1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm Hiểu Và Phân Loại Các Dạng Bài Tập Tin Học Lớp 11. Một Số Phương Pháp Giải

77 1,2K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 878,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tìm Hiểu Và Phân Loại Các Dạng Bài Tập Tin Học Lớp 11. Một Số Phương Pháp Giải. Hướng dẫn chi tiết phân loại các dạng bài tập tin học lớp 11 và một số phương pháp giải hiệu quảTìm Hiểu Và Phân Loại Các Dạng Bài Tập Tin Học Lớp 11. Một Số Phương Pháp Giải. Hướng dẫn chi tiết phân loại các dạng bài tập tin học lớp 11 và một số phương pháp giải hiệu quả

Trang 1

MỞ ĐẦU

I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, giữa một thế giớiđầy biến động, nhiều cơ hội và nhiều thách thức, mỗi người Việt Nam và cả dân tộcViệt Nam đang đối mặt với những yêu cầu gay gắt về kinh tế, văn hóa, khoa học,công nghệ, quốc phòng, an ninh thì rất cần nghiên cứu, bổ sung để có một xácđịnh cụ thể và đầy đủ về sứ mạng và mục tiêu của giáo dục Hơn hai chục năm qua,Đảng đã nêu ra một loạt quan điểm về giáo dục theo đường lối đổi mới kinh tế - xãhội Khẳng định: “Giáo dục và đào tạo, cùng với khoa học và công nghệ, là quốcsách hàng đầu”, “coi đầu tư cho giáo dục là một trong những hướng chính của đầu

tư phát triển tạo điều kiện cho giáo dục đi trước và phục vụ đắc lực sự phát triểnkinh tế - xã hội” Trước những yêu cầu của thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa,thì giáo dục không thể nhồi nhét càng nhiều kiến thức càng tốt, mà giáo dục cần rènluyện khả năng tư duy, khả năng thích ứng mau lẹ trong mọi hoàn cảnh, có đủ bảnlĩnh tự khẳng định mình, hình thành thói quen tự học, tự rèn luyện để hoàn thiệnbản thân, có hoài bão lớn lao và luôn ý thức về nghĩa vụ, trách nhiệm đối với bảnthân, gia đình và Tổ quốc nhằm thúc đẩy sự phát triển của xã hội nhanh chóng vàlành mạnh

Đặc điểm của bộ môn tin là mang tính thực tế rất cao dựa vào kiến thức và tưduy Khái niệm tin học luôn trừu tượng, khó hiểu Ngoài ra, bộ môn này còn kếthợp các kỹ năng cần thiết như: kỹ năng quan sát, tổng hợp, phân tích, đánh giá, suyluận; kỹ năng vận dụng kiến thức vào bài tập; kỹ năng tính toán Đối với tiết bài tập,bài tập giúp HS củng cố mở rộng, đào sâu kiến thức, rèn luyện cho các em kỹ năngvận dụng kiến thức vào những trường hợp cụ thể, nhờ đó mà kiến thức tiếp thuđược vững chắc Để một tiết bài tập đạt yêu cầu như mục đích của nó thì GV phảibiết phân loại HS, cũng như phân loại bài tập để chọn những bài tập phù hợp chotừng đối tượng tránh gây sự nhàm chán cũng như quá sức đối với các em GV cho

HS làm các dạng bài tập thật đơn giản nhằm giúp các em nắm được kiến thức cơ

Trang 2

bản, cho các em làm đi làm lại nhiều lần một dạng bài tập để HS yếu kém có thểhình thành được kỹ năng giải bài tập

Tin học có rất nhiều dạng bài tập, nếu không nắm được phương pháp giải thìhọc sinh sẽ rất khó nắm bắt được kiến thức Ở trường trung học phổ thông, học sinhđược làm quen với bộ môn tin học lớp 11, môn học hình thành cho các em bước đầu

kỹ năng tư duy, giải quyết vấn đề, lập trình các bài toán đơn giản Tuy vậy, lượngkiến thức quá nhiều, số dạng bài tập lại phong phú, mới lạ nên các em khó khăntrong việc định hướng cách giải và trở nên thụ động trong các tiết bài tập Chính vì

vậy, tôi chọn đề tài: “Tìm Hiểu Và Phân Loại Các Dạng Bài Tập Tin Học Lớp 11 Một Số Phương Pháp Giải”

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:

Hệ thống phần bài tập Tin học lớp 11 THPT Trình bày các phương pháp giảicác dạng bài tập Qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tiếp thu các kiến thứctin học, góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy ở trường phổ thông

III NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI:

 Nghiên cứu cơ sở lí luận liên quan đến đề tài

 Tóm tắt lí thuyết, phân loại, hệ thống và đề xuất phương pháp giải các dạngbài tập về Tin học lớp 11

 Thực nghiệm sư phạm để khảo sát đóng góp của đề tài

IV KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:

1 Khách thể nghiên cứu:

 Quá trình dạy học tin học ở trường THPT

2 Đối tượng nghiên cứu:

 Hệ thống lí thuyết và bài tập về Tin học ở chương trình lớp 11

V PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

 Chương trình Tin học lớp 11 nâng cao

Trang 3

VI PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

 Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài

Trang 4

CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG VIỆC DẠY VÀ HỌC

LẬP TRÌNH LỚP 11 THPT HIỆN NAY

I GIỚI THIỆU CHƯƠNG TRÌNH TIN HỌC 11

1 Phân phối chương trình tin học 11

C¶ n¨m: 37 tuÇn (52 tiÕt)Häc kú I: 19 tuÇn (18 tiÕt)

18 tuÇn x 1 tiÕt/tuÇn = 18 tiÕt/häc kúTuÇn 19: tiÕt «n tËp, d¹y bï

Häc kú II: 18 tuÇn (34 tiÕt)

17 tuÇn x 2 tiÕt/tuÇn = 34 tiÕt/häc kúTuÇn 37: tiÕt «n tËp, d¹y bï

Häc kú I: 19 tuÇn (18 tiÕt) Ch¬ng I: mét sè kh¸i niÖm vÒ lËp tr×nh vµ ng«n ng÷

Bµi 4: Mét sè kiÓu d÷ liÖu chuÈn

Trang 5

Bài 5: Khai báo biến

Bài 7: Các thủ tục chuẩn vào/ra đơn giảnBài 8: Sọan thảo, dịch, thực hiện và hiểu chỉnh chơng trình

Mục 1 và mục 2 (phần lý thuyết)

Chơng IV: kiểu dữ liệu có cấu trúc

15 tiết (7 tiết lý thuyết - 6 tiết bài tập và thực hành - 2 tiết bài tập)

Thiết bị,

đồ dùng dạyhọc cần thiết

Trang 6

dụ 2

hành

24 Bài tập và thực hành 3 (tiết 2)

hành

28 Bài 12: Kiểu xâu (tiết 1): Mục 1 và 2

25 2930 Bài 12: Kiểu xâu (tiết 2): Mục 3Bài tập và thực hành 5 (tiết 1) Phòng máy thực

Chơng VI: chơng trình con và lập trình có cấu trúc

11 tiết (5 tiết lý thuyết - 5 tiết bài tập và thực hành - 1 tiết bài tập)

Thiết bị,

đồ dùng dạyhọc cần thiết

34 4748 Bài tập và thực hành 7 (tiết 1)Bài tập và thực hành 7 (tiết 2)

Trang 7

50 Bµi tËp vµ thùc hµnh 8

37 ¤n tËp, d¹y bï.¤n tËp, d¹y bï.

2 Thống kê số tiết bài tập tin học 11

Trong chương trình tin học 11 trung học phổ thông có tổng cộng có 7tiết bài tập và 15 tiết bài tập và thực hành (từ bài tập và thực hành 1 đến bàitập và thực hành 7 thì mỗi bài có 2 tiết Riêng bài tập và thực hành 8 thì chỉđược phân phối 1 tiết)

Trang 8

Cụ thể như sau:

3 Vị trí các tiết bài tập

Sau một số bài của từng chương thì thường xuất hiện các tiết bài tậpnhằm củng cố kiến thức cho học sinh và rèn luyện khả năng tư duy, giảiquyết vấn đề

Chương 1 Chương2 Chương 3 Chương 4 Chương 5 Chương 6

B IỂU ĐỒ CỘT MÔ TẢ CHÊNH LỆCH G IỮA SỐ

TIẾT LÝ THUYẾT VÀ SỐ TIẾT TH ỰC HÀNH TIN

H ỌC 11

Số Tiết Lý Thuyết Số Tiết Bài Tập

Trang 9

4 Nhận xét các tiết bài tập tin học 11

Nhìn chung só tiết bài tập tin học 11 theo phân phối chương trìnhtương đối ngang bằng với số tiết lý thuyết Với 22 tiết bài tập và 23 tiết lýthuyết

Giữa các chương thì các tiết bài tập cũng được sen kẽ vào các tiết lýthuyết hợp lý về vị trí và số lượng

Như vậy, số tiết của chương trình tin học 11 được phân phối đều chophần lý thuyết và bài tập, điều đó nói lên tầm quan trọng của phần bài tậpđối với môn tin học 11, đặc biệt là kiến thức lập trình tư duy và sáng tạo Sốtiết bài tập nhiều đồng nghĩa người thầy giáo có nhiều thời gian hơn để giúphọc sinh cũng cố các kiến thức sau những bài học và nâng cao khả năng tưduy cho các em học sinh bằng những bài tập nâng cao Người thầy giáo phảibiết sử dụng linh hoạt nhiều dạng bài tập tin học mới có thể phát huy hiệuquả tối ưu cho các em học sinh qua mỗi bài học

II NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG VIỆC DẠY VÀ HỌC MÔN TIN HỌC 11 Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1 Việc dạy môn tin học

Thuận lợi:

Được sự quan tâm của toàn xã hội nói chung và của các cấp các ngànhnói riêng thì việc học thực hành tin học trong nhà trường đã có nhiều thuậnlợi đáng kể Môn Tin học hiện đang có sức hấp dẫn nhất định (hấp dẫn ở sựmới mẻ và ở nhu cầu học hỏi, hiểu biết về Tin học trong xã hội ) Nhất lànhững học sinh ở khu vực thành thị, có điều kiện tốt về máy móc, phươngtiện tiếp cận với Tin học, thì hứng thú tìm hiểu về Tin học cũng tăng theo.Các trường đa phần đã được đầu tư về trang thiết bị, các phòng máy phục vụcho việc thực hành Tin học ngay sau các tiết học lý thuyết Đội ngũ giáoviên có trình độ chuyên môn và có tâm huyết với nghề nghiệp

Trang 10

Khó khăn:

- Nội dung chương trình tương đối nặng do đó gây nhiều áp lực học tập đốivới học sinh

- Cơ sở vật chất tại hầu hết các trường chưa đáp ứng được việc giải bài tập

lí thuyết và thực hành của bộ môn Tin học Các bài tập lí thuyết do thiếudụng cụ để giảng dạy (máy tính, máy chiếu projector,…) nên GV thườnggiảng lý thuyết chay, không thao tác trên máy; Còn giờ thực hành thìkhông đủ máy cho việc hướng dẫn học sinh thực hành

- Học sinh chưa ý thức được tầm quan trọng của bộ môn tin trong thời đạiCNTT hiện nay Ngoài ra, ở các trường phổ thông tình trạng học lệch rấtphổ biến, đa số học sinh thường có tâm lý chỉ chú trọng học những mônđược chọn để thi vào đại học Vì vậy, các em học bài còn rất qua loa, sơsài, không tham gia tích cực vào các hoạt động học tập của bộ môn

Trang 11

vơi các em (Nếu ở thành phố thì hầu như gia đình nào cũng tạo điều kiệncho các em học tập tốt bằng cách trang bị cho các em các thiết bị cần thiếtcho việc học môn tin Ngược lại nếu ở cùng nông thôn thì hiện nay ở cáctrường trung học phổ thông, đại đa số đều được trang bị các máy tinh nốimạng internet, các em học sình đều thuận lợi hơn so với các môn họckhác)

- Ngay từ tiểu học thì các em đã được làm quen với môn tin, khi lên phổthông thì khá quen thuộc Với môn học mang lại tính thực tế và đúng đắncao nên gấy hứng thú cho nhiều em học sinh yêu thích môn tin hơn

- Với mạng internet, các em hoàn toàn có thể khai thác thêm nhiều kiếnthức bổ ích phục vụ cho việc học chứ không riêng việc khai thác ở sách,báo như những năm trước nữa Qua đó đẩy mạnh tính tự học cho các em

Khó khăn:

- Tin học 11 hoàn toàn khác tin học trung học và tin học 10 Lần đầu tiêncác em làm quen với nội dụng khá mới mẽ: “Lập trình và ngôn ngữ lậptrình Pascal” gây không ít khó khăn cho các em, nếu các em lơ là trongmột số nội dung thì rất khó nắm được kiến thức ở một chương và cả học

kì Thể hiện tính gắn bó kiến thức rất cao trong tin học 11

- Ngoài việc học ở sách thì các em phải thường xuyên thực hành trên máytính gây mất nhiều thời gian Đây cũng là đặc thù riêng của môn học, vừa

lý thuyết vừa thực hành

III ĐIỀU TRA THỰC TẾ

Trong thời gian kiến tập và thực tập thì tôi đã tiến hành điều tra khảo sát các

em học sinh nhằm lấy ý kiến đánh giá tầm quan của bài tập tin học 11 Qua đóthu hoạch được các đề xuất đến từ các em học sinh nhằm giúp cho quá trình dạy

và học môn tin học ngày càng được thuận lợi và thu được kết quả chất lượngcao nhất

Trang 12

1 Phiếu khảo sát học sinh

Tôi tên là Nguyễn Văn Thành, sinh viên năm 4 lớp 09SPT, khoa Tin học,trường Đại Học Sư Phạm – Đại Học Đà Nẵng Hiện tôi đang thực hiện luận văn tốtnghiệp với đề tài: “Các Dạng Bài Tập Tin Học 11 Ở Phổ Thông Một Số PhươngPháp Giải” Để tìm hiểu thực trạng tình hình bài tập tin học hiện nay đối với nhàtrường THPT cho luận văn tốt nghiệp, tôi tiến hành khảo sát lấy ý kiến đối với cácbạn học sinh lớp 11 trường THPT Phạm Phú Thứ Các bạn hãy khoanh tròn vào đáp

án theo suy nghĩ của bạn thân mình cho là đúng đối với từng câu hỏi trắc nghiệm

NỘI DUNG KHẢO SÁT Câu 1: Theo bạn các nội dung trong sách bài tập có bám sát nội dung SGK không?

Trang 14

- Tổng số phiếu thu lại: 79.

- Khảo sát đối với lớp 11/1 và lớp 11/3 trường THPT Phạm Phú Thứ (HòaSơn – Hòa Vang – Thành Phố Đà Nẵng)

KẾT QUẢ NHƯ SAU

Câu 1: Theo bạn các nội dung trong sách bài tập có bám

sát nội dung SGK không?

Số Lượng

Phần Trăm

Câu 2: Theo bạn mức độ của các bài tập trong chương

trình SGK tin học lớp 11 như thế nào?

Số Lượng

Phần Trăm

Câu 3: Trong số các bài tập chương 2,3 trong SGK Tin học

lớp 11 theo bạn dạng bài tập nào khó hơn?

Số Lượng

Phần Trăm

Phần Trăm

Trang 15

Câu 5: Em thấy tầm quan trọng của môn Tin học đối với

bản thân khi đang ngồi ở ghế nhà trường như thế nào?

Số Lượng

Phần Trăm

Câu 6: Em thấy tầm quan trọng của môn Tin học đối với

bản thân trong đời sống hiện nay trên các lĩnh vực như thế

nào?

Số Lượng

Phần Trăm

Phần Trăm

Phần Trăm

Trang 16

Câu 10 Em có mong muốn hay đề xuất gì đối với các dạng bài tập tin học để việc học tập được thuận lợi hơn đối với bộ môn tin học 11?

- Các dạng bài tập đơn giản, rõ ràng và dễ hơn

- Dạng bài tập thực hành nhiều hơn

- Giải bài tập bằng nhiều cách

Kết luận: Qua phiếu điều tra các học sinh, chúng ta có thể rút ra một số nhận

xét sau: Đa số các em đều thấy nội dung phần bài tập bám sát với nội dung chươngtrình mà các em được học Tuy nhiên, các em còn cảm thấy mức độ các bài tập còntương đối khó với khả năng của mình Đặc biệt là phần bài tập trong SGK lớp 11chương II và III về cấu trúc rẽ nhánh, vòng lặp, mảng và bản ghi đều gây khó khăn chocác em trong việc hiểu và giải chúng,cụ thể ở đây theo các em là phần bài về cấu trúc

rẽ nhánh là khó nhất Điều này có thể do trong quá trình học lí thuyết các em chưa nắmvững Hơn nữa các em lại mới tiếp xúc với ngôn ngữ lập trình nên điều này là khótránh khỏi Thế nên các em đều muốn tăng số tiết giải bài tập ở trên lớp để có thể giảiđược các bài tập một cách tốt hơn Các em thích bài tập phần thực hành hơn phần bàitập phần lí thuyết vì trong giờ thực hành các em có thể áp dụng cụ thể phần lí thuyếtmình được học vào thực tế đời sống Do môn tin học mới được đưa vào nhà trườngchưa lâu nên trang thiết bị còn hạn chế chưa đáp ứng được nhu cầu học tập của đại bộphận học sinh

2 Những thuận lợi và khó khăn của học sinh và giáo viên trong công tác dạy và học môn tin học

2.1 Một số khó khăn khi giảng dạy bài tập

a Khó khăn về điều kiện cơ sở vật chất

- Hệ thống trang thiết bị dạy học, phòng máy thực hành:

Thực trạng hiện nay cho thấy đa số trường phổ thông ở thành thị hệ thốngtrang thiết bị phục vụ cho việc dạy và học tin học tương đối đầy đủ, tạo điều kiệnthuận lợi cho học sinh và giáo viên Nhưng bên cạnh đó, các trường ở nông thôn đaphần vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu cho học sinh và giáo viên về trang thiết bị

Trang 17

luyện tập thực hành môn Tin học Một số trường vẫn đang còn phải dạy chay dokhông có máy gây khó khăn cho việc dạy và học, gây cảm giác nhàm chán đối vớikhông chỉ học sinh mà đối với cả giáo viên Nhiều trường có phòng máy nhưngnhiều máy không sử dụng được nên dẫn đến tình trạng 3-4 em học sinh phải ngồichung một máy Máy tính không có kết nối mạng Internet, máy cũ, phòng thực hànhnhỏ, số lượng máy chiếu rất ít không đáp ứng đủ Phần lớn giáo viên phải sử dụngbảng trong giờ luyện tập thực hành, điều này hạn chế hiệu quả tiếp thu của học sinh.Chính do thiếu cơ sở vật chất nên giáo viên cũng không thể phát huy hết khả năng

và tâm huyết nghề nghiệp

- Chương trình: các dạng bài tập không phong phú, đơn điệu

b Khó khăn về phía học sinh.

Một số học sinh có ý thức học tập chưa cao nên gây ảnh hưởng tới tiết dạy,các em về nhà chưa chịu khó đọc bài mới nên việc tiếp thu bài mới trên lớp còn gặpnhiều khó khăn

c Thời lượng tiết dạy

Thời lượng các giờ thực hành tương đối ít trong khi nội dung bài thì khá dàinên giáo viên khó có thể tổ chức và hướng dẫn học sinh thực hành hết các bài tậpthực hành trong SGK

2.2 Một số thuận lợi khi giảng dạy bài tập

- Nhà trường cũng đã cố gắng trang bị trang thiết bị một cách tốt nhất

- Tin học là môn học mới mẻ nên các em có hứng thú vói môn này Tạo nhiều cảmhứng cho việc dạy và học làm tăng hiệu quả tiết học hơn

- Các thầy cô có tâm huyết với bộ môn

Trang 18

2.2 Các phương pháp giảng dạy trong giờ luyện tập

Các thầy cô chủ yếu dùng phương pháp giảng giải( dùng lời nói để lập luận,dẫn dắt, tìm tòi, giải thích, chứng minh…) để giải các dạng bài tập trong SGK chocác em

Trang 19

CHƯƠNG 2: CÁC DẠNG BÀI TẬP ĐIỂN HÌNH

I CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ BÀI TẬP TIN HỌC

1 Bài tập tin học với việc phát triển năng lực nhận thức

1.1 Khái niệm bài tập tin học

Bài tập tin học là một dạng bài làm gồm những bài toán, những câu hỏi hayđồng thời cả bài toán và câu hỏi thuộc về tin học mà trong khi hoàn thành chúng,học sinh sẽ nắm được một tri thức hay kĩ năng nhất định

Câu hỏi – đó là những bài làm mà khi hoàn thành chúng, học sinh phải tiếnhành một loạt các hoạt động tái hiện có thể là trả lời miệng, trả lời viết…Trong cáccâu hỏi, giáo viên phải yêu cầu học sinh nhớ lại nội dung các cú pháp, các quy tắc,định nghĩa, khái niệm hay một mục trong SGK…Còn bài toán là bài làm mà khihoàn thành chúng, học sinh phải tiến hành một hoạt động gồm nhiều thao tác

Như vậy, bài tập Tin học gồm những bài toán hay câu hỏi, là phương tiệncực kì quan trọng để phát triển tư duy cho học sinh Nó được xem là phương tiệndạy học then chốt trong quá trình dạy học, có thể dùng bài tập với nhiều mục đíchkhác nhau: hình thành kiến thức, khai thác kiến thức, phát triển kĩ năng, kĩ xảo chohọc sinh, kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập

1.2 Ý nghĩa, tác dụng của bài tập tin học ở trường phổ thông

1.2.1 Ý nghĩa trí dục:

 Rèn luyện cho học sinh kĩ năng vận dụng các kiến thức đã học, biến nhữngkiến thức tiếp thu được qua các bài giảng của thầy thành kiến thức của chìnhmình

 Làm chính xác hóa các khái niệm đã học Củng cố, đào sâu mở rộng kiếnthức đã học một cách sinh động, phong phú, hấp dẫn Chỉ khi vận dụng kiếnthức vào việc giải bài tập, học sinh mới nắm vững kiến thức một cách sâusắc mà không làm nặng khối lượng kín thức học sinh

 Rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống, lao độngsản xuất trong công cuộc hiện đại hóa đất nước

 Rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ tin học và các thao tác tư duy

Trang 20

 Sử dụng nhiều trong quá trình nghiên cứu các kiến thức mới.

1.3 Tầm quan trọng của bài tập Tin học:

Bài tập Tin học vừa là mục đích, vừa là nội dung, lại vừa là phương phápdạy học hiệu nghiệm Lí luận dạy học coi bài tập là một phương pháp dạy học

cụ thể, được áp dụng phổ biến và thường xuyên ở các cấp học và các loại trườngkhác nhau, được sử dụng ở tất cả các khâu của quá trình dạy học : nghiên cứu tàiliệu mới, củng cố, vận dụng, khái quát hóa – hệ thống hóa và kiểm tra, đánh giákiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh Nó cung cấp cho học sinh cả kiến thức,

cả con đường dành lấy kiến thức, mà còn mang lại niềm vui sướng của sự pháthiện, của việc tìm ra đáp số

Bài tập Tin học có nhiều ứng dụng trong dạy học với tư cách là mộtphương pháp dạy học phổ biến, quan trọng Như vậy, bài tập Tin học có hiệu quảsâu sắc trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo, trong việc hình thành phương phápchung của việc tự học hợp lý, trong việc rèn luyện kỹ năng tự lực, sáng tạo

Bài tập Tin học là phương tiện cơ bản để dạy học sinh tập vận dụng cáckiến thức đã học vào thực tế đời sống, sản xuất và tập nghiên cứu khoa học Kiếnthức học sinh tiếp thu được chỉ có ích khi sử dụng nó Phương pháp luyện tậpthông qua việc sử dụng bài tập là một trong các phương pháp quan trọng nhất đểnâng cao chất lượng dạy học bộ môn Đối với học sinh, việc giải bài tập là mộtphương pháp dạy học tích cực

Trang 21

1.4 Vị trí của bài tập Tin học trong quá trình dạy:

Giáo viên có thể sử dụng bài tập tin học bất cứ lúc nào khi nhận thấy bàitập tin học có thể sử dụng để nâng cao chất lượng bài dạy Bài tập tin học phảiphù hợp với nội dung dạy học, với năng lực nhận thức của học sinh và phục vụmục đích dạy học của giáo viên Khi ra một bài tập cần xác định đúng vị trí của

nó để bài tập trở thành phương tiện hữu ích để truyền thụ kiến thức

1.5 Tác dụng của bài tập tin học:

Thực tiễn dạy học tin học ở trường THPT cho thấy, bài tập tin học có những

ý nghĩa và tác dụng to lớn:

 Làm chính xác hoá những khái niệm tin học; củng cố, đào sâu và mở rộngkiến thức một cách sinh động, phong phú, hấp dẫn; chỉ khi vận dụng kiếnthức vào giải bài tập, học sinh mới nắm được kiến thức một cách sâu sắc

 Giúp học sinh ôn tập, hệ thống hoá kiến thức một cách tích cực

 Rèn luyện các kĩ năng tin học như gõ bàn phím 10 ngón tay ở các bài tậpthực hành hay viết chương trình

 Rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống, lao độngsản xuất công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

 Rèn kĩ năng sử dụng ngôn ngữ tin học

 Phát triển các năng lực tư duy logic, biện chứng, khái quát, độc lập, thôngminh và sáng tạo

 Là phương tiện để kiểm tra đánh giá kiến thức và kĩ năng của học sinh

 Giáo dục đạo đức; tính chính xác, tính hiệu quả, tối ưu, trung thực và tínhkiên nhẫn, tỉ mỉ, lòng say mê nghiên cứu khoa học

2 Sử dụng bài tập Tin học để nâng cao hiệu quả hoạt động dạy học:

2.1 Sử dụng bài tập tin học trong quá trình nghiên cứu và hình thành kiến thức mới:

Bài tập dùng để nghiên cứu và hình thành kiến thức mới thường làcác câu hỏi và bài tập nhỏ được thiết kế trong các phiếu học tập dùng kèm

Trang 22

giáo án Thông thường, trong một bài lên lớp, giáo viên cần chuẩn bị cáccâu hỏi ứng với các giai đoạn trong quá trình dạy học:

 Giai đoạn 1: Sử dụng các câu hỏi vấn đáp gồm các bài tập lí thuyết haytính toán ở mức độ hiểu, biết, vận dụng các kiến thức cũ có liên quan đếnbài mới

Ví dụ 1: Một chương trình tính điểm cho một lớp học sinh thì ta

phải lặp lại nhiều lần các công việc gì?

Giai đoạn 2: Sử dụng các bài tập tương đối dễ, ở mức độ biết, hiểu

để dẫn dắt học sinh tìm tòi, tiếp thu các kiến thức mới

Ví dụ 2:Hãy cho biết đâu là đoạn lệnh lặp bằng câu lệnh for – do để

tính tổng S = 1 + 2 + 3 + … + 10?

A S:=0; for i:=1 to 10 do begin S:=S+i; i:=i+1; end;

B S:=0; for i:=1 to 10 do S:=S+i;

C S:=0; for i:=1 downto 10 do S:=S+i;

D S:=0; for i:=10 downto 1 do S:=S+i;

Hãy chọn phương án đúng.

Giai đoạn 3: Sau khi đã có những kiến thức cơ bản, giáo viên có thể cho học sinhlàm một số bài tập vận dụng đơn giản để giúp các em nắm vững, khắc sau kiếnthức đồng thời giúp học sinh hệ thống được các kiến thức đã tiếp thu và tổng kếtbài học

Ví dụ 3: Hãy cho biết đâu là đoạn lệnh lặp bằng câu lệnh while –

do để tính tổng S= 1+ 2 + 3 + 4+…+ 100?

A S:=0; while i<10 do S:=S+i;

B S:=0; i:=0; while i<11 do S:=S+1; i:=i+1;

C S:=0; i:=0; while i<=10 do begin S:=S+1; i:=i+1; end;

D S:=0; i:=0; while I do begin S:=S+1; i:=i+1; end;

2.2 Sử dụng bài tập tin học khi củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo:

Để củng cố và khắc sâu kiến thức, khi kết thúc bài học, người giáo viên

Trang 23

thường ra một số dạng bài tập như: câu hỏi bài tập trắc nghiệm nhỏ hay một sốcâu hỏi bài tập dạng đơn giản mức độ hiểu và biết Bài tập này sẽ giúp các em vậndụng những gì đã học để giải quyết các vấn đề, các tình huống thực tế mà thôngqua đó, các em sẽ hình thành được các kĩ năng, kĩ xảo cần thiết.

Ví dụ : Bài 5: Khai báo biến

Tìm khai báo tối ưu nhất trong các khai báo sau: (khi khai báo số chính phương nhỏ hơn 100)

2.3 Sử dụng bài tập tin học để ôn tập, hệ thống hóa kiến thức:

Khi ôn tập, hệ thống hóa các kiến thức người giáo viên có thể sử dụng cácbài tập có nội dung khái quát, tổng hợp nội dung các kiến thức của chương Vớimuc đích này, ta có thể chọn các dạng bài tập sau:

Tái hiện lại kiến thức sau bài học bằng các câu hỏi hay bài tập ởmức độ biết

Giải thích, so sánh các vấn đề nội dung kiến thức trong bài họcbằng các câu hỏi hay bài tập ở mức độ hiểu

Bài tập viết thuật toán, chương trình theo yêu cầu bài toán ở mức

độ vận dụng

Để giải được những bài tập này, học sinh cần phải nắm được mối quan hệgiữa các chất Nhờ đó, giúp các em hệ thống hóa kiến thức, hiểu vấn đề một cáchsâu sắc và ghi nhớ chúng tốt hơn

Trang 24

2.4 Sử dụng bài tập tin học để kiểm tra, đánh giá:

Kiểm tra, đánh giá là một khâu quan trọng của quá trình dạy học Việckiểm tra, đánh giá có thể tiến hành ở các giai đoạn khác nhau với nhiều hình thứcnhư: kiểm tra miệng, kiểm tra 15 phút, kiểm tra một tiết bằng trắc nghiệm hay tựluận Thông qua kết quả kiểm tra, giáo viên có thể đánh giá một cách chính xác

về năng lực của học sinh, giúp học sinh sửa chữa những thiếu sót, lổ hỏng kiếnthức Đồng thời cũng giúp giáo viên điều chỉnh lại phương pháp dạy học củamình để phù hợp với từng đối tượng học sinh cụ thể

Ví dụ: Kiểm tra chương 3

Câu hỏi 1: Hãy cho biết sự giống nhau và khác nhau của hai câu lệnh for – do ?

Bài tập 2: Cho đoạn chương trình sau:

Program vidu4;

Uses crt;

Var i, n, s: integer;

BEGIN n:=5; s:=0;

For i:=1 to n do S:=S+I;

2.5 Xu hướng phát triển của bài tập tin học:

Bài tập tin học phải đa dạng, phải có nội dung thiết thực trên cơ sở của địnhhướng xây dựng chương trình tin học Phổ thông thì xu hướng phát triển chung củabài tập tin học trong giai đoạn hiện nay cần đảm bảo các yêu cầu:

 Nội dung bài tập phải ngắn gọn, súc tích, không quá nặng về đánh đố hayphức tạp khó hiểu mà cần chú ý tập trung vào rèn luyện và phát triển các năng lực

Trang 25

nhận thức, tư duy tin học cho học sinh Chú trọng kiến thức mới hoặc kiểm nghiệmcác dự đoán khoa học tất cả các môn học có liên quan đến công nghệ hay học nghềkhác Công nghệ Tin học, cụ thể là máy tính đã và đang thay đổi từng ngày và lenlỏi trong mọi ngõ ngách của cuộc sống hàng ngày, trong mọi ngành, nghề khácnhau Đặc thù này là cho Tin học trở thành môn học khó giảng dạy nhất và đòi hỏigiáo viên phải không ngừng nâng cao trình độ cá nhân của mình mới đủ kiến thứccập nhật.

 Nội dung bài tập phải ngắn gọn, súc tích, không quá nặng về tính toán màcần chú ý tập trung vào rèn luyện và phát triển các năng lực nhận thức, tư duy tinhọc cho học sinh Chú trọng kiến thức mới hoặc kiểm nghiệm các dự đoán khoahọc

 Bài tập tin học cần chú ý đến việc mở rộng kiến thức tin học và các ứngdụng của tin học trong thực tiễn Thông qua các dạng bài tập này làm cho học sinhthấy được việc học tin học thực sự có ý nghĩa, những kiến thức tin học rất gần gũithiết thực với cuộc sống Ta cần khai thác các nội dung về vai trò của tin học vớicác vấn đề kinh tế, xã hội môi trường và các hiện tượng tự nhiên, để xây dựng cácbài tập tin học làm cho bài tập tin học thêm đa dạng kích thích được sự đam mê,hứng thú học tập bộ môn

 Cần sử dụng bài tập trắc nghiệm khách quan, chuyển hóa một số dạng bàitập tự luận, sang dạng trắc nghiệm khách quan

Như vậy, xu hướng phát triển của bài tập tin học hiện nay hướng đến rèn

luyện khả năng vận dụng kiến thức, phát triển khả năng tư duy tin học cho học sinh

ở các mặt: lí thuyết, thực hành và ứng dụng Những bài tập có tính chất học thuộctrong các bài tập lí thuyết sẽ giảm dần mà được thay bằng các bài tập đòi hỏi sự tưduy, tìm tòi

II CÁC DẠNG BÀI TẬP TIN HỌC

Việc dạy bài tập tin học là một hình thức hoạt động của tin học, đặc biết làphần bài tập tin học lớp 11 Hình thức này thể hiện qua việc dạy bài tập lý thuyết vàdạy bài tập thực hành trên máy Khi giảng dạy các tiết bài tập, người giáo viên

Trang 26

không nên quá cứng nhắc với cách dạy bài tập mang tính truyền thống là kẻ bảngchia thành nhiều phần, sau đó gọi học sinh lên viết chương trình hoặc trả lời các câuhỏi trong sách giáo khoa, cuối cùng giáo viên đánh giá và kết thúc Việc làm nàygắn việc dạy bài tập với chức năng củng cố và kiểm tra nhiều hơn Nhằm thay đổi,cải tiến trong quá trình giảng dạy để mang lại hiệu quả cao thì chúng ta cần phândạng bài tập điển hình trong giảng dạy bài tập môn tin học.

1 Đối với dạng bài tập củng cố lý thuyết

Trong chương trình phổ thông, loại hình bài tập này thường xuất hiện dướidạng những câu hỏi ở cuối bài, cuối chương như:

Ví dụ 1: Tại sao người ta phải xây dựng các ngôn ngữ lập trình bậc cao (Bài 1

– phần câu hỏi và bài tập sau bài 1, 2 trang 13, Tin học 11)

Ví dụ 2: Hãy cho biết sự giống nhau và khác nhau của 2 dạng câu lệnh if-then

(Bài 1 – phần câu hỏi và bài tập sau bài 9, 10 trang 50, Tin học 11)

Ví dụ 3: Nêu một số trường hợp cần phải dùng tệp (Bài 1 – phần câu hỏi và

bài tập sai bài 14, trang 89, Tin học 11)

Ví dụ 4: Hãy nêu sự giống nhau và khác nhau giữa thủ tục và hàm (Bài 1 –

phần câu hỏi và bài tập ở bài thực hành 8, trang 117, Tin học 11)

Phương pháp giải: với những dạng bài tập này, giáo viên đặt ra trong phần

kiểm tra bài cũ hoặc ở phần củng cố cuối bài học Học sinh có thể trả lời đúng cáccâu hỏi này bằng cách học thuộc lòng hoặc nhìn vào sách giáo khoa để trả lời Đểtránh sự nhàm chán cho các em học sinh, chúnh ta nên thay đổi về mặt hình thứccác câu hỏi nhằm tạo hứng thú, đồng thời có thể tổ chức cho học sinh học tập, thảoluận theo nhóm nhỏ…

Ví dụ 1: Chương trình được viết bằng ngôn ngữ bậc cao không có đặc điểm

nào trong các đặc điểm sau đây:

a Ngắn gọn, dễ hiểu, dễ hiệu chỉnh

b Không phụ thuộc vào các loại máy tính

c Máy tính có thể hiểu và thực hiện trực tiếp thực hiện chương trình này

d Tổ chức dữ liệu đã dạng và thuận tiện cho việc mô tả thuật toán

Trang 27

e Gần gũi với ngôn ngữ tử nhiên thuận tiện cho đông đảo người lập trình

Ví dụ 2: Bạn Nam thắc mắt rằng “Trong câu lệnh rẽ nhánh, câu lệnh 1 và câu

lệnh 2 sau từ khóa then và else có thể là một câu lệnh rẽ nhánh được không? Nếuvậy thì trình bày câu lệnh như thế nào cho dễ hiểu, dễ đọc và dễ kiểm tra” Các emhãy giải thích giúp cho bạn Nam

Ví dụ 3: Cho 2 ví dụ cần sử dụng tệp trong lập trình để lưu trữ một khối lượng

lớn dữ liệu

Ví dụ 4: Bạn Xuân tranh cải với bạn Hạ rằng: “Ta có thể viết 1 hàm để nhập

các phần tử của mảng hoặc xuất các phần tử của mảng” Bạn Hạ cho rằng khôngnên như thế mà nên dùng thủ tục thì hay hơn Theo em bạn nào có lí hơn?

2 Đối với dạng bài tập liên quan đến kỹ năng lập trình

2.1 Bài tập viết chương trình

Đây là dạng bài tập thường xuyên điển hình và chiếm phần lớn nọi dung bàitập trong sách giáo khoa và thời gian lên lớp Học sinh phổ thông hiện nay rất ngạidạng bài tập này Thực chất vấn đề là do giáo viên không giải thích ý nghĩa của bàitoán cũng như mối liên hệ giữa input và output của bài toán để học sinh thấy rằngcác em có đủ khả năng hiểu và giải quyết nó Hơn nữa loại bài tập này khi giải trênbảng thì thường ít có điều kiện để kiểm chứng cũng như là đánh giá đúng củachương trình

Phương pháp giải: Với loại bài tập này giáo viên thường cho học sinh giải

trên giấy hoặc trình bày trên bảng đen, do đó cần nhận thức việc kiểm chứng trênmáy là hình thức thao tác, kĩ năng đơn giản, việc giải bài tập trên giấy, trên bảngmới thực sự có tác dụng quan trọng trong việc rèn luyện các thao tác tư duy

Trong hình thức này, giáo viên luôn hướng dẫn học sinh cách xác lập đầu vào,đầu ra, hướng xử lí (input, output, procesing), tiếp theo là định hình xác định kiểu

dữ liệu vào ra và sự ràng buộc giữa các dữ liệu để tìm ra thuật toán

Ví dụ 1: Hãy viết chương trình nhập số 1 (a>0) rồi tính và đưa ra diện tích

phần được gạch chéo trong hình sau (kết quả làm tròn đến 4 chữ số thập phân) (Bài

9 – Tin học 11)

Trang 28

Hướng dẫn của giáo viên:

Input: a :Real;

Output: S (phần gạch chéo): Real;

Nếu làm phép quay 1800 qua trục đối xứng ta

có thể thấy:

Diện tích phần gạch chéo bằng ½ diện tích

hình tròn tâm O (0;0), bán kính R=a Lưu ý: Số p

là một hằng trong Pascal được kí hiệu là Pi có giá trị 3,141592

Ví dụ 2: Nhập từ bàn phím tuổi của cha và của con (hiện tại tuổi của cha lớn

hơn hai lần tuổi con và tuổi cha hơn tuổi con ít nhất là 25 tuổi) Đưa ra màn hìnhcâu trả lời cho câu hỏi “Bao nhiêu năm nữa thì tuổi cha gấp đôi tuổi con?”

Hướng dẫn của giáo viên:

Input: Tuổi cha, tuổi con <kiểu dữ liệu nguyên>

Output: Câu trả lời “Bao nhiêu năm nữa thì tuổi cha gấp đôi tuổi con?”

Mối liên hệ hiện nay giữa tuổi cha và tuổi con là gì?

Tuổi cha lớn hơn hai lần tuổi con: tuổi cha>2*tuổi con

Tuổi cha hơn tuổi con ít nhất là 25 tuổi: tuổi cha>=tuổi con + 25

Do đó, khi nhập dữ liệu cho tuổi cha và tuổi con, cần phải căn cứ vào điềukiện trên Đó là mấu chốt của bài toán

Ví dụ 3: Cho ba số nguyên p, q, r(#0) Kiểm tra ba số này, theo thứ tự nhập

vào có tạo thành một cấp số nhân hay không Viết chương trình thực hiện yêu cầutrên (Bài 3.19 – Sách bài tập Tin học 11)

Hướng dẫn của giáo viên:

Input: p, q, r: integer;

Output: kiểm tra xem dãy p, q, r có là cấp số nhân không.

Kiểu dữ liệu của ba số p, q, r là số nguyên nên có kiểu integer Yêu cầu 3 sốphải khác 0 nên phải thiết lập ràng buộc ở bước nhập 3 số của chương trình

Nếu p, q, r là 3 số tạo thành một cấp số nhân thì q/p=r/q Đây chính là mấu chốt củabài toán

Trang 29

Ví dụ 4: Hãy viết chương trình nhập toạ độ hai đỉnh đối trên trái và dưới

phải của một tứ giác lồi có cạnh song song với trục toạ độ và có các toạ độ các đỉnh

là nguyên Kiểm tra xem tứ giác này có phải là hình vuông hay không? Nếu đúngthì đưa ra thông báo ‘HÌNH VUÔNG’ và diện tích của đường tròn nội tiếp Trongtrường hợp ngược lại đưa ra thông báo ‘CHỮ NHẬT’ và diện tích của hình trònngoại tiếp (Bài 3.22 – Sách bài tập Tin học 11)

Hướng dẫn của giáo viên:

Input: Cho 2 đỉnh đối diện trên trái và dưới phải của tứ giác lồi có toạ độ làA(x1, y1), B(x2, y2)

Output: Đưa ra thông báo

Gọi toạ độ đỉnh trên trái là (x1, y1) và toạ độ đỉnh dưới phải là(x2, y2)

Điều kiện để tứ giác là hình vuông là :|x2-x1|=|y2-y1|.Bán kính đường tròn cầntính bằng một nửa cạnh hình vuông.Nếu không thoả mản điều kiện trên thì là hìnhchữ nhật có bán kính bằng một nữa độ dài đường chéo

thông báo ‘HÌNHVUÔNG’ và diện tích đường tròn nội tiếp là S1 ;

+Ngược lại thì thông báo ‘HÌNH CHỮ NHẬT ‘ và diện tích đường tròn ngoạitiếp là S2

B4 :Kết thúc

Ví dụ 5: Theo dương lịch năm được biểu diễn bằng một số nguyên Theo âm lịch, năm được gọi theo can và chi Ví dụ, năm dương lịch 2006 được gọi theo âm lịch là Bính Tuất, trong đó Bính là can và Tuất và chi.

Có tất cả 10 chi: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỉ, Canh , Tân, Nhân, Quý

Có 12 chi: Tí, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi

Trang 30

Can và chi được lấy lần lượt theo chiều kim đồng hồ Ví dụ, năm 2006 là Bính Tuất,năm 2007 là Đinh Hợi, năm 2008 là Mậu Tí, …

Hãy lập trình:

 Nhập vào từ bàn phím một năm dương lịch;

 Đưa ra màn hình tên gọi năm âm lịch tương ứng (dưới dạng tiếng Việt khôngdấu) Chương trình cho phép lần lượt nhập các năm và đưa ra kết quả tươngứng cho đến khi năm nhập vào là số nhỏ hơn hoặc bằng 0 thì kết thúc (Bài4.23 – Sách bài tập Tin học 11)

Hướng dẫn của giáo viên:

Input: nhập vào từ bàn phím một năm dương lịch

Output: đưa ra màn hình tên gọi năm âm lịch tương ứng

Ý tướng giải thuật:

Trang 31

- Điều chính các cách trình bày dữ liệu ra màn hình để khi chạy chươngtrình trên máy có được kết quả rõ ràng hợp lí như:

 Trình bày thủ tục nhập dữ liệu bằng cặp: write (‘thông báo: ’);readln(biến);

 Trình bày thủ tục xuất dữ liệu theo khuôn dạng writeln(x:m:n)

Một số ví dụ minh họa cho phần chú ý:

Ví dụ 1:

Program Canchi;

Const

Can: array[0 9] of string=(‘Canh’, ‘Tan’, ‘Nham’, ‘Quy’, ‘Giap’, ‘At’,

‘Binh’, ‘Dinh’, ‘Mau’, ‘Ki’);

Chi: array[0 11] of string=(‘Than’, ‘Dau’, ‘Tuat’, ‘Hoi’, ‘Ti’, ‘Suu’, ‘Dan’,

‘Mao’, ‘Thin’, ‘Ty’, ‘Ngo’, ‘Mui’);

Trang 32

Ví dụ 2: Một hình tròn có các yếu tố:

Bán kính R, đường kính D, chu vi L, diện tích S Hãy lập trình:

- Nhập vào bàn phím 4 số thực là giá trị của R, D, L, S ( Theo đúng thứ tự đã nêu, trong đó chỉ có 1 yếu tố biết trước có giá trị khác 0, các yếu tố còn lại chưa biết trước nhận giá trị khởi tạo là 0

- Đưa ra màn hình theo thứ tự đã nêu giá trị đầy đủ các yếu tố theo yếu tố duy nhất đã cho, kết quả đưa ra với 2 chữ số sau dấu chấm thập phân

Bước 1:

- Input: 1 trong 4 yếu tố: R, D, L, S

- Output: Tìm 3 yếu tố còn lại

Writeln(' Cac yeu to duoc quy dinh tuong ung:');

Writeln(' R- Ban kinh; D- Duong kinh; L- Chu vi; S- Dien tich');

Writeln(' Ban chon gia tri can nhap la (R/D/L/S)?');

Trang 34

2.2 Bài tập đọc chương trình

Đây là loại bài tập đọc chương trình trong hình thức dạy giải bài tập tin học,giúp học sinh rèn luyện năng lực thay đổi nhanh chóng và dễ dàng hướng suy nghĩ,dạng tư duy thuận chuyển qua tư duy nghịch (cũng có là một dạng như tính đảongược của quá trình tư duy khi suy luận toán học) Rèn luyện được năng lực quansát, phân tích tìm chổ sai, thêm vào, bớt ra, phát hiện điều chỉnh, v.v…

Ví dụ 1: Đọc và viết từ kết quả sang chương trình và ngược lại

Viết chương trình in ra bảng sau:

Hướng dẫn của giáo viên:

Giả sử sau khi giáo viên hướng dẫn và học sinh đã có lời giải như sau:

Trang 35

Bước 2: Giáo viên một lần nữa tự cho học sinh viết lại chương trình chobảng được thay đổi theo chiều dọc như sau:

Ví dụ 2: Đọc và viết từ kết quả sang chương trình.

Viết chương trình in ra bảng nhân sau:

Trang 36

Hướng dẫn của giáo viên:

Giả sử sau khi giáo viên hướng dẫn và học sinh đã có lời giải như sau:

Bước 1: Giả sử giáo viên xóa lệnh “Write(i:4)”thử xem học sinh đoán được

sẽ in ra bảng gì? Bằng cách nào đó thầy giáo hướng dẫn được học sinh nhận ra bảngkết quả là:

Từ kết quả trên giáo viên cần nhấn mạnh với học sinh lí do có lệnh

“Write(i:4)” trong chương trình là gì? Hay nói cách khác là tại sao phải dùng thêmcâu lênh này trong khi ở ví dụ 1 thì chỉ cần một câu lệnh for

Bước 2: Giáo viên một lần nữa tự cho học sinh viết lại chương trình chobảng được thay đổi theo chiều dọc như sau:

Trang 37

Ví dụ 3: Em hãy phân biệt rõ 2 trường hợp sau đây:

Trường hợp 1: If a>0 then a:=a+1; b:=b+1;

Trường hợp 2: If a>0 then Begin

a:=a+1;

b:=b+1;

End;

Hướng dẫn của giáo viên:

Giáo viên cần tái hiện lại kiến thức cú pháp sử dụng câu lệnh if-then cho họcsinh có thể bằng cách gọi học sinh trả lời Tiếp theo chạy từng lệnh trong các tìnhhướng ở trường hợp 1 và 2 cho học sinh thấy rõ khi dùng khối lệnh thì phải dùngcặp Begin và End;

Trường hợp 1 được hiểu: Nếu a>0 thì thực hiện câu lệnh a:=a+1; Tiế theo làthực hiện câu lệnh b:=b+1; (nếu a<=0 cũng thực hiện câu lệnh b:=b+1 này)

Trang 38

Trường hợp 2 được hiểu: Nếu a>0 thì thực hiện đồng thời 2 lệnh là a:=a+1;

và b:=b+1; (vì đó là lệnh ghép được đặt giữa cặp Begin và End) Nếu không (a<=0)thì làm tiếp câu lệnh ngay sau câu lệnh if này

Minh họa cho học sinh bằng giá trị và gọi học sinh trả lời kết quả

Ví dụ 4: Đoạn chương trình sau cho giá trị cuối cùng của biến x là bao

C Giá trị x được nhập vào từ lệnh Readln(x);

D Cả 3 câu trên đều sai

Hướng dẫn của giáo viên:

Phân tích các câu lệnh, ta đặt ra 2 trường hợp với x>5 và x<=5

 Giả sử giá trị x được nhập vào là một số >5 Khi đó qua lệnh thứ nhất

ta có x=5 (thỏa mản câu lệnh if thứ nhất) Tiếp theo qua câu lệnh thứ

2 thì ta có x=5 (với x=5 thì không thỏa mản điều kiện câu lệnh 2 nênx=5)

 Giả sử giá trị x được nhập vào là một số <=5 Khi đó qua lệnh thứnhất ta có x=4 (không thỏa mản điều kiện cho nên thực hiện câu lệnhsau else) Tiếp theo qua câu lệnh thứ 2 thì ta có x=5 (Tương tự nhưcâu lệnh if thứ nhất, câu lệnh if thứ 2 do x=4 nên sẽ thực hiện câu lệnhgán sau else)

 Vậy trong mọi trường hợp của giá trị x, ta đều có x=5

Ví dụ 5: Bạn Xuân viết chương trình sau để thực hiện việc tìm số lớn nhất

trong 3 số nguyên a, b và c được nhập từ bàn phím:

Program timmax;

Var a, b, c, max: integer;

Ngày đăng: 20/05/2016, 17:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w