Phát triển hệ thống tín dụng tư bản làm đòn bẩy mạnh mẽ thúc đẩy tập trung sản xuất, nhất là việc hình thành các công ti cổ phẩn, tạo tiền đề ra đời các tổ chức độc quyền 1.2 Đặc điểm ki
Trang 1Xuất Khẩu Tư Bản Độc Quyền Trong Nền Kinh Tế Tri Thức
I Cơ sở lí thuyết
1 Tư Bản Độc Quyền
1.1 Nguyên nhân hình thành Tư Bản Độc Quyền
Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển qua hai giai đoạn: Giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh và giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền
Nghiên cứu chủ nghĩa tư bản cạnh tranh tự do, C.Mác và Ph.Ăngghen
đã dự báo rằng: cạnh tranh tự do sinh ra tích tụ và tập trung sản xuất, tích tụ và tập trung sản xuất phát triển đến một mức độ nào đó sẽ dẫn đến độc quyền
Chủ nghĩa tư bản độc quyền xuất hiện vào cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ
XX do những nguyên nhân chủ yếu
- A Sự phát triển của lực lượng sản xuất dưới tác động của tiến
bộ khoa học
- B Khoa học kĩ thuật phát triển ra những phương thức sản xuất, vật liệu và sản phẩm mới làm xuất hiện các ngành mới
và đòi hỏi quy mô sẳn xuất lớn, tăng năng suất lao động, tăng khả năng tích lũy tư bản, thúc đẩy sản xuất lớn
- C Quy luật giá trị thặng dư, quy luật tích lũy tác động mạnh
mẽ làm biến đổi cơ cấu kinh tế của xã hội theo hướng tập trung, quy mô lớn
- D Cạnh tranh khốc liệt buộc các nhà tư bản tăng quy mô sản xuất để thắng trong cạnh tranh, cùng với đó là sự phá sản, sáp nhập, mua lại càng dẫn đến sự tập trung sản xuất vào các nhà
tư bản lớn
Trang 2- E Cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1873 làm phá sản một loạt các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thúc đẩy nhanh quá trình tích tụ
và tập trung tư bản
- F Phát triển hệ thống tín dụng tư bản làm đòn bẩy mạnh mẽ thúc đẩy tập trung sản xuất, nhất là việc hình thành các công
ti cổ phẩn, tạo tiền đề ra đời các tổ chức độc quyền
1.2 Đặc điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản độc quyền
A Tập trung sản xuất và các tổ chức độc quyền
Tích tụ và tập trung sản xuất cao dẫn đến hình thành các tổ chức độc quyền là đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa đế quốc, qua đó dẫn đến hình thành các tổ chức độc quyền
Tổ chức độc quyền là tổ chức liên minh giữa các nhà tư bản lớn để tập trung vào trong tay phần lớn việc sản xuất và tiêu thụ một số loại hàng hóa nhằm mục đích thu lợi nhuận độc quyền cao
B Tư bản tài chính và đầu xỏ tài chính
Cùng vơi việc tích tụ và tập trung sản xuất , đồng thời diễn ra sự tích tụ và tập trung tư bản trong các ngân hàng, dẫn đến hình thành các tổ chức độc quyền trong ngân hàng Quy luật này diễn ra như trong quá trình tích tụ công nghiệp, có sự phá sản, thôn tính, mua lại dẫn đến hình thành các ngân hàng, tổ chức ngân hàng lớn
Dựa trên địa vị người chủ cho vay, độc quyền ngân hàng cử đại diện của mình vào các cơ quan quản lý của độc quyền công nghiệp để theo dõi việc sử dụng tiền vay, hoặc trực tiếp đầu tư vào công nghiệp Trước sự khống chế và chi phối ngày càng siết chặt của ngân hàng, một quá trình xâm nhập tương ứng trở lại của các độc quyền công nghiệp vào ngân hàng cũng diễn ra Các tổ chức độc quyền công
Trang 3nghiệp cũng tham gia vào công việc của ngân hàng bằng cách mua cổ phần của ngân hàng lớn để chi phối hoạt động của ngân hàng, hoặc lập ngân hàng riêng phục vụ cho mình Quá trình độc quyền hóa trong công nghiệp và trong ngân hàng ảnh hưởng với nhau và thúc đẩy lẫn nhau làm nảy sinh ra một tư bản mới là tư bản tài chính
Tư bản tài chính là kết quả của sự hợp nhất giữa tư bản ngân hàng của một số ít ngân hàng độc quyền lớn nhất với tư bản của những liên minh độc quyền các nhà ông nghiệp
Sự phát triển của tư bản tài chính dẫn đến sự hình thành của một nhóm nhỏ độc quyền, chi phối toàn bộ đời sống kinh tế và chính trị của toàn xã hội tư bản gọi là các đầu xỏ tài chính
C Xuất khẩu tư bản
Xuất khẩu tư bản là đặc điểm của chủ nghĩa tư bản độc quyền và nó giống như xuất khẩu hàng hóa là đặc điểm của chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh
Xuất khẩu tư bản là mang tư bản đầu tư ở nước ngoài để sản xuất giá trị thặng dư tại nước sở tại
Xuất khẩu tư bản trở thành tất yếu vì trong những nước tư bản phát triển đã tích lũy được một khối lượng tư bản lớn và nảy sinh tình trạng một số “tư bản thừa” tương đối cần tìm nơi đầu tư có nhiều lợi nhuận
so với đầu tư ở trong nước
Xuất khẩu tư bản chia thành hai hình thức
Xuất khẩu tư bản hoạt động (đầu tư trực tiếp)
Đưa tư bản ra nước ngoài trực tiếp kinh doanh để thu lợi nhuận cao
Xuất khẩu tư bản cho vay (đầu tư gián tiếp)
Trang 4Cho vay để thu lợi tức
D Sự phân chia thế giới về kinh tế giữa các tổ chức độc quyền
Quá trình tích tụ và tập trung tư bản phát triển, việc xuất khẩu tư bản tăng lên cả về quy mô và phạm vi tất yếu dẫn đến sự phân chia thế giới về mặt kinh tế giữa các tập đoàn tư bản độc quyền và hình thành các tổ chức độc quyền quốc té
Lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư bản đã chứng tỏ thị trường trong nước luôn luôn gắn với thị trường ngoài nước Đặc biệt trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền, thị trường ngoài nước còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các nước đế quốc Một mặt, do lực lượng sản xuất phát triển cao đòi hỏi ngày càng phải có nhiều nguồn nguyên liệu và nơi tiêu thụ; mặt khác, do thèm khát lợi nhuận siêu ngạch thúc đẩy tư bản độc quyền tăng cường bành trướng ra nước ngoài, cần có thị trường ổn định, thường xuyên
Sự đụng độ của các tổ chức độc quyền được sự ủng hộ của các nhà nước tư bản dẫn đến xu hướng thỏa hiệp, kí kết các hiệp đinh, để củng
cố địa vị độc quyền của chúng trong những lĩnh vực và những thị trường nhất định Qua đó hình thành các liên minh độc quyền quốc tế
E Sự phân chia thế giới lãnh thổ giữa các cường quốc đế quốc
Chủ nghĩa tư bản phát triển càng cao thì nguyên liệu càng thiết thốn, sự cạnh tranh càng gay gắt và việc tìm kiếm các nguồn nguyên liệu trên thế giới càng ráo riết thì cuộc đấu tranh tranh giành thuộc địa càng quyết kiệt hơn
Các cường quốc đế quốc ra sức xâm chiếm thuộc địa, bởi vì thuộc địa là nơi đảm bảo nguồn nguyên liệu cũng như thị trường thường xuyên; là nơi tương đối an toàn trong cạnh tranh, bảo đảm đồng thời các lợi ích về kinh tế, chính trị, quân sự
Trang 5Năm đặc điểm kinh tế của chủ nghĩa tư bản độc quyền có liên quan chặt chẽ với nhau, nói lên bản chất của chủ nghĩa đế quốc về mặt kinh
tế là sự thống trị của chủ nghĩa tư bản độc quyền, về mặt chính trị là hiếu chiến và xâm lược
1.3 Sự hoạt động của quy luật giá trị thặng dư trong gia đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền
A Quan hệ giữa độc quyền và cạnh tranh trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền
Độc quyền sinh ra từ cạnh tranh tự do, độc quyền đối lập với cạnh tranh tự do Nhưng sự xuất hiện của độc quyền không thủ tiêu được cạnh tranh,t rái lại, nó còn làm cho cạnh tranh trở nên gay gắt, đa dạng
và có sức công phá lớn hơn
Trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền, không chỉ tồn tại sự cạnh tranh giữa những người sản xuất nhỏ như trong gia đoạn chủ nghĩa tư bản cạnh tranh tự do mà còn có thêm các dạng sau
- Một là, cạnh tranh giữa các tổ chức độc quyền với các xí nghiệp ngoài độc quyền, các tổ chức độc quyền tìm mọi cách chèn ép, chi phối, thôn tính các xí nghiệp ngoài độc quyền
- Hai là, cạnh tranh giữa các tổ chức độc quyền với nhau Loại cạnh tranh này có nhiều hình thức: cạnh tranh giữa các tổ chức độc quyền trong một ngành, kết thúc bằng một sự thỏa hiệp hoặc sự phá sản cảu một bên; cạnh tranh giữa các tổ chức độc quyền khác ngành có liên quan với nhau về nguồn nguyên liệu, kĩ thuật…
- Ba là, cạnh tranh trong nội bộ các tổ chức độc quyền để giành
tỉ lệ sản xuất cao hơn hoặc chiếm vị trí lãnh đạo và phân chia lợi nhuận có lợi hơn trong một tổ chức độc quyền
Trang 6B.Biểu hiện hoạt động của quy luật giá trị và quy luật giá trị thặng dư trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền
- Các tổ chức độc quyền thi hành chính sách giá cả độc quyền
để chiếm đoạt một phần giá trị và giá trị thặng dư của những người khác Nếu xem xét giá cả vẫn bằng tổng giá trị Như vậy, nếu như trong gia đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, quy luật giá trị
phatsbieeur hiện thành quy luật giá cả sản xuất, thì trong gian đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền quy luật giá trị biểu hiện thành quy luật giá cả độc quyền
- Bước sang giai đoạn tư bản độc quyền, các tổ chức độc quyền thao túng nền kinh tế bằng giá cả độc quyền và thu được lợi nhuận độc quyền cao Do đó, quy luật lợi nhuận độc quyền cao là hình thức biểu hiện của quy luật giá trị thặng dư trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền
Như vậy, trong gia đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền, quy luật giá trị thặng dư biểu hiện thành quy luật lợi nhuận độc quyền ca Quy luật này phản ánh quan hệ thống trị và bóc lột của tư bản độc quyền trong tất cả các ngành kinh tế của xã hội tư bản và trên toàn thế giới
2 Xuất khẩu tư bản của tư bản độc quyền sau chiến tranh và trong nền kinh tế tri thức
2.1 Xuất khẩu tư bản độc quyến sau chiến tranh thế giới thứ 2
Sau chiến tranh, việc xuất khẩu tư bản của nhà nước tư bản phát triển có sự tăng trưởng rất nhanh Nguyên nhân của quy mô xuất khẩu
tư bản ngày càng lớn, một mặt là do cuộc cách mạng khoa học và công nghệ mới đã thúc đẩy sự phát triển của việc phân công quốc tế, việc quốc tế hóa sản xuất và việc tăng trưởng nhanh tư bản “dư thừa” trong các nước ; mặt khác là do sự tan rã của hệ thống thuộc địa cũ sau chiến tranh
Trang 7Chiều hướng xuất khẩu tư bản cũng có những thay đổi rõ rệt Trước kia, luồng tư bản xuất khẩu chủ yếu từ cá nước tư bản chủ
nghĩa, phát triển sang các nước kém phát triển nhưng từ năm 70 của thế kỉ XX, ¾ tư bản xuất khẩu được đầu tư vào các nước phát triển,
mở đầu bằng việc tư bản quay trở lại Tây Âu
Nguyên nhân:
Các nước đang phát triển trong giai đoạn này phần lớn trong tình trạng chính trị thiếu ổn định; thiếu môi trường đầu tư an toàn và thuận lợi, thiếu đội ngũ chuyên gia và nguồn nhân công lành nghề, trình độ dân trí thấp và tích lũy kinh tế quốc dân ít
Các nước tư bản chủ nghĩa phát triển trong giai đoạn này lại diễn
ra sự di chuyển dòng vốn giữa các nước do xuất hiện nhiều ngành sản xuất và dịch vụ mới có hàm lượng khoa học kĩ thuật cao và đòi hỏi lượng vốn lớn để sản xuất cũng như nghiên cứu để vượt qua những hàng rào bảo hộ mậu dịch và khắc phục những trở ngại do việc hình thành các khối liên kết như EU, NAFTA, v.v các công ty xuyên quốc gia đã đưa tư bản vào trong các khối đó để phát triển sản xuất
2.2 Xuất khẩu tư bản trong nền kinh tế tri thức hiện nay
- Khái niệm nền kinh tế tri thức: Kinh tế tri thức là lực lượng sản xuất của thế kỷ XXI, đặc trưng của nền kinh tế tri thức là thị trường chất xám, trong đó con người là vốn quý nhất
Từ những năm 80 trở lại đây, do tác động mạnh mẽ của khoa học
và công nghệ hiện đại, đặc biệt công nghệ thông tin, sinh học, vật liệu mới, năng lượng…nền kinh tế thế giới đang biến đổi sâu sắc, toàn diện, chuyển từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức Đây là một bước ngoặt có ý nghĩa lịch sử trọng đại đối với quá trình phát triển của nhân loại
Lịch sử xã hội loài người đã trải qua là nền kinh tế nông nghiệp, nền kinh tế công nghiệp và đang bước vào nền kinh tế tri thức Khái
Trang 8niệm nền kinh tế tri thức ra đời từ năm 1995 do Tổ chức OPDC nêu ra" Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh, truyền bá
và sử dụng tri thức trở thành yếu tố quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống"
- Đặc điểm của nền kinh tế tri thức
- Nền kinh tế tri thức dựa trên 4 tiêu chí:
1 GDP, trên 70% là do các ngành sản xuất và dịch vụ ứng dụng công nghệ cao mang lại
- 2 Cơ cấu giá trị gia tăng, trên 70 % là kết quả của lao động trí óc,
- 3 Lao động xã hội, trên 70% lực lượng lao động là lao động trí thức
- 4 Vốn sản xuất, trên 70% là vốn về con người
Do bắt đầu chuyển sang nền kinh tế tri thức, lao động chủ yếu là lao động trí óc nên tại các nước phát triển, lao động phổ thông cũng như hình thức sản xuất truyền thống bị giảm thiểu và trở nên thiếu hụt đối với việc sản xuất các mặt hàng tiêu dùng cũng như các mặt hàng cần sử dụng lao động phổ thông
Điều này dẫn tới việc xuất hiện xu hướng xuất khẩu tư bản độc quyền sang các nước đang phát triển để tận dụng nguồn nhân công, nguyên liệu giá rẻ ở những nước này
Cùng với đó, sau năm 80, tình hình chính trị cũng như chất
lượng lao động của các nước đang phát triển cũng dần được cải thiện, tạo niềm tin cho những nhà tư bản độc quyền đầu tư vốn vào sản xuất
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 cũng mang đến hệ quả các nhà tư bản độc quyền bị mất lòng tin vào việc đầu tư tại các nước tư bản phát triển mà chuyển qua đầu tư vào những nước có nền kinh tế phát triển nhanh hơn nhằm đem lại lợi nhuận lớn hơn so với đầu tư vào các nước phát triển
Trang 9Điểm đến của các nhà tư bản độc quyền trong giai đoạn này có thể kể tới là Trung Quốc, Việt Nam, Braxin, Ấn Độ, v.v
Trong báo cáo trên, IIF đã dự báo dòng vốn tư nhân đổ vào các thị trường đang nổi sẽ tăng lên 1,118 nghìn tỷ USD trong năm 2013, tăng 3,5% so với con số ước tính khoảng 1,108 nghìn tỷ USD của năm
2012 Theo IIF, các điều kiện tiền tệ ở các nền kinh tế phát triển vẫn khá dễ dàng Kết hợp với các điều kiện thuận lợi cho tăng trưởng ở các nền kinh tế đang nổi sẽ tạo nên một xu hướng tăng trưởng đáng kể cho dòng chảy của nguồn vốn trong năm 2012 và xu hướng này sẽ còn tiếp tục trong suốt năm 2013, cũng như trong năm 2014, với lượng vốn đầu tư có thể lên tới 1,150 nghìn tỷ USD vào năm 2014
II: Liên hệ với thị trường Việt Nam
1 Bối cảnh tình hình Việt Nam
Là một nước đang phát triển có tình hình chính trị ổn định, dân
số đông, thị trường lớn, nhân công dồi dào, giá thành rẻ có nhiều tài nguyên thiên nhiên và khoáng sản phong phú
Bên cạnh đó chính phủ Việt Nam cũng có những chính sách thông thoáng, khuyến khích các nhà tư bản nước ngoài đầu tư vào Việt Nam cũng như tăng cường cải thiện môi trường đầu tư ở Việt Nam để tạo thuận lợi tối đa cho các nhà đầu tư
2 Thực tế việc đầu tư tư bản độc quyền ở Việt Nam
Việt Nam đang trở thành nơi để các nhà tư bản đầu tư dây chuyền công nghệ sản xuất hàng hóa cho các hãng độc quyền trên thế giới về các lĩnh vực như may mặc, điện tử và gia công cơ khí
Về May Mặc:
Trang 10- Việt Nam là nước sản xuất 41% sản lượng giày của hãng giày Nike, hãng giày thể thao lớn nhất thế giới
- Việt Nam cũng là nước gia công sản xuất nhiều mẫu mã quần
áo, giày
- dép cho các hãng nổi tiếng như Adidas, Converse v.v
Về cơ khí
- Có các nhà máy sản xuất và lắp ráp xe máy của Honda,
Suzuki, Yamaha
Về điện tử kĩ thuật
- Nhà máy Sam Sung electronic ở Bắc Ninh (Sản xuất điện thoại di động)
- Nhà máy Nokia Bắc Ninh (sản xuất điện thoại di động)
- Intel Product Việt Nam tại Bình Tân Thành Phố Hồ Chí Minh (chuyên sản xuất chip máy tính và linh kiện điện tử
3 Việc đầu tư tư bản của Việt Nam ra thị trường nước ngoài
Ở Việt Nam , với sự phát triển kinh tế của các tập đoàn, cũng có hình thành các tập đoàn độc quyền và trong thời gian gần đây, các tập đoàn này cũng tiến hành việc xuất khẩu tư bản của mình sang các nước khác
Trong đó phải kể đến các tập đoàn
Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (đầu tư sang các nước như Liên Bang Nga, Myanmar, các nước bắc phi và trung đông)
Trang 11Tập đoàn dầu khí là một trong những tập đoàn độc quyền của Việt Nam, hiện đang có một số dự án đầu tư ra nước ngoài về lĩnh vực khai thác và thăm dò dầu khí
Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai, đầu tư sang các nước trong Đông Nam Á như Lào, Campuchia, Myanmar, Thái Lan
Lĩnh vực đầu từ của tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai bao gồm, trồng và khai thác cao su, rừng, bất động sản, khoáng sản, thủy điện v.v
Tập đoàn Viễn Thông Quân Đội Viettel đầu tư sang các nước Campuchia, Myanma, Haiti và một số nước Châu Phi trong lĩnh vực viễn thông
4 Phân tích việc xuất khẩu tư bản của tập đoàn Viettel
Bối cảnh: trong nước Viettel là hãng di động lớn nhất với thị phần
di động tại Việt Nam là 36,72% (Mobifone là 29,11% và Vinaphone
là 28,71%)
Bên cạnh đó, thị trường trong nước dưới sự cạnh tranh mạnh mẽ của 3 nhà mạng đã đạt đến mức bão hòa, khó có thể thu thêm lợi
nhuận
Cùng với đó, việc chuyển giao công nghệ từ 2g sang 3G cũng khiến cho phần nào các thiết bị kĩ thuật bị lạc hậu và ko được sự dụng nếu ko biết cách tận dụng
Hướng đi: để tiếp tục mở rộng thị phần và tăng cường doanh thu, Viettel có chính sách đầu tư sang các nước bên ngoài, trong đó chú trọng tới các thị trường ở các nước kém phát triển, tỉ lệ sử dụng đtdđ thấp như Campuchia, Haitti, Angeria v.v.v