GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG VỚI VIỆC XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC MỚI CHO THANH NIÊN TỈNH NGHỆ AN HIỆN NAYGIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG VỚI VIỆC XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC MỚI CHO THANH NIÊN TỈNH NGHỆ AN HIỆN NAYGIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG VỚI VIỆC XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC MỚI CHO THANH NIÊN TỈNH NGHỆ AN HIỆN NAY
Trang 11 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia văn hiến từ lâu đời Lịch sử nước ta đã trải quahàng ngàn năm dựng nước và giữ nước Quá trình đó đã tôi luyện và hun đúcnên những thế hệ con người Việt Nam với lòng yêu nước nồng nàn, lòng tựtôn, tự cường dân tộc, lòng nhân ái bao dung, trọng nghĩa tình đạo lý, cần cù
Trang 2sáng tạo…Những phẩm chất đó đã trở thành nét đẹp của đạo đức truyền thống
mà hàng ngàn đời nay những thế hệ con người Việt Nam luôn nâng niu và gìngiữ Những giá trị đó là linh hồn, là bản sắc văn hóa và là căn cước để nhậndiện bản sắc dân tộc Việt Nam trong vô số nền văn minh trên thế giới
Sinh thời Bác Hồ luôn là tấm gương sáng trong việc nâng niu, gìn giữ
những gì mà cha ông để lại Người từng nói: “ Nhân dân ta sẵn có truyền thống tốt đẹp là lao động cần cù, sinh hoạt giản dị, lại có tinh thần yêu nước nồng nàn, chúng ta cần phải phát huy truyền thống và tinh thần ấy” Trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta xác định: Xây dựng nền văn hóađậm đà bản sắc dân tộc làm động lực cho sự phát triển đất nước Vì vậy, giữgìn và phát huy giá trị truyền thống trở thành một nhiệm vụ chiến lược tronggiai đoạn hiện nay
Thanh niên là một lực lượng xã hội đặc thù, đóng vai trò quan trọngtrong sự vận động và phát triển của xã hội Lịch sử nhân loại đã chứng minhrằng sự thành - bại, thịnh – suy của mỗi dân tộc phần lớn đều phụ thuộc vàothanh niên Thanh niên là một bộ phận nòng cốt của xã hội, rường cột của dântộc, là lực lượng xung kích của cách mạng và là chủ nhân tương lai của đấtnước Chính vì vậy việc giáo dục, đào tạo bồi dưỡng thế hệ thanh niên là mộtviệc làm thường xuyên và cần thiết
Trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước do Đảng cộng Sản ViệtNam khởi xướng và lãnh đạo đã và đang mang lại những kết quả to lớn trêntất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Trong bối cảnh đất nước đang tiếnhành công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhậpquốc tế, có biết bao nhiêu cơ hội và cũng đan xen không ít những khó khăn,thách thức, thanh niên vẫn là lực lượng xã hội to lớn, có tiềm năng hùng hậu.Thế hệ thanh niên ngày nay được kế thừa tinh hoa truyền thống của dân tộc
và những thành quả của cách mạng, mở rộng giao lưu quốc tế; họ có mặtmạnh cơ bản là trình độ học vấn cao hơn trước, nhạy cảm với thời cuộc, giàulòng yêu nước, có khát vọng đưa đất nước vượt qua nghèo nàn, lạc hậu, thựchiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Thanhniên và công tác thanh niên càng có vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng và tolớn Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước có hội nhập và
Trang 3sánh vai được với cộng đồng thế giới hay không, cách mạng Việt Nam cóvững bước theo con đường xã hội chủ nghĩa hay không, phần lớn tuỳ thuộcvào lực lượng thanh niên và phụ thuộc vào việc bồi dưỡng, rèn luyện, đào tạocác thế hệ trẻ Công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, là mộttrong những nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng Thế nhưng bêncạnh những thành tựu đạt được đã nảy sinh những hạn chế nhất định do cơchế thị trường mang lại, đó là hiện tượng phản đạo đức, phi nhân tính của đờisống xã hội Tình hình thế hệ trẻ mắc vào tệ nạn xã hội, phạm tội khôngngừng gia tăng Chính lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền, thích hưởngthụ, thói ích kỷ, buông thả, phai mờ lý tưởng, bất chấp đạo lý… đang từngngày, từng giờ làm xói mòn, băng hoại những nét đẹp văn hóa, đặc biệt lànhững giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Mặc dù Đảng ta có nhiềuquan điểm đường lối nhằm kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức truyềnthống trong việc xây dựng đạo đức mới cho mọi từng lớp nhân dân nói chung,cho thanh niên nói riêng, thế nhưng việc cụ thể hóa các quan điểm, đường lối
ấy của Đảng ở một số nơi làm chưa tốt
Nghệ An là một vùng đất địa linh nhân kiệt, nơi nổi tiếng là một xứ vănhóa với nhiều truyền thống đặc sắc, hiện nay tỉnh với gần 1 triệu thanh niênchiếm 27% dân số và 47% lực lượng lao động tỉnh Cơ cấu đa dạng và có nétđặc thù: thanh niên trên địa bàn dân cư chiếm trên 70%; than niên là học sinh,sinh viên chiếm gần 25%; thanh niên CNVC và lực lượng vũ trang chiếm 5%;trong đó thanh niên dân tộc ít người chiếm 15%; thanh niên tôn giáo chiếm9,5%; nữ thanh niên chiếm 50,3%, trong những năm qua mặc dù các chủ thểgiáo dục đã cố gắng trong quá trình giáo dục các giá trị đạo đức cho thanhniên, thế nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau đã làm cho hiệu quả giáodục chưa cao, thậm chí ở một số nơi cấp ủy Đảng, chính quyền và tổ chứcĐoàn còn xem nhẹ hoặc chưa thấy rõ tầm quan trọng của việc giáo dục đạođức cho thanh niên
Trước thực trạng ấy, việc giáo dục đạo đức mới cho thanh niên nóichung, cho thanh niên Nghệ An nói riêng trên cơ sở kế thừa và phát huy
Trang 4những giá trị truyền thống dân tộc như tinh thần Đại hội XI của Đảng xácđịnh:
“Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hoá gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm mỹ ngày càng cao” đang là một yêu cầu cấp thiết hiện
nay
Vì vậy tác giả chọn đề tài: “ Giá trị đạo đức truyền thống với việc xây
dựng đạo đức mới cho thanh niên tỉnh Nghệ An hiện nay” làm đề tài luận
văn tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Vấn đề kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống để xâydựng đạo đức nói chung, cho thanh niên nói riêng đã được Đảng ta và nhiều
nhà khoa học bàn đến Đề cương văn hóa Việt Nam (1943) Đảng ta đã đề cập
đến vấn đề kế thừa giá trị văn hóa truyền thống dân tộc để xây dựng nền văn
hóa Việt Nam với nội dung “dân tộc – khoa học – đại chúng”; Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam (1980) của Giáo sư Trần Văn Giàu (NXB Khoa học xã hội); Về giá trị tinh thần truyền thống (1993), NXB Thông tin lý luận, Hà Nội; Văn hóa dân tộc trong quá trình mở cửa ở nước ta hiện nay, Khoa Văn hóa Xã hội chủ nghĩa, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 1995; “Quan hệ kinh tế và đạo đức trong việc định hướng các giá trị đạo đức hiện nay” của Nguyễn Thế
Kiệt ( Tạp chí Triết học, số 6, 1996); Nghị quyết Trung ương 6 Ban chấp
hành Trung ương khóa VIII (1998) với nội dung: “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”; “Giá trị truyền thống – nhân lõi và sức sống bên trong của sự phát triển đất nước, dân tộc” của tác
Trang 5giả Nguyễn Văn Huyên (Tạp chí Triết học, số 4, 1998); “Tư tưởng đạo đức
Hồ Chí Minh và vấn đề giáo dục, rèn luyện trong nền kinh tế thị trường” của
Hoàng Trung ( Tạp chí triết học, số 5, 1998);…
Một số chuyên khảo tiêu biểu đi sâu nghiên cứu nhằm xác định các giátrị đạo đức truyền thống làm cơ sở cho việc xây dựng đời sống văn hóa đặc
biệt là đời sống văn hóa và con người Việt Nam trong thời kỳ đổi mới: “Giáo dục đạo đức với sự hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” của Trần Sĩ Phán (luận án Tiến sĩ, 1999); “Quan
hệ kinh tế và đạo đức với việc xây dựng đạo đức mới cho thế hệ trẻ hiện nay
ở Việt Nam” của Nguyễn Đình Quế ( luận văn thạc sĩ, 2000); “Giá trị đạo đức
và biểu hiện của nó trong đời sống xã hội” của Mai xuân Lợi ( Tạp chí Triết học, số 3, 2001); “Vấn đề giáo dục đạo đức truyền thống cho sinh viên Việt Nam hiện nay” của Doãn Thị Chín ( luận văn Thạc sĩ, 2004); “Đạo đức mới – đạo đức cách mạng từ các cách tiếp cận khác nhau” của Trịnh Duy Huy ( Tạp chí Triết học, số 1, 2006); “Toàn cầu hóa “nguy cơ tha hóa” và vấn đề định hướng giá trị văn hóa tinh thần” của Đặng Hữu Toàn (Tạp chí Triết học,
số 5, 2006); “Về việc tạo ra bước chuyển mạnh mẽ trong xây dựng nền đạo đức mới ở nước ta hiện nay” của Nguyễn Văn Phúc ( Tạp chí Triết học, số 11, 2006); “ Nhân ái – một truyền thống cần kế thừa và phát huy trong việc xây dựng lối sống ở Việt Nam hiện nay” của Võ Văn Thắng (Tạp chí Triết học, số
7, 2007); “Một số giá trị đạo đức Việt Nam từ truyền thống đến Hồ Chí Minh” (Sách học tập đạo đức Hồ Chí Minh, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007); “Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò, vị trí của thanh niên đối với sự nghiệp cách mạng” của Đào Thị Tùng (Thông tin công tác trường chính trị số
Trang 6“Giá trị đạo đức truyền thống và những yêu cầu đạo đức đối với nhân cách con người Việt Nam hiện nay” của Cao Thu Hằng (Nguồn
Như vậy việc kế thừa và đổi mới những giá trị đạo đức truyền thống đểxây dựng đạo đức mới ở nước ta hiện nay đã được rất nhiều nhà khoa họcquan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, vấn đề phát huy giá trị đạo đức truyền thống
để xây dựng đạo đức nói chung, đạo đức mới cho thanh niên nói riêng là vấn
đề đang có biến đổi phức tạp, vì thế cần phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
b Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ của luận văn tập trung:
- Làm rõ vai trò của giá trị đạo đức truyền thống trong việc xây dựng đạo đứcmới cho thanh niên Việt Nam hiện nay
- Nghiên cứu làm rõ giá trị đạo đức truyền thống với việc xây dựng đạo đứcmới cho thanh niên Nghệ An hiện nay thực trạng và giải pháp
c Phạm vi nghiên cứu
Đạo đức truyền thống của con người Việt Nam bao gồm cả tính tích cực
và hạn chế, trong luận văn này tác giả tập trung nhiều hơn đến mặt tích cựccần được kế thừa và phát huy trong việc xây dựng đạo đức mới cho thanhniên tỉnh Nghệ An hiện nay
Trang 74 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
a Cơ sở lý luận của luận văn
Luận văn này dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê Nin, cácquan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về đạo đức thanh niên,đồng thời kế thừa và chọn lọc những thành tựu của các công trình nghiên cứukhoa học có liên quan đến đề tài
b Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp luận của chủ nghĩa duy vậtbiện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; kết hợp giữa phương pháp lịch sử vàlogic, phân tích và tổng hợp Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp sosánh, phân tích, thống kê…để thực hiện mục đích đề tài nghiên cứu đề ra
5 Nét mới của đề tài
- Phân tích và làm rõ thực trạng phát huy giá trị đạo đức truyền thống trongviệc xây dựng đạo đức mới cho thanh niên tỉnh Nghệ An hiện nay
- Đề ra phương hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy giá trịđạo đức truyền thống trong việc xây dựng đạo đức mới cho thanh niên tỉnh Nghệ
An hiện nay
6 Ý nghĩa của đề tài
Trên cơ sở chỉ ra thực trạng giáo dục giá trị truyền thống hiện nay chothanh niên tỉnh Nghệ An từ đó nêu lên một số phương hướng, giải pháp, nhằmgiữ gìn và phát huy giá trị truyền thống Việt Nam hiện nay trong việc xâydựng đạo đức mới cho thanh niên Nghệ An hiện nay
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văngồm 2 chương, 4 tiết
Trang 8Chương 1 GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG VIỆC XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC MỚI CHO THANH NIÊN VIỆT
NAM HIỆN NAY 1.1 GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
1.1.1 Giá trị, giá trị đạo đức và giá trị đạo đức truyền thống
“ Giá trị” là một trong những phạm trù cơ bản có liên quan đến đời
sống con người, đến thực tiễn xã hội:
“ Giá trị là phạm trù người Chỉ trong con người xã hội mới có cái gọi
là giá trị Trong quá trình “chiếm hữu” để trưởng thành và để tự vượt lên
Trang 9mình giữa con người với ngoại giới, giữa con người với con người, trong xãhội xuất hiện khái niệm giá trị” Giá trị được đề cập và nghiên cứu trong rấtnhiều lĩnh vực khoa học: Đạo đức học, tâm lý học, xã hội học, chính trị học,kinh tế học, triết học Tuy nhiên trong mỗi lĩnh vực khác nhau, khái niệm vềgiá trị có thể mang những nội dung khác nhau.
Ngay từ thời cổ đại, gắn liền với triết học, con người đã có những hiểubiết ban đầu sơ khai về “ giá trị”, “giá trị học” Mãi đến cuối thế kỷ XIX giátrị học mới tách riêng thành một lĩnh vực khoa học độc lập và từ đó thuật ngữgiá trị được dùng để chỉ một khái niệm khoa học
Trong lĩnh vực kinh tế học, phạm trù giá trị gắn liền giá trị hàng hóa,giá cả và sản xuất hàng hóa và phía sau nó là sức lao động, giá trị lao độngcủa người làm ra hàng hóa Theo quan điểm kinh tế, giá trị kinh tế là sứcmạnh của sản phẩm này khống chế những sản phẩm khác thông qua trao đổi,giá trị của một vật phẩm thể hiện ở tính có ích của nó, nghĩa là vật phẩm đó
có khả năng đáp ứng thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người Do vậy, trongphân tích kinh tế thì giá trị là vị trí tương đối của hàng hóa trong trật tự ưutiên, vị trí của nó càng cao thì giá trị của nó càng lớn
Trong lĩnh vực triết học, khi đề cập đến phạm trù giá trị thì có nhiềuquan điểm khác nhau Những người theo chủ nghĩa duy tâm khách quan nhưKant, M.SheLer…coi giá trị là sự tồn tại của những bản chất tiên nghiệm,những chuẩn mực lý tưởng tồn tại bên ngoài sự vật không phụ thuộc vào nhucầu và ham muốn của con người Trái lại, chủ nghĩa duy tâm chủ quan coi giátrị là hiện tượng của ý thức, là biểu tượng của thái độ chủ quan của con ngườiđối với khách thể mà người đó đang đánh giá Những người theo thuyết tựnhiên chủ nghĩa lại coi giá trị là biểu hiện những nhu cầu tự nhiên của conngười, từ đó làm nảy sinh các quan niệm xã hội, kinh tế và thực dụng
Chủ nghĩa Mác – Lenin đã nhấn mạnh bản chất xã hội, tính lịch sử, tính nhậnthức được và tính thực tiễn của giá trị và coi giá trị xã hội là những hiện tượng
xã hội đặc thù, giá trị không phải là những cái tiên nghiệm, thần bí, có từ hư
vô mà mọi giá trị đều có nguồn gốc từ lao động sáng tạo của quần chúng vàkhi nói đến giá trị bao giờ cũng nói đến mối quan hệ giữa khách thể và chủthể Con người có khả năng nhận thức được giá trị và thông qua thực tiễn để
Trang 10kiểm nghiệm giá trị Hay nói cách khác, thực tiễn là tiêu chuẩn khách quancủa giá trị.
Mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau về phạm trù giá trị, thế nhưng cóthể khái quát lại rằng giá trị có một số điểm sau:
Một là, mỗi vật thể hay tư tưởng đều có những giá trị, nếu nó được con
người thừa nhận hoặc đặt cho nó một vị trí quan trọng trong đời sống của họ
Hai là, giữa bản chất và quy luật bản chất của bản thân sự vật, hiện
tượng có sự khác nhau rất cơ bản với giá trị của sự vật, hiện tượng Bản chất
và quy luật của sự vật, hiện tượng tồn tại không phụ thuộc vào nhu cầu củacon người, còn giá trị chỉ tồn tại trong mối liên hệ với nhu cầu của con người
Vì vậy, tùy theo việc con người có hay không có nhu cầu nào đó mà một sựvật hay hiện tượng đối với con người là có hay không có giá trị
Ba là, giá trị luôn mang tính khách quan Điều đó có nghĩa là sự xuất
hiện, tồn tại hay mất đi một nhu cầu nào đó của con người không phải do ýthức mà do yêu cầu của hoạt động, của thực tiễn trong đó con người sống vàhoạt động
Bốn là, trong mọi giá trị đều chứa đựng yếu tố nhận thức, tình cảm,
hành vi của chủ thể trong mối quan hệ với sự vật, hiện tượng mang giá trị, thểhiện sự lựa chọn và đánh giá của chủ thể
Tóm lại, “ nói đến giá trị tức là muốn khẳng định mặt tích cực, mặtchính diện, nghĩa là đã bao hàm quan điểm coi giá trị gắn liền với cái đúng,cái tốt, cái hay, cái đẹp; là nói đến khả năng thôi thúc con người ta hành động
và nỗ lực vươn tới” [ 3, tr 16 -19]
Để phân loại giá trị, tùy theo mục đích tiếp cận mà các tác giả nêu lênnhững căn cứ phân loại khác nhau về giá trị Thế nhưng thông thường cáchphân loại khá phổ biến là chia giá trị thành hai loại: giá trị vật chất và giá trịtinh thần Giá trị vật chất thể hiện rõ nhất trong đời sống kinh tế - nơi gắn bótrực tiếp với tồn tại xã hội, quyết định sự tồn tại của xã hội loài người, vì vậygiá trị vật chất cũng liên quan mật thiết với các lĩnh vực chính trị, pháp quyền,thiết chế xã hội,…còn giá trị tinh thần “ vượt thoát” hiện thực nhưng khôngphải xa rời hiện thực mà là nhằm vươn tới một xã hội nhân văn, xã hội mànhân loại tiến bộ đang mong tới
Trang 11Trong các giá trị vật chất, người ta thường đề cập đến giá trị sử dụng vàgiá trị kinh tế.
Trong các giá trị tinh thần, người ta thường đề cập đến các loại giá trịnhư: giá trị khoa học (giá trị nhận thức, cái chân lý), giá trị chính trị (cái chínhnghĩa, cái cách mạng), giá trị tôn giáo (sự thiêng liêng, sự thánh thiện), giá trịđạo đức ( cái thiện, cái ác)…tuy nhiên sự phân chia này chỉ mang tính tươngđối Trong phạm vi luận văn tác giả xin góp phần làm rõ thế nào là “ giá trịđạo đức”?
Trong hệ thống các giá trị tinh thần của đời sống xã hội thì giá trị đạođức là một yếu tố vô cùng quan trọng, nó là những chuẩn mực, những khuônmẫu lý tưởng, những quy tắc ứng xử nhằm điều chỉnh và chuẩn hóa hành vicủa con người trên cơ sở tự nguyện, tự giác Vì vậy, giá trị đạo đức được đánhgiá là: “ có ý nghĩa tích cực đối với đời sống xã hội, được lương tâm đồngtình, dư luận biểu dương Giá trị đạo đức vì thế có ý nghĩa thiết yếu đối vớiđời sống xã hội” [17, tr.51] Theo Giáo sư Huỳnh Khái Vinh: “ Giá trị đạođức biểu hiện ở những chuẩn mực quy định mối quan hệ người – người vớigiới tự nhiên và xã hội (gia đình, cộng đồng) trên tinh thần yêu thương haythù hận, tôn trọng hay không tôn trọng, sự phát triển hay kìm hãm tài năng, tự
do và hạnh phúc” [63, tr.60]
Nghiên cứu sâu hơn về bản thân các giá trị, nếu xét theo chiều thời gian(lịch đại), có thể phân thành giá trị truyền thống và giá trị hiện đại Mỗi dântộc đều có truyền thống lịch sử của riêng mình Truyền thống là điều kiện đểduy trì và phát triển cuộc của cộng đồng Nó là sản phẩm của quá trình pháttriển của mỗi dân tộc, mỗi dân tộc khác nhau có truyền thống khác nhau.Thậm chí, cùng một dân tộc, qua từng giai đoạn lịch sử khác nhau thì truyềnthống cũng được biểu hiện dưới những sắc thái khác nhau Truyền thống vừamang tính cộng đồng lại vừa mang tính giai cấp Theo đó, trong xã hội có giaicấp, mỗi giai cấp đều góp phần mình tạo dựng nên truyền thống của dân tộcmình, quốc gia mình Trong truyền thống của mỗi dân tộc, có những truyềnthống tốt nhưng cũng có những truyền thống lạc hậu Tiêu chuẩn đánh giá
“truyền thống” là mức độ đóng góp của nó vào sự tiến bộ xã hội, sự phù hợp
Trang 12với quy luật khách quan hay không.
Từ những phân tích trên, chúng ta có thể nhận dạng về truyền thốngqua những đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, truyền thống là kết quả hoạt động vật chất và tinh thần của
con người trong quá khứ biểu hiện ở tính cách, phẩm chất, tư tưởng, tình cảm,tập quán, thói quen trong tư duy, lối ứng xử, tâm lý
Thứ hai, truyền thống bao giờ cũng là truyền thống của một cộng đồng
người (thị tộc, bộ lạc, bộ tộc, dân tộc, dòng họ, gia đình, làng xã ), là bản sắccủa cả cộng đồng người
Thứ ba, truyền thống được hình thành trong lịch sử do tác động của
môi trường tự nhiên và điều kiện địa lý, do tác động của quá trình lao độngsản xuất và kết cấu kinh tế xã hội, sự tác động thường xuyên của lịch sử, tácđộng của môi trường văn hoá khu vực và thế giới
Thứ tư, truyền thống có tính kế tục từ lớp người trước sang lớp người
sau, nó ăn sâu vào tâm lý, vào phong tục, tập quán, nếp nghĩ của con người
Như vậy, truyền thống có tính cộng đồng, tính ổn định và tính lưutruyền Những đặc trưng đó của truyền thống có tính độc lập tương đối, khinhững cơ sở, điều kiện hình thành nên truyền thống đã thay đổi thì sớm muộnnội dung của truyền thống cũng dần biến đổi theo cho phù hợp với điều kiệnhoàn cảnh lịch sử mới Truyền thống không phải là một phạm trù khép kín mà
là hệ thống mở Cho nên, những giá trị được tạo ra hôm nay và ngày mai nếutrở thành phổ biến và ăn sâu vào đời sống tâm lý, lối sống của cộng đồng thì
sẽ tạo ra truyền thống mới
Giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam là một bộ phận của hệ giá trịtinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, nó là nhân lõi, là sức sống bêntrong của dân tộc Giá trị đạo đức truyền thống dân tộc là sự kết tinh toàn bộtinh hoa của dân tộc, được xác định là các giá trị nhân văn mang tính cộng, lànhững chuẩn mực, những khuôn mẫu lý tưởng, những quy tắc ứng xử giữacon người với con người, giữa con người với tự nhiên
Trang 13Xét trong mối tương quan với khu vực và thế giới, đặc biệt với các dântộc ở phương Đông, các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc ta có nhữngnét tương đồng với nhiều dân tộc khác vì các dân tộc trong quá trình hìnhthành và phát triển của mình đều phải giải quyết những vấn đề chung như,xây dựng và bảo vệ tổ quốc, ổn định và phát triển xã hội Mặt khác, sự giaolưu quốc tế và sự giao thoa giữa các nền văn hoá diễn ra thường xuyên ở mức
độ này hay mức độ khác, nhất là với những nước gần nhau đã ảnh hưởng lẫnnhau một cách khá rõ nét Tuy vậy, do đặc thù về điều kiện lịch sử dân tộc màsắc thái truyền thống của mỗi dân tộc là không giống nhau
Trong hệ giá trị tinh thần của dân tộc Việt Nam, giá trị đạo đức truyềnthống là một bộ phận thiết yếu, nổi lên hàng đầu, tạo nên cốt lõi của hệ giá trịtinh thần đó Chính vì vậy, khi nói đến những giá trị tinh thần của dân tộc ta,
là nói đến những phẩm chất tốt đẹp, quý báu đã được hình thành và bảo lưutrong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.Giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc ta được cô đúc, thử thách và tái tạoqua nhiều thế hệ khác nhau, theo những bước thăng trầm của lịch sử Nó chứađựng một tiềm năng hết sức to lớn và bền vững, nó chính là sức mạnh vốn cócủa dân tộc Việt Nam, giúp cho dân tộc ta tồn tại và phát triển Giá trị đạođức truyền thống của dân tộc ta do chính cộng đồng người Việt Nam tạo lậptrong quá trình dựng nước và giữ nước, với tất cả những điều kiện lịch sử đặcthù vốn có, đã tạo nên một bản sắc hết sức độc đáo cho dân tộc Việt Nam
Sớm xác định được vai trò quan trọng của giá trị đạo đức truyền thốngcủa dân tộc đối với sự phát triển đất nước, nên nhân dân ta luôn giữ gìn và tôntrọng những giá trị quý báu ấy và xem chúng như là những tiêu điểm để mọingười hướng tới, làm theo Giáo sư Trần Văn Giàu đã viết: “ Giá trị đạo đứctruyền thống là những cái gì sừng sững, vững chắc, cao vọi, tôn nghiêm nhưnhững ngọn núi, đời qua đời làm tiêu điểm để các tầng lớp đồng bào theo đó
mà gióng hướng mà không đi lạc, mà phân biệt chính tà, phải trái, nên chăng,tốt xấu để mọi người xác định thái độ, hành tung của mình” [10, tr.93]
1.1.2 Các giá trị đạo đức truyền thống tiêu biểu của dân tộc Việt Nam
Trang 14Xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử cho rằng tồn tại xãhội quyết định ý thức xã hội, cho nên những giá trị tinh thần và đạo đức, nhâncách của người Việt Nam có nguồn gốc sâu xa là bắt nguồn từ những hoàncảnh địa lý, môi trường tự nhiên, lịch sử xã hội.
Việt Nam là một nước có nền sản xuất nông nghiệp lâu đời, đời sốngngười nông dân quanh năm gặp nhiều khó khăn, vất vả, phần lớn phụ thuộcvào thiên nhiên Mặt khác, do nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa Đông Bắc
và Đông Nam nên điều kiện tự nhiên tương đối khắc nghiệt, mưa nắng thấtthường, điều đó đã gây ra nhiều thiên tai, hạn hán, dẫn đến mất mùa Chínhtrong điều kiện khó khăn đó đã hình thành ở con người Việt Nam những giátrị quý báu như: sự gắn bó cộng đồng chặt chẽ, yêu thương đùm bọc, giúp đỡnhau,…từ đó hình thành thói quen cần cù, tiết kiệm
Việt Nam là đất nước có nhiều tài nguyên thiên nhiên quý báu “ rừng vàng,biển bạc, đất phì nhiêu”; mặt khác, lại nằm ở đầu mối giao thông quốc tế, chonên Việt Nam thường xuyên là mục tiêu của các thế lực ngoại xâm và trongđiều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, sự đe dọa của ngoại xâm, để tồn tại và pháttriển, người Việt Nam phải “ chung lưng đấu cật”, “sát cánh bên nhau” trongsản xuất và chiến đấu Việc gắn đời sống của cá nhân với cộng đồng cũng là
để bảo vệ cuộc sống của mình Do đó, trong nấc thang giá trị xã hội thì giá trịcộng đồng là được đánh giá cao, hay nói cách khác đề cao các giá trị đạo đức
là đặc điểm nổi bật trong đời sống của dân tộc Việt Nam
Trong các chủ trương, đường lối của Đảng ta và nhiều công trình nghiên cứucủa các nhà khoa học Việt Nam đã thể hiện quan điểm của mình về các giá trịđạo đức truyền thống của dân tộc Giáo sư Vũ Khiêu cho rằng: giá trị đạo đứccủa dân tộc Việt Nam bao gồm “ lòng yêu nước, truyền thống đoàn kết, laođộng cần cù và sáng tạo, tinh thần nhân đạo, lòng yêu thương và quý trọngcon người”[17, tr.74], còn theo Giáo sư Trần Văn Giàu, thì giá trị đạo đứctruyền thống của dân tộc Việt Nam bao gồm: “ yêu nước, cần cù, anh hùng,sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa” [10, tr 94] Trong các văn kiệncủa Đảng ta, đặc biệt là Nghị quyết của Bộ chính trị về một số định hướng lớntrong công tác tư tưởng đã xác định: “ Những giá trị văn hóa truyền thống bềnvững của dân tộc Việt Nam là lòng yêu nước nồng nàn, ý thức cộng đồng sâu
Trang 15sắc, đạo lý thương người như thể thương thân, đức tính cần cù, vượt khó, sángtạo trong lao động” [8, tr.19] Nghị quyết Hội nghị lần thứ V của Ban chấphành trung ương Đảng khóa VIII, đã khẳng định:
Bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam bao gồm những giá trị bền vững,những tinh hoa được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựngnước và giữ nước Đó là lòng yêu nước nồng nàn, lòng tự tôn, tự hào dân tộc,tinh thần cộng đồng gắn kết cá nhân – gia đình – làng xã – tổ quốc, lòng nhân
ái bao dung, trọng nghĩa tình đạo lý, đức tính cần cù sáng tạo trong lao động,
là đức hy sinh cao thượng tất cả vì độc lập dân tộc, vì hạnh phúc của nhândân, là sự tế nhị trong cư xử, tính giản dị trong lối sống [6, tr.10]
Quan điểm trên của Đảng ta và các nhà khoa học tuy có những điểm cụ thểkhác nhau, cách diễn đạt khác nhau, thế nhưng đều khẳng định rõ vị trí nổi bậtcủa các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Dựa trên cách tiếp cận về giátrị, giá trị đạo đức truyền thống, ta thấy rằng dân tộc Việt Nam trong quá trìnhdựng nước và giữ nước đã tạo nên những giá trị đạo đức truyền thống cơ bảnsau:
- Truyền thống yêu nước
Bất cứ một quốc gia, một dân tộc nào trên thế giới đều có tình yêu đấtnước Nhưng lòng yêu nước của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc lại có sự hìnhthành và biểu hiện những bản sắc riêng
Yêu nước là một truyền thống cực kỳ quý báu, lâu đời của dân tộc Việt Nam.Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam được hình thành gắn liền với lịch sử đấu tranhdựng nước và giữ nước của dân tộc Từ những buổi đầu tiên dựng nước, dântộc Việt Nam lại phải đương đầu với điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, vớigiặc ngoại xâm – những kẻ thù hung hãn và hùng mạnh Để tồn tại và pháttriển, đòi hỏi dân tộc Việt Nam phải có lòng yêu nước, bởi vì có yêu nước thìmới có quyết tâm, dám chịu hy sinh để bảo vệ nền độc lập cho dân tộc
Mặc dù cuộc sống riêng tư của mỗi cá nhân, giữa cá nhân với cộng đồngngười có nhiều khác biệt, nhưng yêu nước là giá trị hàng đầu của mỗi ngườiViệt Nam, là “ tiêu điểm của mỗi tiêu điểm”, là “ giá trị trên các giá trị” Giáo
sư Trần Văn Giàu cho rằng: “ yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên qua toàn bộ lịch
sử Việt Nam từ cổ đại đến hiện đại” [10, tr.94]
Trang 16Sự hình thành chủ nghĩa yêu nước gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nướccủa dân tộc Việt Nam Tinh thần yêu nước Việt Nam không chỉ là tình cảm
mà còn là một tư tưởng thiêng liêng, cao quý nhất, được bắt nguồn từ nhữngtình cảm đơn sơ và bình dị của mỗi người dân Tình cảm đó ban đầu bắtnguồn từ sự yêu thương, quan tâm đến những người thân thương, ruột thịt, rồiđến xóm làng, sau đó phát triển cao thành tình yêu Tổ quốc Tình yêu tổ quốckhông chỉ gắn liền với quá trình dựng nước mà nó còn thể hiện rõ trong quátrình bảo vệ đất nước Chủ nghĩa yêu nước của dân tộc Việt Nam được thểhiện ở lòng dũng cảm, ý chí bất khuất, kiên cường; đó là tinh thần hết mựcyêu hòa bình, yêu tự do, nhưng khi đất nước có ngoại xâm thì “ thà hy sinh tất
cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.Chính tinh thần yêu nước nồng nàn đã giúp dân tộc ta vượt qua mọi khó khăn,chiến thắng mọi thế lực xâm lược Qua những cuộc chiến tranh trường kỳ đầygian khổ đó, chủ nghĩa yêu nước đã trở thành dòng chủ lực của đời sống ViệtNam, thành một triết lý xã hội và nhân sinh trong tâm hồn người Việt Nam.Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “ Dân tộc Việt Nam có lòng nồng nànyêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay mỗi khi Tổquốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vôcùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấnchìm tất cả bè lũ bán nước và cướp nước” [37, tr.171]
Tóm lại, chính lòng yêu nước nồng nàn, ý chí quật cường dân tộc đã tạo rasức mạnh vô cùng to lớn, giúp cho dân tộc Việt Nam vượt qua mọi gian nguy,chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, giữ vững độc lập, tự do cho Tổ quốc Chính
vì vậy yêu nước là niềm tự hào của dân tộc và là một truyền thống cực kỳ quýbáu mà chúng ta cần phải kế thừa và đổi mới trong sự nghiệp xây dựngCNXH ở nước ta hiện nay
- Truyền thống cần cù, dũng cảm, thông minh, sáng tạo
Truyền thống cần cù, dũng cảm, thông minh, sáng tạo cũng là mộttrong những giá trị đạo đức có từ bao đời của dân tộc Việt Nam Nó đượchình thành và phát triển trong điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh xã hội khó khănkhắc nghiệt ngay từ những ngày đầu dựng nước và giữ nước Trong quá trìnhsản xuất, con người luôn phải sống và lao động trong những điều kiện thiên
Trang 17nhiên khắc nghiệt như: hạn hán, lũ lụt,…Mặt khác, Việt Nam là một nước cónhiều tài nguyên khoáng sản, là đầu mối giao thông của các nước, nên thườngxuyên bị các thế lực ngoại xâm xâm lược Chính vì vậy người dân Việt Namtrong quá trình lịch sử đã kiên trì bám làng, bám đất, vừa sản xuất, vừa đánhgiặc để giữ gìn chủ quyền và độc lập cho dân tộc Sống trong hoàn cảnh khókhăn, vất vả tưởng chừng như không thể nào vượt qua nỗi, nhưng nhờ có đứctính cần cù và dũng cảm mà nhân dân ta đã vượt qua, để từng bước tự khẳngđịnh mình trong quá trình phát triển của dân tộc Tất cả những khó khăn đóđược thể hiện trong rất nhiều câu ca dao, dân ca Việt Nam: “ Cày đồng đangbuổi ban trưa, mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày”…Chính vì sự khó nhọc
đó đòi hỏi con người phải quý trọng những thành quả lao động ấy: “ Ai ơibưng bát cơm đầy, dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần” Cần cù của dântộc Việt Nam là sự siêng năng trong lao động, nhưng điều đó cũng không cónghĩa là “ cần cù bù thông minh” mà cần cù ở đây là sự lao động có kế hoạch,sáng tạo, có năng suất cao
Truyền thống dũng cảm của dân tộc Việt Nam xuất phát sâu xa từ điềukiện tự nhiên và lịch sử dựng nước và giữ nước chống giặc ngoại xâm vàchống thiên tai địch họa Quá trình đó đã tôi luyện con người Việt Nam quabao thế hệ tinh thần dũng cảm, dám đối mặt với sự thật dù nó có khó khăn vàrất gian nan, không trốn tránh, là tinh thần luôn lạc quan để vượt qua bao sónggió của cuộc sống, là làm những việc mà người khác không dám làm, là dámđương đầu với những khó khăn thử thách của bản thân, dám đối diện vớichính mình Trong lịch sử nước nhà chúng ta đã có rất nhiều những tấmgương dũng cảm, vì nước quên thân, luôn sẵn sàng đối mặt với kẻ thù, vớikhó khăn gian khổ, thậm chí cả hy sinh mất mát Đó là anh hùng trẻ tuổi TrầnQuốc Toản bóp nát quả cam và anh dũng đứng lên chống giặc Nguyên Môngtàn bạo, là Lê Lai liều mình cứu chúa Trong hai cuộc chiến tranh chống thựcdân Pháp và đế quốc Mỹ của dân tộc lòng dũng cảm ấy là phẩm chất quantrọng nhất của những người hùng trong cuộc kháng chiến Đúng như Tố Hữu
đã viết : “Dân ta gan dạ anh hùng Trẻ làm đuốc sống, già xông lửa đồn Chân toạc máu, chân dồn đuổi giặc Tay chém thù tay sắc như gươm” Họ đã
Trang 18cùng toàn dân quyết tâm làm nên một chiến công Điện Biên Phủ “Chín năm làm một Điện Biên; Nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng” Những chiến sĩ Điện
Biên là những con người mang trong mình chất thép của lòng dũng cảm:
“Chiến sĩ Điện Biện, chiến sĩ anh hùng Đầu nung lửa sắt, gan không núng, chí không mòn…Những đồng chí thân chôn làm giá súng; đầu bịt lỗ châu mai, băng mình qua núi thép gai, ào ào như vũ bão Những đồng chí chèn lưng cứu pháo, nát thân, nhắm mắt còn ôm” Những hình ảnh những anh vệquốc quân, giải phóng quân đã trở thành những biểu tượng đẹp về lòng dũngcảm như chị Võ Thị Sáu đứng trước họng súng quân địch mà vẫn cất caotiếng hát, anh Hai Thương bị địch bắt và tra tấn dã man, anh đã dũng cảmchịu đựng khi bị địch cưa chân đến sáu lần với biết bao đau đớn nhưng anhnhất quyết không khai một lời nào Chú bé loắt choắt chạy như bay dưới lànđạn quân thù để đưa thư cho được bức thư đề "thượng khẩn" Đó còn là cô
thanh niên xung phong ”Lấy thân mình hứng lấy luồng bom” (Thơ Lâm Thị
Mĩ Dạ), anh Nguyễn Văn Trỗi hiên ngang ra pháp trường, chị Đặng ThùyTrâm, anh Nguyễn Văn Thạc dũng cảm lên chiến địa… tất cả đều là nhữngtâm gương sáng ngời của lòng dũng cảm Nhờ có tinh thần đó góp phần to lớn
để chúng ta có ngày 30/4 lịch sử: “Ôi buổi trưa nay tuyệt trần nắng đẹp! Bác
Hồ ơi! Toàn thắng về ta Chúng con đến xanh ngời ánh thép.Thành phố tên người lộng lẫy cờ hoa.” Cùng với lòng yêu nước thiết tha, lòng dũng cảm của
những người chiến sĩ ấy đã giúp họ có được lẽ sống rất đẹp: sẵn sàng đổ máumình cho cây Tổ Quốc đơm hoa Độc lập, kết trái tự do và viết nên trang sửmới của thời đại Hồ Chí Minh đầy tự hào
Trong cuộc sống hoà bình, tiếp nối lòng dũng cảm của cha ông, hiện naychúng ta vẫn hàng ngày hàng giờ chứng kiến những hành động dũng cảm.Dũng cảm vạch trần những việc làm sai trái của người khác dù đó là những kẻ
có chức có quyền, những chiến sĩ công an, những hiệp sĩ dũng cảm bắt tộiphạm để giữ cho nhân dân có cuộc sống thanh bình, một bạn học sinh sẵnsàng lao xuống dòng nước chảy xiết đề cứu bạn Những con người dũng cảm
ấy đã góp phần làm cho cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn
Trang 19Thực tiễn chứng minh, nhờ có tinh thần dũng cảm, cần cù và sáng tạo tronglao động và kháng chiến mà ông cha ta đã xây dựng và bảo vệ được non sônggấm vóc và giữ vững nền độc lập của đất nước đến ngày nay Trong quá trìnhđổi mới đất nước hiện nay, chúng ta phải kế thừa và phát huy những truyềnthống đức tính tốt đẹp đó.
- Truyền thống nhân nghĩa
Nhân nghĩa là truyền thống đạo đức cao quý và thiêng liêng của dân tộc
ta Nó là một giá trị đạo đức cơ bản của con người, được thể hiện ở suy nghĩ,hành động, cách cư xử với người theo lẽ phải, giúp đỡ người khi gặp khókhăn hoạn nạn
Nhân được hiểu là lòng thương người, yêu người, yêu quý kính trọng conngười
Nghĩa được hiểu là điều hợp lẽ phải, làm theo lẽ phải, đối xử với conngười theo lẽ phải
Nhân nghĩa là lòng thương người, đối xử với người theo lẽ phải Nhânnghĩa là bản chất ở mỗi con người Việt Nam, đó là tình thương yêu, lòngnhân ái, giúp đỡ lẫn nhau trong hoạn nạn, khó khăn: “Nhiễu điều phủ lấy giágương, người trong một nước phải thương nhau cùng” Sự thương yêu đùmbọc lẫn nhau đã đi vào lịch sử, ca dao, tục ngữ, thơ văn,…Nó đã trở thànhquan niệm sống của mỗi con người Việt Nam: “ Bầu ơi thương lấy bí cùng,tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”, “ Lá lành đùm lá rách”, “ máucháy ruột mềm” Cha ông ta đã dạy đạo lý làm người cho con cháu “ Muốnngười ta yêu mình thì mình phải yêu người trước” Đạo lý nhường nhịn, đùmbọc thương yêu nhau là tình cảm gắn bó người Việt lại với nhau trong tìnhlàng nghĩa xóm Nó trở thành lối ứng xử hàng ngày của mỗi người Việt Namqua các thế hệ Nhân nghĩa còn thể hiện ở sự tương trợ, giúp đỡ lẫn nhautrong lao động , trong cuộc sống hàng ngày với mong muốn mọi người đều cócuộc sống ấm no, hạnh phúc
Tinh thần nhân nghĩa của người Việt Nam thể hiện sâu sắc ở lòng vị tha
và sự cao thượng, không cố chấp với người có lỗi lầm, biết hối cải, họ đối xửkhoan hồng ngay cả với tù binh, hàng binh trong chiến tranh “ Đánh kẻ chạy
đi, không ai đánh kẻ chạy lại” Bác Hồ đã từng dạy: “ Năm ngón tay cũng có
Trang 20ngón ngắn, ngón dài, nhưng ngắn, dài đều hợp nhau lại nơi bàn tay Trongmấy triệu người cũng có người thế này, thế khác, nhưng thế này hay thế khác,đều là dòng dõi của tổ tiên ta Vậy nên ta phải khoan hồng, đại độ…ta phảilấy tình nhân ái để cảm hóa họ” Lòng nhân ái của dân tộc ta không chỉ dànhriêng cho người Việt Nam mà còn mở rộng ra là tình yêu thương nhân loại.Khi quân Minh bại trận thì Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã cấp thuyền, lương thực
để quân giặc về nước, hay trong thời kỳ chống quân Nguyên – Mông cũngvậy Trong các cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, khi quân xâm lược đầuhàng thì Chính phủ và nhân dân ta đã tạo điều kiện cho quân lính trở về nước.Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “ Trước bác ái, thì máu Pháp hay máu Việtcũng đều là máu, người Pháp hay người Việt cũng đều là người” Chính tinhthần nhân nghĩa đã cảm hóa lòng người, đã đem đến sức mạnh cho nhân dân
ta trong đấu tranh giành độc lập Trong tác phẩm “ Bình Ngô Đại Cáo”Nguyễn Trãi đã viết: “ Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thaycường bạo”, nhân nghĩa sẽ đem lại sức mạnh, đem lại niềm tin cho nhân dân
ta dành chiến thắng
Tư tưởng nhân nghĩa có từ lâu đời trong lịch sử, được bắt nguồn từ khivua Hùng dựng nước, tồn tại và phát triển qua các thời kỳ Nhân dân ta cómấy ai không biết đến những vị anh hùng hào kiệt của dân tộc như Trần HưngĐạo, Lê lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung…truyền thống nhân nghĩa được đúckết, được họ kế thừa và phát triển Đến thời đại Hồ Chí Minh, truyền thốngnhân nghĩa đã thấm sâu vào tình cảm, suy nghĩ, hành động của mỗi con ngườiViệt Nam
Truyền thống nhân nghĩa của dân tộc được kết tinh rõ nhất ở Hồ ChíMinh Suốt cuộc đời mình, Người đã chiến đấu không mệt mỏi cho hạnh phúccủa nhân dân Đồng chí Lê Duẩn viết: “ Cuộc đời của Hồ Chủ tịch trong nhưánh sáng, đó là tấm gương tuyệt vời về chí khí cách mạng kiên cường, tinhthần độc lập tự chủ, lòng nhân đạo và yêu mến nhân dân tha thiết, đạo đức chícông vô tư, tác phong khiêm tốn giản dị và “trái tim khối óc của Người dànhcho dân tộc Việt Nam cũng hướng về giai cấp vô sản và các dân tộc bị ápbức” ( Điếu Văn của Bộ Chính trị) Lòng thương yêu con người, thương dân,
Trang 21thương đồng bào, thương các dân tộc bị áp bức trên thế giới cũng chính là nétnổi bật trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.
Một nét nổi bật nữa của truyền thống nhân nghĩa của dân tộc là các thế
hệ sau luôn ghi lòng tạc dạ công lao của các vị anh hùng dân tộc, các thế hệ đitrước, những người đã ngã xuống trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổquốc, những người có công khai sáng nền văn hóa dân tộc, có công với làngxóm, dòng họ Hầu hết nơi nào trên đất nước Việt Nam cũng có đền thờ các vịanh hùng, đền thờ thành hoàng làng, dòng họ, tổ tiên, ví dụ như đền thờ các vịanh hùng: Tản Viên, Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo,
Lê Lợi, Quang Trung, rồi đến thờ các dòng họ, các ông tổ của nghề, Thànhhoàng làng…Hàng năm, nhân dân ta thường mở lễ hội để tưởng nhớ nhữngngười có công với đất nước Mỗi con người Việt, dù họ sống ở đâu, làm nghề
gì thì cũng đều nhớ ngày giỗ Tổ Ngày giỗ Tổ là ngày hội lớn nhất của dântộc: “ Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng Ba”
Truyền thống nhân nghĩa trong thời đại ngày nay được thể hiện ởđường lối đối ngoại của Đảng với phương châm: “ Khép lại quá khứ hướngđến tương lai”, “ Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước” nhằm xâydựng nước Việt Nam giàu đẹp, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, bảo vệ hòabình và an ninh quốc gia
“Truyền thống nhân nghĩa còn thể hiện ở niềm tin vào con người, tinvào tiền đồ phát triển của đất nước với quan niệm “ Hậu sinh khả úy”, “ Conhơn cha là nhà có phúc” [11, tr.87] Điều này được chứng minh qua mỗi thế
hệ con người Việt Nam đều ham học hỏi, kính trọng, biết ơn công lao củanhững người đi trước Trong mỗi gia đình đó là sự hy sinh của cha mẹ dànhcho con cái, là sự hiếu thảo của con cháu dành cho ông bà, cha mẹ đã dạy dỗnuôi nấng thành người
Phát huy truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, ngày nay chúng ta đangkhơi dậy các phong trào “ Uống nước nhớ nguồn”, “ Đền ơn đáp nghĩa”, thămhỏi, tặng quà cho các gia đình có công với cách mạng, gia đình bà mẹ ViệtNam anh hùng, gia đình thương binh liệt sĩ, giúp đỡ đồng bào lũ lụt, đồng bàodân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, giúp đỡ người già và trẻ em cơ nhỡkhông nơi nương tựa, người tàn tật, khó khăn hoạn nạn…
Trang 22- Truyền thống đoàn kết cộng đồng sâu sắc
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đãtổng kết và rút ra kết luận: “ Trải qua mấy ngàn năm lịch sử, nhân dân laođộng Việt Nam cần cù, sáng tạo, chiến đấu anh dũng để dựng nước và giữnước, đã hun đúc nên truyền thống đoàn kết, nhân nghĩa kiên cường bất khuấtcủa dân tộc và xây dựng nền văn hiến Việt Nam” [60, tr 303]
Tư tưởng đoàn kết giữa các dân tộc anh em được thể hiện rất sớm trongcách lý giải về sự ra đời của dân tộc Việt Nam trong truyền thuyết “Trămtrứng nở trăm con” Cho đến lịch sử hình thành dân tộc: theo tiếng gọi củatiếng trống Hùng Vương, mười lăm bộ lạc hợp thành quốc gia Văn Langthống nhất Thấy rõ vai trò của đoàn kết, cha ông ta đã luôn có ý thức chốngchính sách chia rẽ của các thế lực ngoại bang cũng như xu hướng cát cứ củacác thế lực phong kiến Do vậy, từ chính sách “dùng người Việt đánh ngườiViệt” của bọn phong kiến phương Bắc đến chính sách “chia để trị” của thựcdân Pháp, của đế quốc Mỹ đều lần lượt bị thất bại trước tinh thần đoàn kếtcủa nhân dân ta
Tinh thần đoàn kết, tương trợ lẫn nhau là một trong những truyền thốngquý báu của dân tộc Việt Nam, nó được hình thành trong quá trình đấu tranhchống ngoại xâm, chống thiên nhiên khắc nghiệt Bởi trong những điều kiệnkhó khăn đó, con người muốn vượt qua họ phải “ Chung lưng, đấu cật”, gópsức, góp trí…vì vậy tinh thần đoàn kết cộng đồng sâu sắc được hình thành làmột lẽ tất nhiên trong đời sống của con người, để đáp ứng nhu cầu kháchquan đang đòi hỏi Dân tộc Việt Nam luôn xem đoàn kết là một sức mạnh làmnên mọi thắng lợi Đoàn kết thể hiện trong mọi thành công và thất bại, “ cóphúc cùng hưởng, có họa cùng chia” Đặc biệt tinh thần đoàn kết thể hiện rõnhất và quý nhất khi gặp khó khăn, hoạn nạn Khi đói rét thì “nhường cơm sẻáo” khi gặp hoạn nạn, khó khăn thì “Chị ngã em nâng”…
Một câu hỏi được đặt ra, vậy truyền thống đoàn kết bắt nguồn từ đâu? Truyềnthống đoàn kết trước hết bắt nguồn từ gia đình, làng xã “ Thuận vợ thuậnchồng, tát bể đông cũng cạn”, “ Anh em như thể tay chân”, “ Máu chảy ruộtmềm”,…từ tinh thần đoàn kết trong gia đình đã phát triển thành tình đoàn kết
Trang 23làng xóm “ Bán anh em xa mua láng giềng gần” hay “ Tối lửa tắt đèn cónhau”.
Có thể nói rằng, ít quốc gia, dân tộc nào trên thế giới, tinh thần đoànkết lại thể hiện phong phú đa dạng như ở Việt Nam Tinh thần đoàn kết đượcthể hiện ở ba không gian nhà – làng – nước
Từ đoàn kết gia đình, làng xã mở rộng ra đó là đoàn kết toàn dân tộc.Lịch sử qua hàng ngàn năm cho thấy “ Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết”.Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh rằng tinh thần đoàn kết là mộtyếu tố vô cùng quan trọng, cái đảm bảo chắc chắn cho thắng lợi của dân tộc,
là điểm tựa tinh thần vững chắc, một động lực mạnh mẽ trong sự nghiệp giảiphóng dân tộc cũng như trong sự nghiệp cách mạng XHCN
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần nhắc nhở: Dễ trăm lầnkhông dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong, “Việc gì khó cho mấy,quyết tâm làm thì làm chắc được, ít người làm không nổi, nhiều người đồngtâm hiệp lực mà làm thì phải nổi” [67, tr.258] Người còn khẳng định: Đoànkết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công, thành công, đại thành công Trước lúc
đi xa, Người còn căn dặn các cán bộ, đảng viên: “Đoàn kết là một truyềnthống cực kỳ quý báu của Đảng và nhân dân ta Các đồng chí từ Trung ươngcho đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìncon ngươi của mắt mình (Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh được công bốnăm 1969)
Ngày nay, truyền thống đoàn kết được thể hiện trong việc toàn dân tintưởng vào đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong sựnghiệp đổi mới, xây dựng CNXH Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống vănhóa xã hội, ra sức phấn đấu xây dựng nước Việt Nam giàu đẹp, văn minh.Nước ta đang tham gia vào quá trình toàn cầu hóa, điều đó lại càng đòi hỏitoàn dân tộc phải phát huy truyền thống đoàn kết, sức mạnh của khối đại đoànkết toàn dân, sớm đưa nước ta thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, trởthành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại
Để đấu tranh chống lại các thế lực phản động và các thế lực thù địchđang ra sức chống phá Nhà nước ta Đảng và Nhà nước phải luôn chăm lo,củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, có chính sách chăm lo cho các vùng đồng
Trang 24bào dân tộc thiểu số, đồng bào vùng sâu vùng xa, biên giới hải đảo, phá vỡmọi âm mưu chia rẽ của khối đại đoàn kết toàn dân tộc của kẻ thù, bảo vệvững chắc hòa bình cho đất nước.
Nhờ có tinh thần đoàn kết chặt chẽ, sâu sắc ấy mà cộng đồng ngườiViệt Nam luôn duy trì được các quan hệ xã hội hài hòa, giữ được sự đồngthuận, bình yên cho xóm làng, quê hương, đất nước
- Truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo
Cha ông ta từ xưa tới nay luôn nhắc nhở con cháu rằng: “ Nhân bất học,bất tri lý” ( Không học không hiểu biết), tức là nói đến vai trò của tri thức đốivới cuộc sống của con người Muốn hiểu biết, muốn thành đạt, muốn tiếp thunhững tri thức văn minh nhân loại, mỗi chúng ta phải học Do đó mà từ lâuđời trong lịch sử dân tộc, truyền thống hiếu học đã ra đời và phát triển Hiếuhọc là một trong những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam
Hiếu học nghĩa là sự ham học hỏi, ham hiểu biết, tìm tòi khám phá trithức, khám phá ra những điều mới để khuyến khích và cổ động việc học tập.Hiếu học có cơ sở bền vững từ trong mỗi gia đình, mỗi quê hương của ngườiViệt Nam Dù ở bất cứ lúc nào, ở đâu trên đất nước Việt Nam chúng ta vẫnbắt gặp những tấm gương hiếu học đáng trân trọng Các bậc cha mẹ ở các thế
hệ nối tiếp nhau từ xưa đến nay đều có mơ ước con mình học giỏi để thànhngười hữu dụng Trong lịch sử của dân tộc, mặc dù có những hoàn cảnh khókhăn, thậm chí đói nghèo nhưng vẫn có những bậc cha mẹ đã quan tâm đếnviệc học hành của con cái, tạo được gai đình khoa bảng nhiều đời sử sách lưudanh đến ngày nay Họ đã cống hiến cho đất nước những danh nhân văn hóa,những nhân tài đáng trân trọng – đó là những tấm gương hiếu học sáng ngờinhư: Nguyễn Hiền, Mạc Đĩnh Chi, Lê Quý Đôn,…Mặc dù những gương hiếuhọc đó có những điều kiện hoàn cảnh cụ thể khác nhau, nhưng điểm chungcủa họ là tuy sống trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, nhưng với tinh thầnhiếu học, kiên trì, vượt khó họ đã vươn lên trở thành những danh nhân đấtViệt
Do hiếu học, nên dân tộc Việt Nam sớm có truyền thống “tôn sư trọng đạo”,
“Tiên học lễ, hậu học văn”, học trước hết là để làm người sau đó để làm việc.Cho nên để trở thành người tốt, làm việc tốt thì phải học Người có học thức
Trang 25cao luôn được xã hội suy tôn Vì vậy “tôn sư trọng đạo” trở thành một truyềnthống vô cùng cao đẹp của dân tộc ta, nó góp phần định hướng giá trị trongquá trình phát triển xã hội Trong tác phẩm “ Bàn về khoan dung trong vănhóa” của Giáo sư, Tiến sĩ Huỳnh Khái Vinh và Tiến sĩ Nguyễn Thanh Tuấn
đã nhận định rằng: “Giá trị hiếu học, coi trọng học vấn và tôn sư trọng đạo làtruyền thống lâu bền và là một hàm nghĩa của văn hiến Việt Nam” [63,tr.316] Viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu thì cho rằng: “Hiếu học là truyền thống quýbáu từ ngàn xưa của dân tộc ta Truyền thống ấy cần được gìn giữ và phát huytrong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bất chấp những “sónggió” của kinh tế thị trường” [ 2, tr 4]
Hiếu học là một truyền thống tốt đẹp, nó được kế thừa và phát huy trongsuốt chiều dài lịch sử của dân tộc Việt Nam Trong xã hội Phong kiến, trongđiều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên, sự thiếu thốn về mọi thứ nên ngườiViệt Nam sớm ý thức được rằng chỉ có học mới có thể thoát khỏi những đóinghèo, khổ cực Hình ảnh Mai Thúc Loan đầu đội mâm đồng nặng trĩu nhưng
vì ham học đã “học trộm” đến tê cả gót chân mà vẫn không hay, về sau trởthành vị vua nổi tiếng của nước ta; Nguyễn Hiền, mồ côi cha, sống trong túplều ở chùa, nghèo nên phải bắt đom đóm làm đèn để học, năm 13 tuổi đã đỗTrạng nguyên – đây là vị trạng nguyên nhỏ tuổi nhất lịch sử khoa bảng ViệtNam; Mạc Đĩnh Chi, mồ côi cha sớm, nhà nghèo phải đốt lá rừng để học và
đã trở thành vị trạng nguyên giỏi của dân tộc…và còn nhiều gương hiếu họckhác in dấu ấn trong lịch sử của dân tộc Có thể nói rằng, trải qua những giaiđoạn lịch sử khác nhau nhưng truyền thống hiếu học luôn được nhân dân ta kếthừa, phát huy và nâng lên thành lẽ sống
Trong cuộc chiến tranh trường kỳ, gian khổ chống thực dân Pháp và đếquốc Mỹ xâm lược, dân tộc Việt Nam phải đương đầu với nhiều khó khăn thửthách, nhưng truyền thống hiếu học vẫn luôn được nhân ta kế thừa và pháthuy cao độ Trong điều kiện “ khói đạn, mưa bom” vẫn xuất hiện những conngười mang trong mình truyền thống hiếu học của dân tộc đã không ngại khókhăn, nguy hiểm để vượt lên hoàn cảnh để học hành thành đạt
Khi nước nhà hoàn toàn thống nhất, cả nước tập trung cải tạo xã hội cũ,tiến lên CNXH, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã nhận thức được rằng
Trang 26chúng ta không thể khắc phục nghèo đói, đưa đất nước phát triển nếu không
có tri thức khoa học Chính điều đó đã có nhiều chủ trương, đường lối chínhsách của Đảng, Nhà nước nhằm khuyến khích nhân dân phát huy truyền thốnghiếu học của dân tộc Mặc dù điều kiện sống chưa cao, thế nhưng vẫn cónhiều gia đình đã chắt chiu, dành những điều kiện tốt nhất cho con em mìnhhọc hành “ đến nơi, đến chốn”
Có thể nói, hiếu học là một truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ViệtNam Trong điều kiện hiện nay cần phải phát huy truyền thống đó vì có nhưvậy mới có thể đào tạo và sử dụng con người mới – con người XHCN “vừahồng, vừa chuyên”, đáp ứng được những yêu cầu mới đang đặt ra cho cả dântộc
1.2 ĐẠO ĐỨC MỚI VÀ VAI TRÒ CỦA GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG TRONG VIỆC XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC MỚI CHO THANH NIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY
1.2.1 Đạo đức mới và những chuẩn mực của đạo đức mới
Đạo đức không sinh ra từ đạo đức, mà nảy sinh do nhu cầu của đời sống
xã hội, là kết quả của sự phát triển lịch sử Đạo đức được hình thành từ rấtsớm, ngay từ khi bắt đầu hình thành lịch sử loài người Tùy thuộc vào các giaiđoạn lịch sử và cách tiếp cận khác nhau mà vấn đề đạo đức được hiểu theonhững nghĩa khác nhau Ở phương Đông cổ đại, người Trung Quốc đã đưa ranhiều học thuyết về đạo đức được biểu hiện trong quan niệm về “đạo” và
“đức” của họ “Đạo” mang nghĩa là đường đi, con đường Về sau khái niệmđạo đức được vận dụng trong triết học để chỉ con đường của tự nhiên Ngoài
ra đạo còn là một phạm trù để chỉ đường sống của con người trong xã hội.Khái niệm “Đức” lần đầu tiên xuất hiện trong Kim văn đời nhà ChuTrung Quốc và sau được người Trung Quốc sử dụng nhiều “Đức” là sự biểuhiện của đạo, là đạo nghĩa, là nguyên tắc luân lý Nói tóm lại, theo quan niệmcủa người Trung Quốc cổ đại thì đạo đức là những yêu cầu, những nguyên tắc
do cuộc sống đặt ra mà mỗi người phải tuân theo
Ở phương Tây, ngay từ thời cổ đại cũng có nhiều nhà triết học đưa ranhiều quan niệm khác nhau về vấn đề đạo đức Trong số đó, Xôcrát
Trang 27(469 - 399 TCN) là người đầu tiên đặt nền móng cho khoa học đạo đức học.
Về sau Arixtot (384 – 322 TCN) đặc biệt quan tâm đến phẩm hạnh con người
và cho ra đời bộ sách đạo đức học Nội dung của phẩm hạnh con người theoArixtot chính là ở chỗ con người biết định hướng đúng, biết làm việc thiện.Epiquya là nhà triết học rất quan tâm đến vấn đề đạo đức ông là người đầutiên đưa ra phạm trù lẽ sống và là một trong những người có công luận giải về
sự tự do của con người
Kế thừa những tư tưởng quý báu về đạo đức trước đó, chủ nghĩa
Mác – Lênin đưa ra quan niệm về đạo đức: Đạo đức là một hình thái ý thức
xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điềuchỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan
hệ với xã hội, chúng được biểu hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống vàsức mạnh của dư luận xã hội [12, tr.7]
Từ quan niệm trên, đạo đức trước hết được hiểu là một hình thái ý thức xãhội, nó phản ánh tồn tại xã hội, phản ánh hiện thực của đời sống đạo đức xãhội Quan điểm này đã khắc phục những sai lầm của các nhà triết học trướcMác (cả duy vật lẫn duy tâm) khi họ xem xét các vấn đề xã hội và đạo đức.Theo họ, đạo đức là biểu hiện của một sức mạnh siêu nhiên nào đó, là biểuhiện của những năng lực “tiên nhiên” nhất thành bất biến của lý trí con người.Những nhà triết học duy vật trước Mác tiêu biểu là Phoiơbắc đã nhìn thấy đạođức trong quan hệ con người, người với người Nhưng với ông con người chỉ
là một thực thể trìu tượng, bất biến, con người nhân bản, nghĩa là con người ởbên ngoài lịch sử, đứng trên giai cấp, dân tộc và thời đại
Những người theo quan điểm Đácuyn xã hội đã tầm thường hóa chủnghĩa duy vật bằng cách cho rằng, những phẩm chất đạo đức của con người làđồng nhất với những bản năng bầy đàn của động vật Đối với họ đạo đức, vềthực chất cũng chỉ là những năng lực được đem lại từ bên ngoài con người,ngoài xã hội Như vậy nét chung của các lý thuyết này là coi đạo đức khôngphải là cái phản ánh cơ sở xã hội hiện thực khách quan
Trang 28Khác với tất cả những quan niệm trước đó, C.Mác và Ph.Ăngghen đã quanniệm đạo đức được nảy sinh do nhu cầu của đời sống xã hội, là kết quả của sựphát triển lịch sử Trong tác phẩm “ Chống ĐuyRinh”, Ph.Ăngghen đã viết:
“ Xét cho đến cùng, mọi học thuyết về đạo đức đã có từ trước đến nay đều làsản phẩm của tình hình kinh tế của xã hội lúc bấy giờ” [34, tr.137]
Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, do tồn tại xã hội sinh ra vàphản ánh tồn tại xã hội, cho nên đạo đức không đứng yên mà luôn vận động
và biến đổi cùng với sự biến đổi của cái đã sinh ra nó
Trong xã hội Cộng sản nguyên thủy, khi lực lượng sản xuất còn thấpkém, quan hệ sản xuất dựa trên cơ sở của chế độ sở hữu công cộng về tư liệusản xuất Điều đó đã quy định đời sống làm chung, ăn chung, ở chung củangười nguyên thủy Chính vì vậy mặc dù trong xã hội cộng sản nguyên thủycác dấu hiệu về đạo đức đã xuất hiện, nhưng biểu hiện của nó còn sơ khai,mang tính trực quan, cụ thể nhưng nó đã được là mầm mống đầu tiên củađạo đức Đạo đức trong xã hội Cộng sản nguyên thủy tồn tại và thể hiệntrong xã hội và thông qua các quan hệ xã hội khác trên cơ sở phong tục, tậpquán, thói quen, kinh nghiệm…
Đến cuối chế độ Cộng sản nguyên thủy, xã hội đã xuất hiện giai cấp, xuấthiện chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất Trong các xã hội có sựphân chia giai cấp thì đạo đức cũng mang tính giai cấp, đó là đạo đức củanhững người bóc lột Chính vì vậy đạo đức mang tính chất đối kháng, nênnhững chuẩn mực, quy tắc đạo đức được xây dựng trên cơ sở bất bình đẳng,
sự nô dịch, sự áp bức và bóc lột Điều này thể hiện rất rõ trong các chế độ xãhội Chiếm hữu nô lệ, Phong kiến, Tư bản Chủ nghĩa Trong ba nền đạo đức
ấy, chúng ta phải thừa nhận rằng mỗi nền đạo đức như thế, nó có vị trí riêng,vai trò riêng trong quá trình phát triển của nhân loại Mặc dù đạo đức Tư sản
đã từng có vai trò to lớn trong lịch sử, mà cụ thể là nó đề cao vai trò của cánhân, thế nhưng khi đạo đức Tư sản tuyệt đối hóa vai trò cá nhân, dẫn đếnchủ nghĩa cá nhân thì nó đã thể hiện rõ mặt trái của nó, đó là lối sống chạytheo đồng tiền, vị kỷ, chạy theo những ham muốn bản năng thấp hèn…điều
đó đã làm cho các quan hệ giữa người với người trở nên lạnh lùng, tàn nhẫn
Trang 29theo lối “ trả tiền ngay không cần tình nghĩa”, đồng tiền trở thành chân giátrị cuối cùng trong tất cả các quan hệ xã hội Khi nhận định về đạo đức của
xã hội Tư bản người ta thấy rằng cùng với việc tạo ra bước tiến khổng lồ vànhững thành tựu to lớn trong sự phát triển, Chủ nghĩa Tư bản cũng đã để lạitrong lòng nó không ít những hậu quả tiêu cực Vấn đề luân lý, đạo đức ngàycàng suy giảm Nhận định về điều này C.Mác cho rằng:
Mọi sự vật đều tự hồ như bao hàm mặt đối lập của nó Chúng ta thấy rằngnhững máy móc có một sức mạnh kỳ diệu trong việc giảm bớt lao động củacon người và làm cho lao động của con người có kết quả cao hơn, thì lạiđem nạn đói và tình trạng kiệt kệ đến cho con người Những nguồn của cảimới từ xưa đến nay chưa ai biết, dường như do một sức mạnh thần kỳ nào đólại đang biến thành nguồn gốc của sự nghèo khổ Những thắng lợi của kỹthuật dường như đã được mua bằng cái giá của sự suy đồi về mặt tinh thần.Dường như loài người càng chinh phục được thiên nhiên nhiều hơn, thì conngười lại càng trở thành nô lệ của những người khác hoặc nô lệ cho sự đêtiện của chính mình [32, tr.40]
Trên cơ sở nắm được những quy luật vận động và phát triển của đạođức, C.Mác và Ph.Ăngghen đã dự báo về sự xuất hiện nền đạo đức mới với
tư cách là biểu hiện về mặt đạo đức của xã hội mới – xã hội Cộng sản chủnghĩa và sự hình thành đạo đức mới trên cơ sở gắn đạo đức vô sản với cuộcđấu tranh giải phóng giai cấp vô sản và do đó nhân loại thoát khỏi sự phânbiệt giai cấp Vì vậy, theo Mác đạo đức Cộng sản là một thứ “đạo đức thực
sự có tính người, đứng trên những đối lập giai cấp và trên mọi hồi ức vềnhững đối lập ấy” [34, tr.137]
Tuy nhiên, đạo đức mới - đạo đức cộng sản được hình thành là một quátrình lâu dài, phức tạp Thắng lợi của giai cấp vô sản chỉ là cơ sở, nền móngđầu tiên cho sự xác lập đạo đức cộng sản Sự nghiệp xây dựng đạo đức mới –đạo đức cộng sản là một quá trình lâu dài phức tạp và là một quá trình tự giác
Với thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại, Lênin làngười đầu tiên lĩnh sứ mệnh lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chế độ CSCN vàđạo đức Cộng sản Theo Lênin đạo đức cộng sản “ là những gì góp phần phá
Trang 30hủy xã hội cũ của bọn bóc lột và góp phần đoàn kết tất cả những người laođộng chung quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo ra xã hội mới” [27, tr.369].Lênin cũng chỉ ra rằng: “cơ sở của đạo đức cộng sản là cuộc đấu tranh đểcủng cố và hoàn thành công cuộc xây dựng chủ nghĩa cộng sản”
[27, tr 372]
Vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin nói chung và
lý luận về đạo đức nói riêng vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Chủ tịch HồChí Minh chỉ ra rằng: “ Nói tóm lại đạo đức cách mạng là: quyết tâm suốtđời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng Đó là điều chủ chốt nhất Ra sứclàm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối,chính sách của Đảng Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trênhết, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình Hết lòng hết sức phục vụ nhândân Vì Đảng vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi côngviệc Ra sức học tập Chủ nghĩa Mác – Lênin, luôn luôn dùng phê bình và tựphê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồngchí mình tiến bộ” [38, tr.285]
Hồ Chí Minh đã coi đạo đức cách mạng là “gốc”, là nền tảng của mọingười cách mạng, Người nói: “cũng như sông thì có nguồn mới có nước,không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo.Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù có tài giỏi mấycũng không lãnh đạo được nhân dân” [36, tr.252 – 253]
Khác với các nền đạo đức trước đây, đạo đức cách mạng của giai cấpcông nhân, đạo đức cộng sản hay đạo đức mới – là nền đạo đức tiêu biểu chogiai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động, là nền đạo đức hướng tới
sự xóa bỏ hoàn toàn sự áp bức và bóc lột, mà chỉ có dưới CNXH mới có thểthực hiện được Như vậy, so với các nền đạo đức trước đây thì đạo đức mới
là một bước phát triển cao về chất Nó là kết quả của sự kế thừa những nộidung tốt đẹp nhất của các nền đạo đức trước đó, vì vậy đạo đức cách mạngbao hàm rất nhiều yếu tố mang tính nhân loại và nền đạo đức ấy sẽ được xâydựng thành công trong tương lai trên toàn thế giới, cùng với sự thắng lợi củachủ nghĩa cộng sản
Trang 31Tính cách mạng và khoa học của đạo đức mới thể hiện ở chỗ nó là sựphản ánh sáng tạo thực tiễn cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dânlao động, ở sự kế thừa có phê phán chọn lọc những giá trị truyền thống củadân tộc và những tinh hoa văn hóa của nhân loại Nội dung đạo đức mớimang tính khách quan, được quy định bởi địa vị và vai trò của giai cấp côngnhân trong nền sản xuất vật chất xã hội, bởi bản chất cách mạng và nhân đạocủa giai cấp vô sản Chính tính cách mạng và khoa học của đạo đức mới đãquy định bản chất của đạo đức mới
Chủ nghĩa tập thể là cơ sở của đạo đức mới:
Chủ nghĩa tập thể là nguyên tắc, là cơ sở của đạo đức mới Ở đây con ngườikhông chỉ suy nghĩ và hành động vì mình, vì bản thân mình mà còn vì ngườikhác, có tinh thần trách nhiệm và thái độ tôn trọng, chăm sóc lẫn nhau Tậpthể ở đây vừa là mục đích, vừa là phương tiện, là hình thức để cho các cánhân phát triển Chủ nghĩa tập thể là kết quả của sự phát triển hợp quy luậtcủa lịch sử xã hội loài người, là sự tổng hợp của những nhân tố chủ quan vàkhách quan của đời sống con người và xã hội loài người
Chủ nghĩa tập thể hoàn toàn đối lập với chủ nghĩa cá nhân Chủ nghĩa cánhân là biểu hiện của sự tuyệt đối hóa lợi ích của cá nhân, của gia đình màxem thường hay tạo sự đối lập với lợi ích của tập thể, của xã hội Thế nhưngdưới CNXH cũng không chấp nhận sự tuyệt đối hóa lợi ích tập thể, lợi ích xãhội mà xem thường lợi ích cá nhân Cái mà CNXH kiên quyết xóa bỏ là chủnghĩa cá nhân chứ không phải là lợi ích cá nhân - cái lợi thu được hợp pháptrong quá trình lao động, sản xuất và kinh doanh của mỗi cá nhân Để khắcphục chủ nghĩa cá nhân, theo Chủ nghĩa Mác – Lênin không chỉ dừng lại ởviệc giáo dục cá nhân mà điều quan trọng là phải xây dựng những tập thểthực sự tốt đẹp Ở đâu tập thể tốt thì ở đó chủ nghĩa cá nhân ít có điều kiệnnảy nở Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta thường xuyên nhắc nhở cán bộ,Đảng viên và nhân dân ta phải nâng cao tinh thần tập thể, chống chủ nghĩa
cá nhân Theo Bác, chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù nguy hiểm mà mọi ngườichúng ta phải luôn tỉnh táo đề phòng và kiên quyết tiêu diệt chúng, tuy vậycuộc đấu tranh ấy là một quá trình lâu dài, phức tạp
Trang 32Chủ nghĩa tập thể đòi hỏi tập thể phải có nghĩa vụ đối với cá nhân, quan tâmđến mọi mặt của đời sống cá nhân, đồng thời cũng yêu cầu mỗi cá nhân phảibiết kết hợp hài hòa giữa lợi ích cá nhân và xã hội với tinh thần: “mọi người
vì mỗi người, mỗi người vì mọi người” Trên tinh thần ấy sẽ tạo điều kiệncho sự hài hòa giữa lợi ích cá nhân và xã hội Như vậy chỉ có dưới CNXHmới đem lại giá trị của con người trả lại cho con người, coi con người là mụcđích cao nhất Ở đây biểu hiện quan hệ mới giữa cá nhân và xã hội (thôngqua mối quan hệ về lợi ích) là thống nhất với nhau, vai trò Nhà nước biểuhiện thực sự lợi ích của quần chúng lao động Quan hệ giữa người với ngườitrong tập thể là quan hệ bình đẳng, hợp tác, là quan hệ đồng chí Giữa các cánhân có mục tiêu chung là sự phát triển của cá nhân làm tiền đề, sự pháttriển tự do, toàn diện của con người là mục đích, sự phát triển tự do cho cánhân mỗi người là điều kiện phát triển tự do cho mọi người Trong điều kiện
ấy con người không chỉ quan tâm đến mình mà còn quan tâm đến ngườikhác với tinh thần trách nhiệm cao, luôn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, thựchiện mục tiêu chung phù hợp với sự tiến bộ xã hội, vì thế nó là cơ sở của chủnghĩa nhân đạo cao nhất
Lao động sáng tạo, tự giác là cội nguồn của đạo đức mới:
Lao động là hoạt động đặc thù của con người, nhờ có lao động mà xã hộiloài người vận động và phát triển Trong cuộc sống con người, để đo phẩmgiá của mình con người đã sử dụng rất nhiều chuẩn mực khác nhau, chẳnghạn như lương tâm trong sáng, động cơ hành vi hợp đạo đức, cuộc sống tinhthần lành mạnh, không vi phạm các chuẩn mực đạo đức…trong số nhữngchuẩn mực đó thì thái độ đối với lao động được xem là một trong nhữngchuẩn mực quan trọng nhất Bởi vì thông qua thái độ đối với lao động màngười ta đánh giá con người đó là lao động nghiêm túc hay không nghiêmtúc; trung thực hay giả dối; có trách nhiệm hay vô trách nhiệm; tiết kiệm haylãng phí…
Đạo đức mới luôn kính trọng, tôn vinh những người có thái độ tốt đối vớilao động, đó là những người có tính tự giác trong lao động, lao động có tổchức, kỷ luật, cần cù và sáng tạo; chăm lo lao động, thực hành tiết kiệm
Trang 33chống lãng phí, lười lao động…nhưng đạo đức mới cũng hoàn toàn xa lạ vàđối lập với kiểu lao động hình thức, vô trách nhiệm, kém hiệu quả và vụ lợi,kiểu: “ngồi mát ăn bát vàng” như các nền đạo đức của giai cấp bóc lột trướcđây
Dưới CNXH đòi hỏi phải sản xuất ngày càng nhiều của cải vật chất, do đóngười lao động phải lao động một cách nhiệt tình, sáng tạo với năng suất,chất lượng cao và thông qua thái độ lao động tự giác, có kỷ luật, lao độngsáng tạo thể hiện bản chất con người, lao động cho mình và vì sự tiến bộ của
xã hội
Chủ nghĩa yêu nước kết hợp với chủ nghĩa quốc tế:
Yêu nước là một thuộc tính tự nhiên có ý nghĩa phổ biến đối với tất cả mọingười, mọi dân tộc Bởi vì bất kỳ cá nhân nào được sinh ra đều có cội nguồnnhất định: có quê hương, dân tộc, Tổ quốc của mình Do đó dù có đi nơi đâu
họ cũng nhớ về những kỷ niệm vui buồn nơi “chôn nhau cắt rốn” và có niềm
tự hào sâu sắc về quê hương của mình Trong đó truyền thống dân tộc đượcxem là một niềm tự hào cao cả nhất, có sức cổ vũ mạnh mẽ nhất Chính lòng
tự hào đó đã đem lại cho tình yêu Tổ quốc một nội dung phong phú sâu sắc
ở mỗi con người Khi lòng yêu nước được nâng cao đến tầm triết lý nhânsinh, triết lý xã hội, một lối sống, một trình độ nhận thức sâu sắc và có hệthống chi phối một cách có ý thức mọi hành vi và cách ứng xử của conngười thì trở thành chủ nghĩa yêu nước Chủ nghĩa yêu nước bao hàm cả tưtưởng và tình cảm yêu nước, nó vừa là nguyên tắc đạo đức nhưng cũng vừa
là nguyên tắc chính trị Ngoài tình yêu đối với đất nước, chủ nghĩa yêu nướccòn là lòng trung thành với Tổ quốc và khát vọng phục vụ những lợi ích cao
cả của Tổ quốc và nhân dân
Trong lịch sử của nhân loại, chủ nghĩa yêu nước có quá trình phát triểnlâu dài, có tính lịch sử Trong các xã hội có giai cấp, chủ nghĩa yêu nướccũng mang tính giai cấp Chẳng hạn yêu nước theo quan niệm của giai cấpPhong kiến là “trung quân”, yêu nước theo tư tưởng của giai cấp Tư sản là
“yêu chế độ tư sản”, còn yêu nước trong chế độ XHCN là yêu nhân dân laođộng, là lòng tự hào dân tộc, lòng tự hào trong lao động, tự hào về những
Trang 34gương anh hùng giải phóng dân tộc…và như vậy chủ nghĩa yêu nước củagiai cấp công nhân luôn gắn liền với lợi ích của nhân dân lao động, gắn liềnvới mục tiêu giải phóng nhân dân lao động vĩnh viễn thoát khỏi sự áp bứcbóc lột, nâng cao trình độ phát triển về mọi mặt cho người lao động để họthực sự là người làm chủ đất nước
Như vậy theo đạo đức mới của giai cấp công nhân hiện nay, yêu nước khôngchỉ dừng lại ở chỗ yêu quê hương, làng xóm, là trung với vua…mà yêu nước
đã được mở rộng hơn nhiều và nâng lên về chất: yêu nước là yêu nhân dânlao động, yêu chế độ XHCN và quyết tâm xây dựng thành công CNXH, yêunước trên lập trường chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân Vì thế chủnghĩa yêu nước của giai cấp công nhân trong thời đại ngày nay có giá trị tolớn và có ý nghĩa vô cùng quan trọng
Chủ nghĩa nhân đạo XHCN:
Chủ nghĩa nhân đạo, theo tiếng Latinh có nghĩa là về con người, về tínhngười, có học thức Trong thời kỳ Phục hưng, theo nghĩa hẹp chủ nghĩa nhânđạo gắn liền với việc nghiên cứu các di sản cổ đại trong triết học, luân lýhọc, nghệ thuật và mô tả đặc điểm của nền văn hóa thời kỳ Phục hưng Theonghĩa rộng, chủ nghĩa nhân đạo là một trào lưu xã hội tiến bộ, là tổng hợpnhững quan điểm nhằm bảo vệ phẩm giá, bảo vệ sự tự do và sự phát triểntoàn diện, bảo vệ tính người của các quan hệ xã hội
Tư tưởng nhân đạo đã được hình thành từ xa xưa, trong cuộc chiến tranhchống áp bức, bóc lột và những hành vi vi phạm đạo đức Nhưng nó đượchình thành rõ nét từ phong trào Phục hưng văn hóa thế kỷ XV – XVI ở Italiakhi giai cấp tư sản đang lên chống lại những tư tưởng của giai cấp phongkiến và tư tưởng kinh viện của nhà thờ đã giam hãm con người trong đêmdài trung cổ nhằm giải phóng con người, đòi tự do, bình đẳng, bác ái
Chủ nghĩa nhân đạo XHCN và chủ nghĩa nhân đạo Tư sản có sự đối lập vớinhau về chất Điều này thể hiện ở chỗ chủ nghĩa nhân đạo XHCN là sự kếthừa và phát triển trên quan điểm biện chứng những tinh hoa lý tưởng nhânđạo trong lịch sử nhân loại, nhưng đó không phải là lý tưởng nhân đạo củaCNXH không tưởng – là một thứ tình cảm chung chung, trừu tượng phi giai
Trang 35cấp, phi lịch sử, mà đó là chủ nghĩa nhân đạo có tính chất hiện thực và trựctiếp nhằm vào hành động và giải phóng con người Với ý nghĩa đó chủ nghĩanhân đạo XHCN là nguyên tắc, là nội dung cơ bản của đạo đức mới Chỉ cóchủ nghĩa nhân đạo XHCN và chủ nghĩa nhân đạo Cộng sản mới có thể biếnước mơ nhân đạo thành hiện thực phổ biến, tạo những điều kiện để xóa bỏtận gốc mọi hình thức áp bức, bóc lột và nô dịch con người, do vậy chủnghĩa nhân đạo Cộng sản là lý tưởng nhân đạo triệt để, là chủ nghĩa nhânđạo hiện thực
Vai trò đạo đức mới của thanh niên Việt Nam hiện nay
Bất kỳ một giai cấp nào sau khi đã giành được chính quyền về tay giai cấpmình đều tiến hành cải tạo mọi mặt của đời sống xã hội có lợi cho giai cấpmình Giai cấp vô sản cũng không nằm ngoài quy luật đó Sau khi giànhđược chính quyền giai cấp vô sản đã xác lập được địa vị thống trị về mọimặt của đời sống xã hội: kinh tế, văn hóa và tư tưởng
Đạo đức mới – đạo đức của giai cấp công nhân và nhân dân lao động từ khiđược tiến hành đến nay đã dần dần khẳng định địa vị thống trị của mìnhtrong đời sống đạo đức xã hội và là vũ khí tinh thần của giai cấp công nhântrong quá trình xây dựng xã hội mới Đạo đức mới của thanh niên có vai trò
đó đòi hỏi thanh niên phải được nuôi dưỡng, giáo dục trong môi trường đạođức mới, phải là lực lượng tiêu biểu mang trong mình đầy đủ những chuẩnmực của nền đạo đức mới Bởi đạo đức mới của thanh niên là những quytắc, chuẩn mực mang tính cách mạng và khoa học, có khả năng hướng tớihình ảnh hoàn thiện nhất của con người, góp phần giải phóng người laođộng vĩnh viễn thoát khỏi sự áp bức bất công vì một xã hội công bằng, dân
Trang 36chủ và văn minh Vì vậy có thể nói rằng đạo đức mới của thanh niên là mụctiêu hướng tới của người thanh niên.
Khi đã có đạo đức mới người thanh niên mới có thể hoàn thành được nhiệm
vụ của mình trong mọi giai đoạn cách mạng Vì đạo đức mới mang tính cáchmạng, khoa học nên nó có khả năng định hướng cho ý thức và hành vi mọingười trong xã hội nói chung, cho thanh niên nói riêng
Để giành thắng lợi trong công cuộc đổi mới, cần rất nhiều yếu tố, nhưng đạođức mới của thanh niên là một trong những động lực rất quan trọng, nhưtinh thần Nghị quyết trung ương 4 khóa VI của Đảng ta xác định: “Sựnghiệp đổi mới có thành công hay không đất nước bước vào thế kỷ 21 có vịtrí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không, cách mạng có vững bướctheo con đường XHCN hay không, phần lớn tùy thuộc vào lực lượng thanhniên, vào việc bồi dưỡng rèn luyện thế hệ thanh niên” [54, tr.136]
Đạo đức mới của thanh niên có tác dụng giáo dục nêu gương góp phần xây dựng nếp sống và quan hệ xã hội mới:
Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, bên cạnh những tác động tíchcực, mặt trái của nó cũng gây ra những tác động tiêu cực nhất định đến đạođức, đặc biệt là đạo đức trong lực lượng thanh niên Đó là những biểu hiệnsuy thoái về mặt đạo đức, lối sống trong một bộ phận thanh niên Trong tìnhtrạng đó, đạo đức mới của thanh niên có tác dụng nêu gương, góp phần xâydựng nếp sống mới và những quan hệ xã hội mới với tinh thần: “ mỗi người
vì mọi người, mọi người vì mỗi người” Trên tinh thần đó, mọi người sẽ cóđiều kiện quan tâm, giúp đỡ nhau, tạo điều kiện cho nhau cùng phát triển
Đạo đức mới của thanh niên là nhân tác động tích cực trong cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng: tham nhũng và tệ nạn xã hội là những vấn đề
gây nhức nhối trong xã hội chúng ta hiện nay Tham nhũng do nhiều nguyênnhân gây nên nhưng nguyên nhân cơ bản nhất là do sự suy thoái về mặt đạođức, lối sống cán bộ, đảng viên Để đấu tranh phòng chống tham nhũng đòihỏi phải có sự kết hợp của toàn xã hội với nhiều sự tác động khác nhau, trong
đó đạo đức mới của thanh niên là nhân tố tác động tích cực trong cuộc đấutranh ấy Đạo đức mới của thanh niên dựa trên một nền đạo đức của nhân dân
Trang 37lao động, là những chuẩn mực quy định mọi nhận thức và hành vi của conngười phải dựa trên lợi ích chung của toàn thể nhân dân lao động, phấn đấu vìmột xã hội công bằng dân chủ và văn minh Chính vì vậy đạo đức mới củathanh niên hoàn toàn đối lập với chủ nghĩa cá nhân và những hành vi thamnhũng Sự đối lập ấy tất yếu dẫn đến cuộc đấu tranh Trong cuộc đấu tranh đó,đạo đức mới của thanh niên sẽ cổ vũ, biểu dương những đức tính và hành vitrung thực, thẳng thắn, cần kiệm, chí công, vô tư, đồng thời kịch liệt lên ánphê phán những biểu hiện tiêu cực của tệ nạn tham nhũng, từ đó sẽ góp phầnngăn chặn và đẩy lùi hiện tượng tham nhũng.
Không chỉ có vai trò tác động tích cực trong cuộc đấu tranh phòng chốngtham nhũng, mà đạo đức mới của thanh niên còn là nhân tố tác động tích cựctrong cuộc đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội Trong quá trình mở cửa giaolưu, hội nhập ở nước ta hiện nay là điều kiện thuận lợi làm phát sinh nhiều tệnạn xã hội Chính vì thế Đảng, nhà nước, nhân dân ta rất quyết tâm phòngchống nó và đã sử dụng nhiều biện pháp tác động Trong số những biện pháp
đó thì đạo đức mới của thanh niên có vai trò tác động tích cực Vai trò tácđộng tích cực của nó thể hiện ở chỗ nó góp phần định hướng cho mọi ngườiđến với cuộc sống tốt đẹp, góp phần phát triển con người một cách toàn diện
về thể xác và tâm hồn, nó tích cực phê phán và lên án tệ nạn ma túy và mạidâm – hai nguyên nhân làm hủy hoại tán phá sức sống con người và làm bănghoại mọi giá trị xã hội
Tóm lại, đạo đức mới của thanh niên có vai trò rất quan trọng đối với xãhội nói chung nên việc phát huy vai trò của đạo đức mới của thanh niên làmột việc làm rất cần thiết và quan trọng, góp phần cải tạo xã hội cũ, xây dựng
xã hội mới
1.2.2 Yêu cầu đạo đức mới của thanh niên Việt Nam hiện nay
Để thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, đưa nước nhàthoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu đòi hỏi rất nhiều điều kiện Trong sốnhững điều kiện ấy thì việc phát huy vai trò nhân tố con người là một yêu cầurất quan trọng và có tính chất quyết định Để con người phát triển một cáchtoàn diện thì phải có sự thống nhất giữa đức và tài Trong mối quan hệ giữa
Trang 38“đức” và “tài” thì đức là “gốc”, là nền tảng; tài trên cái nền của đức mà pháthuy, nhằm mang lại những lợi ích cho cá nhân và xã hội; còn tài là điều kiệncần thiết để đức phát huy, để giữ vững đức Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từngdạy: “người có đức mà không có tài thì không đủ năng lực điều hành côngviệc, có tài mà không có đức dẫn đến hỏng việc, có hại cho cách mạng”.
Thanh niên với vai trò là: “ người chủ tương lai của đất nước”, vì vậyviệc xây dựng thế hệ thanh niên vừa có tài vừa có đức để đáp ứng những yêucầu của đất nước hiện nay là một yêu cầu quan trọng và cấp bách Theo tinhthần của nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành trung ương Đảng khoáVIII, yêu cầu đạo đức mới của thanh niên Việt Nam được xác định cụ thể nhưsau:
Một là, phải có tinh thần yêu nước mới Yêu nước là yêu xã hội XHCN, yêu
nhân dân, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc, nhân dân vì lý tưởng cách mạng Đây
là một trong những phẩm chất hàng đầu của thanh niên, vì trong giai đoạncách mạng nào thì yêu nước vẫn là giá trị đạo đức vô cùng quý báu Ở nước tahiện nay, trong quá trình đổi mới đất nước, do tình hình thế giới đang cónhững biến đổi nhanh chóng và phức tạp, mặt khác các thế lực phản độngtrong và ngoài nước luôn tìm mọi cách chống phá CNXH, hòng xóa bỏ nhữngthành quả mà cách mạng đã đạt được Chính vì vậy, bên cạnh những thànhtựu thuận lợi mà quá trình đổi mới mang lại, chúng ta lại phải đương đầu vớinhiều khó khăn, thử thách Trước tình hình đó, sự nghiệp cách mạng của dântộc Việt Nam có thành công hay không còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố,nhưng tinh thần yêu nước là yếu tố quan trọng nhất, quyết định nhất đòi hỏithanh niên phải có được Chính vì thế Đảng, Nhà nước và các tổ chức đoànthể phải giáo dục thanh niên, biến chủ nghĩa yêu nước, lợi ích chân chính củadân tộc thành nội lực bên trong cho mỗi thanh niên, nhờ thế nó thôi thúc, khơidậy nhiệt tình cách mạng, ý chí tự lực, tự cường, biết kế thừa và phát huynhững giá trị đạo đức truyền thống quý báu của dân tộc với tinh thần khôngchịu nghèo đói, lạc hậu Yêu nước theo đạo đức mới phải gắn liền với CNXH,bảo vệ Đảng cộng sản Việt Nam, bảo vệ sự nghiệp đổi mới đất nước, thực
Trang 39hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH, bảo vệ lợi ích của toàn dân tộc, quyếttâm xây dựng xã hội phồn vinh, nhân dân hạnh phúc.
Hai là, phải nâng cao nhận thức và hoạt động thực tiễn trong việc giải quyết
hài hòa mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội Để phát triển nền kinh tế nhiềuthành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theođịnh hướng XHCN thì việc giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa cánhân và xã hội có một ý nghĩa quan trọng chiến lược Vì vậy, yêu cầu đạo đứcmới của thanh niên hiện nay là phải hiểu được cơ sở lý luận và gương mẫutrong việc giải quyết hài hòa mối quan hệ về lợi ích giữa cá nhân và xã hội
Để giải quyết hài hòa mối quan hệ ấy đòi hỏi thanh niên phải tự đặt lợi ích tậpthể, lợi ích xã hội trên lợi ích cá nhân, sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân khi nómâu thuẫn với lợi ích tập thể, lợi ích của toàn xã hội
Ba là, phải có bản lĩnh cách mạng Bản lĩnh cách mạng được thể hiện rất
phong phú, đa dạng nhưng trước hết nó thể hiện ở tính cần cù, chịu khó trongquá trình thực hiện nhiệm vụ học tập, lao động và chiến đấu Mặt khác, bảnlĩnh cách mạng còn thể hiện trong sự rèn luyện, tự tu dưỡng bản thân, nghiêmkhắc với mình trong tình cảm đạo đức và hành vi đạo đức Điều này thể hiện
ở chỗ luôn lấy chuẩn mực đạo đức và quy phạm, hành vi nhất định để chế ướcbản thân mình, xây dựng cho mình những đức tính như trung thực, cầu thị,không che giấu những khuyết điểm, sai lầm, dũng cảm thừa nhận và kiênquyết khắc phục những sai lầm khuyết điểm…
Bốn là, có tinh thần đoàn kết, thương yêu con người, giúp đỡ mọi người Đây
là một phẩm chất rất quan trọng của thanh niên vì dưới CNXH đã tạo điềukiện cần thiết để con người yêu thương nhau, giúp đỡ nhau với tinh thần
“ mọi người vì mỗi người, mỗi người vì mọi người” Chính tinh thần đoànkết, thương yêu con người, giúp đỡ con người, sẽ giúp cho thanh niên sốnghòa đồng hơn, dễ cảm thông với những khó khăn vất vả của người khác, tạolập được ý thức vì tập thể, vì xã hội, biết sống cho mọi người, từ đó sẽ đẩy lùichủ nghĩa cá nhân, thói ích kỷ, lối sống thờ ơ lãnh đạm, bàng quang với nỗikhổ của người khác
Trang 40Năm là, thanh niên Việt Nam phải có lý tưởng cách mạng, có ước mơ, hoài
bão lớn lao, cao đẹp Đây là một yêu cầu quan trọng đối với thanh niên vìhiện nay có rất nhiều thanh niên không có hoặc nhạt phai lý tưởng cách mạng,thờ ơ với chính trị, sống vì hiện tại bất chấp tương lai, chạy theo những hammuốn thấp hèn Khi có lý tưởng ước mơ, hoài bão cao đẹp sẽ giúp cho thanhniên vững vàng trong cuộc sống, định hướng cho mình tới cái hay, cái đẹpphù hợp với lý tưởng đạo đức mới mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn Đây
là điều rất quan trọng giúp cho thanh niên trở thành những con người có íchcho chính cuộc sống của mình và cho đất nước Từ đó hình thành ở thanhniên niềm tin mãnh liệt vào sự lãnh đạo của Đảng, vào công cuộc đổi mới,vào con đường đi lên CNXH Chính niềm tin đó sẽ thôi thúc thanh niên thamgia vào những hoạt động thiết thực, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệpCNH, HĐH đất nước, tiến tới xây dựng thành công CNXH
Sáu là, thanh niên phải có nhân cách tốt, có lối sống trong sạch, lành mạnh,
chân thật thủy chung son sắc Chân thành với tình bạn, chung thủy trong tìnhyêu, lành mạnh trong lối sống là một yêu cầu tất yếu của thanh niên Tronglứa tuổi thanh niên, nhu cầu về tình bạn, tình yêu nam nữ là những vấn đề rấtlớn, thu hút sự quan tâm đặc biệt của thanh niên, nhưng đây cũng là nhữngvấn đề nhạy cảm và tế nhị Vì vậy xã hội phải giáo dục, định hướng cho thanhniên có cái nhìn và hành động đúng đắn, phù hợp với những chuẩn mực đạođức của truyền thống dân tộc Chính tình bạn chân thật, vô tư trong sáng vàtình yêu thủy chung son sắc sẽ là động lực giúp cho thanh niên vượt quanhững khó khăn gian khổ để vươn lên trong cuộc sống Thế nhưng nếu tìnhbạn, tình yêu được tạo dựng trên những mưu toan, tính toán cá nhân tầmthường, tất yếu sẽ ảnh hưởng không tốt đến quá trình học tập, lao động vàchiến đấu của thanh niên Chính vì vậy phải giúp cho thanh niên có quanniệm, hành động đúng trong việc xây dựng cho mình một tình bạn trong sángchân thành trên cơ sở của sự hợp tác, bình đẳng hoàn toàn tự nguyện, tin cậylẫn nhau và một tình yêu chung thủy dựa trên sự rung động của trái tim mộtcách vô tư, không vụ lợi Ngoài ra phải rèn luyện nhân cách, lối sống lành