1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

VẬN DỤNG QUAN NIỆM VỀ KHOAN DUNG TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀO VIỆC GIÁO DỤC TINH THẦN KHOAN DUNG NHẰM NÂNG CAO ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH THPT QUA GIẢNG DẠY MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN

91 394 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 527,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VẬN DỤNG QUAN NIỆM VỀ KHOAN DUNG TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀO VIỆC GIÁO DỤC TINH THẦN KHOAN DUNG NHẰM NÂNG CAO ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH THPT QUA GIẢNG DẠY MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN VẬN DỤNG QUAN NIỆM VỀ KHOAN DUNG TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀO VIỆC GIÁO DỤC TINH THẦN KHOAN DUNG NHẰM NÂNG CAO ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH THPT QUA GIẢNG DẠY MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN VẬN DỤNG QUAN NIỆM VỀ KHOAN DUNG TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀO VIỆC GIÁO DỤC TINH THẦN KHOAN DUNG NHẰM NÂNG CAO ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH THPT QUA GIẢNG DẠY MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài

VẬN DỤNG QUAN NIỆM VỀ KHOAN DUNG TRONG TƯ TƯỞNG

HỒ CHÍ MINH VÀO VIỆC GIÁO DỤC TINH THẦN KHOAN DUNG NHẰM NÂNG CAO ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH THPT QUA GIẢNG

DẠY MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN

Đà Nẵng, tháng 05/2013

Trang 2

Sau bốn năm học tập, việc thực hiện khoá luận tốt nghiệp là khâu quan trọng đặc biệt Có được kết quả như ngày hôm nay, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình từ nhiều phía

Trước hết tôi xin ghi lại đây lòng tri ân sâu sắc, chân thành đối với thầy giáo T.S Dương Anh Hoàng - người đã khuyến khích, động viên và tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi hoàn thành khoá luận này

Đồng thời, tôi cũng xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giáo trong khoa Giáo Dục Chính Trị, trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng, cảm ơn những người bạn đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu

Đà Nẵng, ngày 15 tháng 5 năm 2013

Người thực hiện

Trần Thị Phương Dung - Lớp 09SGC

LỜI CẢM ƠN

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 3

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài 4

5 Nét mới của đề tài 4

6 Ý nghĩa của đề tài 4

7 Cấu trúc khóa luận 4

PHẦN NỘI DUNG 5

Chương 1: NỘI DUNG QUAN NIỆM VỀ KHOAN DUNG 5

TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 5

1.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc hình thành quan niệm về khoan dung trong tư tưởng Hồ Chí Minh 5

1.1.1 Truyền thống dân tộc, quê hương và gia đình 5

1.1.2 Tinh hoa văn hóa nhân loại 9

1.1.3 Giá trị nhân văn cộng sản chủ nghĩa Mác - Lênin 15

1.1.4 Những nhân tố thuộc về phẩm chất cá nhân 17

1.2 Nội dung quan niệm về khoan dung trong tư tưởng Hồ Chí Minh 20

1.2.1 Khái niệm về khoan dung 20

1.2.2 Nội dung quan niệm về khoan dung trong tư tưởng Hồ Chí Minh 23

1.2.2.1 Khoan dung trước hết phải thực hiện được tình yêu thương và bác ái đối với những người đã từng mắc sai lầm, khuyết điểm 23

1.2.2.2 Khoan dung phải thể hiện được niềm tin vào phần tốt đẹp, phần thiện của con người 29 1.2.2.3 Khoan dung là phải thể hiện được thái độ tôn trọng sự khác biệt giữa con người với nhau cùng với những giá trị khác nhau trong văn hóa nhân loại 34

Trang 4

1.2.2.4 Khoan dung phải dựa trên nguyên tắc chính nghĩa, công lý, tự do và bình đẳng 37

Chương 2: VẬN DỤNG QUAN NIỆM VỀ KHOAN DUNG TRONG TƯ

TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀO VIỆC GIÁO DỤC TINH THẦN KHOAN DUNG NHẰM NÂNG CAO ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUA GIẢNG DẠY MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN 42 2.1 Tầm quan trọng của việc giáo dục tinh thần khoan dung cho học sinh phổ thông trong bối cảnh hiện nay 42

2.1.1 Vị trí, vai trò của thế hệ trẻ với tư cách là nguồn động lực trực tiếp đối với

sự phát triển của xã hội trong tương lai 42 2.1.2 Thực trạng về nhận thức, nâng cao tinh thần khoan dung và đạo đức của học sinh phổ thông hiện nay 44 2.1.3 Ý nghĩa của việc giáo dục tinh thần khoan dung nhằm nâng cao đạo đức cho học sinh phổ thông trong bối cảnh hiện nay 51

2.2 Vai trò giáo dục của nhà trường và môn Giáo dục Công dân đối với việc giáo dục tinh thần khoan dung nhằm nâng cao đạo đức cho học sinh trung học phổ thông 54

2.2.1 Vai trò, nhiệm vụ giáo dục của nhà trường Trung học Phổ thông 54 2.2.2 Môn Giáo dục Công dân với đặc thù về vị trí, vai trò, nhiệm vụ giáo dục tinh thần khoan dung nói riêng và đạo đức học sinh nói chung 56

2.3 Thực trạng vận dụng quan niệm về khoan dung trong tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc giáo dục tinh thần khoan dung nhằm nâng cao đạo đức cho học sinh trung học phổ thông qua giảng dạy môn Giáo dục Công dân 59

2.3.1 Thực trạng 59 2.3.2 Nguyên nhân của thực trạng 62

2.4 Một số giải pháp và ý kiến đề xuất việc vận dụng quan niệm về khoan dung trong tư tưởng Hồ Chí Minh vào giáo dục tinh thần khoan dung nhằm nâng cao đạo đức cho học sinh trung học phổ thông qua giảng dạy môn Giáo dục Công dân 65

Trang 5

2.4.1 Một số giải pháp 65

2.4.2 Ý kiến đề xuất 70

PHẦN KẾT LUẬN 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

PHỤ LỤC

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hồ Chí Minh là một nhà cách mạng lỗi lạc, Người là lãnh tụ của cách mạng

và dân tộc Việt Nam Người được nhân loại tôn vinh là anh hùng giải phóng dântộc, danh nhân văn hóa thế giới Trong con người ấy, trong nhân cách ấy, cái sâuthẳm nhất và cũng tinh túy nhất là ở chỗ, Người là hiện thân của những giá trịtruyền thống đạo đức dân tộc rực rỡ nhất, đẹp đẽ nhất, kết tinh từ những tinh hoavăn hóa của dân tộc và nhân loại

Nhân cách đạo đức của nhà chính trị Hồ Chí Minh vô cùng đa dạng, đượcbiểu hiện một cách nhất quán trong tư tưởng và hành động, lý trí và tình cảm, trongsuy nghĩ nội tâm và những hành vi ứng xử với cộng đồng Trong nhân cách ấy,khoan dung là một giá trị Giá trị này không chỉ tồn tại như một yếu tố của cấu trúcđạo đức cá nhân mà còn thẩm thấu trong mọi phương diện trong con người của HồChủ tịch.Vì vậy nghiên cứu và học tập tư tưởng Hồ Chí Minh về khoan dung làmột việc làm rất cần thiết trong bất kì hoàn cảnh nào

Một trong những vấn đề đáng lo ngại hiện nay là khi chúng ta thực hiện nềnkinh tế mở cửa có rất nhiều luồng văn hóa mới du nhập vào, thêm vào đó là mặttrái của cơ chế thị trường đã có nhiều tác động tiêu cực đối với việc xây dựng đờisống đạo đức của xã hội Điều đáng buồn ở đây là đạo đức ở lứa tuổi học sinh trunghọc phổ thông ngày càng xuống cấp nghiêm trọng Con người ngày càng chật vậtvới cuộc sống cơm áo gạo tiền mà quên đi sự giáo dục đạo đức lối sống cho thế hệtrẻ hiện nay, để rồi những hành vi vi phạm pháp luật của các em ngày càng gia tăng

do những mâu thuẫn không kịp thời giải quyết, tình trạng bạo lực học đường ngàycàng xảy ra phổ biến, quan hệ giữa thầy trò, cha mẹ và con cái cũng ngày càng mờnhạt đi do sự bất đồng về quan điểm, suy nghĩ mà thiếu đi sự lắng nge và cảmthông…

Những điều này đã thật sự gióng lên hồi chuông cảnh báo về lối sống, đạo đứccủa giới trẻ ngày nay Trong khi đó yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn

Trang 7

mới đang đặt thế hệ trẻ, học sinh phổ thông vào vị trí xung kích Xã hội đặt rấtnhiều kỳ vọng vào sự đóng góp của thế hệ này đối với sự nghiệp của nước nhà

Vì vậy, đánh giá đúng thực trạng và có biện pháp đúng đắn nhằm giáo dụccho thế hệ trẻ là một công việc cấp bách và có ý nghĩa thực tiễn Với ý nghĩa đó,

việc tìm hiểu: “Vận dụng quan niệm về khoan dung trong tư tưởng Hồ Chí Minh

vào việc giáo dục tinh thần khoan dung nhằm nâng cao đạo đức cho học sinh trung học phổ thông qua giảng dạy môn Giáo Dục Công Dân” không những có ý nghĩa

về mặt lý luận mà cả trong đời sống thực tiễn của nước ta Đó chính là lý do để emchọn làm đề tài khóa luận của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về khoan dung là một yếu tố rất cần thiết

để hoàn thiện đạo đức, nhân cách của con người và đáp ứng được yêu cầu của tìnhhình mới Có thể kể đến một số tác phẩm, bài viết khái quát đề cập đến khoan dungtrong tư tưởng Hồ Chí Minh như:

- Dương Tùng (2003): “Hồ Chí Minh - một con người- một nhân cách”, Tạp

chí Cộng sản, số 31

- Hồ Trọng Hoài (2005): “Khoan dung - một giá trị đạo đức trong nhân cách

văn hóa Hồ Chí Minh”, Tạp chí Cộng sản, số 17.

- Nguyễn Văn Phúc (2009): “Đọc Di Chúc Hồ Chí Minh nghĩ về tình cảm của

Người và về giáo dục tình cảm đạo đức trong điều kiện hiện nay”, Triết học, số 10.

- Đỗ Hòa Hới (1988): “Tìm hiểu một vài đặc điểm Tư tưởng nhân văn Hồ Chí

Minh”, Triết học, số 4.

- Nguyễn Gia Nùng (2007): “Khoan dung và hướng thiện trong tư tưởng Hồ

Chí Minh”, Tạp chí Hồn Việt, số 1.

- Nguyễn Văn Khoan (2008): “Bao dung Hồ Chí Minh”, Đi tới mùa xuân tư

tưởng Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Thanh niên, Hà Nội.

- Cao Thu Hằng (2004) : “Gía trị đạo đức truyền thống và những yêu cầu đạo

đức đối với nhân cách con người Việt Nam hiện nay”, Triết học, số 7.

Trang 8

Nhìn chung những công trình nghiên cứu của các tác giả đã và đang được sựquan tâm của toàn xã hội nhất là trong tình hình xã hội hiện nay, khi đất nước đangđẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước với mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh và vănminh, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc trong xu thế hội nhập quốc tế.

Những công trình nghiên cứu của các tác giả trên cũng đã đề cập nội dung cơbản về vấn đề khoan dung trong tư tưởng Hồ Chí Minh Song cũng đặt ra một yêucầu là phải nhìn nhận một cách có hệ thống, phải đi sâu tìm hiểu, phân tích cụ thểhơn để thấy rõ được quan niệm về khoan dung trong tư tưởng Hồ Chí Minh và đápứng với yêu cầu giảng dạy, học tập tinh thần khoan dung nhằm nâng cao đạo đứccho học sinh trong tư tưởng của Người ở các trường Trung học Phổ thông hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

- Mục đích của đề tài là đi sâu nghiên cứu một cách khái quát và có hệ thốngquan niệm về khoan dung trong tư tưởng Hồ Chí Minh Từ đó vận dụng quan niệmcủa Người vào việc giáo dục tinh thần khoan dung nhằm nâng cao đạo đức cho họcsinh phổ thông qua giảng dạy môn Giáo Dục Công Dân

- Với mục đích trên, đề tài có nhiệm vụ sau:

+ Làm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến việc hình thành quan niệm về khoandung trong tư tưởng Hồ Chí Minh

+ Làm rõ chiều sâu quan niệm về khoan dung trong tư tưởng của Người.+ Nêu bật lên tầm quan trọng của việc giáo dục tinh thần khoan dung trong tưtưởng Hồ Chí Minh cũng như vai trò của nhà trường và bộ môn Giáo dục Côngdân đối với việc giáo dục tinh thần khoan dung nhằm nâng cao đạo đức cho họcsinh trung học phổ thông

+ Thực trạng và giải pháp cùng với những ý kiến đề xuất việc vận dụng quanniệm về khoan dung trong tư tưởng của Người vào việc giáo dục tinh thần khoandung nhằm nâng cao đạo đức cho học sinh trung học phổ thông qua giảng dạy mônGiáo dục Công dân

Trang 9

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

- Cơ sở của đề tài là dựa trên nền tảng Chủ Nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng HồChí Minh và quan điểm chỉ đạo của Đảng

- Khóa luận sử dụng kết hợp các phương pháp:

+ Phương pháp phân tích tổng hợp

+ Phương pháp lịch sử cụ thể

+ Phương pháp lôgic

+ Phương pháp khái quát hóa

+ Phương pháp điều tra, thống kê xã hội học

5 Nét mới của đề tài

Trên cơ sở những công trình nghiên cứu của các tác giả, người viết khóa luận

hệ thống, phân tích sâu sắc hơn nội dung quan niệm về khoan dung trong tư tưởng

Hồ Chí Minh Đặc biệt bước đầu đưa ra một số giải pháp vận dụng quan niệm của

Hồ Chủ Tịch về khoan dung vào việc giáo dục tinh thần khoan dung nhằm nângcao đạo đức cho học sinh trung học phổ thông qua giảng dạy môn Giáo dục Côngdân

6 Ý nghĩa của đề tài

Việc nghiên cứu đề tài giúp người viết làm quen dần với phương pháp nghiêncứu khoa học, rèn luyện tư duy khoa học trong việc tiếp nhận và nghiên cứu vấn

đề Thông qua tư tưởng cũng như tấm gương đạo đức của Bác không ngừng phấnđấu, rèn luyện và hoàn thiện bản thân hơn Từ đó mở rộng tầm hiểu biết và trưởngthành hơn trong cuộc sống

Khóa luận có thể làm tài liệu tham khảo cho những ai trực tiếp giảng dạy bộmôn Giáo dục Công dân

7 Cấu trúc khóa luận

Khóa luận gồm: Phần mở đầu, phần nội dung (với 2 chương 6 tiết ), phần kếtluận, phụ lục và tài liệu tham khảo

Trang 10

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1: NỘI DUNG QUAN NIỆM VỀ KHOAN DUNG

TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 1.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc hình thành quan niệm về khoan dung trong tư tưởng Hồ Chí Minh

1.1.1 Truyền thống dân tộc, quê hương và gia đình.

Quan niệm về khoan dung trong tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành từtrong thực tiễn, xuất phát từ những điều kiện lịch sử, xã hội của dân tộc, trong từngđiều kiện cụ thể và cùng với quá trình hoạt động cách mạng tìm đường cứu nướccủa Người Đây chính là yếu tố cơ bản, chi phối đến nội dung quan niệm về khoandung trong tư tưởng của Người

Khoan dung trong tư tưởng Hồ Chí Minh là sự thể hiện toàn bộ những suynghĩ, tình cảm của Người đối với toàn thể nhân loại, với mọi kiếp người, không kểđến họ là ai và nó luôn chi phối suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người, mộtcuộc đời luôn đấu tranh không mệt mỏi vì độc lập, tự do của dân tộc, hạnh phúccủa nhân dân và đấu tranh không ngừng với cái ác để bảo vệ lợi ích cho nhữngngười lương thiện

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, quan niệm về khoan dung được hình thành từthực tế hoàn cảnh sống và sự chiến đấu của bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự

kế thừa một cách sáng tạo của truyền thống dân tộc, quê hương và gia đình

Truyền thống khoan dung của dân tộc.

Tinh thần khoan dung thấm đẫm trong truyền thống dân tộc Việt Nam đượcxây dựng và đúc kết trong suốt tiến trình lịch sử của dân tộc, được hình thành từquá trình dựng nước và giữ nước, luôn luôn phải đương đầu với thiên tai, lũ lụt, bãotáp đến hạn hán, rồi sâu bệnh, gió mùa nên phải thương yêu, đoàn kết với nhau đểchống thiên tai Từ buổi đầu lập quốc, dân tộc ta đã phải liên tục đứng lên, kiêncường đấu tranh chống giặc ngoại xâm để bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc trước sựtàn bạo của kẻ thù lớn mạnh hơn mình gấp nhiều lần Sức mạnh của dân tộc takhông chỉ là tinh thần đoàn kết mạnh mẽ, lòng yêu nước sâu sắc và mãnh liệt, ý chí

Trang 11

chiến đấu kiên cường, bất khuất, quyết chiến, quyết thắng với tinh thần tha thiết vớinền độc lập, hòa bình mà còn ở tinh thần nhân ái, khoan dung với đồng loại.

Truyền thống khoan dung của dân tộc là tình thương yêu vô hạn đối với conngười: những cụ già cô đơn, trẻ em cơ nhỡ và tật nguyền, những số phận khôngmay mắn, những cảnh đời oan nghiệt Con người Việt Nam từ tuổi ấu thơ đã thấmnhuần tinh thần khoan dung qua lời ru của những bà mẹ Lớn lên, họ được sốngtrong tình chan hòa trong tình tương thân, tương ái của xóm làng Và để giữ lấy hòahiếu, một nền hòa bình lâu dài, người Việt Nam có truyền thống đề cao đức hiếusinh, tấm lòng bao dung, độ lượng, không chỉ với những kẻ đã một thời lầm lỗi mà

cả với kẻ thù nghịch, chống đối Đối với nhân dân: "Khoan thư sức dân để làm kế

sâu rễ, bền gốc Đó là thượng sách giữ nước" (Trần Hưng Đạo) Đối với kẻ thù đã

quy hàng: "Lấy khoan hồng để bụng hiếu sinh", (Nguyễn Trãi).

Trải qua hàng nghìn năm đấu tranh giải phóng ách áp bức bóc lột, chống giặcngoại xâm rồi đến quá trình dựng xây đất nước, tinh thần khoan dung đã được thửthách, phát huy tác dụng trong đời sống xã hội và làm giàu thêm những giá trịtruyền thống của Việt Nam Bước sang thời đại Hồ Chí Minh - thế kỷ XX, dù xãhội đã có nhiều biến chuyển nhưng truyền thống ấy vẫn đóng vai trò quan trọng vàđược gìn giữ bền vững

Khoan dung đã trở thành đạo nghĩa của dân tộc ta trong quan hệ với chínhmình và với các dân tộc khác Trong mọi lĩnh vực của đời sống chúng ta đều có thểtìm thấy sự thể hiện đạo nghĩa khoan dung này như trong cách sinh hoạt cộng đồng

thì “thương người như thể thương thân” , “lá lành đùm lá rách” hay “bầu ơi

thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” , “ một điều nhịn, chín điều lành”, và còn nhiều câu ca dao khác nữa Với tấm lòng rộng mở, người

Việt Nam sẵn sàng giúp đỡ nhau trong cơn hoạn nạn, vì họ quan niệm “miếng ăn

khi đói bằng một gói khi no” Sự đùm bọc và giúp đỡ lẫn nhau được người Việt

Nam coi là “làm phúc”, và quan niệm “làm phúc như làm giàu”, “làm phúc không

cần được phúc”

Trang 12

Truyền thống khoan dung của dân tộc ta còn được thể hiện trong lĩnh vực tôngiáo, khoan dung không chỉ thể hiện ở sự tôn trọng nhu cầu tâm linh, mà đã có sựnhận thức rằng, các tôn giáo lớn đều có một điểm chung là dạy con người làm điềuthiện, tránh điều dữ, hướng con người đến cội nguồn chung của loài người, hướngđến Chân - Thiện - Mỹ

Bên cạnh đó, tính chất khoan dung còn thể hiện rất rõ trong mối quan hệ giữacon người với nhau không kể dân tộc, đẳng cấp, chủng tộc, tôn giáo,… Đó là mốiquan hệ cao quý nhất của cuộc sống và nó cũng làm nên giá trị nhân văn của truyềnthống dân tộc Chính vì vậy, khi tình thế bắt buộc phải dùng vũ lực để bảo vệ đấtnước, đến khi chiến thắng, dù căm thù quân xâm lược bao nhiêu chăng nữa, kể cả

từng có khi “căm giặc nước thề không cùng sống”, nhưng khi đất nước đã được

yên bình, độc lập thì thái độ ứng xử của dân tộc Việt vẫn là khoan dung đối với kẻ

thù bại trận để : “thể lòng trời tỏ lượng hiếu sinh” Điều này thể hiện rõ nhất hành

động mang tính chất khoan dung của dân tộc ta và được Chủ tịch Hồ Chí Minh kếthừa, phát huy với hình ảnh trọn vẹn và sinh động nhất

Nội dung cơ bản của truyền thống khoan dung dân tộc Việt nam là: Tiếp nhận

và thâu hóa những giá trị tích cực, phù hợp, đồng thời có sự tôn trọng, không kỳthị, bài bác những yếu tố khác biệt với mình để cùng nhau chung sống, đoàn kết,bảo vệ và xây dựng đất nước Với truyền thống khoan dung của dân tộc, khoandung Hồ Chí Minh là sự thăng hoa của truyền thống tốt đẹp ấy và nâng nó lên mộttầm cao mới, mang ý nghĩa thời đại sâu sắc

Khoan dung không chỉ thể hiện tính cách của người Việt Nam, đã được thửthách qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước mà được nâng lên thành giá trịđạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, truyền thống khoan dung, vănhóa khoan dung Gía trị truyền thống ấy được hình thành trong hệ thống ứng xử, tổchức đời sống xã hội, đường lối chính trị, xử lý văn hóa và ngày càng trở nên giá trịphổ biến

Truyền thống khoan dung của dân tộc, đó như là một giá trị cơ bản trong cuộcsống tinh thần của mỗi con người Và Hồ Chí Minh là một biểu hiện của sự khoan

Trang 13

dung, cao hơn là sự mẫu mực về tinh thần khoan dung Khoan dung ở Hồ Chí Minhcũng được biểu hiện rất đa dạng, chân thực Đây là một giá trị đạo đức mà ý nghĩa

và tầm ảnh hưởng của nó không giới hạn ở lĩnh vực luân lý thuần túy Ngược lại,

nó được lan tỏa, trải rộng trong mọi biểu hiện ở nhân cách Hồ Chí Minh mà tậptrung nhất là trong lĩnh vực chính trị, trong lối ứng xử với mọi người, với các dântộc, các nền văn hóa trên thế giới với tầm trí tuệ lỗi lạc, tâm hồn vị tha, đạo đứctrong sáng của một vĩ nhân đồng thời vừa phản ánh cốt cách của dân tộc

Truyền thống quê hương và gia đình

Quê hương và gia đình cũng là nhân tố góp phần hình thành nên những tưtưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt phải kể đến quan niệm về khoan dung trong tư tưởngcủa Người

Chính trên mảnh đất, con người của quê hương, xứ xở đã cho Nguyễn ÁiQuốc thấu hiểu một cách đầy đủ và sâu sắc nhất về tình cảnh khốn khổ, lầm thancủa người dân mất nước

Vùng đất Lam Hồng - nơi sinh của Nguyễn Sinh Cung, vùng đất nổi tiếng là

“địa linh nhân kiệt”, giàu truyền thống văn hóa và ý chí đấu tranh chống giặc ngoại

xâm Một vùng đã sản sinh ra nhiều nhà Nho yêu nước, nơi khởi sướng của nhiềuphong trào cách mạng sôi nổi, có truyền thống văn hóa bác học tiêu biểu của dântộc Nguyễn Sinh Cung từ lúc lọt lòng đến khi lớn lên đã phải chứng kiến tận mắtnỗi cùng cực, lầm than của đồng bào mình với chế độ áp bức bóc lột dã man củabọn thực dân Những người thân trong gia đình Hồ Chí Minh đều tham gia hoạtđộng cách mạng chống Pháp cùng với những tấm gương anh dũng hy sinh chốnggiặc ngoại xâm vì sự nghiệp giải phóng dân tộc Những hình ảnh đó luôn luôn xâmchiếm trong tâm trí, thúc giục Người ra đi tìm đường cứu nước cho dân tộc mình

Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên trong một nhà Nho yêu nước sống gần gũi vớinhân dân Những đức tính tốt đẹp, quý báo của thân phụ - Nguyễn Sinh Sắc, mộtnhà Nho cấp tiến với tư tưởng thương dân, lấy dân làm gốc với một lòng yêu nướcsâu sắc cùng với phụ mẫu - Hoàng Thị Loan, một người vợ, người mẹ đảm đang,rất mực yêu chồng, thương con… Với sự ảnh hưởng từ môi trường gia đình, đầu

Trang 14

tiên đó là ở người cha, người mẹ của Người đã tạo nên một Nguyễn Sinh Cung vớimột tâm hồn và nhân cách cao đẹp

Ngay từ thuở nhỏ, Người đã được cha của mình dạy dỗ tư tưởng “Đại đồng”

của học thuyết Khổng Tử Lớn lên, Người đã chứng kiến cuộc sống thực của cha,của anh chị và họ hàng thân thuộc, về những tấm gương hy sinh vì nước, vì dân đã

để lại trong tâm trí Người những ấn tượng đầy sự cảm phục và quý mến

Sinh thời Bác Hồ của chúng ta luôn thấu hiểu và trăn trở trước cảnh lầm than,nghèo khổ của đất nước, của sự áp bức, bị bóc lột đến tận xương tủy của đồng bàongay trên mảnh đất, quê hương mình Xuất phát từ nổi trăn trở, thương xót của mộttrái tim cao cả, vĩ đại đã thôi thúc Người quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước Vớitri thức bách khoa về con người và thực tiễn tuyệt vời của cuộc sống đã dần dầnhình thành giá trị quan niệm về khoan dung trong tư tưởng của Người

Như vậy, với nổi thấu hiểu cảnh cùng cực của người dân mất nước, nô lệ, củanhững người cùng khổ, tình yêu thương con người của Người rộng mở đối với tất

cả mọi người với một lòng khoan dung độ lượng rộng lớn, sâu sắc Chính vì vậy

đã thôi thúc Người đi đến hành động để giải phóng con người, đem lại tự do, hạnhphúc cho nhân dân, cho những người lương thiện khi bị cái ác chà đạp

1.1.2 Tinh hoa văn hóa nhân loại

* Tinh hoa văn hóa phương Đông

- Nho giáo:

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh chúng ta dễ dàng nhận thấy những yếu tố nhânbản, nhân đạo của Nho giáo và trong quan niệm về khoan dung của Người đó là sự

kế thừa từ chữ “Nhân ” trong tư tưởng của Khổng Tử.

Chữ “Nhân” trong tư tưởng của Khổng Tử đó là “trung thứ” với nội dung là:

Cái để suy ta ra người, được xem như một biểu hiện gần gũi nhất của nhân, khôngchấp nhặt quá khứ bất hảo của người khác Đó là sự cung kính, khoan dung, thànhtín, cần mẫn và có ân huệ Cung kính thì không khinh nhờn; khoan dung thì đượclòng mọi người; thành tín thì được người tín nhiệm; cần mẫn thì nên công; có ânhuệ thì dễ sai khiến người Như vậy, khoan dung vừa là phương pháp, vừa là

Trang 15

phương tiện để thực hiện mục đích huệ dân, không ngừng làm lợi cho dân, gia ơncho dân thì dân sẽ tin theo và dễ sai khiến dân

Hồ Chí Minh đã kế thừa tư tưởng ấy và đã xây dựng nên quan niệm về khoan

dung trong tư tưởng của Người dựa trên chữ “Nhân” nhưng theo cách hiểu mới, đó là: “Thật thà yêu thương, hết lòng giúp đỡ đồng bào, đồng chí Vì vậy mà kiên

quyết chống lại những người, những việc có hại đến lợi ích của Đảng, của nhân dân” [14, 251-252] Cũng vì lẽ đó mà Người sẵn sàng chịu khổ cực trước mọi

người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ, không ham giàu sang, phú quý, không ngạigian khổ để chống lại cái ác đem lại hạnh phúc cho nhân dân

Hồ Chí Minh còn kế thừa ở Khổng Tử tư tưởng : Đề cao vai trò của quần

chúng nhân dân, “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” (tức lợi ích của dân là

trên hết, sau đó là lợi ích của nhà nước còn lợi ích của vua thì không đáng kể);

phương châm rèn luyện tu dưỡng đạo đức ở mỗi con người; “khắc kỷ phục lễ vi

nhân” (tức nghiêm khắc với chính mình thực hiện giáo để hoàn thiện nhân cách),

kế thừa sự lên án nghiêm khắc thói ăn bám, thủ tiêu bất bình đẳng về hưởng thụ,hạnh phúc không phải ở số đông mà cho tất cả mọi người Đây là những tư tưởngmang đậm tính nhân ái, khoan dung trong trong tư tưởng Hồ Chí Minh và luônđược Người xem trọng, đánh giá cao Cũng chính vì điều này mà Người thườngtrích dẫn những mệnh đề có ý nghĩa Nho giáo mang đậm nét nhân ái, khoan dungnhư: tư tưởng nhân chính, tư tưởng về việc tu dưỡng đạo đức cá nhân về lý tưởng

“Đại đồng”, đặc biệt nhất là những vấn đề nói lên khát vọng mưu cầu hạnh phúc

của con người, cho con người, dù đó là những người cô quả, bất hạnh

- Phật giáo:

Hơn ai hết, Hồ Chí Minh thấm nhuần tư tưởng: Vị tha, từ bi, bác ái, cứu khổcứu nạn, thương người như thể thương thân - một tình yêu bao la không chỉ dànhcho con người mà dành cho cả chim muông, cây cỏ, nếp sống có đạo đức, trongsạch, giản dị, chăm lo làm điều thiện, tinh thần bình đẳng, tinh thần dân chủ chấtphác chống lại mọi phân biệt đẳng cấp, đặc biệt là lối sống không xa rời, lẩn tránh

Trang 16

mà gắn bó với đời sống của nhân dân, với đất nước, tham gia vào cộng đồng, vàocuộc đấu tranh của nhân dân, chống kẻ thù dân tộc.

Người nhấn mạnh về sự gắn bó, tác động qua lại giữa việc giải quyết nhiệm

vụ dân tộc là giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức, bóc lột của bọn thực dân và cácthế lực thù địch với sự thực hiện lý tưởng nhân đạo của Phật giáo

Người viết: “Phật giáo Việt Nam đối với dân tộc như bóng với hình, tuy hai

mà một” Một chỗ khác Người nói rõ: “Hiến pháp ta luôn tôn trọng tự do tín ngưỡng thì Phật giáo cũng phát triển một cách thuận tiện Nước có độc lập thì Phật giáo mới được mở mang… đồng bào Phật giáo lại đoàn kết hy sinh của cải, xương máu kháng chiến đến cùng để đánh tan thực dân phản động, để cứu quốc dân ra khỏi khổ nạn, để giữ quyền thống nhất và độc lập cho Tổ quốc Thế là chúng ta theo dòng đại từ đại bi của Đức Phật Thích Ca Kháng chiến để đưa giống nòi ra khỏi cửa ải nô lệ” [13, 408].

Người đặt ra nhiều hy vọng vào sự nổ lực của tăng ni phật tử và đồng bàoPhật giáo trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng conngười Suốt cả cuộc đời mình, Người đã lấy việc hy sinh quyền lợi riêng làm sựnghiệp mưu cầu hạnh phúc cho con người Tấm gương đó gợi ta nhớ đến đức hysinh của Đức Phật Và điều khác biệt ở đây là Hồ Chí Minh đã biến tư tưởng ấythành hành động thực tiễn Người đã chỉ ra con đường giải phóng cho dân tộc trong

đó có cả tăng ni phật tử Và Người sẵn sàng chịu đựng mọi khó khăn, khó nhọc,

không ham danh lợi, cao sang phú quý để trọn đời mình vì nghĩa lớn: “Nước được

độc lập, người dân được tự do”

Như vậy, tất cả mặt tích cực của Phật giáo đã để lại dấu ấn trong tư duy hànhđộng, đi vào cách ứng xử trong đời sống tinh thần và nhân dân lao động Gia đình

Hồ Chí Minh là gia đình nhà Nho, sống gần gũi với nhân dân, người lao động nêncũng thấm nhuần tinh thần đó và để lại dấu ấn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về quanniệm khoan dung

Trang 17

- Lão giáo:

Hồ Chí Minh đã kế thừa tinh thần bao dung trong Lão giáo, đó là: chủ trương

sống hoà hợp với tự nhiên, tôn trọng quy luật của đất trời, từ đó nêu lên thuyết “vô

vi, bất tranh”, “được ít không chê, được nhiều không mừng, cái vui đến thì tận hưởng, cái vui đi không than tiếc, vui vẻ với bốn mùa, hoà hợp cùng ngoại vật…”.

Lão Tử kêu gọi: “Khoáng hề kỳ nhược cốc” (Hãy trống không như hang núi), nghĩa

là “hãy không là gì cả” thì đời sẽ trở nên cực kỳ đơn giản và tốt đẹp.

Chính nhờ biết dung hóa những yếu tố tích cực trên mà khoan dung Hồ ChíMinh không chỉ thể hiện đối với con người mà còn được thể hiện trong cả giới tựnhiên Sự hài hòa giữa con người với thiên nhiên, cá nhân với cộng đồng, gia đìnhvới Tổ quốc, đạo với đời… Tất cả đều được Hồ Chí Minh kế thừa và gộp lại thểhiện rõ trong quan niệm về khoan dung của Người

* Tinh hoa văn hóa phương Tây:

Quan niệm về khoan dung của Hồ Chí Minh còn chịu ảnh hưởng sâu rộng củanền văn hóa dân chủ và cách mạng phương Tây qua sự trải nghiệm của chính bảnthân Người trong suốt ba mươi năm hoạt động cách mạng của mình ở nước ngoài.Người đã từng được phụ thân của mình cho vào học trường tiểu học Vinh Từ

đây, lần đầu tiên, Người biết đến khẩu hiệu: “Tự do, bình đẳng và bác ái”, được

làm quen dần với văn hóa Pháp Sau này Người vào học ở Huế, được tận mắtchứng kiến thực trạng thối nát của triều đình phong kiến nhà Nguyễn, thấy được

điều nghịch lý từ nền giáo dục của kẻ tự xưng là đi “khai hóa văn minh”, “tự do,

bình đẳng, bác ái” nhưng trong thực tế lại đi nô dịch, áp bức, bóc lột nhân dân ta.

Với quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước đã thôi thúc Người đặt chân đến chínhmảnh đất của kẻ xâm lược dân tộc mình

Đến với quê hương của lý tưởng “tự do, bình đẳng, bác ái”, Hồ Chí Minh

được tiếp xúc trực tiếp với tác phẩm của các nhà tư tưởng khai sáng: Von-te,

Rút-xô, Mông-tét-xki-ơ,… những lý luận gia của đại cách mạng Pháp 1789 như: Tinhthần pháp luật của Mông-tét-xki-ơ, Khế ước xã hội của Rút-xô,… tư tưởng dân chủcủa các nhà khai sáng đã có ảnh hưởng tới tư tưởng của Người Người còn tiếp thu

Trang 18

lý tưởng tự do, bình đẳng, bác ái, công lý trong trong Tuyên ngôn nhân quyền và

dân quyền của Pháp năm 1791 Ngoài ra, Người còn hấp thụ được tư tưởng dân chủ

và hình thành được phong cách dân chủ của mình từ trong cuộc sống thực tiễn.Nhờ được rèn luyện trong phong trào công nhân Pháp và sự cổ vũ, dìu dắt trựctiếp của nhiều nhà cách mạng và trí thức tiến bộ Pháp như M Ca-sanh, P.V Cu-tuya-ri-ê, G Mông-mút-xô… mà Hồ Chí Minh đã từng bước trưởng thành Conngười ấy, trên hành trình cứu nước, đã làm giàu trí tuệ của mình bằng vốn trí tuệcủa thời đại, Đông và Tây, vừa thông thái, vừa gạn lọc để có thể từ tầm cao của trithức nhân loại mà suy nghĩ và lựa chọn, kế thừa và đổi mới, vận dụng và phát triển

Rõ ràng là: Ở Pháp Người đã có thể hoạt động và đấu tranh cách mạng mộtcách tương đối tự do, thuận lợi hơn ở trên đất nước mình, dưới chế độ thuộc địa Khi xuất dương, Người cũng đã từng sang Mỹ, đến sống ở Niu Oóc, làm thuê

và thường đến thăm khu ở của người da đen Trong các bài viết sau này, Ngườithường nhắc đến ý chí đấu tranh cho tự do, độc lập, cho quyền sống của con ngườiđược ghi lại trong Tuyên ngôn độc lập 1776 của nước Mỹ Người đã tiếp thu giá trịcủa tư tưởng nhân quyền với nội dung là quyền tự do cá nhân thiêng liêng trongbản tuyên ngôn này Nội dung nhân quyền được Người nâng lên một tầm cỡ mớitrong Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam năm 1945 Mở đầu bản Tuyên ngôn,

Người khẳng định: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc

nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

Trong những tháng năm dừng chân tại nhiều nước châu Âu, châu Phi và MỹLatinh, hòa mình trong cuộc sống của những người lao động, từ nỗi đau đồng bào,

Người thấu hiểu thêm nỗi đau nhân loại Người viết: "Dù màu da có khác nhau, trên

đời này chỉ có hai giống người: Giống người bóc lột và giống người bị bóc lột Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái mà thôi: Tình hữu ái là thật vô sản" [10, 226]

Có thể khẳng định trước khi đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, Nguyễn Ái Quốc

đã trang bị cho mình vốn hiểu biết về thực tế cuộc sống ở các nước thuộc địa vàđây cũng chính là lý do để Người nhanh chóng tìm ra con đường đúng đắn nhất,

Trang 19

phù hợp với thực tế đất nước nhất để giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dânmình

Nói đến việc kết hợp văn hóa Đông, Tây trong con người Hồ Chí Minh,không thể không đề cập đến sự kế thừa lòng nhân ái, đức hy sinh, những giá trị cơbản của Thiên chúa giáo Người đã cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp giải phóngdân tộc, giải phóng nhân dân lao động khỏi ách áp bức, bóc lột; đã là hiện thân củalòng nhân ái và đức hy sinh cao cả Sau này, Người luôn luôn giáo dục cán bộ,đảng viên về lòng thương người, thương dân, thương các chiến sỹ ngoài mặt trận -

đó là những tư tưởng thấm đậm những giá trị cao cả mang tính nhân loại mà Thiênchúa giáo đã khởi xướng và răn dạy

Người lên án gay gắt những kẻ “giả danh Chúa” để thực hiện những “hành

vi ác quỷ”: dẫn đường cho đội quân viễn chinh; cướp của cải, đánh đập, bắt giết

người (đặc biệt là trẻ em); chiếm ruộng đất canh tác, v.v… Và Người cũng lên ánnhững giáo sĩ đại diện cho chủ nghĩa tư bản phương Tây, những kẻ nhân danhChúa để quan hệ mật thiết với thế lực thực dân, tham gia vào guồng máy của chủnghĩa thực dân, xâm nhập về kinh tế và quân sự, áp đặt nền văn hóa thực dân, làmxuất hiện nguy cơ bá quyền văn hóa, v.v…

Như vậy, Hồ Chí Minh với sự tiếp thu các tinh hoa văn hóa nhân loại mộtcách có chọn lọc rồi vận dụng tinh hoa đó một cách sát hợp vào những điều kiện cụthể của đất nước, của dân tộc vì mục đích không chỉ cho sự nghiệp giải phóng dântộc mình mà còn góp phần tích cực nhất vào sự nghiệp của các dân tộc khác trênthế giới

Có thể nói rằng: Giải phóng dân tộc, giải phóng con người trở thành mục tiêucao cả trong suốt cuộc đời hoạt động, đấu tranh cách mạng của Hồ Chí Minh.Người thấu hiểu sâu sắc giá trị của con người, trước hết là con người Việt Nam Đểtập hợp đông đảo lực lượng quần chúng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, Ngườichủ trương thức tỉnh cả đến phần ít ỏi của lương tri còn sót lại trong những conngười tội lỗi

Trang 20

1.1.3 Giá trị nhân văn cộng sản chủ nghĩa Mác - Lênin

Chủ nghĩa Mác - Lênin là đỉnh cao của tư duy nhân loại, là thế giới quan,phương pháp luận khoa học và cách mạng, là hệ tư tưởng của giai cấp công nhân vànhân dân lao động, của các Đảng cộng sản và công nhân trong đấu tranh xóa bỏmọi áp bức, bóc lột, xây dựng xã hội chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa

Chủ nghĩa Mác đã chỉ ra nguồn gốc của niềm đau khổ con người, vạch rõ conđường khoa học, tất yếu đưa đến sự giải phóng triệt để và vĩnh viễn của toàn thểloài người Trong chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa nhân đạo thống nhất với chủ nghĩacộng sản Nó vạch ra mục tiêu giải phóng triệt để con người

Hồ Chí Minh đã tin theo chủ nghĩa cộng sản từ khi Người gia nhập vào Đảng

Xã hội Pháp Nhưng chỉ sau khi Người đọc được Bản Sơ thảo lần thứ nhất những

luận cương về các vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin đăng trên báo

L’ Humanite, số ra ngày 16 và 17-7-1920 Tác phẩm của Lênin đã giúp Ngườitìm ra được con đường giải phóng dân tộc và tự do cho đồng bào mình Người nhưhạnh phúc, sung sướng lên nhiều khi được đọc tác phẩm này của Lênin Sau này,

khi được kể lại sự kiện quan trọng đó, Người đã nói: “… Luận cương của Lê nin

đã làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: Hỡi đồng bào bị đọa đầy, đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng của chúng ta”! [11,126-128].

Đề cương Về vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I Lê-nin, viết năm 1920, đãthức tỉnh Nguyễn Ái Quốc, đưa Người đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, vì đây làchủ nghĩa duy nhất quan tâm đến vấn đề thuộc địa Nhưng vượt trên những hạn chếlúc bấy giờ trong nhận thức và đánh giá về phong trào cách mạng thuộc địa: Cách

mạng thuộc địa phụ thuộc vào cách mạng chính quốc, là "hậu bị quân" của cách

mạng vô sản chính quốc; cách mạng chính quốc thắng lợi thì các thuộc địa mớiđược giải phóng Hồ Chí Minh vốn là người dân thuộc địa, hiểu sâu sắc khát vọng

và tiềm năng, sức mạnh to lớn của các dân tộc thuộc địa nên đã nêu lên luận điểm:Cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa quan hệ chặt chẽ với cách

Trang 21

mạng chính quốc, nhưng không hoàn toàn phụ thuộc vào cách mạng chính quốc.

Nhân dân các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc có thể "chủ động đứng lên, đem sức ta

mà giải phóng cho ta", giành thắng lợi trước cách mạng chính quốc và qua đó, thúc

đẩy cách mạng chính quốc

Tiếp đó, qua quá trình đấu tranh nghiên cứu con đường của cách mạng thángMười Nga, nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, hoạt động trong phong trào cộngsản và phong trào giải phóng dân tộc, bằng trí tuệ thiên tài của mình, Người đãvạch ra con đường tất thắng của cách mạng Việt Nam Đó là con đường đặt sựnghiệp giải phóng dân tộc vào quỹ đạo của cách mạng vô sản, thực hiện ba cuộcgiải phóng: Giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người, bắt đầu

từ giải phóng dân tộc Đến đây, khoan dung trong tư tưởng của Người thống nhấtvới chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa nhân đạo, là sự vận dụng chủ nghĩa nhân đạoCộng sản vào sự nghiệp giải phóng con người

Cần thấy rằng: Chủ nghĩa Cộng sản của Mác là chủ nghĩa tự nhiên hoàn bị,chủ nghĩa nhân bản xã hội hóa, nâng cao, bổ sung, phát triển các nhân tố nhân đạotrong lý thuyết và trong hiện thực lịch sử của nhân loại xưa nay chứ không có sựphủ định sạch trơn Chủ nghĩa nhân đạo cộng sản xuất hiện như một quá trình lịch

sử tự nhiên, hợp quy luật lịch sử Chủ nghĩa nhân đạo cộng sản được hình thành,gắn liền với việc xóa bỏ xã hội tiền tệ, xóa bỏ áp bức bóc lột và bất công

Nói tóm lại: Chủ nghĩa Mác - Lênin là tư tưởng nhân đạo hiện thực với bảnchất của nó là phép biện chứng duy vật, thực tiễn Ở đó, tính nhân loại, tính dântộc, tính giai cấp công nhân thống nhất trong mối quan hệ hài hòa nhưng chặt chẽvới nhau Đây là một học thuyết, tư tưởng về con người và sự nghiệp giải phóngcon người, phát triển con người với tư cách là thực thể tự nhiên xã hội

Như vậy, Hồ Chí Minh đã đi từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác Lênin, là quá trình đi từ truyền thống nhân ái, khoan dung của dân tộc đến chủnghĩa nhân đạo cộng sản Và khoan dung trong tư tưởng của Người đã mở ra mộtgiai đoạn mới của truyền thống khoan dung dân tộc Việt Nam Ngay từ khi Hồ ChíMinh tiếp thu lý luận Mác - Lênin đã giữ vai trò quan trọng quyết định, là cơ sở lý

Trang 22

-luận giúp Người nhận thức được những vấn đề trong truyền thống khoan dung củadân tộc và nâng cấp giá trị truyền thống này lên một tầm cao mới Chính vì vậy,

Người coi chủ nghĩa Mác - Lênin là “cẩm nang” thần kỳ, là “kim chỉ nam”, là

“mặt trời” soi sáng con đường đi đến thắng lợi cuối cùng Trong tác phẩm “ Đường cách mệnh” (1927), Người viết: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin” [20, 268].

Nói về nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, Người đã viết: Họcthuyết Khổng Tử có ưu điểm là tu dưỡng đạo đức, Cơ đốc giáo có ưu điểm là lòngnhân ái, chủ nghĩa Mác- Lênin có ưu điểm là phép biện chứng trong công việc, chủnghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với Việt Nam Khổng

Tử, Chúa Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiên có ưu điểm chung là nghĩ đến nhân loại, mưucầu hạnh phúc cho mọi người Nếu như hôm nay, họ còn sống trên đời này, họ sẽngồi họp với nhau và tôi xin nguyện làm người học trò nhỏ của họ

1.1.4 Những nhân tố thuộc về phẩm chất cá nhân

Từ nhỏ được tắm mình trong truyền thống nhân ái, khoan dung của dân tộc,quê hương và gia đình, lớn lên được chứng kiến tội ác man rợn của bọn thực dân,nỗi lầm than, cơ cực của đồng bào, Hồ Chí Minh đã sớm hình thành khát vọng ra đitìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc Đối với Người, một người dân mất nước

bị nô lệ thì giá trị tinh thần lớn nhất là “Không có gì quý hơn độc lập tự do” Với

lòng yêu nước thương dân sâu sắc và tình yêu thương những người cùng khổ mà

Hồ Chí Minh sẵn sàng chịu đựng vì những hy sinh cao nhất vì độc lập của TổQuốc, vì tự do, hạnh phúc của đồng bào

Trong hành trình cứu nước, Người cũng đã từng chứng kiến cuộc sống áp bứckhốn cùng trong roi vọt, nỗi khổ của nhân dân các nước thuộc địa và Người cũng

đã trải qua nhiều năm lao động đầy cực nhọc, từng trải qua cảnh lao tù đầy đọa nêntrong trái tim của Người bao giờ cũng có mối đồng cảm, xót thương sâu sắc đối với

số phận của tất cả các dân tộc bị áp bức Vì vậy, ngay khi bước vào cuộc đấu tranhcách mạng, Hồ Chí Minh đã thực hiện được sự kết hợp giữa đấu tranh giải phóng

Trang 23

dân tộc mình với đấu tranh “giải phóng những người bị áp bức khỏi các lực lượng

thống trị, thực hiện tình yêu thương và bác ái” Trong lời kêu gọi trên báo Le Paria

số 1, Người đã viết: “Mục đích của báo… là giải phóng loài người”

Trên cơ sở hành trang ban đầu là chủ nghĩa yêu nước, Nguyễn Tất Thành đã

đi qua nhiều châu lục trên thế giới, đến với nhiều châu lục khác nhau, đến vớinhững khu vực nghèo khổ nhất, cả những trung tâm kinh tế chính trị, văn hóa tiêubiểu của thế giới như : Pháp, Mỹ, Anh, Đức Chính trong điều kiện đó, Người đã

đi sâu nghiên cứu những học thuyết tiến bộ giàu tính nhân ái của các nhà tư tưởngvăn hóa phương Tây

Từ hoạt động thực tiễn, Hồ Chí Minh đã khám phá quy luật vận động xã hội,đời sống văn hóa và cuộc đấu tranh của các dân tộc trong hoàn cảnh cụ thể của cácquốc gia và thời đại để khái quát thành lý luận, đem lý luận chỉ đạo hoạt động thựctiễn, làm cho lý luận có giá trị khách quan, tính cách mạng và khoa học Nguyễn ÁiQuốc luôn xác định một dân tộc biết bảo vệ tự do của mình thì đồng thời cũng tôntrọng tự do của dân tộc khác, biết đấu tranh vì quyền tự quyết của mình thì cũngủng hộ những dân tộc khác vì mục đích như thế Ngược lại, nếu nhân danh nhânquyền, dân chủ, tự do, mà chà đạp quyền làm người của dân tộc khác, áp đặt khuônmẫu giá trị của mình ra ngoài biên giới, thì đó là sự xuyên tạc các giá trị nhân loại Theo Nguyễn Ái Quốc, sự cộng sinh, sự cùng chung sống giữa các dân tộc,chỉ có thể hiểu như sự tôn trọng lẫn nhau và cùng phát triển Từ điểm xuất phátnày, Nguyễn Ái Quốc đã đến với Quốc tế Cộng sản, và từ việc tiếp xúc với Luậncương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã làmgiàu thêm truyền thống dân tộc, một khi nội dung của khoan dung được xác định,

và trở thành yếu tố hòa giải, tập hợp lực lượng, trong cuộc đấu tranh vì những giátrị của dân tộc

Như vậy, ngay từ những năm tháng đầu tiên tìm đường cứu nước, trong hànhtrang tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc, khoan dung đã thực sự có tác dụng lớn, nhất

là khi Người đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, và một lần nữa, phấn đấu để đạo lýkhoan dung từng bước biến thành những nội dung tư tưởng cụ thể

Trang 24

Sự tiếp thu và diễn đạt tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin về tinh thần quốc

tế vô sản cũng được Hồ Chủ tịch diễn đạt hoàn toàn theo tinh thần của Nho gia:

“Quan sơn muôn dặm một nhà, bốn phương vô sản đều là anh em” Câu nói này

chứa đầy ý nghĩa, nó vừa là sự phỏng theo quan niệm của Nho gia về “tứ hải giai

huynh đệ”, đồng thời lại thể hiện luôn cả khẩu hiệu lớn lao của thời đại ngày nay:

“Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại!” Đây là sự biểu hiện của sự hòa hợp sâu sắc

giữa tư tưởng “Đại Đồng” của Khổng Tử và chủ nghĩa quốc tế vô sản cao cả của chủ nghĩa Mác trong con người Hồ Chí Minh Người viết: “Hiểu chủ nghĩa Mác -

Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin được” [19, 554].

Tóm lại: Quan niệm về khoan dung trong tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kế thừatruyền thống khoan dung của dân tộc, được xây dựng trên cơ sở chủ nghĩa yêunước và lấy chủ nghĩa yêu nước làm cơ sở định hướng cho tư tưởng khoan dung kếthợp với những giá trị tinh thần nhân văn của nhân loại Qúa trình tích tụ trong mìnhcác giá trị khoan dung của phương Đông và phương Tây cùng với việc đi từ chủnghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã tiếp nhận một luận

đề nổi tiếng của Mác - Ăngghen: “Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện

cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người” Hồ Chí Minh đã kết hợp tinh thần

khoan dung mác xít với truyền thống khoan dung, nhân ái Việt Nam cùng với nănglực chủ quan, phi thường của Người đã tạo nên một tư tưởng mới - tư tưởng khoandung mang tầm cao và ý nghĩa thời đại sâu sắc

Xuất phát từ những điều kiện đặc thù của dân tộc, từ truyền thống, từ kinhnghiệm và thói quen ứng xử của người Việt, từ thực tiễn cách mạng Việt Nam màtrước hết là thực tiễn đánh đuổi giặc ngoại xâm, Hồ Chí Minh đã làm cho tư tưởngkhoan dung trở nên thiết thực Hơn nữa, Hồ Chí Minh còn nâng truyền thống khoandung của dân tộc lên tầm cao mới bằng việc kết hợp nó với chủ nghĩa nhân văncộng sản của chủ nghĩa Mác - Lênin, hệ tư tưởng tiên tiến nhất của thời đại, vũ khí

lý luận của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh giải phóng mình và giải phóng

Trang 25

toàn nhân loại khỏi ách áp bức, bóc lột, xây dựng xã hội mới xã hội chủ nghĩa vàcộng sản chủ nghĩa

1.2 Nội dung quan niệm về khoan dung trong tư tưởng Hồ Chí Minh

1.2.1 Khái niệm về khoan dung

Thuật ngữ “khoan dung” xuất hiện tương đối sớm trong lịch sử tư tưởng nhân loại Ngay từ khi xuất hiện, nghĩa của “khoan dung” được thống nhất ở các ngôn

ngữ khác nhau

Ở phương Tây: Khoan dung có nguồn gốc chung là từ tiếng Latinh(Tolerantia) sau đó được phổ biến sang các thứ tiếng khác thuộc hệ ngữ Latinh(chẳng hạn tiếng Anh là Tolerance, tiếng Pháp - Tolérance, tiếng Đức - Toleránz).Thuật ngữ này được dịch sang tiếng Việt thông qua Hán ngữ tolerance được biểuđạt bằng nhiều từ khác nhau như bao dung, độ lượng, khoan dung

Khoan dung gốc từ tiếng Latinh là tolerantia, có nghĩa là phẩm chất đặc trưngcho thái độ đối với những người khác cũng như đối với cá nhân có phẩm giá bìnhđẳng với mình và thể hiện việc tự giác đè nén cảm giác tức giận sinh ra từ tất cảnhững gì thể hiện cái khác mình thể hiện ở người khác từ ngoại hình, lối nói, thịhiếu, lối sống đến niềm tin,… Thuật ngữ tolerantia trong tiếng Latinh còn có hàmnghĩa khác là chịu đựng, nhẫn nhục và kiên tâm một cách thụ động, là tự nguyệnđón nhận một đau khổ thường liên tưởng thái độ đối với các hiện tượng thuộc cácthuật ngữ như đau khổ, cái ác…

Đến nay khoan dung đã được hiểu căn bản là lập trường cho phép thừa nhận

và tôn trọng sự khác biệt, là quy tắc đạo đức tất yếu dẫn tới việc tìm kiếm khả năng

và giải quyết khả năng, giải quyết xung đột và mâu thuẫn thông qua sự thừa nhậnquyền của người khác hoặc thông qua những người nào đó có quan điểm, tínngưỡng, hình thức ứng xử khác với chúng ta

Ở phương Đông: Khoan dung ban đầu được dùng như một khái niệm thuầntúy đạo đức Xuất phát từ lòng nhân nghĩa, người ta kêu gọi cần có sự đối xử nhân

từ, rộng lượng đối với người khác, sẵn sàng bỏ qua cho những sai lầm, tội lỗi của

Trang 26

người khác Trên ý nghĩa đó, khoan dung đồng nghĩa với bao dung, nó mang tínhcách bề trên, có màu sắc đẳng cấp Nho giáo.

Trong Từ điển Hán - Việt của Đào Duy Anh, “khoan dung” được sử dụng đồng nghĩa với “bao dung”, trong đó “khoan” là rộng rãi, dung được nhiều, độ lượng rộng; và “dung” là tiếp nhận, bao chứa, bao bọc Do vậy, “khoan dung”

được hiểu là rộng lòng bao dung, là khoan thứ, vị tha Đại từ điển tiếng Việt cũngnhất trí với cách giải thích này

Trong văn kiện chính thức của Liên hợp quốc cũng đã chỉ rõ một số điểm về

khoan dung như sau: Một là, sự tôn trọng, chấp nhận và đánh giá cao sự phong phú

và đa dạng của các nền văn hóa trên thế giới Hai là, khoan dung không phải là

nhượng bộ, hạ cố hay chiều lòng, mà trước hết là một thái độ tích cực xuất phát từ

việc thừa nhận các quyền phổ biến của con người Ba là, thừa nhận đa dạng của sự phát triển trên thế giới Bốn là, thừa nhận tự do lựa chọn niềm tin của mình và chấp

nhận những người khác cũng có quyền tự do như vậy, không áp đặt ý kiến củangười này lên ý kiến của những người khác

Khoan dung, xét từ góc độ văn hoá, hàm chứa thái độ ứng xử tích cực, mangtính giao lưu đối thoại trong quan hệ giữa các cộng đồng người, các dân tộc khácnhau, thể hiện sự tôn trọng và học hỏi lẫn nhau, hướng đến những giá trị nhân loạichung Văn kiện chính thức của UNESCO về khoan dung đã chỉ ra bốn ý nghĩa của

nó như sau: Thứ nhất: Khoan dung là sự tôn trọng, chấp nhận và đánh giá cao sự

phong phú và đa dạng của các nền văn hoá thế giới, phương thức biểu đạt và cáchthể hiện phẩm chất con người của chúng ta Nó được khuyến khích bằng tri thức,

sự cởi mở giao tiếp và tự do tư tưởng, ý thức về tín ngưỡng Khoan dung là mộtđức tính khiến cho hoà bình có thể thực hiện được và góp phần vào việc thay thế

văn hoá chiến tranh bằng văn hoá hoà bình Thứ hai: Khoan dung … xuất phát từ

việc thừa nhận các quyền phổ quát của con người và những tự do cơ bản của ngườikhác Trong bất kỳ trường hợp nào không thể viện ra khoan dung để bào chữa cho

sự vi phạm những giá trị cơ bản này Khoan dung cũng phải được thực hành bởi

các cá nhân, các nhóm người và các nhà nước Thứ ba: Khoan dung là trách nhiệm

Trang 27

đề cao các quyền con người, sự đa dạng của thế giới (kể cả văn hoá) dân chủ và nhà

nước pháp quyền… Thứ tư: Khoan dung có nghĩa là mỗi người được tự do chọn

lựa những niềm tin của mình và chấp nhận những người khác cũng có quyền tự donhư vậy Nó… chấp nhận thực tế con người, đương nhiên khác nhau về vẻ ngoài,hình thể, ngôn ngữ, tập tính và các giá trị, đều có quyền sống trong hoà bình và tồntại đúng bản chất của mình [ 22, 34]

Từ những khái niệm trên, có thể khẳng định rằng: Khoan dung không chỉ làviệc nắm lấy những nguyên tắc sống cơ bản, mà còn là điều kiện cho hòa bình, chophát triển kinh tế và cho sự tiến bộ xã hội Khoan dung phải ăn sâu không chỉ trongtâm trí của mọi người như một thái độ ứng xử, mà cả trong những cách bố trí của

sự vận hành xã hội và chính trị, chi phối và tạo dựng những mối quan hệ giữa conngười với con người Khoan dung không chỉ thuộc về đạo đức của mỗi cá nhân, màcòn thể hiện tinh thần yêu hòa bình của mỗi dân tộc

Khoan dung hẳn không phải là nét riêng của dân tộc này hay dân tộc khác, màđược hình thành từ lịch sử của nhiều dân tộc trong cuộc mưu sinh và bảo vệ phẩmgiá của mình Dân tộc ta từ xưa đã làm cho yếu tố này trở thành phổ biến trong hệthống ứng xử và đánh giá đối với quan hệ bên trong lẫn quan hệ đối ngoại Điềunày bộc lộ rõ trong việc tiếp thu tinh hoa văn hoá của các dân tộc đi trước, thựchiện sự sàng lọc nghiêm túc, dần dần biến thành cái của chính mình

Tóm lại, khoan dung là sự tôn trọng quyền tự do của người khác về niềm tintôn giáo cũng như về các quan điểm chính trị, triết học, là cách nhìn rộng lượng vớinhững cái khác biệt, là chấp nhận đối thoại về giá trị trong sự đa dạng của các nềnvăn hóa để cùng tồn tại và phát triển

Trên cơ sơ nhận thức tất cả mọi người đều bình đẳng về phẩm chất, nhưngmỗi người lại có cách suy nghĩ và niềm tin khác nhau, chính sự khác nhau đó lànhân tố làm nên sự phong phú cho nền văn hóa mỗi dân tộc và toàn bộ nền vănminh nói chung, do đó khoan dung là sự đòi hỏi một thái độ hài hòa khác biệt đểcùng nhau tồn tại và phát triển

Trang 28

Mặt khác khoan dung đòi hỏi chống lại mọi thái độ kỳ thị, cuồng tín, tôn giáo,tuyệt đối hóa các giá trị của riêng mình, đi tới bỉ án, đàn áp, chống lại niềm xác tínhcủa người khác, áp đặt những giá trị xa lạ với truyền thống, bản sắc văn hóa củadân tộc họ.

Do đó, khoan dung cần đến sự hiểu biết về chân lý, chính nghĩa, vì người taphân biệt có khoan dung tốt và khoan dung xấu Muốn bênh vực cái tốt phải lên áncái xấu, cái ác, lên án tư tưởng và hành động không tương hợp với các quyền cơbản của con người, với các đồng thuận đã đạt được trong xã hội, với cái hạt nhângiá trị phổ quát của loài người

Nếu có một sự thống nhất nào đó về cách hiểu khái niệm khoan dung như trênthì Hồ Chí Minh với quan niệm về khoan dung trong tư tưởng của Người như làmột biểu hiện của sự khoan dung và cao hơn là mẫu mực về sự khoan dung

1.2.2 Nội dung quan niệm về khoan dung trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, quan niệm về khoan dung của Người là mộttrong những giá trị đạo đức trụ cột trong một nhân cách hoàn thiện bởi nhờ nó,Người có thể chia sẻ với những khổ đau của người lao động bị áp bức, với nhữngdân tộc bị nô dịch Người trở nên thân thương, gần gũi với người dân Ngay cả

những người không cùng ý thức hệ, thậm chí, ở một chiều cạnh nào đó là "địch thủ"

vẫn phải kính trọng, thừa nhận Người Quan niệm về khoan dung trong tư tưởng

Hồ Chí Minh bao gồm những nội dung cơ bản sau:

1.2.2.1 Khoan dung trước hết phải thực hiện được tình yêu thương và bác ái đối với những người đã từng mắc sai lầm, khuyết điểm

Tinh thần khoan dung của Hồ Chí Minh xuất phát từ cái nhìn trước tính đadạng của con người: đa dạng trong quan hệ (quan hệ, giai cấp, tầng lớp, đồng chí,đồng bào, gia đình, nhà trường ), đa dạng trong tính cách, khát vọng, đa dạng trongphẩm chất và khả năng Khoan dung của Người luôn biểu hiện tập trung và baotrùm với lòng nhân ái bao la dành cho nhân dân và non sông đất nước Việt Nam,

Người nói: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta

hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn,

Trang 29

áo mặc, ai cũng được học hành” [13,161] Ham muốn ấy đã theo suốt cả cuộc đời

Người, làm nên mục đích và hoạt động cách mạng của Người Người đã từng làm

bồi bàn, quét tuyết, phụ bếp, hoặc như Người nói, “những khi tôi phải ẩn nấp nơi

núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo - là vì mục đích đó” [13,

240]

Tình cảm vĩ đại, thiêng liêng và cao cả đó đã chi phối Người suốt cuộc đời,trở thành lý tưởng sống và hành động của Người Yêu thương, quý trọng dân, lo

cho dân, lòng khoan dung, nhân ái của Người sâu thẳm, bao la như trời biển, “nâng

niu tất cả chỉ quên mình”, ham làm những việc ích quốc, lợi dân, không ham địa

vị, công danh, phú quý, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, đó là những điều quý

báu mà Hồ Chí Minh truyền lại cho chúng ta về đạo lý làm người, phải biết yêuthương nhau và sống khoan dung

Dân tộc Việt Nam với truyền thống đạo đức tốt đẹp như: lòng yêu thương,

trọng nhân nghĩa, nhân đạo và lưu tình trong quan hệ giữa người với người “đánh

kẻ chạy đi chứ không ai đánh người chạy lại” Là tấm gương sáng ngời của lòng

khoan dung, nhân hậu, vị tha, đức độ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khơi dậy ở tất cảmọi người kể cả những đối tượng đã từng lầm đường lạc lối, bất đồng quan điểmchính trị Truyền thống yêu nước, yêu quê hương, trách nhiệm với tổ tiên, dân tộc,gia đình, giúp họ có thể gác lại một bên những băn khoăn, thắc mắc, thậm chí cảhận thù, để hướng vào một mục đích chung là giành độc lập, tự do cho dân tộc

Người khuyên nhủ hãy “đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi”, “phải khoan hồng

đại độ” Tình cảm của Người hướng trước tiên vào hàng chục triệu quân dân tích

cực, chiến đấu, hy sinh vì sự nghiệp cách mạng Nhưng tình thương của Người

cũng mở rộng “ôm cả non sông, mọi kiếp người”, nhằm cứu vớt những con người

Việt Nam lầm lạc nhưng biết hối cải, còn lòng yêu nước, quay lại với dân tộc Năm 1946, khi cuộc kháng chiến của nhân dân Nam Bộ bắt đầu, Chủ tịch Hồ

Chí Minh đã khẳng định: “Năm ngón tay cũng có ngón ngắn ngón dài Nhưng

ngắn dài đều họp nhau lại nơi bàn tay Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta Vậy nên ta

Trang 30

phải khoan hồng đại độ Ta phải nhận rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng

có ít hay nhiều lòng ái quốc Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hoá họ” [ 13, 246- 247].

Đối với ngụy binh, Người cũng thể hiện sự bao dung, độ lượng, muốn họ bỏPháp mà quay về với nhân dân, Tổ quốc Lời kêu gọi của Người đối với ngụy binh

đã thể hiện rất rõ sự cảm thông, lòng vị tha, nhân từ, bao dung, độ lượng Hồ Chí

Minh đã viết: “Tôi biết rằng: Các người đều là con dân nước Việt, song vì bị Pháp

bắt buộc, hoặc bị chúng lừa gạt cho nên đi lính cho chúng Chứ thật không ai muốn “cõng rắn bắt gà nhà”, “rước voi giày mã tổ”, chống lại Tổ quốc để mang tiếng Việt gian” [15,332]

Tại Đại hội Mặt trận Liên Việt toàn quốc vào tháng 9-1955, Người đã phát

biểu: “Mặt trận dân tộc thống nhất cần mở rộng hơn nữa, củng cố hơn nữa, đoàn

kết tất cả những người thực sự yêu Tổ quốc, yêu hòa bình, không phân biệt họ thuộc đảng phái nào, tôn giáo nào, tầng lớp nào, và quá khứ họ đã hợp tác với phe phái nào”

Với phương châm ứng xử của Người là "biến đại sự thành tiểu sự, biến tiểu sự

thành vô sự" Khoan dung và không chấp nhặt đối với những sai lầm có thể tha thứ,

miễn sao giữ được những chân lý, những điều có tính nguyên tắc mà Người gọi là

những điều "bất biến" trong câu nói "dĩ bất biến ứng vạn biến" Chính vì lẽ đó, theo

Người muốn xây dựng một khối đại đoàn kết toàn dân, muốn tập hợp động viên,phát huy sức mạnh của các lực lượng thì cần xóa bỏ hết thành kiến, định kiến vàbệnh hẹp hòi Vì vậy, đối với những người yêu nước, dù ở tầng lớp nào và trướcđây đã cộng tác với đối phương, nếu ngày nay họ thật thà tán thành hòa bình, thốngnhất, độc lập, dân chủ, nếu họ muốn thật thà phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân,thì chúng ta cần cộng tác với họ

Trên tinh thần đó, đối với những người đã từng có nợ máu với cách mạng, vìlợi ích của đoàn kết quốc gia, Người đã tỏ rõ một tinh thần khoan dung, đại lượng

Người nhắc nhở chúng ta cần phải vượt qua những thiên kiến hẹp hòi: “Sông to, bể

rộng, thì bao nhiêu nước cũng chứa được vì độ lượng của nó rộng và sâu Cái chén

Trang 31

nhỏ, cái đĩa cạn, thì một chút nước cũng đầy tràn, vì độ lượng nó nhỏ hẹp Người

mà tự kiêu tự mãn, cũng như cái chén cái đĩa cạn” [14, 644].

Về sau, nhiều kẻ trong quân đội của ngụy quyền Sài Gòn đã gây tội ác với

nhân dân ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn tin rằng: “Quân đội miền Nam cũng là nòi

giống Việt Nam, lẽ nào lại theo lệnh giặc Mỹ mà bắn giết đồng bào của mình! Càng ngày họ càng giác ngộ và tìm cơ hội quay súng lại chống bọn cướp nước và bán nước” [25, 111] Người kêu gọi: “Các người hãy tỉnh ngộ trở về với đồng bào, góp phần giải phóng quê hương, phụng sự Tổ quốc, các người sẽ được nhân dân hoan nghênh” [18, 472]

Chính vì lòng khoan dung đại độ ấy mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tập hợpđược một đội ngũ tri thức hùng hậu sẵn sàng từ bỏ vinh hoa phú quý đến với cáchmạng và hết mình phụng sự dân tộc như các chí sĩ: Huỳnh Thúc Kháng, Phan KếToại, Bùi Bằng Đoàn, Vũ Đình Hòe, những nhà khoa học lớn như Trần Đại Nghĩa,Tôn Thất Tùng, Đặng Văn Ngữ, Phạm Ngọc Thạch, Tạ Quang Bửu Hồ Chí Minhcũng dung nạp cả cựu Hoàng Bảo Đại mà bản thân ông ta và triều đình hư vị củaông ta theo mệnh lệnh của thực dân đã ký án tử hình vắng mặt Người

Khi Pháp trở lại đánh chiếm Nam bộ, không tránh khỏi có một số người bị dụ

dỗ đi theo Nhờ có tấm lòng khoan dung, chính sách độ lượng của Hồ Chí Minh mànhiều đồng bào, trong đó có không ít đồng bào công giáo, bị lừa gạt đã tự nguyệnquay về với cách mạng và kháng chiến Cũng trong cuộc kháng chiến chống Pháp,

có một số đồng bào, do hạn chế về nhận thức, thiếu niềm tin đã bỏ kháng chiến vào

thành Một số cán bộ và nhân dân cho “dinh tê” là Việt gian, phản quốc Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã viết bài trên báo nhân dân và Người đã giải thích: “người”, “dinh

tê” không phải muốn phản bội Nhưng vì họ kém lòng tin tưởng vào lực lượng tất thắng của dân tộc Họ thiếu tin tưởng vào sức chịu đựng của mình Họ không trông thấy xa” [ 26, 164].

Như vậy: khoan dung của chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là một sách lược

mà là sự kế tục và phát triển truyền thống nhân ái, bao dung của dân tộc ta quahàng ngàn năm lịch sử Tư tưởng đó đã được biểu hiện nhất quán trong đường lối,

Trang 32

chính sách của Đảng ta, qua thái độ ứng xử của Bác Hồ đối với những người lầmlạc bằng tất cả sự chân thành vì nghĩa lớn của dân tộc Đối với chủ tịch Hồ ChíMinh, khoan dung cũng chính là biểu hiện sức mạnh của cách mạng, chỉ có nhữngcuộc cách mạng chân chính, được lòng dân mới có sức thuyết phục, cảm hóa đốivới trái tim và khối óc của quần chúng, bao gồm cả những người lầm lạc, chốngđối Trong một lần tiếp đoàn đại biểu Công an nước Cộng hòa Cuba, tháng 8-1966,

Người đã nói: “Ta được lòng dân thì ta không sợ gì cả Đối với những kẻ chống

đối, ta có thể tịch thu tài sản của họ Vì vậy, người cách mạng phải lấy tấm lòng vì đại nghĩa mà thuyết phục, cảm hóa họ” [19, 118-119] Như vậy, với tấm lòng,

nhân ái, khoan dung, độ lượng của Người là để cảm hóa lòng người, để thực hiệnđại đoàn kết dân tộc, tạo nên sức mạnh chiến thắng kẻ thù và xây dựng đất nước.Một cộng đồng, một dân tộc, một xã hội bao giờ cũng có muôn vàn quan hệphức tạp thuộc về quá khứ lẫn hiện tại Việc giải quyết mối quan hệ ấy, theo tưtưởng Hồ Chí Minh, phải xuất phát từ mục đích tập hợp vì sự nghiệp giải phóngdân tộc và tiến bộ xã hội, vì tình thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau giữa con người vớicon người Hồ Chí Minh đã thể hiện tinh thần này qua các chính sách đối với kẻ thùxâm lược, kiều dân nước ngoài tại Việt Nam và đối với cả tù binh

Trong thư gửi cho tướng R.Xalăng, Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở ĐôngDương (6-1947), một người đã từng tháp tùng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong suốtchuyến Người sang thăm nước Pháp, đã từng được Người coi là bạn, có đoạn viết:

"Chúng ta đã từng là những người bạn tốt Nhưng hoàn cảnh ngoài ý muốn đã biến chúng ta thành hai kẻ đối địch Điều đó thật đáng tiếc! Vì chúng ta buộc phải chiến đấu, thì các ngài hãy tỏ ra là những chiến binh hào hiệp, những đối thủ quân tử, trong khi chờ đợi chúng ta trở thành bạn hữu của nhau

… Vì tình yêu thương con người, lòng nhân đạo và nhân danh tình bạn của chúng ta, tôi yêu cầu Ngài nghiêm cấm binh lính Pháp sát hại dân lành, hãm hiếp phụ nữ, đối phá làng mạc và phá hủy nhà thờ, đền miếu như họ đã làm từ trước tới nay.

Trang 33

Tôi đảm bảo với Ngài rằng binh lính và thường dân khác ở chỗ chúng tôi được đối xử rất tử tế Tôi hy vọng người của chúng tôi trong tay các Ngài cũng được đối xử như vậy” [14, 141-142].

Có lẽ trên thế giới, hiếm có một bức thư gửi cho tướng giặc trước trận đánh lạiđược viết với một ngôn luận hòa ái, lịch thiệp và cao thượng, chính trực như vậy!

Từ bạn hữu, buộc phải làm địch thủ, thì hãy chiến đấu một cách hào hiệp và quân

tử để sau chiến đấu sẽ trở lại là những người bạn Đó mới thực sự là cuộc chiến đấucủa những hiệp sĩ chân chính, vì những mục tiêu cao cả của thời đại chứ khôngphải vì hận thù dân tộc hay cá nhân

Đối với tù binh, Hồ Chí Minh có thái độ khoan hồng, độ lượng với họ Vì theosuy nghĩ của Người thì họ cũng là con người mà thôi Vào tháng 12 năm 1946,

trong thư “ Gửi các tù binh Pháp”, Hồ Chủ tịch đã viết: “ Tôi rất lấy làm phiền

lòng vì thấy các người đang ở trong tình trạng thế này Tôi coi các người như là bạn của tôi” [13, 457] Thật là ngôn luận của một hiệp sĩ, một chính nhân quân tử!

Chúng ta chiến đấu vì những mục tiêu cao cả hòa bình, độc lập dân tộc, chứ không

vì lý do nào khác Hoàn cảnh đã buộc phải chiến đấu thì hãy chiến đấu ra trò, caothượng và chính trực, để sau chiến đấu, lại trở lại là những người bạn! Người đãlàm hết sức mình để không gây ra mối hận thù đối với dân tộc Pháp, một dân tộc

mà Người luôn luôn yêu mến và kính trọng

Thật, rất hiếm thấy có một vị Chủ tịch nào như Hồ Chủ tịch của chúng ta, lờiBác nói rất chân thành và đầy tình cảm của một con người Điều này không phải aicũng có thể có được trong nhân cách của mình Qua câu nói trên, rõ ràng Bác củachúng ta là một con người có tấm lòng bao dung, độ lượng, nhân ái bao la mới cóthể viết được những lời tình cảm như vậy!

Về phần mình, chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở đồng bào và chiến sĩ cầnnêu cao lý tưởng chính nghĩa nhân đạo, hòa bình, phải có lối sống khoan dung, phải

có sự đối xử khoan hồng với tù binh và kiều dân Pháp, để “làm cho thế giới biết

rằng, chúng ta là một dân tộc văn minh, văn minh hơn bọn đi giết người cướp nước” [13, 28]

Trang 34

Hồ Chí Minh cũng ân cần, dặn dò: “… Phải chăm sóc hết sức chu đáo, đối xử

thật nhã nhặn để tỏ sự ân cần của ta đối với người Pháp, để cho họ thấy rõ ta chiến đấu là vì tiền đồ của Quốc gia và dân tộc Việt Nam chứ không có ý ghét bỏ người Pháp Khẩu phần của họ phải hơn người Việt Nam Tổ chức việc nấu ăn và chăm nom cho họ kỹ lưỡng” [31, 6]

Vì quyền sống, quyền bình đẳng, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc, dântộc Việt Nam hơn ba mươi năm chiến tranh cách mạng đã phải chịu biết bao hy

sinh, đau thương, mất mát! Nhưng nối tiếp truyền thống nhân từ: “Thương người

như thể thương thân”… thấm nhuần lòng nhân ái, khoan dung, rộng lượng bao la

của Hồ Chí Minh, dân tộc chúng ta đã không bao giờ hạ mình xuống mức “trả thù

báo oán”, trái lại bao giờ cũng đứng ở tầm cao của lòng khoan dung vốn gắn liền

với bản chất nhân đạo của cách mạng Việt Nam

Cả cuộc đời của Người là một hình mẫu của con người với lòng khoan dungrộng lớn mang tầm cao của thời đại mới Trong con người Hồ Chí Minh là sự thốngnhất giữa lòng yêu thương con người với lòng tin, sự tôn trọng và ý chí cùng hànhđộng triệt để giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người Khoandung trong tư tưởng Hồ Chí Minh là sự nâng cao tình yêu thương con người vôhạn, không phân chia dân tộc, quốc gia, lứa tuổi Tư tưởng này là sự kế thừa vànâng cao về chất, phát triển các yếu tố tích cực của tư tưởng khoan dung truyềnthống của dân tộc Việt Nam phù hợp với điều kiện lịch sử mới của đất nước, hòanhập với xu thế tiến bộ chung của thời đại

1.2.2.2 Khoan dung phải thể hiện được niềm tin vào phần tốt đẹp, phần thiện của con người

Quan niệm của Hồ Chí Minh về thiện và ác bắt nguồn từ cái gốc nhân văn từ

ngàn xưa, theo đó: “Thiện nghĩa là tốt đẹp, vẻ vang Trong xã hội không có gì tốt

đẹp vẻ vang bằng phục vụ lợi ích của nhân dân” Thiện và ác là hai mâu thuẫn,

luôn luôn đấu tranh gay gắt với nhau Cuộc đấu tranh ấy phải cực kỳ gian khổ,

nhưng cuối cùng thì ác nhất định thất bại, thiện nhất định thắng “Nếu chỉ lo cho

Trang 35

lợi ích riêng của mình, không lo đến lợi ích chung của nước nhà, của dân tộc, thế là ác”.

Với tấm lòng yêu thương sâu sắc đối với mọi kiếp người, bằng đức nhân từ vàtrí tuệ, khoan dung Hồ Chí Minh bao giờ cũng đặt niềm tin mãnh liệt vào sứcmạnh, phẩm giá, tính chủ động sáng tạo, hướng thiện của con người Bác luônkhuyến khích nâng đỡ họ đạt tới giá trị của Chân - Thiện- Mỹ, khơi dậy phần tốtđẹp trong con người họ, giúp họ vươn lên và khẳng định mình, lấy đó là biện phápgiúp đỡ những người có thói hư tật xấu Ngay cả đối với những người Việt Namlầm lỡ trước đây làm việc cho chế độ cũ hoặc không lương thiện trong chế độ xã

hội cũ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ gọi họ là "nạn nhân của chế độ xã hội cũ" và nhắc

nhở Đảng, Nhà nước phải quan tâm đến họ, hướng thiện và hướng nghiệp cho họ

theo tinh thần "đánh người chạy đi chứ không đánh người chạy lại” "Đối với nạn

nhân của chế độ xã hội cũ, Nhà nước phải vừa dùng giáo dục vừa dùng pháp luật

để cải tạo họ, giúp họ trở nên những người lao động lương thiện" Đó cũng chính là

truyền thống khoan dung, triết lý khoan dung của dân tộc Việt Nam mà Hồ ChíMinh đã kế thừa và khắc sâu thêm vào tâm khảm mỗi người chúng ta

Niềm tin vào phần tốt đẹp, phần thiện của Hồ Chí Minh đối với con người,trước hết đó là niềm tin vào sức mạnh, phẩm giá, hướng thiện của nhân dân laođộng Niềm tin của Hồ Chí Minh đối với nhân dân là dựa trên sự hiểu biết sâu sắc

truyền thống lịch sử của dân tộc và con người Việt Nam: “Dân tộc ta có một lòng

nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báo của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất

cả lũ bán nước và lũ cướp nước” [15, 171].

Trong con người của Hồ Chí Minh, bao giờ cũng là lòng yêu nước thươngdân, thương nhân loại bị đau khổ cùng với niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh củanhân dân, chứa đựng ý nghĩa thực sự sâu sắc, mang tầm vóc thời đại, tất cả đó là sự

kế thừa tư tưởng kiệt xuất của các anh hùng, hào kiệt của dân tộc như Trần Hưng

Đạo, Nguyễn Trãi… về sức mạnh của nhân dân: "Khoan thư sức dân để làm kế bền

Trang 36

gốc, sâu rễ"; "đẩy thuyền cũng là dân, mà lật thuyền cũng là dân" Người còn kế thừa

tư tưởng nhân văn "lấy dân làm gốc" và chủ nghĩa nhân đạo hiện thực của học thuyết

Mác để hình thành tư tưởng khoan dung, nhân văn mới, tin tưởng mãnh liệt vào sứcmạnh, tính chủ động, sáng tạo của quần chúng nhân dân và lòng tôn trọng, kính

trọng nhân dân lao động Người nói "Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân

dân Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân" [16,

276]

Trong điều kiện bị đế quốc thực dân thống trị, kẻ thù đàn áp dã man, cùng vớichính sách ngu dân của chúng, người dân các nước thuộc địa tưởng chừng khôngthể gượng dậy nổi, song Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh vẫn có một niềm tinmãnh liệt vào sức mạnh của nhân dân, tiền đồ của dân tộc Ngay từ năm 1921,

trong tình thế rất khó khăn, Người vẫn tin rằng, “Người Đông Dương không chết,

người Đông Dương vẫn đang sống, sống mãi mãi… đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm khi thời cơ đến” [9, 28].

Trong quá trình đấu tranh, Người đã làm cho nhân dân thế giới nhận thức rõvấn đề thuộc địa, đoàn kết giúp đỡ phong trào giải phóng dân tộc là giúp đỡ chochính mình Người nhận thấy rõ vai trò của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp

cách mạng, "người là gốc của làng nước", "nước lấy dân làm gốc", "gốc có vững cây

mới bền", "xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân" Người còn nói rằng: "Dân như nước, mình như cá", "lực lượng nhiều là ở dân hết" "Công việc đổi mới là trách nhiệm ở dân" Do đó, Người yêu cầu "Đem tài dân, sức dân, của dân, làm lợi cho dân" Hồ

Chí Minh có niềm tin vững chắc rằng với tinh thần quật cường và lực lượng củadân tộc ta, với lòng yêu nước và chí kiên quyết của nhân dân và quân đội ta, chẳngnhững chúng ta có thể thắng lợi, mà chúng ta nhất định sẽ thắng lợi bởi Người luôn

cho rằng : “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”,

nhân dân chính là người sáng tạo ra mọi giá trị vật chất và tinh thần cho nước nhà Niềm tin vào sức mạnh mãnh liệt của nhân dân còn được Hồ Chủ tịch nhận

thức từ mối quan hệ giữa cán bộ, Đảng viên Trong Di chúc, Người căn dặn cán bộ,

Trang 37

Đảng viên rằng, cuộc kháng chiến chống Mỹ và sự nghiệp xây dựng CNXH là hết

sức khó khăn, gian khổ Nhưng "Để thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ này

cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân” [19, 505] Người coi đó là chân lý, và đòi hỏi “những cán bộ phải ghi tạc vào đầu cái chân lý đó”.

Cái vĩ đại của tinh thần khoan dung, nhân ái Hồ Chí Minh là: từ chỗ hiểu lòng

dân, nhìn thấy sức mạnh của dân mà đúc kết thành chân lý “Đoàn kết, đoàn kết,

đại đoàn kết, Thành công, thành công, đại thành công” Do đó, Người thường

xuyên giáo dục cán bộ phải có lòng yêu thương con người, bất kể họ là ai, xuất thânđịa vị thế nào

Hồ Chí Minh luôn nhìn nhận con người trước tính đa dạng và cho rằng conngười không phải là thần thánh vì vậy mà có cả cái tốt và cái xấu Đối với Hồ Chí

Minh, ở đời, làm người là phải có tình cảm “Con người dù là xấu, là tốt, văn minh

hay dã man đều có tình cảm” [14, 241] Người cũng đã viết: “Mỗi con người đều

có thiện và ác ở trong lòng Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng Đối với những người có thói hư tật xấu, trừ hạng người phản lại Tổ quốc và nhân dân, ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho cái phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi phần ác, chứ không phải đập cho tơi bời” [19, 558]

Từ trong phong cách ứng xử ấy của Hồ Chí Minh toát lên thái độ tin cậy vớicon người, là sự nâng niu, quý trọng nhân cách con người Phương pháp Hồ ChíMinh là phương pháp cảm hóa, thuyết phục, thu phục con người ở mọi đối tượng,mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi Với tình cảm con người và rất giàu tình người, Hồ ChíMinh đã quan tâm đến tất cả với sự ân cần, chu đáo, tế nhị, lịch thiệp Đó chính làphương pháp đoàn kết và đại đoàn kết toàn dân mà Người là linh hồn của khối đạiđoàn kết đó Đoàn kết để có sức mạnh phấn đấu cho thắng lợi của sự nghiệp vĩ đại,nên đoàn kết phải dựa trên đạo lý của người cách mạng, phải thấu lý, đạt tình, cótình có nghĩa Phương pháp hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh thấm đậm chủnghĩa nhân văn, hướng tới con người, dùng người và chiến lược trồng người

Trang 38

Cũng hiếm có vị lãnh tụ cách mạng nào khi buộc phải kêu gọi nhân dân nhất

tề đứng lên “Thà quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh” để bảo vệ nền độc lập, tự do

vừa mới giành được nhưng từ đáy lòng vẫn xót xa khi thấy máu của cả hai bênđang đổ và kiên trì làm thức dậy lương tâm của những người đang ở phía đối lập

với dân tộc mình Người viết: “Tôi nghiêng mình trước anh hồn của những chiến

sĩ và đồng bào Việt Nam đã vì Tổ Quốc mà hy sinh tính mệnh Tôi cũng ngậm ngùi thương xót cho những người Pháp đã tử vong Than ôi, trước lòng bác ái, thì máu Pháp hay máu Việt cũng đều là máu; người Pháp hay người Việt cũng đều là người” [13, 448]

Như vậy, với niềm tin vào sức mạnh, phẩm giá của con người, trước hết làniềm tin vào sức mạnh, phẩm giá của nhân dân của Hồ Chí Minh là điểm tựa vữngchắc cho tấm lòng bao dung, độ lượng của Người Tấm lòng bao dung, độ lượng,niềm tin vào sức mạnh, phẩm giá con người lại càng củng cố, nâng cao tình yêuthương con người ở Hồ Chí Minh Đó cũng là nét đặc sắc, nổi bậc nhất trong tưtưởng nhân văn Hồ Chí Minh

Qua đó, ta thấy được rằng: Khoan dung trong tư tưởng Hồ Chí Minh không

phải chỉ là sách lược tình thế của một nhà cách mạng, cũng không phải là sự “hạ

cố” của bề trên với người dưới mà nó được xây dựng trên tinh thần nhân ái, niềm

tin chân thành và vững chắc vào bản chất tốt đẹp vào khả năng phục thiện, hướngthiện của con người để cổ vũ, động viên, hướng dẫn, lôi cuốn, tổ chức họ vào sựnghiệp giải phóng con người Chính vì vậy, khoan dung trong tư tưởng Hồ ChíMinh là luôn gắn với tính nhân dân, gắn với sự nghiệp giải phóng dân tộc và xâydựng đất nước giàu mạnh nhằm đem lại hạnh phúc, tự do và hòa bình cho conngười

Khoan dung trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ quan tâm đến hạnh phúccủa con người mà còn là tấm lòng rộng mở đối với cả tự nhiên Người không quêndặn dò tất cả các thế hệ sau này phải bảo vệ hệ sinh thái cho đa dạng, cân bằng.Người đề xuất ý tưởng trồng cây và bảo vệ sự trong sạch của môi trường sống

Trang 39

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng trồng cây, nuôi cá, chăm chút từng gốcbưởi, hàng bụt mọc nơi mình sinh sống Người thương con người và cỏ cây, hoa lá.

Người không thích nói “chế ngự thiên nhiên”, “cải tạo tự nhiên” mà chủ trương

sống hài hòa với tự nhiên, phản phất lối sống của một triết nhân Lão học ngày xưa,hết mực giản dị, xóa bỏ mọi nghi thức Chính vì vậy mà trong nơi ở của Người tại

chiến khu luôn đảm bảo “trên có núi, dưới có sông, có đất ta trồng, có bãi ta

chơi” Khi về Hà Nội Người cũng không chịu sống trong những ngôi nhà đồ sộ với

những khối bê tông đè nặng lên con người Người thích ở nhà sàn, đi bộ xuống cácđịa phương, để tâm hồn luôn luôn lộng gió cùng bốn phương trời đất và conngười

Có thể nói: Khoan dung trong tư tưởng Hồ Chí Minh có sự gắn chặt vớinhững vấn đề về đạo đức mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gọi là đạo đức vĩ đại Đạođức này không chỉ quan tâm đến con người, thương người, tin tưởng ở con người

và sẵn sàng đấu tranh chống cái ác mang lại công bằng cho những người lươngthiện, tự giác phục vụ những lợi ích của con người mà có cả tình cảm bao la quantâm đến tự nhiên, bảo vệ mối quan hệ hài hòa giữa con người với tự nhiên

1.2.2.3 Khoan dung là phải thể hiện được thái độ tôn trọng sự khác biệt giữa con người với nhau cùng với những giá trị khác nhau trong văn hóa nhân loại

Cùng với lòng khoan dung của sự tha thứ, bao dung, hướng thiện, khoan dung

ở Hồ Chí Minh còn là sự tôn trọng lẫn nhau giữa con người với con người Hồ ChíMinh tôn trọng đồng bào của mình, tôn trọng cộng sự của mình, tôn trọng nhữngnhu cầu, khát vọng, phẩm giá, lương tri của nhân loại tiến bộ Vì lẽ ấy Người đánhgiá cao những ai vì lẽ phải, vì chính nghĩa, vì sự tiến bộ của con người mà đấutranh cho dù họ ở quốc gia nào, màu da nào, giai cấp, đảng phái nào Người đấutranh không khoan nhượng chống các thế lực thực dân, đế quốc song phân biệt rất

rõ bạn và thù Đó là lý do để khoan dung ở Người không trở thành một giá trị trừutượng

Người bày tỏ sự tôn trọng, lòng biết ơn đối với những ai ủng hộ dân tộc ViệtNam trong cuộc đấu tranh giành và giữ nền độc lập, kể cả nhân dân tiến bộ Pháp và

Trang 40

Mỹ và căm ghét những kẻ chống lại mục tiêu ấy Trong con người của Hồ Chủ tịch,

sự tôn trọng lẫn nhau giữa người với người suy cho cùng là sự tôn trọng những nhucầu, lợi ích chân chính, tôn trọng những ai vì nhân phẩm mà hy sinh, mà phấn đấu.Với sự tôn trọng giá trị khác biệt giữa những con người với nhau, Hồ Chí Minhluôn thừa nhận những giá trị riêng của người khác

Trong một thế giới có sự giao lưu và tồn tại giữa cái chung và cái riêng, cáiđồng nhất và cái dị biệt nên trong lĩnh vực văn hóa Người luôn tôn trọng và chấpnhận đối thoại về giá trị, đối thoại giữa cái ta và cái không phải ta, tìm ra cái chung,

cái nhân loại: “Tuy phong tục mỗi dân mỗi khác, nhưng có một điều thì dân nào

cũng giống nhau Ấy là dân nào cũng ưa sự lành và ghét sự giữ” [13, 350]

Trong đối thoại với đối phương để đi đến những thỏa hiệp, nhân nhượng màcác bên có thể chấp nhận được, Hồ Chí Minh luôn biết mềm dẻo, ôn hòa trong việctìm ra cái chung, cái đồng nhất, bảo lưu cái khác biệt Người nói với người Pháp:

“Người Việt và người Pháp cùng tin tưởng vào đạo đức: Tự do, bình đẳng, bác ái, độc lập Triết lý đạo Khổng và triết lý phương Tây đều tán dương một nguyên tắc đạo đức: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân “Các bạn yêu nước Pháp của các bạn và muốn nó độc lập Nhưng chúng tôi cũng phải được phép yêu nước của chúng tôi

và muốn nó độc lập chứ! Cái mà các bạn coi là lý tưởng cũng phải là lý tưởng của chúng tôi” [13, 65]

Cũng chính vì lẽ ấy mà Hồ Chí Minh luôn có thái độ thành thật tôn trọng đức

tin của người có đạo, khẳng định lẽ sống cao đẹp, những giá trị đạo đức - nhân văncủa các vị sáng lập, không hề phủ định, bài bác, ngược lại Người đã khéo hướng lýtưởng của các tôn giáo vào mục tiêu giải phóng dân tộc và mưu cầu hạnh phúc cho

nhân dân Về sau Đức Phật, Người viết: “Đức Phật là đại từ bi, cứu khổ, cứu nạn,

muốn cứu chúng sinh ra khỏi khổ nạn , Người phải hy sinh tranh đấu, diệt lũ ác ma” [14, 197] Về chúa Giêsu, Người viết: “Gần 20 thế kỷ trước, một vị thánh nhân đã ra đời Cả đời Người chỉ lo cứu thế, độ dân hy sinh cho tự do, bình đẳng”.

Cuối cùng bức thư chúc mừng lễ Giáng sinh, Người đã viết: “Thượng đế và Tổ

quốc muôn năm” [13, 490].

Ngày đăng: 20/05/2016, 18:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Huỳnh Khái Vinh (2004): “Bàn về khoan dung trong văn hóa”, Nhà xuất bản Chính Trị, Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bàn về khoan dung trong văn hóa”
Tác giả: Huỳnh Khái Vinh
Nhà XB: Nhà xuấtbản Chính Trị
Năm: 2004
17. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, tập 10, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
18. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, tập 11, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
19. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, tập 12, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
20. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 2, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 1995
21. Nguyễn Văn Phúc (2009): “Đọc Di Chúc Hồ Minh nghĩ về tình cảm của Người và về giáo dục tình cảm đạo đức trong điều hiện nay”, Triết học, số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đọc Di Chúc Hồ Minh nghĩ về tình cảm củaNgười và về giáo dục tình cảm đạo đức trong điều hiện nay”
Tác giả: Nguyễn Văn Phúc
Năm: 2009
23. Lao Tử, Thịnh Lê (1999): “Từ điển Nho Phật Đạo”, Nhà xuất bản Văn Học”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Từ điển Nho Phật Đạo”," Nhà xuất bản VănHọc
Tác giả: Lao Tử, Thịnh Lê
Nhà XB: Nhà xuất bản VănHọc”
Năm: 1999
24. Phạm Văn Đồng (1991): “Hồ Chí Minh - quá khứ, hiện tại, tương lai”, tập 2, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hồ Chí Minh - quá khứ, hiện tại, tương lai
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Nhà XB: Nhà xuất bản Sự thật
Năm: 1991
28. Dương Tùng (2003): “Hồ Chí Minh- một con người- một nhân cách”, Tạp chí Cộng sản, số 31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hồ Chí Minh- một con người- một nhân cách”
Tác giả: Dương Tùng
Năm: 2003
29. Phương Thúy (2004): “Hồ Chí Minh - Người là ngọn đuốc sáng mãi trong lòng nhân dân Việt Nam”, Nhà xuất bản lao động Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hồ Chí Minh - Người là ngọn đuốc sáng mãitrong lòng nhân dân Việt Nam
Tác giả: Phương Thúy
Nhà XB: Nhà xuất bản lao động Hà Nội
Năm: 2004
30. Phan Ngọc Liên (2004), “Những hiểu biết ban đầu về việc đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc sống”, Tạp chí Giáo dục - lý luận, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Những hiểu biết ban đầu về việc đưa tư tưởngHồ Chí Minh vào cuộc sống”
Tác giả: Phan Ngọc Liên
Năm: 2004
31. Lê Văn Hiến (1995): “Nhật ký của một bộ trưởng”, tập 1, Nhà xuất bản Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nhật ký của một bộ trưởng”
Tác giả: Lê Văn Hiến
Nhà XB: Nhà xuất bảnĐà Nẵng
Năm: 1995
35. Đảng Cộng Sản Việt Nam (1997), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nhà xuất bản sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ IV
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản sự thật
Năm: 1997
36. Nguyễn Gia Nùng (2007): “Khoan dung và hướng thiện trong tư tưởng Hồ Chí Minh”, Tạp chí hồn Việt, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Khoan dung và hướng thiện trong tư tưởngHồ Chí Minh”
Tác giả: Nguyễn Gia Nùng
Năm: 2007
37. Hồ Trọng Hoài (2005): “Khoan dung - một giá trị đạo đức trong nhân cách văn hóa Hồ Chí Minh”, Tạp chí Cộng sản, số 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Khoan dung - một giá trị đạo đức trong nhâncách văn hóa Hồ Chí Minh”
Tác giả: Hồ Trọng Hoài
Năm: 2005
38. V.I.Lênin (1982): “Bàn về thanh niên”, Nhà xuất bản Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bàn về thanh niên”
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nhà xuất bản Thanh niên
Năm: 1982
40. Nguyễn Văn Khoan: “ Đi tới mùa xuân- tư tưởng Hồ Chí Minh”, Nhà xuất bản Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đi tới mùa xuân- tư tưởng Hồ Chí Minh”
Nhà XB: Nhà xuấtbản Thanh niên
42. Minh Anh (2000): “Hồ Chí Minh với Nho giáo”, Triết học số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hồ Chí Minh với Nho giáo”
Tác giả: Minh Anh
Năm: 2000
44. Song Thành (2010): “ Hồ Chí Minh - nhà văn hóa kiệt xuất”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Hồ Chí Minh - nhà văn hóa kiệt xuất”
Tác giả: Song Thành
Nhà XB: Nhà xuấtbản Chính trị Quốc gia
Năm: 2010
45. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 (khóa VIII), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2(khóa VIII)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 1996

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w