Bài báo này trình bày thực trạng công tác nghiên cứu khoa hoc của đôi ngũ giảng viên trường cao đẳng xây dựng số 3. từ đó đề xuất giải pháp để nâng cao chất lượng hoạt động này góp phần nâng cao chât lượng giáo dục đào tạo nói chung
Trang 1Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ ở
Trường Trung cấp Xây dựng số 4
Đào tạo và nghiên cứu khoa học (NCKH) là hai nhiệm vụ cơ bản, gắn bó chặt chẽ với nhau trong hoạt động đào tạo của bất kỳ một trường Trung cấp, Cao đẳng hay Đại học nào Nếu xem nhẹ, không quan tâm đúng mức đến hoạt động NCKH hoặc định hướng NCKH không phù hợp sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng đào tạo của Nhà trường.
Hoạt động NCKH là quy định bắt buộc, hỗ trợ cho hoạt động giảng dạy, công tác của cán bộ, giáo viên Mục đích của hoạt động NCKH là nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo; giúp cho các cán
bộ, giáo viên tiếp cận và làm quen với môi trường khoa học, phương pháp NCKH cũng như rèn luyện khả năng tư duy sáng tạo, năng lực nghiên cứu và tạo phong cách làm việc khoa học; góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề khoa học và giải quyết những vấn đề thực tiễn đang đặt ra Hoạt động NCKH và công nghệ của Trường Trung cấp Xây dựng số 4 trong những năm gần đây luôn được quan tâm, chú trọng, coi đó là một nhiệm vụ quan trọng cùng với quá trình đổi mới nội dung và phương pháp dạy học Hoạt động NCKH trong Nhà trường được triển khai thực hiện dưới nhiều hình thức phong phú, đa dạng như: Nghiên cứu đề tài khoa học, Biên soạn Giáo trình sử dụng nội bộ, Thiết kế, xây dựng mô hình học tập, Xây dựng Mục tiêu chương trình đào tạo… Tuy nhiên, hiện nay, hoạt động NCKH và công nghệ ở Trường Trung cấp Xây dựng số 4 chưa thể đạt hiệu quả như mong muốn.
I Thực trạng hoạt động NCKH và công nghệ ở Trường TCXD số 4
Trong những năm vừa qua, hoạt động nghiên cứu khoa học ở Trường Trung cấp Xây dựng số 4 gặp nhiều khó khăn, chưa đi vào chiều sâu và chưa thật sự hiệu quả Số lượng thành viên đăng ký tham gia nghiên cứu khoa học còn ít Phần lớn các đề tài đăng ký tham gia có phạm vi nghiên cứu rộng, xác định không rõ phạm vi và đối tượng nghiên cứu nên hoặc không thể tiến hành được hoặc không tiến hành không đúng với thời gian đăng ký (thường là chậm tiến độ), có năm không có đề tài nào đăng ký tham gia (kể cả đề tài cấp Trường) Một số cán bộ, giáo viên có quan niệm rằng khi tham gia nghiên cứu khoa học sẽ tốn kém, mất nhiều thời gian nên không muốn tham gia Bên cạnh đó, có một số người có khả năng nghiên cứu khoa học thì lại không thể tham gia được vì nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan.
Một lý do quan trọng nữa là, trang thiết bị, cơ sở vật chất của Nhà trường còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của hoạt động nghiên cứu khoa học Do đó, một số đề tài chất lượng chưa cao Đặc biệt, tính đến thời điểm hiện tại, Nhà trường chưa có một đề tài nghiên cứu khoa học cấp Ngành, cấp Bộ nào.
Hiện nay, lực lượng giáo viên trẻ chiếm tỷ lệ khá lớn trong Nhà trường Đội ngũ này có thế mạnh về khả năng tiếp cận công nghệ, nắm bắt thông tin nhanh, nhưng lại chưa có kinh nghiệm thực tế, nên còn hạn chế trong việc NCKH, điều đó gây ảnh hưởng không ít tới chất lượng giảng dạy Theo quy định, một giáo viên đảm bảo tối thiểu là 08 tuần NCKH/năm Đây là tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ
và bình xét danh hiệu thi đua cuối năm học, nhưng hiện nay vẫn còn một số giáo viên chưa hoàn thành nhiệm vụ NCKH.
II Một số giải pháp nâng cao hoạt động NCKH và công nghệ ở Trường Trung cấp Xây dựng số 4
Từ thực trạng tình hình NCKH của Nhà trường trong những năm vừa qua, chúng tôi đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng NCKH của cán bộ, giáo viên trong Nhà trường như sau:
1 Tăng cường công tác quản lý hoạt động NCKH và công nghệ
- Ban Giám hiệu Nhà trường chỉ đạo các Phòng, Khoa, Trung tâm quán triệt công tác NCKH, trên cơ
sở các quyết định, thông tư Bộ Giáo dục & Đào tạo và Quy định về hoạt động NCKH và công nghệ của Trường đã ban hành Có như vậy, công tác NCKH mới trở thành một nhu cầu tự thân, một sân chơi đầy tính sáng tạo, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường Đây là một trong những tiêu chí để đánh giá chất lượng, bình xét danh hiệu thi đua cho cán bộ, giáo viên một cách khách quan, công bằng hợp lý.
- Nhà trường nên có kế hoạch đầu tư kinh phí cho công tác NCKH một cách hợp lý Căn cứ vào nhiệm vụ năm học, thực tiễn Nhà trường, hàng năm Ban Giám hiệu giao nhiệm vụ cho cán bộ, giáo viên nghiên cứu đề tài, chương trình, giáo trình mang tính cấp thiết, phục vụ trực tiếp cho hoạt động giảng dạy, đổi mới môn học, cải tiến các hoạt động quản lý trong Nhà trường.
2 Nâng cao vai trò của bộ phận quản lý hoạt động NCKH
Cần nhận thức được rằng, công tác NCKH là một hoạt động trọng tâm và có ý nghĩa thiết thực, có tính đột phá để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao Do đó,
Trang 2Ban Giám hiệu Nhà trường, đặc biệt là đội ngũ làm công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học phải là những người có kinh nghiệm, kỹ năng trong NCKH, có năng lực, chuyên môn và trình độ cao và phải luôn có sự quan tâm đặc biệt đến hoạt động này Mặt khác, do đặc thù của Nhà trường nên Ban Giám hiệu và Bộ phận quản lý hoạt động NCKH phải có sự chỉ đạo, định hướng, tổ chức một cách thiết thực, sát sao và có hiệu quả hoạt động NCKH, phải hướng việc lựa chọn đề tài NCKH gắn với thực tiễn phát triển của Nhà trường trên cơ sở cập nhật những thành tựu, những tiến bộ của khoa học kỹ thuật hiện đại; Tăng cường công tác hướng dẫn cách thức NCKH, góp ý kiến triển khai nghiên cứu về nội dung và hình thức các hoạt động khoa học khi cần thiết Tránh cách làm hình thức, phô trương mà nên
đi vào chiều sâu, gắn hoạt động NCKH với chuyên môn nghề nghiệp.
3 Xây dựng kế hoạch và tổ chức triển khai thực hiện hoạt động NCKH và công nghệ một cách đồng bộ
* Đối với các Phòng, Khoa, Tổ bộ môn trực thuộc:
- Đầu năm, các Phòng, Khoa lập kế hoạch hoạt động NCKH nộp cho bộ phận quản lý nghiên cứu khoa học để Hội đồng Khoa học của Trường có hướng chỉ đạo.
- Triển khai công tác NCKH tới từng cán bộ, giáo viên, học sinh - sinh viên trong Phòng, Khoa, Tổ bộ môn do mình quản lý Tổ chức biên soạn chương trình, giáo trình môn học, tài liệu giảng dạy, nghiên cứu cải tiến phương pháp giảng dạy, học tập
* Đối với giáo viên
- Mỗi giáo viên nên tự rèn luyện tư duy NCKH từ việc tìm tòi, sáng tạo để nâng cao nghiệp vụ, chuyên môn từ chính những môn mình giảng dạy: Biết ứng dụng công nghệ thông tin làm phương tiện dạy và học; Không ngừng cập nhật thông tin để cải tiến các chương trình đào tạo, giáo trình, giáo án; Tìm cách truyền đạt kiến thức một cách tốt nhất thông qua việc đề cao những nhận xét, góp ý của đồng nghiệp, của học sinh - sinh viên; Với tiêu chí lấy trò làm trung tâm, thầy là người hướng dẫn chỉ bảo phương pháp cho các em, điều đó sẽ tạo chất lượng cao cho bài giảng.
- Khi NCKH, giáo viên chú ý lựa chọn hình thức, nội dung sao cho phù hợp với khả năng chuyên môn, với điều kiện thời gian và kinh phí thực hiện Song song với nghiên cứu phục vụ công tác giảng dạy, giáo viên có thể tham gia đề tài các cấp, thường xuyên viết bài cho báo, tạp chí chuyên ngành Qua
đó khẳng định trình độ chuyên môn, sự tổng hợp lựa chọn thông tin một cách hệ thống, sáng tạo, mang tính chất nghiên cứu.
- Mỗi giáo viên tự giác tham gia công tác NCKH, theo đúng quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và tuân thủ Quy định về quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ Trường Trung cấp Xây dựng
số 4 đã ban hành Mỗi giáo viên phải coi công tác NCKH vừa là quyền lợi, vừa là trách nhiệm của mình.
* Đối với học sinh - sinh viên
NCKH của học sinh - sinh viên là một phần quan trọng trong kế hoạch hoạt động khoa học của Nhà trường Việc triển khai và quản lý nghiên cứu khoa học của học sinh - sinh viên nên tập trung vào một số nội dung sau:
- Trước tiên, học sinh - sinh viên cần được bồi dưỡng khả năng hoạt động độc lập, sáng tạo, hiểu tầm quan trọng của NCKH Thông qua các môn học, giáo viên cung cấp cho học sinh - sinh viên các phương pháp nghiên cứu cụ thể, quy trình thực hiện một đề tài.
- Tổ chức NCKH, rèn phương pháp tự học, tự nghiên cứu cho học sinh - sinh viên bằng nhiều hình thức khác nhau: Nghiên cứu trao đổi các phương pháp, kinh nghiệm học tập, viết tiểu luận, báo cáo thực tập, viết bài gửi các báo, tập san đảm bảo nguyên tắc học đi đôi với hành, lí luận gắn liền với thực tiễn, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo.
- Các Phòng, Khoa, Đoàn Thanh niên, cần phối hợp đồng bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh - sinh viên tham gia NCKH theo Quy định về quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ
Trường Trung cấp Xây dựng số 4 đã ban hành.
Nguyễn Thị Thảo - Phòng Đào tạo.
12-01-2011, 10:14 AM
Bài viết: #2
Số lần cảm ơn 0
1 cảm ơn trong 1 bài
administrator Level: Life: 190 / 422 17
Trang 3Quản Trị Viên
Magic: 122 / 2,787 Experience: 89
Phần 2 Phương pháp tìm kiếm tài liệu tham khảo khoa họchiên cứu khoa học
Phần 2 Phương pháp tìm kiếm tài liệu tham
khảo khoa học
Mở đầu
Trong nghiên cứu khoa học, không thể phủ nhận vai trò quan trọng của công tác nghiên cứu tài liệu Tuy nhiên, vì nhiều lí do, lâu nay ở Việt Nam mảng này dường như chưa được quan tâm và đầu tư đúng mức
Trong rất nhiều lí do có thể liệt kê, vấn đề hàng đầu là kinh phí Các thư viện nghèo nàn hoặc chậm có sách mới, các tủ sách chuyên ngành hạn chế về số lượng, chi phí mua tài liệu trực tiếp quá cao, không có phương tiện thanh toán, v.v
Nguyên nhân quan trọng thứ hai, đó là yêu cầu khoa học đối với việc nghiên cứu tài liệu
bị thả lỏng Có thể thấy trong không ít tài liệu khoa học, phần tài liệu tham khảo chiếm một vị trí hết sức khiêm tốn, thông tin trích dẫn, tham khảo được trình bày không đúng chuẩn mực, vẫn thường được dễ dàng cho qua
Và thời gian gần đây, với sự phát triển kinh tế nhanh chóng và sự bùng nổ của Internet, đang dần hình thành một xu hướng có phần thái quá: sử dụng gần như mọi thứ tìm thấy trên Internet để đưa vào tài liệu khoa học mà không cần kiểm chứng nguồn gốc, độ tin cậy, đánh giá giá trị, cũng như không tuân thủ đúng các quy tắc trình bày và sử dụng đối với các tài liệu này
Vậy, làm sao để giải quyết các vấn đề đó?
Vấn đề kinh phí: đang dần có sự quan tâm trở lại từ góc độ quản lí; Internet trở thành một nguồn cung cấp quan trọng, gần như không thể thiếu, các tài liệu cơ bản cần thiết.Yêu cầu khoa học: trong xu thế hội nhập, vấn đề này cũng đang được điều chỉnh, vì chúng ta càng chậm đặt yêu cầu cao thì càng chậm phát triển kịp cùng với thế giới
Sử dụng Internet: đây là một công cụ thuận tiện để tiếp cận nhanh và dễ dàng đến một lượng thông tin khổng lồ và phong phú trên khắp thế giới, trong mọi lĩnh vực Nhưng, trong một thế giới hỗn độn thông tin như thế, làm sao để tìm được thông tin phù hợp với nhu cầu một cách nhanh chóng, hiệu quả? Đó không phải là điều dễ dàng! Và những nội dung tiếp theo đây sẽ được trình bày với mong muốn góp phần vẽ ra một con đường như thế
Trang 4Xác định chủ đề nghiên cứu
Thông thường, để tiến hành nghiên cứu, cần có giai đoạn chuẩn bị ban đầu là xác định chủ đề nghiên cứu Giai đoạn chuẩn bị này có thể trải qua các bước sau: xác định nhu cầu; lựa chọn chủ đề; giới hạn phạm vi của chủ đề; và sau cùng là định rõ các mục tiêu nghiên cứu
Tất nhiên, vẫn có thể thấy nhiều trường hợp bỏ qua giai đoạn chuẩn bị này mà tập trung hẳn vào các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành cụ thể Hoặc sinh viên thường làm nghiên cứu theo sự chỉ định của người thầy hướng dẫn Song, khi muốn hiểu rõ vấn đề cần nghiên cứu, thấy rõ con đường cần đi qua và nơi cần đến, thì tốt hơn hết là tự chuẩn
bị cho mình thật tốt ngay từ đầu Người thầy hướng dẫn thông thường cũng sẽ có hứng thú hơn khi làm việc với một học trò biết mình muốn gì và cần làm gì trong quá trình nghiên cứu
Xác định nhu cầu
Có nhiều vấn đề cần quan tâm khi xác định nhu cầu nghiên cứu và tìm kiếm tài liệu phục
vụ cho nghiên cứu đó
Điều đầu tiên cần quan tâm là cấp độ của đề tài Mỗi cấp độ sẽ có những yêu cầu tương ứng về mặt khoa học và mức độ chuyên sâu của đề tài, cũng thể hiện qua phạm vi và mức độ chuyên sâu của tài liệu tham khảo Những nghiên cứu ở bậc đại học, nếu tham khảo được nhiều tài liệu chuyên sâu thì càng tốt, nhưng đó cũng không hẳn là một đòi hỏi quá gắt gao Nhưng ngược lại, một đề tài ở bậc cao học, tiến sĩ mà không có, hoặc có rất ít tài liệu tham khảo từ các sách và tạp chí chuyên ngành có uy tín, các học giả tên tuổi trong lĩnh vực, thì giá trị sẽ giảm đi rất nhiều
Vấn đề tiếp theo là thời hạn nghiên cứu Một đề tài nghiên cứu của sinh viên đại học có thể bố trí thực hiện trong vài ba tháng, ở bậc cao học thường phải từ hơn nửa năm đến một năm, hoặc thậm chí lâu hơn Tuỳ theo thời hạn nghiên cứu được áp đặt, nhà nghiên cứu phải lập kế hoạch nghiên cứu chi tiết, phân bố các giai đoạn nghiên cứu và công việc phải làm một cách hợp lí để có thể đạt đến đích mong muốn kịp thời hạn
Yếu tố quan trọng tiếp theo là mục đích nghiên cứu Mục đích này sẽ thay đổi tuỳ theo tính chất của mỗi đề tài Và khi mục đích khác nhau, các giai đoạn nghiên cứu và các yêu cầu đặt ra cũng thay đổi tương ứng Ở đây, chúng ta đề cập đến hai dạng thường gặp là:
Nghiên cứu một vấn đề khoa học
Nghiên cứu về một vấn đề khoa học giúp đào sâu, mở rộng hiểu biết về chủ đề đó, làm sáng tỏ các kết quả mới thu được và công bố một cách chặt chẽ, rõ ràng
Mục đích của nghiên cứu dạng này là quan sát, giải thích, diễn giải, khám phá những mối liên hệ mới giữa các hiện tượng, sự việc, sự vật, và sau khi kiểm chứng sẽ xây dựng một giả thuyết mới hoặc tái cấu trúc lại các giả thuyết đã có về một hiện thực nhằm phổ
Trang 5quát hoá vấn đề đã nghiên cứu.
Kết quả của các nghiên cứu thường được phát triển thành một luận văn, luận án, với các luận chứng, luận cứ bảo vệ kết quả thu được Do đó, dạng nghiên cứu này đòi hỏi rất cao
ở việc tham khảo tài liệu
Báo cáo tổng hợp tài liệu
Báo cáo tổng hợp tài liệu là một bài viết tổng hợp, mô tả đầy đủ và trung thực về những thông tin đọc được, tham khảo được về một vấn đề, sự kiện, hiện tượng khoa học Dạng này thường gặp trong các buổi sinh hoạt chuyên đề, thảo luận chuyên môn ở các đơn vị đào tạo và nghiên cứu
Báo cáo dạng này cần dựa trên những gì đã được chứng minh trong thực tế, rõ ràng và chính xác Do đó, những thông tin tổng hợp được cần có trích dẫn trực tiếp hoặc gián tiếp rõ ràng về nguồn gốc của thông tin được đề cập
Có hai dạng báo cáo tổng hợp chính: báo cáo tổng hợp thông tin và báo cáo tổng hợp phê bình
Báo cáo tổng hợp thông tin: thường chỉ dừng lại ở mức độ tóm tắt các ý kiến của những tác giả gốc, các kết quả, luận cứ, luận chứng, kết luận của họ về một chủ đề xác định.Báo cáo tổng hợp phê bình: thường sau khi tóm tắt thông tin, người báo cáo sẽ sắp xếp nội dung, một cách chặt chẽ và khách quan, nhằm làm nổi bật những khía cạnh khác nhau của một vấn đề, bình luận và đánh giá những giá trị của thông tin thu thập được, hệ thống hoá tri thức đã biết về chủ đề đang quan tâm
Với nhu cầu nghiên cứu tài liệu phục vụ các đề tài nghiên cứu khoa học, các vấn đề cần quan tâm nhất là:
tầm tham khảo đủ rộng để bao quát phạm vi của chủ đề;
mức độ tham khảo đủ sâu, tương ứng với yêu cầu của cấp độ nghiên cứu;
thông tin tương đối cập nhật để đánh giá vấn đề khách quan, kịp thời, không bị lạc hậu với dòng thông tin chuyên ngành;
thông tin có chọn lọc sao cho phù hợp với một đề tài khoa học
Dù gặp những hạn chế khách quan nhất định, nhưng khi nhà nghiên cứu tuân thủ tốt các quy tắc này, sẽ có những giải pháp giúp đáp ứng được nhu cầu, không nhiều thì ít, nhằm
bổ sung những giá trị thiết thực cho đề tài cần nghiên cứu
Nghiên cứu tài liệu càng có ý nghĩa quan trọng ở giai đoạn đầu của đề tài, vì nhà nghiên cứu có thể dựa vào đó để lựa chọn chủ đề, kiểm tra các nguồn lực sẵn có, xác định mục tiêu nghiên cứu và xây dựng những giả thuyết cho đề tài nghiên cứu của mình
Bài tập tự kiểm tra
Lựa chọn chủ đề
Trang 6Như đã đề cập trong Phần 1 Các bước triển khai một đề tài nghiên cứu khoa học, có nhiều cách để lựa chọn một đề tài nghiên cứu:
người hướng dẫn áp đặt một đề tài mà mình đang quan tâm, ưu tiên trong các nghiên cứu trước mắt: có thể người thầy sẽ có tâm thế sẵn sàng hơn khi hướng dẫn những đề tài như vậy;
người hướng dẫn gợi ý một đề tài được cho là phù hợp, có thể là với khả năng và điều kiện thực tế;
sinh viên lựa chọn một đề tài trong danh sách các chủ đề nghiên cứu của người hướng dẫn: ở đó có thể có đủ cả những vấn đề bắt buộc phải nghiên cứu, những vấn đề ưu tiên, những vấn đề ưa thích, hay chỉ đơn giản là những gợi ý nghiên cứu;
sinh viên lựa chọn một đề tài từ các ý tưởng có sẵn của mình: có thể liên quan đến những lợi ích, điều kiện thuận tiện trước mắt hoặc khả năng, sở thích nghiên cứu của sinh viên;
sinh viên và người hướng dẫn thảo luận với nhau, mỗi người đưa ra những ý tưởng, lí do, đánh giá ưu nhược điểm của mỗi vấn đề, và cuối cùng đi đến một lựa chọn phù hợp nhất cho cả hai: đây là cách khá phổ biến, lời khuyên của người thầy giúp sinh viên định hướng tốt hơn trong quyết định của mình mà không có cảm giác bị áp đặt, điều sẽ ảnh hưởng không ít đến động cơ và hứng thú làm việc về sau;
v.v
Tuỳ cấp độ của đề tài cũng như tuỳ điều kiện thực tế của nhà nghiên cứu mà chủ đề nghiên cứu sẽ được xác định, lựa chọn như thế nào cho phù hợp Nhưng xét tính chủ động của nhà nghiên cứu trong đề tài của mình, cần quan tâm đến những câu hỏi sau:
Hiểu biết ban đầu của bản thân về chủ đề?
Cần có những hiểu biết cơ bản về chủ đề
Đặt chủ đề trong khuôn khổ giới hạn của chuyên ngành
Nắm bắt các thông tin tổng quát để biết được vấn đề cần được xử lí ở những khía cạnh nào
Tính phù hợp của chủ đề dự kiến với điều kiện thực tế?
Đề tài cần có định hướng đúng nhằm giải quyết các vấn đề chuyên môn
Đề tài cần đáp ứng các yêu cầu của người hướng dẫn, của hội đồng khoa học chuyên ngành
Đề tài nên tránh việc chỉ giải quyết những mặt phụ của vấn đề
Đề tài cần có ý nghĩa thực tế, giúp mở rộng hiểu biết về chủ đề được lựa chọn nghiên cứu
Động cơ, hứng thú và lợi ích cá nhân khi nghiên cứu chủ đề đó?
Trang 7Động cơ và hứng thú cá nhân ảnh hưởng rất lớn đến tiến độ nghiên cứu, nếu cân nhắc hài hoà được khi lựa chọn đề tài sẽ có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình nghiên cứu.
Điều kiện truy cập các nguồn tài liệu tham khảo?
Với mọi đề tài, cần phải đảm bảo truy cập được những nguồn tài liệu tham khảo cần thiết cho việc thực hiện đề tài, và do đó nên đặt thành một vấn đề nghiêm túc trước khi bắt đầu nghiên cứu
Các đề tài quá mới hay quá chuyên biệt sẽ có ít tài liệu hoặc nguồn tài liệu khó truy cập.Nên có hoặc tìm được những tài liệu giúp định hướng tìm kiếm thông tin phù hợp
Những đề tài ở cấp độ càng cao thì càng cần thiết phải truy cập đến tài liệu nguyên cấp (primary document/document primaire)
Cần tìm và khai thác tối đa những nguồn hỗ trợ truy cập thông tin, tài liệu: thầy cô giáo, các chuyên gia, bạn bè, các thư viện, các đơn vị chuyên ngành, các tổ chức quốc tế, các diễn đàn chuyên môn và các nguồn đáng tin cậy trên mạng, v.v
Thời gian cho phép thực hiện đề tài?
Thời gian cho mỗi đề tài tuỳ thuộc vào cấp độ của đề tài đó Ngoài tổng thời gian cho phép của đề tài, các giai đoạn làm việc cũng cần được phân bổ thời gian hợp lí
Cần cân nhắc các khoảng thời gian: lựa chọn đề tài, tìm kiếm tài liệu, giới hạn phạm vi
đề tài, đọc và thu thập thông tin, viết bài và sửa bài
Tránh chọn những đề tài quá phức tạp, đòi hỏi phải tham khảo rất nhiều tài liệu trong một phạm vi quá rộng
Lựa chọn các vấn đề nghiên cứu cho hợp lí, nên lựa chọn những khía cạnh có thể xử lí ở tầm sâu, thay vì đề cập đến quá nhiều vấn đề một cách nông cạn
Tốt nhất là nên lập ra một lịch trình nghiên cứu với các giai đoạn cụ thể, dĩ nhiên là để định hướng tốt quá trình nghiên cứu chứ không phải để răm rắp tuân theo một cách bất di bất dịch
Có nhiều cách để tìm kiếm và củng cố lựa chọn chủ đề nghiên cứu Thông thường, các tài liệu mang tính thời sự là nguồn thông tin tốt để định hướng Tuy nhiên, những dạng tài liệu khác có thể giúp định vị tốt về mặt chuyên môn là:
các bài viết trong các bộ bách khoa toàn thư có uy tín;
các bài tóm tắt những chủ đề đang được quan tâm trên các tạp chí chuyên ngành;
các từ điển giải thích chuyên môn;
các danh mục đề tài của các đơn vị nghiên cứu;
danh sách các đề tài nghiên cứu của người hướng dẫn khoa học;
v.v
Bài học tự kiểm tra
Giới hạn chủ đề
Sau khi lựa chọn được chủ đề xuất phát, cần thực hiện bước tiếp theo là giới hạn phạm vi
và xác định cụ thể chủ đề cần nghiên cứu Ban đầu có thể dựa vào trực giác, nhưng sau
Trang 8đó cần định hình các ý tưởng và biến các ý tưởng đó trở thành hiện thực, khả thi.
Có những bước quan trọng cần trải qua để giới hạn phạm vi của đề tài nghiên cứu
Nắm bắt mọi biên độ và tính phức tạp của vấn đề: tham khảo các nguồn tài liệu giúp hiểu vấn đề một cách cơ bản, tổng quát (bách khoa thư, sách và sổ tay chuyên ngành, các tạp chí khoa học, v.v.)
Kiểm tra toàn bộ các mặt của vấn đề: đặt ra những câu hỏi liên quan đến các yêu cầu quản lí, chuyên môn cũng như động cơ, hứng thú và lợi ích cá nhân và trả lời các câu hỏi đó
AI? - Có những ai, thuộc lĩnh vực nào liên quan đến chủ đề.
CÁI GÌ? - Sự vật, sự việc, hiện tượng nào được nghiên cứu; các thành phần của đối
tượng được nghiên cứu
KHI NÀO? - Vấn đề nghiên cứu xảy ra khi nào, bối cảnh thời gian của chủ đề đó, có mức
giới hạn thời gian nào hay không
Ở ĐÂU? - Giới hạn địa lí (quốc gia, vùng miền, ) của vấn đề.
THẾ NÀO? - Góc độ tiếp cận, quan điểm xử lí vấn đề mang tính thực nghiệm hay lí
thuyết
TẠI SAO? - Ý nghĩa và tầm quan trọng của chủ đề được nghiên cứu, những vấn đề liên
quan hay nảy sinh từ đó, vì sao cần ưu tiên nghiên cứu
Phát biểu chủ đề một cách ngắn ngọn: phát biểu chủ đề nghiên cứu càng cô đọng và chính xác càng tốt, bằng một câu hay chỉ vài dòng ngắn
Sử dụng các từ có ý nghĩa chính xác
Có thể đặt dưới dạng một câu hỏi
Tránh lạm dụng các từ ngữ: có độ bất định thông tin cao; màu mè, bóng bẩy; thể hiện chính kiến, quan điểm
Lựa chọn chủ đề nghiên cứu (Xem ở Phần 1)
Khi chủ đề quá rộng hay quá giới hạn: hoàn toàn có thể thu hẹp hay mở rộng các vấn đề cần nghiên cứu vì những lí do thời gian, tính chất đề tài, nguồn tài liệu hạn chế,
Giới hạn: thời gian cho phép càng ngắn và cấp độ đề tài càng thấp thì chủ đề nghiên cứu càng có thể giới hạn trong: một địa điểm cụ thể, một giai đoạn nhất định, một khía cạnh riêng biệt, những vấn đề liên quan đặc thù,
Mở rộng: một đề tài quá giới hạn sẽ gặp nhiều khó khăn khi xử lí và tham khảo tài liệu,
do đó sẽ khó lập ra các giả thuyết để nghiên cứu Lúc đó, nên mở rộng phạm vi nghiên cứu theo hướng ngược lại, cũng xét ở các khía cạnh thời gian, địa điểm, các khía cạnh và vấn đề liên quan,
Mẫu 1: Lựa chọn và giới hạn chủ đề nghiên cứu
Định rõ mục tiêu
Khi đã có một chủ đề xác định, diễn đạt ngắn gọn, nhà nghiên cứu cần đặt thêm những câu hỏi và trả lời nhằm làm rõ các mục tiêu nghiên cứu, và định hướng tốt hơn trong quá
Trang 9trình nghiên cứu về sau, như lựa chọn phương pháp, các nguồn tài liệu, v.v.
Các câu hỏi có thể đặt ra về mục tiêu nghiên cứu là:
Đề nghị một giải pháp cho một vấn đề gặp phải?
Xác nhận hay bác bỏ một giả thuyết?
Gợi ý một ứng dụng công nghệ mới?
Phân tích các kết quả thí nghiệm và quan sát thực địa để so sánh với một lí thuyết đã kiểm chứng?
Giải quyết một vấn đề kĩ thuật?
Có hai bước lựa chọn:
lựa chọn loại tài liệu cần tham khảo;
lựa chọn loại công cụ giúp tìm kiếm các tài liệu tham khảo phù hợp
Tương ứng với các loại tài liệu khác nhau sẽ có những nguồn cung cấp khác nhau Và sự lựa chọn nguồn tài nguyên và công cụ tìm kiếm tuỳ thuộc vào chủ đề cần tìm kiếm cũng như quan điểm tiếp cận
Để hiểu rõ đặc điểm các nguồn tài liệu, cần hiểu rõ chu trình xuất bản thông tin khoa học
kĩ thuật, được biểu diễn theo sơ đồ dưới đây
Trang 10Loại tài liệu
Ý tưởng nghiên cứu
Đặc điểm
Ý tưởng nảy sinh trong đầu một nhà nghiên cứu hay một nhóm nghiên cứu
Đặt vấn đề nghiên cứu, lập giả thuyết, đánh giá hiện trạng
Phát triển ý tưởng qua thời gian dài nghiên cứu
Loại tài liệu
Thông báo cá nhân
Trang 11Loại tài liệu
Báo cáo hội nghị (không xuất bản)
Đặc điểm
Giới thiệu các kết quả nghiên cứu và kết luận ban đầu trong các hội thảo, hội nghị mà ban tổ chức không tập hợp các bài báo cáo lại để in và công bố chính thức
Loại tài liệu
Báo cáo nghiên cứu
Loại tài liệu
Cơ sở dữ liệu và chỉ mục khoa học
Đặc điểm
Có nhiều cơ sở dữ liệu, như Current Content, chuyên tập hợp các bài báo đăng trên tạp chí chuyên ngành, dưới dạng tóm tắt hoặc đôi khi toàn văn, phát hành thành các phiên bản CD-ROM, truy cập trực tuyến hoặc chỉ mục in
Loại tài liệu
Sách chuyên ngành
Đặc điểm
Các kết quả nghiên cứu được thừa nhận sau một thời gian đủ dài (khoảng từ 3 năm trở lên) thường được các chuyên gia tập hợp lại, hệ thống hoá thành tri thức khoa học và viết thành sách hoặc chuyên khảo (monograph/monographie)
Loại tài liệu
Trang 12khảo về những chủ đề chuyên biệt trong từng chuyên ngành.
Các bách khoa thư là những ấn bản tham khảo tổng quát, phản ánh một cách tương đối hoàn chỉnh và có hệ thống các tri thức khoa học đã được thừa nhận Có các bách khoa thư phổ thông và bách khoa thư chuyên ngành, với độ sâu tri thức chuyên ngành khác nhau
Trong hệ thống các loại tài liệu khoa học cơ bản nói trên, những yếu tố cơ bản nhất quyết định giá trị khoa học của một tài liệu là:
tính chính xác và khách quan khoa học của tài liệu;
quy trình công bố thông tin được tổ chức với sự phản biện khoa học chặt chẽ;
uy tín, kinh nghiệm xuất bản khoa học của đơn vị phát hành tài liệu;
uy tín, kinh nghiệm khoa học của tác giả
Cho dù tính chất đề tài nghiên cứu là gì, việc cần thiết là phải tìm kiếm tài liệu tham khảo
Với ý tưởng ban đầu đã có, có thể tham khảo các từ điển giải thích chuyên ngành và các bách khoa thư để có cái nhìn chung cơ bản về vấn đề cần nghiên cứu
Sau đó, có thể tìm các sách chuyên khảo, thông qua các thư mục thư viện, và các bài báo chuyên ngành được giới thiệu trong các cơ sở dữ liệu tóm tắt, để nắm bắt mọi biên độ của vấn đề cần tìm hiểu
Trong một số trường hợp, có thể cần tham khảo thêm một số loại tài liệu đặc thù như: các văn bản nhà nước, các tài liệu nghe nhìn, các bản đồ, hình ảnh, v.v., nhằm hoàn chỉnh một sơ đồ tổng quát của chủ đề đang quan tâm, từ đó sẽ xác định giới hạn phạm vi cần tập trung nghiên cứu một cách dễ dàng hơn
Mẫu 2: Lựa chọn nguồn tài liệu
Bài tập tự kiểm tra
Trang 13Phần 2 Phương pháp tìm kiếm tài liệu tham khảo khoa học (tt)
Phần 2 Phương pháp tìm kiếm tài liệu tham
khảo khoa học (tt)
Lựa chọn nguồn tài nguyên và công cụ tìm kiếm
Đặc điểm các nguồn tài nguyên
Có nhiều cách phân loại các nguồn tài nguyên thông tin khoa học và kĩ thuật
Theo phương tiện phát hành: tài liệu in trên giấy (sách, báo); tài liệu trên băng đĩa
từ (băng cassette, video); tài liệu trên đĩa quang (CD-ROM, DVD); tài liệu chỉ phát hành trên Internet; v.v
Theo phương thức phân phối: ấn bản thương mại (sách, báo, tài liệu bán trên thị trường); ấn bản phi thương mại (khoá luận, luận văn, luận án, báo cáo kĩ thuật, gọi chung là "văn liệu xám")
Theo độ sâu chuyên môn: tài liệu khoa học phổ thông; tài liệu khoa học kĩ thuật chuyên ngành
Theo phương thức soạn thảo:
Tài liệu nguyên cấp (primary document/document primaire): cung cấp thông tin gốc, trực tiếp, nghĩa là người đọc tiếp nhận thông tin đúng ở trạng thái mà tác giả đã viết Các tài liệu dạng này là: sách, bài báo chuyên ngành, luận án, báo cáo, từ điển, bách khoa thư, băng đĩa khoa học, v.v
Tài liệu thứ cấp (secondary document/document secondaire): cung cấp các thông tin nhận diện, định vị hoặc phân tích tài liệu nguyên cấp Các thông tin dạng này
thường gặp ở các thư mục thư viện, các cơ sở dữ liệu tóm tắt, các chỉ mục khoa học, v.v
Tài liệu tam cấp (tertiary document/document tertiaire): mô tả và đánh giá tổng hợp thông tin từ các nguồn thứ cấp và nguyên cấp Tài liệu dạng này giống tài liệu thứ cấp ở chỗ cung cấp thông tin nhận diện, định vị tài liệu nguyên cấp, nhưng khác ở chỗ có tổng hợp, phân tích và sắp xếp lại thông tin gốc Tài liệu tam cấp thường gặp là: bài viết niên giám chuyên ngành (annual review/revue de la littérature annuelle); bài tổng hợp tài liệu (literature review/revue de la littérature); v.v
Trang 14Hiểu rõ đặc điểm các nguồn tài nguyên này có thể giúp lựa chọn tốt công cụ tìm kiếm phù hợp với loại tài liệu cần tham khảo.
Các thư mục thư viện: giúp tìm kiếm được các tài liệu nguyên cấp được lưu trữ trong thư viện như sách, tạp chí (theo tựa báo), tài liệu nghe nhìn, các văn bản nhà nước, các luận văn, luận án, v.v Nhiều thư viện lớn hiện nay đã tin học hoá thư mục để có thể tra cứu trực tuyến, với nhiều chức năng tìm kiếm theo tên tác giả, tựa tài liệu, từ khoá, chủ đề, v.v
Các cơ sở dữ liệu tóm tắt: sắp xếp thông tin theo một cấu trúc, trật tự rõ ràng, giúp tìm kiếm dễ dàng các tài liệu nguyên cấp (phổ biến nhất là các bài báo đăng trên các tạp chí chuyên ngành) theo nhiều tiêu chí khác nhau: tác giả, tựa tài liệu, chủ đề, từ khoá, năm xuất bản, v.v Trước đây thường được phát hành dưới dạng bản in hoặc đĩa CD-ROM, nhưng hiện nay đa số các cơ sở dữ liệu này đều có phiên bản trực tuyến Thường chỉ tìm thấy bài tóm tắt, nhưng có thể có một số bài toàn văn
Các danh bạ mạng và bộ máy tìm kiếm trên Internet: cho phép tìm kiếm gần như đủ loại tài liệu được đăng trên hệ thống Mạng toàn cầu (World Wide Web), kể cả các nguồn tài liệu nguyên cấp hay thứ cấp Tuy nhiên, tính phù hợp và độ tin cậy của thông tin tìm được bằng các công cụ này không phải lúc nào cũng tốt, thường đòi hỏi người tìm kiếm phải biết đánh giá nghiêm túc các kết quả tìm thấy và chọn lọc những tài liệu có giá trị
Bài tập tự kiểm tra
Các nguồn tài nguyên truyền thống
Thông thường, địa điểm đầu tiên cần nghĩ đến khi tìm kiếm tài liệu tham khảo khoa học, đó là các thư viện và trung tâm tài liệu
Thư viện
Có thể hiện nay các thư viện Việt Nam (thư viện quốc gia, thư viện chuyên ngành
Trang 15khoa học, thư viện đại học, ) chưa có đủ một lượng tài liệu mới dồi dào, phong phú, đáp ứng nhu cầu của đông đảo các nhà nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực, nhưng điều đó đang thay đổi từng ngày một Đồng thời, không thể bỏ qua lượng tài liệu tuy cũ nhưng có tính chất kinh điển, căn bản, đã được chọn lọc và tích luỹ trong thời gian dài Và vẫn có một xác suất không nhỏ có thể tìm thấy những tài liệu thực
sự quan trọng cho một đề tài nghiên cứu
Các loại tài liệu lưu trữ ở thư viện bao gồm sách, tạp chí, tài liệu nghe nhìn, các văn bản nhà nước, các luận văn, luận án, v.v., được sắp xếp và phân loại một cách khoa học, trật tự
Để phục vụ tra cứu, các thư viện thường lập các phiếu thư mục mô tả vắn tắt về tài liệu được lưu trữ (phổ biến nhất là sách), theo một hệ thống được quy định riêng Qua các phiếu thư mục, có thể tìm thấy tên tác giả, tựa tài liệu, thông tin ấn loát (năm xuất bản, phương tiện phát hành, số trang hoặc dung lượng, v.v.) Các phiếu thư mục có thể được sắp xếp theo chủ đề, theo tên tác giả hoặc theo tựa tài liệu, tuỳ theo cách tổ chức của thư viện
Với sự phát triển của công nghệ thông tin và Internet hiện nay, việc tin học hoá hệ thống thư mục của các thư viện là xu thế tất yếu Nhiều thư viện lớn hiện nay đã tin học hoá thư mục để có thể tra cứu trực tuyến, với nhiều chức năng tìm kiếm theo tên tác giả, tựa tài liệu, từ khoá, chủ đề, v.v
Thư viện Quốc gia Việt Nam: http://www.nlv.gov.vn/
Thư viện Quốc hội Hoa Kì: http://catalog.loc.gov/
Thư viện Anh quốc: http://www.bl.uk/
Thư viện Quốc gia Pháp: http://www.bnf.fr/
Chất lượng tài liệu được kiểm chứng
Thông thường, bộ phận nhập tài liệu của thư viện đều có sự kiểm tra, lựa chọn để đảm bảo giá trị, tính phù hợp và lợi ích của tài liệu được nhập vào
Trang 16Thư viện chỉ có thể giúp người đọc tiếp cận với những tài liệu mà thư viện có lưu trữ.
Không thống kê các bài báo (tạp chí chuyên ngành)
Trong thư mục của thư viện thường chỉ liệt kê đến tựa báo, tựa tạp chí chuyên ngành mà không liệt kê đến từng bài báo như trong các cơ sở dữ liệu tóm tắt
Thông tin chậm cập nhật
Hầu hết các tài liệu liệt kê trong thư mục của thư viện đều đã được xuất bản trước
đó một thời gian, hoặc đề cập đến những sự kiện xảy ra từ khá lâu (thường từ 2-3 năm trở lên) Do đó, thông tin mà các tài liệu này cung cấp có thể không có nhiều tính thời sự
Các trung tâm tài liệu
Bên cạnh hệ thống thư viện được tổ chức quy củ, chặt chẽ, các trung tâm tài liệu (của các đơn vị nghiên cứu, các tổ chức chuyên môn, ) có quy mô nhỏ hơn, nhưng
bù lại, các tài liệu lưu trữ có tính đặc thù chuyên môn cao, nhất là các tài liệu tập trung về một số chủ đề chuyên biệt, là thế mạnh hay mối quan tâm ưu tiên của từng đơn vị
Thông tin về các trung tâm này có thể tìm thấy trong danh bạ các đơn vị chuyên ngành, hoặc đôi khi có thể trên Internet
Bài tập tự kiểm tra
Các cơ sở dữ liệu
Các cơ sở dữ liệu thông tin khoa học kĩ thuật thường được các công ti, tổ chức lớn xây dựng, bằng cách tập hợp thông tin tóm tắt từ rất nhiều các tạp chí chuyên ngành khác nhau, sắp xếp và tổ chức sao cho việc tìm kiếm thông tin (chủ yếu là các bài báo đăng trên các tạp chí chuyên ngành) được dễ dàng hơn
Thông tin về các tài liệu thường được cung cấp ở dạng tóm tắt, với tên tác giả, tựa bài, tựa tạp chí, thông tin ấn loát (năm, tập, số, trang), có hoặc không có bài giới thiệu tóm tắt nội dung (abstract/résumé) chính
Mỗi cơ sở dữ liệu có cách tra cứu khác nhau, nhưng thông thường đều cung cấp
Trang 17nhiều khả năng kết hợp các công thức tìm kiếm khác nhau, từ đơn giản đến nâng cao Phần lớn đều cho phép mở tài khoản tra cứu miễn phí nhằm lưu trữ các kết quả
đã tìm kiếm, lịch sử các phiên làm việc, gửi kết quả hoặc thông báo, theo dõi tin tức qua thư điện tử, v.v
Có nhiều kiểu cơ sở dữ liệu: tra cứu tóm tắt hoàn toàn miễn phí, không có toàn văn; tra cứu tóm tắt miễn phí, truy cập toàn văn thu phí; cả tra cứu và truy cập đều thu phí; tra cứu tóm tắt miễn phí và truy cập một số tài liệu miễn phí; v.v
Ưu điểm và nhược điểm của các cơ sở dữ liệu được tóm tắt trong bảng dưới đây:
Ưu điểm
Bổ khuyết cho các thư mục thư viện
Giúp tìm kiếm các tài liệu mà thư mục thư viện không thống kê, chủ yếu là các bài báo chuyên ngành
Thông tin cập nhật
Giúp tìm được những thông tin mới mẻ, cập nhật, có tính thời sự
Thống kê chi tiết các bài báo đăng trên các tạp chí chuyên ngành
Đây là công cụ chính nên dùng để tìm các bài báo chuyên ngành
Cung cấp các thông tin tham khảo chính xác
Nhờ các tính năng kết hợp các công thức tìm kiếm khác nhau, thông tin tìm thấy qua các cơ sở dữ liệu sẽ có tính chính xác cao độ
Nhược điểm
Khả năng tiếp cận tài liệu hạn chế
Do thông tin được tập hợp theo chuyên ngành, từ rất nhiều nguồn khác nhau, do đó không phải lúc nào cũng có thể tiếp cận được toàn văn tài liệu Rất thông thường, nhất là trên các cơ sở dữ liệu trực tuyến, muốn có toàn văn phải trả phí dịch vụ cho nhà cung cấp
Cách sử dụng phức tạp
Nói chung, do có tính chuyên sâu nên các cơ sở dữ liệu thường đòi hỏi người sử dụng có những kĩ năng đôi khi khá phức tạp, cần mất nhiều thời gian để làm quen
và làm chủ được thao tác
Giới thiệu một số cơ sở dữ liệu lớn
Current Content: là cơ sở dữ liệu tóm tắt nổi tiếng nhất, do ISI (Institute for
Scientific Information) phát triển, bao gồm thông tin tóm tắt các bài báo của trên 14.000 tạp chí chuyên ngành thuộc đủ mọi lĩnh vực Các nguồn tra cứu miễn phí truy cập tại mục Free Resources, trong đó có:
Master Journal List: danh sách các tạp chí chuyên ngành có uy tín, thuộc hầu hết các chuyên ngành khoa học và kĩ thuật, do ISI bình chọn với các tiêu chí rất nghiêm ngặt;
Current Patents Gazette: thông tin phát minh sáng chế hàng tuần trên khắp thế giới;Index to Organism Names: chỉ mục tên khoa học các loài sinh vật;
ISI Highly Cited.com: cơ sở dữ liệu các chuyên gia và đơn vị nghiên cứu có uy tín khoa học trên khắp thế giới;
In-cites: thông tin xếp hạng khoa học của các quốc gia, trường đại học, tạp chí, nhà
Trang 18nghiên cứu, bài báo, v.v.;
Expert Essays: các cơ sở dữ liệu và thông tin chuyên sâu về các trích dẫn khoa học;v.v
Applied Science & Technology Abstracts: tóm tắt (từ 1993) và chỉ mục (từ 1983) của trên 1,3 triệu bài báo của 485 tạp chí chuyên ngành thuộc các lĩnh vực khoa học ứng dụng và công nghệ Phải đăng kí thành viên mới tra cứu được
Chemical Abstracts: cơ sở dữ liệu hàng đầu thế giới trong lĩnh vực hoá học, do Hiệp hội Hoá học Hoa Kì (CAS) xây dựng và phát triển Phải sử dụng các phần mềm chuyên dụng do CAS cung cấp mới tra cứu được
Georef: cơ sở dữ liệu khoa học địa lí do Viện Địa lí Hoa Kì (AGI) xây dựng từ năm
1966, giới thiệu gần 3 triệu tài liệu gồm các bài báo, tựa sách, bản đồ, báo cáo hội nghị, báo cáo kĩ thuật, luận án, và hàng năm cập nhật hơn 90.000 tài liệu mới Tuy nhiên phải đăng kí và trả tiền mới tra cứu được
ACM: cơ sở dữ liệu tóm tắt và toàn văn về khoa học máy tính, do Hiệp hội Máy tính Hoa Kì (Association for Computing Machinery) phát triển Tìm kiếm đơn giản miễn phí, phải đăng kí mới dùng được các chức năng tìm kiếm nâng cao và truy cập toàn văn
PubMed: cơ sở dữ liệu khổng lồ về các bài báo chuyên ngành y học, hoá sinh và sinh học phân tử, do Thư viện Y học Quốc gia Hoa Kì (NLM) xây dựng và phát triển Thông tin tóm tắt có hệ thống, có thông tin thống kê trích dẫn, có liên kết đến các nguồn cung cấp toàn văn (miễn phí hoặc thu phí) cho các bài báo
Articles@INIST: cơ sở dữ liệu các tài liệu chuyên ngành do Viện Thông tin Khoa học và Kĩ thuật Quốc gia Pháp (INIST) phát triển
Các tài liệu được đưa vào cơ sở dữ liệu này phải trải qua một quá trình đánh giá nghiêm ngặt của một hội đồng chuyên môn, nên giá trị khoa học rất cao
Hiện nay đã có gần 2 triệu (từ 1990) tài liệu được lưu trữ, và hàng ngày cập nhật hàng ngàn tài liệu mới
Tra cứu tóm tắt miễn phí bằng hai giao diện tiếng Pháp và tiếng Anh
Có thể sử dụng từ khoá bằng nhiều thứ tiếng khác nhau
Truy cập toàn văn có thu phí
Nhà nghiên cứu ở các nước phương Nam (đang phát triển) được Tổ chức Đại học Pháp ngữ (AUF) hỗ trợ phần lớn kinh phí (65-85 %) để mua các tài liệu này Ở Việt Nam có ba trung tâm hỗ trợ đặt tại Hà Nội, Đà Nẵng và TP HCM
Mục đích của danh bạ mạng
Trang 19Các danh bạ mạng phân loại và sắp xếp các website theo các chủ đề lớn-nhỏ, phụ, giúp người dùng mạng dễ tìm kiếm hơn: ngay từ trang tiếp đón, người duyệt mạng tìm thấy một danh sách các mục và phụ mục sắp xếp theo chuyên đề, và chỉ cần nhấp chuột lên một chuyên đề rồi đi tiếp theo các chuyên đề phụ, để cuối cùng tìm thấy một danh sách các điểm mạng phù hợp với nhu cầu tìm kiếm.
chính-Nguyên tắc hoạt động
Một websitecó thể được giới thiệu miễn phí trong một danh bạ mạng, nhưng cũng
có thể phải trả phí, tuỳ theo tiêu chí hoạt động của mỗi danh bạ mạng (vô vụ lợi hay mục đích thương mại, quảng cáo) Điều cốt lõi nhất là: các danh bạ mạng được xây dựng dựa trên công việc biên tập của một hệ thống biên tập viên, tức có sự chọn lọc
và đánh giá của con người
Tuyển chọn: căn cứ tiêu chí hoạt động của danh bạ mạng, biên tập viên sẽ kiểm tra
xem website cần giới thiệu có hoạt động hay không, có đáp ứng các yêu cầu về ngôn ngữ, về sự tôn trọng pháp luật và về tính mới mẻ, độc đáo trong nội dung hay không
Lập chỉ mục: khi website đã được tuyển chọn, ban biên tập sẽ đưa vào chỉ mục ở vị
trí phù hợp, và thường xuyên sắp xếp, tái cấu trúc các chuyên mục sao cho hợp lí
Mô tả: các biên tập viên sẽ soạn một nội dung tóm tắt cho mỗi website, thường có
các phần: tên website, mô tả nội dung (có thể là một bài viết tóm tắt thực sự hoặc chỉ là trích lại vài dòng thông tin của website), và tên chuyên mục mà website được xếp vào Một số danh bạ có thể giới thiệu thêm một hay vài thông tin khác như: địa chỉ mạng, từ khoá, tác giả website, khả năng tìm kiếm thông tin,
Phương thức tìm kiếm
Có hai cách tìm kiếm thông tin trong các danh bạ mạng:
Tìm theo mục và phụ mục: đây là cách tìm kiếm đơn giản nhất dành cho người dùng mạng
Chỉ cần nhấp chuột lên một mục mong muốn, sau đó đến một phụ mục, rồi một phụ mục con nữa, cho đến khi nào tìm thấy được website phù hợp với nhu cầu tìm kiếm
Các chủ đề được sắp xếp từ rộng nhất, rồi thu hẹp dần đến những chủ đề xác định nhất, qua nhiều cấp bậc liên tục Số cấp bậc đề mục thay đổi tuỳ dung lượng và phạm vi nội dung mà danh bạ mạng giới thiệu
Tìm theo từ: cách này đòi hỏi người dùng mạng phải có những hiểu biết nhất định
Trang 20các website phù hợp với chủ đề mà danh bạ đã sưu tập được.
Ưu điểm và nhược điểm của các danh bạ mạng
Có thể rút ra những đặc điểm chính của các danh bạ mạng như sau:
là công cụ "con người": kết quả tìm kiếm, đánh giá và chọn lọc của con người
(thường là các chuyên gia trong từng lĩnh vực);
sắp xếp "thủ công": cấu trúc các chuyên mục do con người xây dựng theo một quan
điểm nhất định;
chỉ giới thiệu tiêu đề: nội dung được giới thiệu là tên tài liệu/website, và mô tả tóm
tắt, nhưng không lưu toàn văn tài liệu hay toàn bộ nội dung website;
danh mục không hoàn chỉnh, không cập nhật: danh sách được giới thiệu trong mỗi
chuyên mục không phải là đầy đủ và hoàn chỉnh mà có tính chọn lọc tuỳ theo tiêu chí của danh bạ và khả năng nắm bắt thông tin của người biên tập, đồng thời thời gian cập nhật rất chậm;
tìm kiếm trên từ khoá chuyên đề: các từ khoá được sử dụng trong tên của các
chuyên mục, tuy phụ thuộc vào quan điểm trình bày và sắp xếp của mỗi danh bạ, nhưng vẫn có độ tương đồng cao trong nhiều lĩnh vực
Từ đó, có thể tạm đánh giá một số ưu điểm và nhược điểm của các danh bạ mạng:
Ưu điểm
Dễ tìm thấy các chủ đề tổng quát
Khi biết trước cấu trúc các chuyên đề chính-phụ trong lĩnh vực cần tìm tài liệu, sử dụng các danh bạ mạng sẽ nhanh chóng tìm được những chủ đề có tính chất tổng quát
Nguồn tài nguyên có chất lượng chọn lọc cao
Thông thường các nguồn tài nguyên giới thiệu trong danh bạ mạng có chất lượng khá cao, kết quả của quá trình chọn lọc, đánh giá nghiêm túc của các biên tập viên chuyên nghiệp
Nhược điểm
Nguồn tài nguyên được giới thiệu có giới hạn
Các danh bạ mạng chỉ sưu tập được một phần rất nhỏ các tài nguyên hiện hữu trên Mạng
Khó tìm thấy các chủ đề chuyên biệt
Những chủ đề quá chuyên biệt, có tính đặc thù cao trong một số lĩnh vực rất có thể không hoặc chưa có mặt trong các chuyên mục của các danh bạ mạng
Chậm cập nhật
Vì là công việc "thủ công", việc cập nhật các danh bạ mạng diễn ra tương đối hoặc rất chậm
Tìm kiếm theo từ khoá kém hiệu quả
Tìm kiếm theo từ khoá trong các danh bạ mạng thường ít khi mang lại ngay kết quả phù hợp như mong muốn
Giới thiệu một số danh bạ mạng
Trang 21WWW Virtual Library: đây là danh bạ mạng đầu tiên, do Tim Berners-Lee, người phát minh ra World Wide Web, sáng lập tại Trung tâm Nghiên cứu Hạt nhân Châu
Âu (CERN), Geneva, Thuỵ Sĩ
Mục tiêu hoàn toàn vô vụ lợi, được điều hành bởi một hội đồng được bầu chọn công khai
Biên tập viên là chuyên gia trong mỗi lĩnh vực
Cấu trúc chặt chẽ và gọn gàng, không quá 3 cấp chuyên mục
Tính chọn lọc rất cao, thường là các website giới thiệu các nguồn tài nguyên trên Internet trong từng lĩnh vực
Giao diện bằng 4 thứ tiếng: Anh, Tây Ban Nha, Pháp, Hoa
Bubl Link: danh bạ mạng do Thư viện Andersonian (Đại học Strathclyde, Scotland) xây dựng
Giới thiệu hơn 12.000 website và cơ sở dữ liệu trên Mạng, được một ban biên tập của thư viện chọn lọc, lưu chỉ mục, mô tả tóm tắt kĩ lưỡng
Sắp xếp, trình bày rõ ràng theo hệ thống phân loại thập phân Dewey, với các
website thuộc tất cả các chuyên ngành, lĩnh vực mà thư viện phụ trách
Các chức năng tìm kiếm đa dạng, dễ sử dụng
Open Directory: là danh bạ mạng phổ thông lớn nhất còn giữ được hoạt động cho tới hiện nay
Tiêu chí hoàn toàn tự nguyện, vô vụ lợi.
Đã sưu tập được gần 5 triệu website, xếp trong hơn 590.000 chuyên mục thuộc đủ các lĩnh vực, từ giải trí đến khoa học, với trên 75.000 biên tập viên (là chuyên gia trong lĩnh vực họ phụ trách)
Được Google hỗ trợ để cải thiện khả năng tìm kiếm, bổ sung chức năng xếp hạng website, trong Google Directory
Librarians' Internet Index: danh bạ mạng phổ thông, phát triển từ những năm 1990, hiện nay do Học viện Bảo tàng và Dịch vụ Thư viện (California, Hoa Kì) tài trợ, có bản tin hàng tuần gửi qua thư điện tử, thông báo danh sách các website mới được chọn lọc và giới thiệu với những tiêu chí rõ ràng
Internet Public Library: do Đại học Michigan xây dựng và phát triển, giới thiệu các nguồn tài nguyên dạy và học thuộc đủ các lĩnh vực Có các chuyên mục đặc biệt hay như các lịch niên giám (almanac), bách khoa thư, tiểu sử, nguồn tham khảo, v.v
Science.gov: danh bạ các nguồn tài nguyên và kết quả nghiên cứu khoa học, do nhiều cơ quan khoa học Hoa Kì hợp tác xây dựng
Bài tập tự kiểm tra
Các bộ máy tìm kiếm
Các bộ máy tìm kiếm (search engine/moteur de recherche) ra đời từ giữa những năm 1990, với chức năng tìm kiếm khác hẳn các danh bạ mạng: thay vì tìm kiếm các website như danh bạ mạng, các bộ máy tìm kiếm lại sưu tập các trang web, đọc toàn bộ nội dung của từng trang và lưu vào chỉ mục Người dùng mạng chỉ cần gõ
từ khoá cần tìm và bộ máy sẽ tìm trong toàn bộ các nội dung đó
Trang 22Phương thức tìm kiếm
Các bộ máy tìm kiếm tìm kiếm các thông tin trên Mạng bằng cách:
sử dụng một chương trình gọi là robot (hay crawler, spider) tự động lướt khắp hệ thống Mạng toàn cầu thông qua các siêu liên kết (hyperlink/lien hypertexte) có trong mỗi trang web và sao chép toàn bộ nội dung (địa chỉ, tiêu đề, siêu dữ liệu metadata/metadonnée, các đoạn văn bản, v.v.) của những trang web mà nó đọc được;
lập chỉ mục các trang web với tất cả những thông tin mà các robot đã sao chép được sau mỗi vòng hành trình qua khắp hệ thống Mạng;
đưa chỉ mục lên Mạng, cho phép người dùng mạng tra cứu chỉ mục này thông qua một giao diện web, với cách thức trình bày và các chức năng tìm kiếm khác nhau, tuỳ mỗi bộ máy
Nếu tưởng tượng Mạng toàn cầu là một thư viện khổng lồ, với mỗi website là một cuốn sách, mỗi trang web là một trang sách, thì:
các danh bạ mạng giúp tìm đến được từng cuốn sách (với tiêu đề, tác giả, nhà xuất bản, năm xuất bản, );
các bộ máy tìm kiếm giúp tìm được đến từng trang sách, với từng câu, từng chữ, từng dòng thông tin, từng dấu chấm dấu phẩy trong mỗi trang, kể cả trang bìa, cũng như tất cả các yếu tố đi kèm như hình ảnh, tập tin, siêu liên kết,
Với các bộ máy tìm kiếm, có thể:
tìm những thông tin chính xác: như thông tin liên lạc của một cá nhân, tổ chức, hoặc chi tiết liên quan đến một sản phẩm nào đó;
tìm những tài liệu chuyên biệt, đặc thù: như các công ước quốc tế, các văn bản nhà nước;
tìm những website mới xuất hiện trên Mạng: với vòng quay tương đối nhanh, các robot có thể tiếp cận các trang web mới hoặc quay lại cập nhật các trang web đã lưu chỉ mục trong vòng vài tuần lễ;
kết hợp các công thức tìm kiếm đa dạng, với các từ khoá, thuật ngữ, thuật toán khác nhau theo khả năng đáp ứng và công nghệ phát triển của từng bộ máy
Tuy nhiên, có một điểm cần lưu ý khi sử dụng các bộ máy tìm kiếm, đó là các trang được đưa ra trong kết quả tìm kiếm không phải là trang hiện hữu trên Mạng, mà là trang được lưu trong chỉ mục của bộ máy tìm kiếm
Chỉ khi nhấn vào siêu liên kết thì mới truy cập vào đúng trang hiện hữu
Khi nội dung trang được mở ra không hoàn toàn giống với trang giới thiệu trong kết quả, điều đó có nghĩa là nội dung trang này đã được sửa mà robot của bộ máy tìm kiếm chưa kịp quay lại để cập nhật
Khi mở trang được giới thiệu trong kết quả tìm kiếm mà xuất hiện lỗi "Error 404
Trang 23Page not found", điều đó có nghĩa là trang này đã bị xoá, không còn tồn tại trên Mạng, mà bộ máy tìm kiếm chưa kịp cập nhật hoặc xoá bỏ khỏi chỉ mục.
Các vấn đề kĩ thuật
Có một số bộ máy tìm kiếm phát triển thuật toán tra cứu theo một công nghệ đặc biệt: thay vì tìm kiếm theo từ chính xác trong toàn bộ chỉ mục, người dùng chỉ cần đặt một câu hỏi như trong ngôn ngữ tự nhiên, bộ máy sẽ phân tích nội dung câu hỏi
để tìm các thông tin trả lời (vẫn trong các trang đã lưu chỉ mục) và đưa ra kết quả
Mặc dù có phạm vi bao phủ rất rộng, nhưng các bộ máy tìm kiếm cũng chỉ thu thập
và lưu chỉ mục được một phần rất nhỏ của toàn bộ thông tin hiện hữu trên Mạng toàn cầu, đặc biệt là hoạt động kém hiệu quả với các trang thuộc "mạng ẩn"
Khái niệm "mạng ẩn" (web invisible) hay "mạng tầng sâu" (deep web/web
profonde) dùng để chỉ những website sử dụng kĩ thuật tạo các trang động (dynamic page/page dynamique), và chỉ truy xuất được thông tin khi gửi yêu cầu thông qua một biểu mẫu (form/formulaire) truy cập cơ sở dữ liệu
Mạng ẩn hay mạng tầng sâu bao gồm các cơ sở dữ liệu (các bộ máy tìm kiếm không thể tự điền thông tin vào biểu mẫu để truy xuất thông tin), các website đòi hỏi có tài khoản sử dụng và đăng nhập trước khi truy xuất thông tin, các website mà người quản trị ngăn chặn việc truy cập của các robot,
Dung lượng của mạng ẩn hay mạng tầng sâu được đánh giá là lớn gấp hàng trăm lần dung lượng phần Mạng được các bộ máy tìm kiếm lưu chỉ mục (nhiều người gọi là
"mạng rõ" - visible web/web visible hay "mạng tầng mặt" - surface web/web
surfacique)
Ưu điểm và nhược điểm của các bộ máy tìm kiếm
Có thể rút ra những đặc điểm chính của các bộ máy tìm kiếm như sau:
là công cụ tự động: kết quả tìm kiếm của các robot tự động lướt khắp Mạng toàn cầu thông qua các siêu liên kết;
sắp xếp tự động: toàn bộ thông tin sao chép được của các robot được tự động lưu vào chỉ mục, với các trường thông tin đã lập trình sẵn;
giới thiệu từng trang: tìm kiếm trong toàn bộ nội dung các trang web đã lưu chỉ mục;
danh mục không hoàn chỉnh, không cập nhật: danh sách các website và trang web được lưu chỉ mục chỉ chiếm một phần rất nhỏ dung lượng Mạng toàn cầu, và thời gian cập nhật còn chậm (nhất là với các trang có ít siêu liên kết hướng vào);
tìm kiếm trên từ chính xác: các kết quả được đưa ra có chính xác các từ được sử dụng trong công thức tìm kiếm
Từ đó, tạm thời rút ra các nhận xét về ưu nhược điểm của các bộ máy tìm kiếm:
Ưu điểm
Rất nhiều thông tin
Trang 24Các bộ máy tìm kiếm có khả năng cung cấp một lượng thông tin rất khổng lồ.
Cho phép kết hợp nhiều công thức tìm kiếm
Hầu hết các bộ máy tìm kiếm đều cung cấp nhiều khả năng tìm kiếm và phối hợp các công thức tìm kiếm khác nhau
Nhược điểm
Kiểm soát thông tin ít nhiều kém hiệu quả
Lượng dữ liệu khổng lồ lưu trữ trong chỉ mục dẫn đến sự hạn chế trong kiểm soát thông tin Có rất nhiều địa chỉ cung cấp trong kết quả tìm kiếm không còn hoạt động
Kĩ thuật tra cứu phức tạp
Giao diện và kĩ thuật tra cứu thay đổi tuỳ theo bộ máy tìm kiếm, dù vẫn có một số điểm tương đồng Người mới làm quen với máy tính hay Internet cần không ít thời gian để có thể làm chủ được thao tác
Kết quả đôi khi không liên quan hoặc thường bị "nhiễu"
Do toàn bộ quá trình sưu tập thông tin và lập chỉ mục đều tự động, và việc tìm kiếm được thực hiện trên toàn bộ thông tin của từng trang, có không ít kết quả không liên quan đến chủ đề tìm kiếm vẫn được đưa vào
Bài tập tự kiểm tra
Giới thiệu một số bộ máy tìm kiếm
Ask Jeeves: cơ chế tìm kiếm theo ngôn ngữ tự nhiên, có thể cho phép lưu trữ đến
1000 kết quả tìm kiếm, sắp xếp và ghi chú trong hồ sơ cá nhân Có nhiều kiểu giao diện khác nhau cho người dùng lựa chọn, và các phiên bản tiếng Nhật, Tây Ban Nha, Đức, Pháp, Hà Lan, Ý
Brainboost: tìm kiếm theo ngôn ngữ tự nhiên, kết quả được trích từ các trang web
có chứa thông tin trả lời cho câu hỏi được đặt ra
Exalead: hai giao diện Exalead tiếng Pháp và Exalead tiếng Anh Có nhiều chức
năng tìm kiếm nâng cao giúp giới hạn phạm vi tìm kiếm Kết quả được giới thiệu kèm với hình ảnh thu nhỏ của trang web và những gợi ý giúp tìm kiếm kĩ hơn bằng các thuật ngữ, khái niệm lân cận và chủ đề liên quan
Factbites: cung cấp thông tin bách khoa, với những trích đoạn hoàn chỉnh và có
nghĩa về vấn đề đang tìm kiếm, thu thập được từ các trang web khác nhau, gợi ý các chủ đề lân cận, có liên quan cũng như danh sách các chủ đề được tìm kiếm nhiều nhất Giao diện duy nhất bằng tiếng Anh
Google: bộ máy tìm kiếm được sử dụng nhiều nhất hiện nay, sưu tập được một
lượng thông tin vô cùng lớn trên Mạng, bằng hầu như tất cả các thứ ngôn ngữ có tồn tại trên Internet Có nhiều tính năng tìm kiếm nâng cao khác nhau, giúp dễ dàng giới hạn phạm vi tìm kiếm Có giao diện bằng nhiều thứ tiếng, kể cả tiếng Việt Tiêu chí xếp hạng PageRank do Google định nghĩa dựa vào cách tính toán số siêu
Trang 25liên kết hướng vào (tăng điểm) và hướng ra (giảm điểm) của một website Do đó, PageRank cao chỉ đồng nghĩa với mức độ phổ biến của một trang web hay website chứ không hoàn toàn đồng nghĩa với chất lượng thông tin của trang web hay
website đó
Kết quả tìm kiếm được trình bày theo kiểu trích đoạn các phần nội dung có chứa chính xác từ cần tìm kiếm, đôi khi toàn bộ các đoạn trích không liên quan gì đến nhau
Kết quả của một lượt tìm kiếm thường quá nhiều, đến mức khó hoặc không thể xử lí nổi
Google Scholar: phiên bản thử nghiệm, giúp tìm kiếm các thông tin thuần tuý khoa
học và học thuật (sách, tạp chí, luận văn, luận án, bài giảng, ), thu thập từ các trường đại học, viện nghiên cứu, phòng thí nghiệm, nhà xuất bản khoa học, các chuyên gia, các tổ chức, v.v
Scirus: tìm kiếm các tài liệu có tính học thuật trong các ngành khoa học (giới thiệu
và/hoặc phổ biến qua Science Direct, PubMed, ArXiv, BioMed Central, v.v.), hiệu quả tốt hơn Google Scholar về nhiều mặt, với nhiều tính năng tìm kiếm nâng cao và giới hạn phạm vi tìm kiếm
Yahoo!: bộ máy tìm kiếm tương tự như Google, cũng khá phổ biến và hiệu quả, có
nhiều chức năng tìm kiếm nâng cao, hạn chế phạm vi tìm kiếm, v.v
Bài tập tự kiểm tra
Các nguồn tài nguyên khác
Ngoài các nguồn tài nguyên đã kể ở trên còn có nhiều nguồn tài nguyên khác từ lớn đến nhỏ, từ đơn giản đến phức tạp, đã, đang và sẽ phát triển từng ngày từng giờ trên Mạng, gần như không thể liệt kê, phân loại một cách đầy đủ và hoàn chỉnh
Đối với việc tìm kiếm tài liệu khoa học kĩ thuật trên Internet, có nhiều nguồn thông tin khác khá chuyên biệt và đặc thù
Các website trường, viện, phòng thí nghiệm
Hiện nay, đa số các trường đại học, viện nghiên cứu và phòng thí nghiệm lớn trên thế giới đều phát triển các ứng dụng web, đưa các nguồn tài nguyên giảng dạy, học thuật và nghiên cứu lên Mạng để cán bộ, giảng viên, sinh viên truy cập nội bộ, hoặc
có nhiều phần được cho phép truy cập tự do
Danh sách các trường đại học được giới thiệu trong Open Directory
Danh sách các trường được ISI xếp hạng khoa học cao năm 2007
Danh sách các viện nghiên cứu khoa học (Open Directory)
Các nguồn thông tin tổng quát về nghiên cứu của Bubl Link
Các tổ chức, hiệp hội khoa học lớn
Có rất nhiều tổ chức, hiệp hội khoa học lớn cung cấp nhiều nguồn tài liệu, thông tin trong lĩnh vực họ phụ trách, vô cùng phong phú, đa dạng và sâu sắc Các tổ chức này thường có các chế độ ưu đãi phí dịch vụ, thậm chí miễn phí, cho thành viên của
Trang 26mình, cho các trường học, sinh viên, và đặc biệt hơn là cho các nước đang phát triển.
Danh sách các viện và hiệp hội khoa học (Open Directory)
Danh sách các quỹ đầu tư và tài trợ nghiên cứu (Open Directory)
Danh sách các hiệp hội khoa học theo từng chuyên ngành (Open Directory)
Các cổng thông tin chuyên đề
Sự phát triển nhanh chóng của Internet đã cho thấy sự "hụt hơi" của các danh bạ mạng phổ thông, trong khi các bộ máy tìm kiếm lại lắm khi đưa người dùng vào một "mê hồn trận" thông tin Điều đó dẫn đến một hướng phát triển mới của các công cụ tìm kiếm thông tin, đó là các cổng thông tin chuyên đề (portal/portail
thématique)
Thay vì bao quát tất cả các lĩnh vực, mỗi cổng thông tin chuyên đề chỉ tập trung khai thác, giới thiệu các nguồn tài nguyên chuyên biệt trong một hoặc vài lĩnh vực nào đó Tuỳ mỗi cổng thông tin chuyên đề, có thể có sự tích hợp nhiều loại công cụ tìm kiếm và trình bày thông tin khác nhau: danh bạ, chỉ mục, bộ máy tìm kiếm, tin tức, các chuyên mục chủ đề, v.v
Các thư viện của các trường đại học lớn cũng là một dạng cổng thông tin chuyên đề, với thế mạng chuyên về các nguồn thông tin khoa học và học thuật dành cho giảng viên và sinh viên
LibWeb: danh sách các thư viện trên thế giới có cổng thông tin trên Mạng.
Intute: cổng thông tin về khoa học xã hội, được sát nhập từ SOSIG (Cổng Thông tin
Khoa học Xã hội - Social Sciences Information Gateway) do trường Đại học Bristol (Anh) phát triển và Altis (một danh bạ các nguồn tài nguyên Internet) do trường Đại học Birmingham (Anh) phát triển
Infomine: do các thư viện của một số trường đại học Hoa Kì phát triển, giới thiệu
các nguồn tài nguyên học thuật và nghiên cứu cho giảng viên và sinh viên đại học
Biology Browser: cổng thông tin sinh học của Thomson Scientific (ISI).
EnviroLink: cổng thông tin môi trường, do Josh Knauer (Carnegie Mellon
University) xây dựng từ năm 1991
Math on the Web: cổng thông tin toán học, do Hiệp hội Toán học Hoa Kì xây dựng PhysLink: cổng thông tin vật lí và thiên văn học.
Statistics.com: cổng thông tin thống kê.
Culture: cổng thông tin văn hoá Nội dung bằng tiếng Pháp.
Trào lưu Open Access
Đây là một xu hướng mới, đang phát triển mạnh trên khắp thế giới, nhằm mục tiêu giúp giảm thiểu chi phí truy cập toàn văn các tài liệu khoa học, kĩ thuật, đặc biệt được các tổ chức lớn lưu ý trong các chương trình hỗ trợ các nước đang phát triển Các luận án cũng dần dần được các trường đại học lớn đưa lên Mạng cho truy cập
Trang 27toàn văn.
DOAJ: danh bạ các tạp chí Open Access.
Các nguồn tài nguyên khoa học, kĩ thuật và giáo dục ưu tiên cho các nước đang phát triển (nguồn: Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế):
phần 1A (trang 1): các tạp chí hoàn toàn hoặc phần lớn miễn phí;
phần 1B (trang 2): các tạp chí miễn hoặc giảm phí cho các nước đang phát triển (thư viện của các đơn vị đào tạo - nghiên cứu đều có thể đăng kí để nhận tài khoản sử dụng);
phần 2 (các trang 2-5): các kho lưu trữ tài liệu, thống kê, thông tin trích dẫn khoa học, do các tổ chức lớn bảo trợ, hoàn toàn miễn phí hoặc ưu tiên cho mục tiêu phát triển
phần 3 (các trang 6 và 7): các dịch vụ hỗ trợ phân phối tài liệu cho các nước đang phát triển
Infothèque: thư viện thông tin khoa học, kĩ thuật và giáo dục bằng tiếng Pháp
Sưu tập và giới thiệu các tài liệu (giáo trình, chuyên khảo, sách, cơ sở dữ liệu, luận
án, báo cáo, tạp chí chuyên ngành, các nguồn tài nguyên,v.v.) truy cập trực tiếp trên Internet, thuộc tất cả các chuyên ngành
Hệ thống tuyển chọn và biên tập khá chặt chẽ Hiện có trên 5000 nguồn đã được thông qua và vẫn được thường xuyên cập nhật Các giảng viên, nhà nghiên cứu và sinh viên biết tiếng Pháp nếu có đủ khả năng có thể được tuyển làm biên tập viên với thù lao tương xứng
Cổng giới thiệu các thông tin hoạt động, xuất bản và nguồn tài nguyên hỗ trợ phát triển giáo dục, đào tạo, giảng dạy và nghiên cứu
PLoS: Thư viện Khoa học Mở (Public Library of Science), được xây dựng nhằm
đưa thông tin khoa học, kĩ thuật và y học đến với tất cả mọi người Có các nguồn tài nguyên đáp ứng tiêu chí Open Access, các tạp chí khoa học do PLoS lập hội đồng biên tập
CERN Document Server: trung tâm tài liệu của Trung tâm Nghiên cứu Hạt nhân
Châu Âu (nơi Tim Berners-Lee phát minh ra Mạng toàn cầu) Lưu trữ hơn 800.000 tóm tắt và 300.000 toàn văn sách, báo, hình ảnh, v.v
ETDs: danh sách các luận án của trường Đại học Công nghệ Virginia (Hoa Kì) Cyberdocuments: danh sách các luận án của trường Đại học Geneva (Thuỵ Sĩ) THESE CANADA PORTAL: cổng thông tin về các luận án của Canada Có nhiều
luận án có toàn văn miễn phí Hai giao diện tiếng Anh và tiếng Pháp
Các nhà xuất bản khoa học và nhà trung gian cung cấp tài liệu
Hiện nay hầu hết các nhà xuất bản khoa học đều phát triển các website của mình để giới thiệu các ấn phẩm của mình (sách, báo) và trực tiếp cung cấp dịch vụ phân phối tài liệu Chi phí mua tài liệu trực tiếp khá đắt so với mức sống bình quân ở Việt Nam
Ngoài ra, có nhiều nhà trung gian phát triển các dịch vụ cung cấp tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau, thậm chí từ nguồn đã qua sử dụng (như sách) Chi phí tuy có
Trang 28giảm nhưng vẫn còn rất cao so với đời sống ở Việt Nam.
Danh sách các nhà xuất bản giáo dục, khoa học và kĩ thuật (Open Directory): hầu hết các nhà xuất bản lớn về giáo dục, khoa học, kĩ thuật trên khắp thế giới
ScienceDirect: cổng thông tin khoa học, y học và công nghệ Cơ sở dữ liệu tóm tắt
sách và tạp chí chuyên ngành Cung cấp toàn văn có thu phí Một số bài sau một thời hạn được cung cấp miễn phí
IngentaConnect: cổng thông tin tập hợp trên dưới 20 triệu tài liệu từ hơn 30.000 ấn
bản khoa học và giáo dục Tìm tóm tắt miễn phí Phải trả phí dịch vụ mới xem được toàn văn
Springer: một nhà xuất bản lớn với nhiều sách, tạp chí thuộc đủ các chuyên ngành Các bách khoa thư, các loại từ điển
Bách khoa thư là một loại tài nguyên quan trọng có tính định hướng cho công tác nghiên cứu tài liệu, trước khi đi vào các nghiên cứu chuyên sâu Có nhiều loại bách khoa thư, từ nổi tiếng với hội đồng biên tập khoa học lão luyện, có nhiều kinh nghiệm và chuyên gia uy tín, đến nổi tiếng bằng phong cách mở, tận dụng tri thức, hiểu biết và cả lương tâm của số đông (?!)
Song song đó, có các loại từ điển thuật ngữ hoặc từ điển giải thích chuyên ngành, với độ sâu và chính xác trong từng chuyên ngành hẹp cao hơn Các từ điển này rất
có ích, đặc biệt là khi tra cứu ngữ nghĩa của các thuật ngữ mới hoặc lạ trong khoa học
Dưới đây là một số danh sách các từ điển tiếng, từ điển thuật ngữ và bách khoa thư được giới thiệu trong Open Directory:
Các từ điển tiếng Anh, từ điển thuật ngữ, từ điển giải thích, công cụ dịch thuật Các bách khoa thư tiếng Anh
Các từ điển thuật ngữ và từ điển chuyên sâu tiếng Anh
Các từ điển tiếng Pháp
Các bách khoa thư tiếng Pháp
Các từ điển chuyên sâu tiếng Pháp
Các bộ thuật ngữ chuyên đề (thesauri) tiếng Anh
Các bộ thuật ngữ chuyên đề (thésaurus) tiếng Pháp
Các diễn đàn chuyên môn
Hiện nay có rất nhiều diễn đàn (forum) trên Mạng được mở ra, phát triển với số lượng thành viên đông đảo Có thể là các diễn đàn trong nước hay quốc tế Tham gia các diễn đàn có thể chỉ là những người yêu thích hoặc cũng có thể là những chuyên gia trong mỗi chuyên ngành
Tuỳ vào cách tổ chức và quản lí của mỗi diễn đàn, có thể tìm thấy những nguồn thông tin, ý kiến trao đổi, tư vấn, định hướng, v.v có ý nghĩa nhất định trong quá
Trang 29trình tìm kiếm thông tin, tài liệu tham khảo và trong công tác nghiên cứu.
Các website cá nhân, chuyên gia
Nhiều chuyên gia thường tự xây dựng cho website cá nhân để đăng tải những thông
tin liên quan đến bản thân, kết quả nghiên cứu, các tài liệu đã công bố, v.v Đây có
thể xem là một nguồn thông tin khoa học không chính quy nhưng có giá trị
Cơ sở dữ liệu các nhà khoa học hàng đầu
Danh sách các nhà khoa học được ISI xếp hạng cao năm 2007
Bài tập tự kiểm tra
Phần 2 Phương pháp tìm kiếm tài liệu tham khảo khoa học (tt)
Phần 2 Phương pháp tìm kiếm tài liệu tham
Trang 30thống, các kệ sách thư viện vẫn phát huy những giá trị cổ điển, thì máy tính và Internet sẽ vừa bổ trợ cho các giá trị đó (bằng cách tiết kiệm thời gian sắp xếp, quản lí và tìm kiếm),
sẽ vừa giúp tìm được những nguồn thông tin khác mà các thư viện không thể có Đồng thời, các thư viện cũng không nằm ngoài xu thế điện tử hoá các công cụ của mình nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động Và do đó, phương pháp và kĩ năng tìm kiếm thông tin bằng các công cụ điện tử có vai trò gần như quyết định trong công tác nghiên cứu tài liệu hiện nay
Nhưng tìm kiếm như thế nào thì gọi là có phương pháp? Tìm kiếm như thế nào cho có hiệu quả? Đó lại không phải là chuyện đơn giản!
Dường như ai cũng có thói quen bắt đầu việc tìm kiếm thông tin trên Mạng bằng
Google! Theo thống kê của Baromètre référencement (Pháp), có đến 1/3 người dùng mạng bắt đầu phiên làm việc của mình bằng cách mở một bộ máy tìm kiếm, và tỉ lệ sử dụng Google hàng tháng của người dùng mạng trên tổng số các bộ máy tìm kiếm thống kê được
là trên dưới 80 %
Nhưng, hãy thử làm một phép thử bằng một cách rất thông thường:
Cần tìm tài liệu về 3-MCPD, một chất độc cho cơ thể con người đang là tâm điểm thời sự hiện nay
Xuất phát với Google một cách thông thường, trang mặc định sẽ bằng tiếng Việt Gõ từ khoá "3-MCPD" và bắt đầu tìm kiếm
Tóm tắt kết quả: trên 433.000 trang trong 0,05 giây
Lướt qua 100 kết quả đầu tiên, chỉ toàn là các trang tiếng Việt sao đi chép lại một vài bài báo tin tức thời sự Chịu khó lọc thì cũng có được hai bài xem được:
một bài là "3-MCPD in Foods" của Viện Khoa học và Công nghệ Thực phẩm (IFST), một hiệp hội khoa học đã hoạt động từ những năm 1950 tại Anh;
bài kia là một bài ngắn giới thiệu các đặc tính hoá học của chất này trên website Hoá học Việt Nam, một cổng thông tin chuyên ngành có khá nhiều tài liệu nhưng không rõ ai là tác giả, ai chịu trách nhiệm nội dung khoa học, tôn chỉ và tiêu chí hoạt động là gì (?!)
Thử cùng công thức tìm kiếm bằng Google "bản gốc" (tiếng Anh): kết quả trên 481.000 trang, trong 0,15 giây Và trong 100 kết quả đầu tiên cũng chỉ có vài bài đáng kể về nội dung khoa học, còn lại là chen lẫn rất nhiều những mẩu tin tức thời sự (đặc biệt là một số bài báo tiếng Việt được sao đi chép lại hàng loạt), quảng cáo xét nghiệm, v.v
Hãy tưởng tượng nếu tiếp tục dò để lọc được vài bài trong mỗi 100 kết quả, trong gần nửa triệu kết quả mà Google cung cấp, thì có thể đánh giá được hiệu suất cơ bản của cách tìm kiếm này
Các câu hỏi có thể đặt ra từ đó là:
Làm sao để cải thiện hiệu suất tìm kiếm thông tin?
Làm sao để nhanh chóng tìm được các tài liệu đáp ứng đúng nhu cầu của mình?
Làm sao để có nhiều tài liệu tập trung vào đúng chủ đề mình cần quan tâm mà không phải mất quá nhiều thời gian?
Làm sao để có được nhiều tài liệu đáng tin cậy?
Trang 31Làm sao để giảm "nhiễu thông tin" trong kết quả tìm kiếm?
Làm sao để nhanh chóng chọn lọc được các tài liệu phù hợp trong rất nhiều kết quả?
Làm sao để đánh giá độ tin cậy và phù hợp của kết quả?
V.v
Để trả lời các câu hỏi đó, có một lời khuyên có vẻ nghịch lí, nhưng lại rất xác đáng: muốn bắt đầu tìm kiếm thông tin trên Mạng, hãy tắt máy tính!
Xác định tốt chiến lược tìm kiếm
Vấn đề quan trọng nhất khi tìm kiếm thông tin là: biết mình đang đi tìm cái gì Bởi nếu không, chúng ta sẽ dễ dàng "thất lạc" trong "hỗn độn thông tin" trên Mạng
Để trả lời cho câu hỏi đó, với mục tiêu nghiên cứu khoa học, tốt nhất là:
thực hiện tốt giai đoạn xác định chủ đề/đề tài nghiên cứu để có được đề tài nghiên cứu cụ thể, biết được chủ đề cần tìm tài liệu;
tiếp theo, lựa chọn nguồn tài nguyên và công cụ tìm kiếm: xác định các loại tài liệu cần tìm, và những công cụ tìm kiếm phù hợp với mỗi loại tài liệu;
sau đó, hãy đừng vội ngồi vào máy tính (!), mà lấy một tờ giấy trắng, hoặc ít nhất là vẽ
ra được trong đầu một chiến lược tìm kiếm thông tin: giới hạn trong phạm vi nào? loại tài liệu nào? công cụ nào? các từ khoá quan trọng?
Thao tác then chốt nhất quyết định kết quả tìm kiếm là đưa ra được các từ khoá phù hợp
Từ khoá thế nào là phù hợp?
Ngoại trừ những chủ đề hết sức đặc biệt, mà bản thân tên gọi chủ đề đã là một từ khoá tốt giới hạn ngay lập tức phạm vi tìm hiểu, thì thông thường từ khoá phải được xác định dần dần, từ tổng quát đến chi tiết, sao cho tìm được những khái niệm đặc trưng nhất, có tính đại diện cao nhất cho chủ đề cần tìm tài liệu
Nếu chưa nắm rõ các thuật ngữ liên quan đến chủ đề đang quan tâm, hãy xuất phát từ các danh bạ mạng và các từ điển thuật ngữ chuyên ngành, bộ thuật ngữ chuyên đề (thesaurus) Chọn các thuật ngữ từ cấp tổng quát nhất đi xuống, để xác định dần các khái niệm cơ bản được sử dụng trong từng chuyên ngành hẹp, tránh sử dụng các khái niệm do bản thân tra
từ điển tiếng và dịch ra (?!)
Chọn từ khoá phù hợp với nguyên tắc hoạt động của mỗi công cụ tìm kiếm Đặc biệt lưu ý
là các từ khoá dùng hiệu quả trong các bộ máy tìm kiếm không phải lúc nào cũng cho kết quả tốt trong các cơ sở dữ liệu
Đối với các bộ máy tìm kiếm phổ thông (như Google, Yahoo!, v.v.), ngoài các từ khoá tổng quát (sơ cấp), cần dùng kèm các từ khoá chi tiết (thứ cấp) để xác định càng chính xác càng tốt những tài liệu cần tìm: vì các bộ máy tìm kiếm trong toàn bộ nội dung từng trang web, cần phán đoán các từ khoá thứ cấp được sử dụng trong nhan đề trang, các đề mục con trong trang, tên tác giả, các khái niệm quan trọng trong nội dung bài, v.v
Trang 32Nói chung, ngay từ đầu quá trình tìm kiếm, thường chỉ xác định được những từ khoá cơ bản nhất Và sự điều chỉnh, bổ sung, thay đổi cách kết hợp các từ khoá sẽ được thực hiện liên tục trong suốt quá trình tìm kiếm, qua số lượng kết quả thu được và mức độ phù hợp của các kết quả sau mỗi lượt tìm kiếm.
Những điều lưu ý khi sử dụng từ khoá
Ngoại trừ trường hợp cần tìm một chuỗi chính xác, không nên dùng các từ không mang khái niệm, ngữ nghĩa cụ thể Ví dụ: of, the, a, at, in, on, (trong tiếng Anh) hay le, la, les, (trong tiếng Pháp)
Đa số các công cụ tìm kiếm không phân biệt chữ in và chữ thường
Nhiều bộ máy tìm kiếm không phân biệt chữ có dấu và không dấu Tuy nhiên, điều này chỉ đúng đối với các thứ tiếng thuộc ngữ hệ Latin, còn đối với tiếng Việt có dấu Unicode thì vẫn thường có sự khác biệt
Bài tập tự kiểm tra
Chiến lược nào: tìm từng trang, bài hay tìm nguồn tài liệu?
Các bộ máy tìm kiếm là công cụ tìm kiếm được sử dụng nhiều nhất trên Mạng Cần phải thừa nhận tính hữu ích, tiện lợi của các bộ máy tìm kiếm, tuy nhiên mỗi công cụ đều có những ưu điểm và phạm vi phát huy hiệu quả của nó
Có hai cách tiếp cận về chiến lược tìm kiếm thông tin:
Chiến lược tìm trang, bài: dùng khi muốn tìm các từ chính xác trong toàn bộ nội dung của các trang web
Cách này hữu hiệu khi dùng bộ máy tìm kiếm để tìm các trang, bài có tính chất thời sự, hoặc các trang mô tả thông tin cá nhân, sự việc cụ thể
Chiến lược này đòi hỏi phải chọn lựa bộ từ khoá tốt và biết kết hợp linh hoạt các công thức tìm kiếm
Hạn chế của chiến lược này là không có tính chọn lọc thông tin và không khai thác được phần mạng ẩn hay mạng tầng sâu
Chiến lược tìm nguồn: mục tiêu của chiến lược này là tìm các nguồn cung cấp loại thông tin phù hợp nhất với nhu cầu tìm kiếm
Các danh bạ mạng, các cổng thông tin chuyên đề sẽ giúp xác định được nhiều nguồn cung cấp thông tin về một chủ đề nào đó
Sử dụng những nguồn cung cấp kết quả phù hợp đã biết (ví dụ: khi tìm bằng các bộ máy tìm kiếm, chọn lọc được một tài liệu phù hợp từ một nguồn nào đó), dùng các chức năng tìm kiếm hoặc mở các chuyên mục của chính nguồn cung cấp đó để tìm tiếp các tài liệu liên quan
Khai thác các mục "Liên kết website" của những nguồn cung cấp thông tin phù hợp đã biết
Hạn chế của chiến lược này là cần phải hiểu rõ các nguồn cung cấp tài liệu cũng như cấu trúc tổ chức các website
Không có chiến lược nào là hoàn hảo! Điều quan trọng nhất là biết được ưu điểm và
Trang 33nhược điểm của mỗi chiến lược là gì, và biết mình cần tìm gì, để kết hợp linh hoạt và nhuần nhuyễn nhiều phương pháp, nhiều công cụ khác nhau để đạt được hiệu quả tối đa trong tìm kiếm thông tin.
Tìm kiếm thông tin trên Internet không phải là một khoa học chính xác và luôn có phần nào đó dựa trên sự tình cờ Chính vì vậy, nền tảng của nghệ thuật tìm kiếm thông tin là sự kết hợp hài hoà giữa các nguyên tắc chính xác và tính ngẫu nhiên Và, như Louis Pasteur
đã nói: "Sự ngẫu nhiên chỉ làm thăng hoa những tư tưởng đã chín muồi."
Bài tập tự kiểm tra
Kết hợp linh hoạt các công thức tìm kiếm
Sau khi đã có một chiến lược tìm kiếm rõ ràng, với một số hành trang nhất định để xuất phát, chỉ còn ngồi vào máy tính, mở trình duyệt và bắt đầu tìm kiếm
Tuỳ vào mỗi công cụ tìm kiếm, cần phải kết hợp nhiều cách tìm kiếm với các công thức khác nhau Mỗi công cụ lại được phát triển trên những nền tảng công nghệ khác nhau (dù
có những nét tương tự), nên cũng cần phải biết các quy tắc kết hợp những chức năng tìm kiếm khác nhau của công cụ được sử dụng
Phối hợp từ khoá
Trong đa số trường hợp, cần phải dùng nhiều từ khoá khác nhau, sơ cấp và/hoặc thứ cấp,
để tăng độ chính xác của công thức và loại trừ các kết quả không phù hợp Trật tự trước sau của các từ khoá được một số bộ máy tìm kiếm (như Google) xem là có tầm quan trọng khác nhau Khi dùng từ khoá, một số từ không mang nghĩa trực tiếp sẽ bị bỏ qua (như đã liệt kê ở phần trước)
Một số bộ máy tìm kiếm có khả năng phân tích tình huống để gợi ý các từ khoá lân cận hoặc các chủ đề liên quan Hãy tận dụng các chức năng này
Nếu số kết quả được đưa ra quá nhiều, điều đó đồng nghĩa với công thức tìm kiếm chưa tốt, có thể thêm vài từ khoá để giới hạn phạm vi kết quả lại
Nếu kết quả quá ít và không có tài liệu phù hợp, hãy bỏ bớt từng từ khoá có tầm quan trọng thấp nhất để mở rộng phạm vi, hoặc phải thay đổi bằng một bộ từ khoá khác
Bài thực hành
Chuỗi chính xác
Đối với đa số các công cụ tìm kiếm, nếu muốn tìm một chuỗi chính xác các từ, theo đúng trật tự, chỉ cần đặt chuỗi từ đó vào giữa cặp dấu ngoặc kép Cách này hữu hiệu để tìm một câu, một đoạn văn bản, một chuỗi dài các từ (đặc biệt là các tên riêng) đã biết chính xác
Bài thực hành
Các toán tử Boolean
Trang 34Hầu hết các công cụ tìm kiếm đều cho phép kết hợp các toán tử Boolean: AND (VÀ), OR (HOẶC), NOT (KHÔNG) Thông thường, toán tử AND được lập mặc định cho nhiều từ khoá được sử dụng đồng thời (trừ trường hợp tìm "chuỗi chính xác") Các toán tử thường phải được viết hoàn toàn bằng chữ in, có một khoảng trắng trước và và một khoảng trắng sau để phân biệt với từ cần tìm.
AND: kết quả phải có chứa tất cả các từ cần tìm
Ví dụ: muốn tìm "Động vật có xương sống", dùng các từ khoá "Chim AND Thú AND Bò sát AND Cá"
OR: kết quả có chứa một hoặc nhiều trong số các từ đi kèm với toán tử này
Ví dụ: muốn tìm "Động vật", dùng các từ khoá "Chim OR Thú OR Bò sát OR Cá" NOT: kết quả không được có từ đi kèm với toán tử này
Ví dụ: bộ từ khoá "Chim NOT Thú" có thể cho ra kết quả "Có lông vũ", hoặc ngược lại
"Thú NOT Chim" có thể cho ra "Nuôi con bằng sữa"
Việc kết hợp nhuần nhuyễn các toán tử này đòi hỏi phải có tính logic cao trong tư duy, có nhiều kinh nghiệm tìm kiếm và hiểu biết rõ cấu trúc các kiểu website và trang web khác
Trang 35Phần 2 Phương pháp tìm kiếm tài liệu tham khảo khoa học (tt)
Phần 2 Phương pháp tìm kiếm tài liệu tham
khảo khoa học (tt)
Khai thác tối đa các tính năng của công cụ tìm kiếm
Mỗi một công cụ tìm kiếm thường cung cấp một số những chức năng tìm kiếm khác nhau, có thể rất hữu ích giúp người dùng xác định các công thức tìm kiếm tinh tế hơn
Với một bộ máy tìm kiếm, lượng kết quả cung cấp cho mỗi lượt tìm kiếm bình
thường luôn quá ấn tượng, đến mức không thể hoặc rất khó phân biệt được thứ gì hay, dở, cần hay không cần, phù hợp hay không phù hợp trong số kết quả vàng thau lẫn lộn đó
Dưới đây là phần mô tả một số tính năng nâng cao cơ bản của các công cụ tìm kiếm phổ biến, thực sự hiệu quả để lọc thông tin:
Nhan đề trang
Trang 36Nếu một trang web được thiết kế đúng theo quy tắc trình bày, nhan đề trang sẽ phản ánh toàn bộ nội dung cơ bản của trang đó Và các nguồn cung cấp thông tin nghiêm túc thông thường sẽ tuân thủ rất tốt quy tắc này.
Do đó, nếu lập công thức tìm kiếm một từ có trong nhan đề trang, xác suất có được những tài liệu có nội dung chính phù hợp với chủ đề cần tìm là rất cao, và sẽ loại bỏ hết những trang nào nói về các chủ đề khác nhưng có một chỗ nào đó nhắc đến từ đang cần tìm
Có hai cách lập công thức tìm trong nhan đề trang:
Dùng hàm đi kèm với từ cần tìm:
Khi tìm một từ trong nhan đề trang, hàm này giống nhau ở nhiều bộ máy tìm kiếm phổ thông như Google, Yahoo! và Exalead: "intitle:từcầntìm" (không có khoảng trắng trước và sau dấu hai chấm)
Khi tìm nhiều từ trong nhan đề trang: ở Google là "allintitle:từ1 từ2 từ3 " (không
có khoảng trắng giữa hàm và từ cần tìm đầu tiên, các từ cần tìm còn lại cách nhau một khoảng trắng)
Nhấn nút "Tìm kiếm nâng cao" (advanced search/recherche avancée): cách này đơn giản hơn, không phải nhọc công nhớ các hàm tìm kiếm phức tạp Chỉ cần nhấn nút
và điền các từ tìm kiếm vào các ô đã thiết kế sẵn và có chú thích công dụng rõ ràng.Một cố công cụ không dùng cùng thuật ngữ mà có thể gọi là "Tìm kiếm với nhiều chi tiết", "Tìm kiếm chuyên gia" (expert search/recherche expert)
Tên miền, địa chỉ mạng
Thông qua tên miền (domain name/domaine) và địa chỉ mạng, các bộ máy tìm kiếm
có thể giới hạn phạm vi tìm kiếm ở mức độ cao hơn, chọn lọc thông tin từ những nguồn được xác định qua các công thức tìm kiếm có sử dụng tính năng này
Bản thảo Tài liệu hướng dẫn sử dụng Internet
Những tên miền có đuôi edu, ac thường được dành riêng cho các trường đại học, gov, gouv dành riêng cho các cơ quan nhà nước, thường là những nguồn thông tin chính thống, có độ tin cậy cao
Các tổ chức lớn thường dùng tên miền có đuôi org, các nguồn chuyên về cung cấp thông tin thường dùng info, cũng là những nguồn cung cấp thông tin có giá trị Tuy nhiên, vẫn có một số trường hợp các tên miền này bị lạm dụng không đúng chức năng, nên người dùng phải tỉnh táo để phân biệt được
Nói chung, có những quy tắc cơ bản trong việc quản lí sử dụng tên miền ở cấp độ quốc tế và cấp độ của từng quốc gia Nhưng vẫn có sự khác biệt nhỏ trong từng phạm vi hẹp Khi đã làm quen dần với Internet, người dùng sẽ có kinh nghiệm để hiểu biết rõ hơn các đặc điểm quản lí tên miền ở từng cấp độ, giúp nhanh chóng nhận diện được những nguồn thông tin có giá trị trên Mạng
Trang 37Nếu dùng hàm, với các bộ máy tìm kiếm phổ thông, đó là hàm:
"site:tênmiềnđầyđủ"
Ví dụ: "site:ctu.edu.vn" là hàm chỉ tìm thông tin từ website của Trường Đại học Cần Thơ (Việt Nam), hoặc "site:edu.vn" cho thông tin từ các trường đại học ở Việt Nam, hoặc "site:edu" cho thông tin từ các trường đại học Hoa Kì
Cách đơn giản nhất vẫn là sử dụng các chức năng tìm kiếm nâng cao, với các ô thiết
kế sẵn để điền thông tin vào, thay vì phải học thuộc lòng các hàm tìm kiếm phức tạp
Định dạng tập tin
Các trang web thường được thiết kế bằng ngôn ngữ định dạng siêu văn bản
(HTML) Ngoài ra có một số định dạng tập tin khác cũng được sử dụng phổ biến để cung cấp, trao đổi thông tin trên Internet (.DOC, PDF, PPT, WAV, MP3, PS, SWF, RTF, v.v.) Các bộ máy tìm kiếm phổ thông như Google, Yahoo!,
Exalead, thường tìm kiếm mặc định trên tất cả các định dạng tập tin Và đó cũng
là một cách để làm tăng độ "nhiễu thông tin" trong kết quả tìm kiếm (?!)
Đối với các tài liệu khoa học và giảng dạy, hai định dạng được sử dụng ngày càng nhiều, đó là: PDF và PPT Dùng chức năng tìm hạn chế trong hai loại định dạng này có khả năng lọc thông tin rất cao, vì hai định dạng này không được dùng phổ biến trong các nguồn thông tin không có mục tiêu khoa học và giáo dục
.PDF (Portable Document File): là một định dạng rất phổ biến để trao đổi thông tin qua mạng, nhờ dung lượng nhẹ, khả năng chuyển dạng từ các tập tin văn bản
(.DOC, ODT, RTF, ) rất cao, có khả năng tích hợp vào bên trong trình duyệt mạng
Hầu hết các nhà cung cấp tài liệu, các bài báo khoa học đều sử dụng định dạng này cho các tài liệu của mình
.PPT (Microsoft PowerPoint): đây là định dạng đặc trưng dùng trong các bài thuyết trình, trình chiếu
Ở các trường đại học lớn, giảng viên thường soạn bài giảng dưới hình thức này và tải lên Mạng, trong các nguồn tài nguyên của trường, để sinh viên có thể tải về tham khảo
Giới hạn tìm kiếm trong định dạng PPT có thể giúp lọc được thông tin hiệu quả để tìm được rất nhiều bài giảng khoa học, giáo dục với hình ảnh sinh động và thông tin
có giá trị
Cũng có hai cách sử dụng:
Dùng hàm: "filetype:địnhdạng", không có dấu chấm trước tên định dạng
Ví dụ 1: dùng hàm "geography site:edu filetype:ppt" trong Google có thể giúp tìm các tài liệu có định dạng PPT về chủ đề "Geography" từ các trường đại học Hoa Kì
Trang 38(giả định là sẽ có nhiều bài giảng bằng tiếng Anh có liên quan đến "địa lí").
Ví dụ 2: dùng hàm "allintitle:plant biology OR physiology site:edu filetype:ppt" có thể giúp tìm các tài liệu có định dạng PPT có nhan đề chứa các bộ từ {plant,
biology} hoặc {plant, physiology} từ các trường đại học Hoa Kì (giả định là có nhiều bài giảng bằng tiếng Anh với chủ đề liên quan đến "sinh học thực vật" hoặc
"sinh lí thực vật")
Dùng chức năng tìm kiếm nâng cao với các trường tìm kiếm đã thiết kế sẵn (giao diện đồ hoạ)
Danh sách các tính năng tìm kiếm còn dài, với những đặc thù riêng của từng công
cụ Không thể liệt kê ra hết, nhưng có vài nguyên tắc cơ bản để khai thác các tính năng này
Các chức năng tìm kiếm nâng cao hầu hết được thiết kế rõ ràng, dễ hiểu qua giao diện đồ hoạ
Tận dụng mọi thời gian tìm kiếm thông tin để sử dụng và tích luỹ kinh nghiệm sử dụng các chức năng tìm kiếm nâng cao
Sau mỗi lượt tìm kiếm với các công thức khác nhau, ghi nhận sự khác biệt trong chất lượng kết quả thu được để hiểu rõ ưu nhược điểm của từng tính năng, từng công cụ
Mỗi công cụ tìm kiếm đều có phần hướng dẫn sử dụng riêng, khi cần khai thác một
số tính năng nào đó, hãy tìm đọc các tài liệu hướng dẫn này
Nếu có điều kiện, tìm hiểu kĩ cấu trúc Mạng và Internet, hiểu rõ cách xây dựng các website, các trang web, để nắm được bản chất hoạt động của các công cụ tìm kiếm, tức đủ khả năng diễn dịch được các kết quả mà chức năng tìm kiếm nâng cao mang lại
Trong tìm kiếm thông tin trên Mạng, biết đặt ra những câu hỏi tốt về chủ đề, biên
độ và các khía cạnh liên quan, phạm vi giới hạn, các khái niệm quan trọng, v.v chính là nền tảng để có được kết quả tốt Và cần nhắc lại một lời khuyên tưởng như ngược đời: để tìm kiếm thông tin trên Mạng, việc đầu tiên phải làm là không lên Mạng!
2 Làm chủ trình duyệt mạng
Trang 39Đây là điệu kiện cần, nếu muốn thực hiện tốt quá trình tìm kiếm thông tin trên
Mạng Các trình duyệt (như Mozilla Firefox, Internet Explorer, Netscape, v.v.) có nhiều công cụ giúp duyệt mạng tốt hơn, quản lí và lưu trữ thông tin tốt hơn, an toàn hơn Tốt nhất là nên tập để sử dụng tốt hai trình duyệt có cách tiếp cận khác nhau và
bổ sung cho nhau
3 Chọn từ khoá tốt
Các công cụ, đặc biệt là các bộ máy tìm kiếm, thường chỉ có thể tìm được những gì
nó đã lưu trữ một cách tự động máy móc mà hoàn toàn không hiểu ngữ nghĩa của
từ Do đó, người tìm kiếm thông tin phải là người bù đắp khiếm khuyết đó, bằng cách lựa chọn tốt những từ khoá xuất phát và liên tục ghi nhận, điều chỉnh bộ từ khoá trong suốt quá trình tìm kiếm sao cho phù hợp nhất
5 Luôn phân tích thông tin
Vì bất cứ ai cũng có thể đưa bất cứ thông tin gì lên Mạng, nên người dùng mạng rất cần có óc phân tích các thông tin tìm được, đánh giá nhanh độ tin cậy và giá trị của thông tin, tìm hiểu tác giả và thời gian cung cấp thông tin
Một thông tin bình thường đã cần có độ xác tín như vậy, một thông tin có mục đích khoa học, giáo dục càng phải được yêu cầu cao hơn Nguyên tắc này cần được giữ thường trực trong đầu, nhằm tránh xu hướng thái quá trong việc sử dụng thông tin khoa học kĩ thuật hiện nay: đưa vào tài liệu khoa học những thông tin tìm thấy trên Mạng mà chưa trải qua các bước phân tích, đánh giá nghiêm túc
6 Lưu trữ và sắp xếp thông tin
Một trong những thói quen dẫn đến xu hướng không phân tích, đánh giá nghiêm túc các tài liệu tìm được trên Mạng, đó là do không biết lưu trữ và sắp xếp thông tin một cách trật tự và khoa học
Biết làm chủ các trình duyệt sẽ có thể giúp sắp xếp, lưu trữ các nguồn cung cấp thông tin cần thiết, luôn sẵn sàng để có thể kiểm tra lại bất cứ thông tin, tài liệu nào
đã tìm được
Biết sắp xếp các tài liệu đã tìm được một cách trật tự, theo những phương pháp riêng (theo tác giả, theo chủ đề, theo thời gian, ) sẽ giúp quản lí tốt thông tin, tài liệu, đặc biệt là khi số lượng tài liệu trở nên quá nhiều Điều đó có ý nghĩa quan trọng trong quá trình nghiên cứu, vì có thể dễ dàng tra cứu các thông tin tham khảo cần thiết vào bất cứ giai đoạn nghiên cứu nào, đối với bất cứ vấn đề nghiên cứu nào nảy sinh
Trang 407 Biết tự giới hạn
Cái gì cũng có giới hạn Thông tin trên Internet cũng có giới hạn, đặc biệt là về mặt thời gian Người tìm kiếm không nên quá cầu toàn để mong tìm thấy tất cả mọi thứ mình muốn Trên Mạng chỉ tồn tại những thông tin gì mà có người đưa lên Có những thứ tuy muốn, nhưng không thể tìm thấy trên Mạng, cũng chỉ đơn giản vì không có ai đưa lên
Rất thông thường, những thông tin cung cấp trên Mạng là nhằm góp phần trả lời cho câu hỏi: "Tìm thấy ở đâu?", tức là giúp tìm những thông tin dẫn tới những thông tin khác
8 Luôn tỉnh táo
Nếu không giữ được sự tỉnh táo, người dùng mạng sẽ bị đắm chìm ngay trong một biển thông tin hỗn độn Cần phải hiểu mình cần đi tìm gì, và có một chiến lược tìm kiếm rõ ràng
Những người dùng mới thường có xu hướng chọn những website cung cấp thật nhiều thông tin, có thật nhiều người truy cập, vì không muốn mất nhiều thời gian để
đi tới ngay cốt lõi vấn đề Và sau một thời gian thích nghi với nguồn thông tin đó,
họ có thể có ngay những kết quả chờ đợi
Những người dùng có kinh nghiệm lại có xu hướng tìm những nguồn thông tin
"hiếm", ít "phổ thông" hơn, có thể phải mất khá nhiều thời gian và công sức, nhưng
bù lại họ có nhiều khả năng tìm được những kết quả độc đáo
9 Phối hợp hài hoà các công cụ
Do có rất nhiều công cụ tìm kiếm khác nhau, có tính năng khác nhau, được phát triển theo những mục tiêu khác nhau, nên hầu như không một công cụ nào đáp ứng hoàn hảo các nhu cầu tìm kiếm thông tin trên Mạng
Người tìm kiếm do đó cần phải tự rèn luyện khả năng sử dụng các công cụ tìm kiếm khác nhau, tích luỹ kinh nghiệm, để biết được cách kết hợp thật hài hoà các công cụ
và phương thức tìm kiếm khác nhau, tuỳ theo nhu cầu của mình trong mỗi hoàn cảnh
10 Nhanh nhẹn
Đối diện trước một lượng thông tin khổng lồ trên Mạng, người dùng cần có một sự nhanh nhẹn nhất định mới có thể thực hiện quá trình tìm kiếm thông tin một cách hiệu quả: thực hiện cùng lúc nhiều lượt tìm kiếm, đọc và đánh giá nhanh thông tin, kết nối các thông tin với nhau, chuyển đổi qua nhiều cửa sổ và công cụ, truy tìm nguồn gốc thông tin, nhận diện các loại tài liệu, v.v
Tuy vậy, như đã nói, không có một khoa học chính xác nào áp dụng được cho nghệ thuật tìm kiếm thông tin trên Internet Đó là sự kết hợp giữa sự chính xác và tính ngẫu nhiên Đó là một quá trình phát triển và điều chỉnh liên tục theo phương thức