ CSSK tuyến trên
1.5.10 Nghiên cứu “Tình hình bảo hiểm y tế, sử dụng dịch vụ y tế và chi
tiêu y tế tại 2 tỉnh Hải Dương và Bắc Giang: kết quả điều tra cơ bản” Đàm Viết Cương, Trần Văn Tiến và cộng sự công bố năm 2007[19]
Tổng số 2.394 hộ gia đình đã được phỏng vấn, kết quả cho thấy: độ bao phủ của BHYT tại các huyện nghiên cứu dao động từ 40-50%; người nghèo chiếm tỷ trọng cao trong tổng số người tham gia BHYT, tuy nhiên vẫn còn khoảng 20-30% hộ gia đình báo cáo thuộc diện hộ nghèo nhưng vẫn chưa được cấp thẻ BHYT; so với năm 2005, người nghèo đi khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế nhiều hơn; mức độ hài lòng với dịch vụ y tế trong số các bệnh nhân BHYT thấp hơn bệnh nhân tự trả phí; hai vấn đề chủ yếu làm bệnh nhân ít hài lòng là điều kiện cơ sở vật chất và thái độ của nhân viên y tế; BHYT đã giúp người dân giảm rõ rệt chi phí khám chữa bệnh cả ngoại trú
và nội trú, tuy nhiên bệnh nhân BHYT vẫn phải trả một khoản đáng kể khi
đi khám chữa bệnh
1.5.11 Nghiên cứu “Phát triển BHYT ở nông thôn công bằng và bền vững
nhằm nâng cao chăm sóc sức khoẻ người dân - Báo cáo kết quả nghiên cứu định tính” Đàm Viết Cương và cộng sự công bố năm 2007[21] Kết quả: các đối tượng tham gia nghiên cứu không hài lòng với dịch vụ KCB BHYT do phải chờ đợi lâu, quy trình KCB phức tạp, dịch vụ kém chất lượng, quyền lợi được hưởng hạn chế, thái độ của nhân viên y tế thiếu tận tình; người dân không sẵn sàng tham gia BHYT do thuốc BHYT và các dịch vụ xét nghiệm tại bệnh viện còn hạn chế; nhiều người dân chỉ sử dụng thẻ BHYT khi đi KCB nội trú Khi ốm đau, người dân lựa chọn KCB tại cơ sở y tế nhà nước hay tư nhân phụ thuộc vào mức độ nặng nhẹ của bệnh Người dân thường đến các cơ sở y tế tư nhân và mua thuốc tại nhà thuốc tư khi mắc các bệnh thông thường Mua thuốc tại nhà thuốc tư là hiện tượng phổ biến đối với cả
Trang 38người có BHYT và không có BHYT
1.5.12 Bài viết “BHYT cho người nghèo - Thực trạng và giải pháp” trên
Tạp chí Bảo hiểm xã hội số 6B/2009 (132) của Bùi Văn Hồng cho thấy: Đa
số người nghèo do ở xa các trung tâm y tế, các cơ sở khám chữa bệnh, đi lại khó khăn nên ngại đi KCB Năm 2006, tần suất KCB của người nghèo chỉ
có 0,92 lần/thẻ-năm, con số này của đối tượng bắt buộc khác là 2,87, tự nguyện học sinh là 1,05, cao nhất là đối tượng tự nguyện nhân dân 5,15 Tần suất KCB của đối tượng người nghèo là thấp nhất và chi phí một lần KCB bình quân (nội trú và ngoại trú) cũng thấp hơn một số đối tượng khác, chỉ có 68.000 đồng/lượt, thấp hơn cả mức bình quân 92.000 đồng của tất cả các đối tượng Trong khi đó, đối tượng bắt buộc khác là 109 000 đồng, tự nguyện nhân dân là 106.000 đồng [41]
Trang 39CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Những người dân cư ngụ trong nội và ngoại thành TP.Hồ Chí Minh được
Văn phòng Ban chỉ đạo chương trình xoá đói giảm nghèo của Sở Lao động
Thương binh và Xã hội TP HCM cấp thẻ BHYT người nghèo năm 2007 2.2 Phương pháp nghiên cứu
(mục tiêu 3) là:
q p
d: sai số cho phép, được chọn là 3%
Do chưa có đề tài nào tương tự trong nước được thực hiện, nên p trong trường hợp này có thể sử dụng là 50% để có cỡ mẫu lớn nhất [51],[84] Như vậy, từ công thức trên, chúng ta có mẫu là :
(1,96)2 x 0,5 x 0,5 /(0,03)2 = 1067 đối tượng nghiên cứu
2.2.1.3 Phương pháp chọn mẫu: lấy mẫu ngẫu nhiên đơn
Mẫu chọn từ danh sách người nghèo được cấp thẻ BHYT năm 2007 lưu tại Văn phòng Ban chỉ đạo chương trình xoá đói giảm nghèo của Sở Lao động Thương binh và Xã hội TP Hồ Chí Minh là 244.565 thẻ Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn chọn 1067 đối tượng
Trang 402.2.1.4 Định nghĩa biến số
- Giới: là biến số nhị giá gồm 2 giá trị: nam, nữ
- Tuổi: là các biến số thứ tự, chia độ tuổi theo khoảng cách 10: <10, 10-19, 20-29, 30-39, 40-49, 50-59, 60-69, 70-79, >80
- Trình độ học vấn: là biến số thứ tự gồm 4 giá trị: mù chữ và biết đọc biết viết, cấp 1, cấp 2, cấp 3, cao đẳng - đại học
- Tình trạng lao động gồm các bậc: là biến số danh định gồm 6 giá trị: có việc làm thu nhập ổn định; có việc làm thu nhập không ổn định; không
có việc làm; nội trợ; chỉ đi học; vừa đi học vừa đi làm
- Phân loại bệnh theo tuyến điều trị: bệnh cấp tính thông thường khám và theo dõi ở tuyến quận huyện, bệnh mạn tính theo dõi ở tuyến quận huyện, bệnh điều trị theo dõi ở tuyến thành phố, bệnh điều trị và theo dõi
ở tuyến trung ương
- Phân lọai bệnh tật: các loại bệnh được thống kê theo nhóm: bệnh đường
hô hấp, bệnh tim mạch và huyết áp, nhiễm khuẩn và ký sinh vật, nội tiết, tiêu hóa, tiết niệu, chấn thương chỉnh hình, ngoài da, mắt, thần kinh, nhóm khác
- Sử dụng thẻ BHYT: gồm 2 giá trị có sử dụng và không sử dụng; có sử dụng là những được người tìm thấy đã đi khám chữa bệnh trong năm
2007 trong dữ liệu lưu tại cơ quan giám định BHYT
2.2.1.5 Tiêu chí chọn mẫu
- Tiêu chí chọn vào: Những đối tượng được xếp loại nghèo theo hướng dẫn của Sở Lao động Thương binh và Xã hội TP Hồ Chí Minh, sống tại nội và ngoại thành TP Hồ Chí Minh, được cấp thẻ bảo hiểm y tế người nghèo năm 2007
- Tiêu chí loại ra: do điều kiện lưu trữ hồ sơ của các cơ sở khám chữa bệnh, những người không quản lý được trọn năm sẽ loại ra và chọn mẫu khác