1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố nội tại đến khả năng hình thành cây hom vù hương tại trường đại học nông lâm thái nguyên

59 318 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự nhất trí của Ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp, ban giám hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên ,tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu

Trang 1

BÀN MÙI NHỆ

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ NỘI TẠI ĐẾN

KHẢ NĂNG HÌNH THÀNH CÂY HOM VÙ HƯƠNG (CINNAMOMUM

BALANSAE H.LEC) TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC

NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy

Chuyên ngành : Nông lâm kết hợp

Lớp : K43 - NLKH

Khoa : Lâm nghiệp

Khóa học : 2011 - 2015

Thái Nguyên, năm 2015

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

Trang 2

BÀN MÙI NHỆ

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ NỘI TẠI ĐẾN

KHẢ NĂNG HÌNH THÀNH CÂY HOM VÙ HƯƠNG (CINNAMOMUM

BALANSAE H.LEC) TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC

NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy

Chuyên ngành : Nông lâm kết hợp

Lớp : K43 - NLKH

Khoa : Lâm nghiệp

Khóa học : 2011 - 2015

Giảng viên hướng dẫn : ThS Lê Sỹ Hồng

Thái Nguyên, năm 2015 LỜI CAM ĐOAN

Trang 3

Giảng viên hướng dẫn Sinh viên

BÀN MÙI NHỆ

XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN

(ký, họ và tên)

Trang 4

Thực tập tốt nghiệp là một thời gian có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình học tập của mỗi sinh viên Đây là một quá trình giúp sinh viên hệ thống hóa,củng cố lại kiến thức đã học Đồng thời cũng là thời gian để cho sinh viên học hỏi, làm quen với công tác nghiên cứu, tiếp xúc và cọ sát với thực tế, giúp mỗi sinh viên nâng cao kiến thức, kĩ năng,thái độ trước khi ra trường Là tiền đề cho sự thành công của mình trong tương lai

Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự nhất trí của Ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp, ban giám hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên ,tôi tiến

hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố nội tại đến khả

năng hình thành cây hom Vù hương (Cinnamomum balansae H.Lec) tại Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên”

Trong quá trình thực tập được sự giúp đỡ, chỉ bảo, hướng dẫn tận tình của các thầy cô trong khoa, cán bộ Trung tâm Nghiên cứu Lâm nghiệp Vùng núi phía Bắc,Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, đặc biệt Thầy giáo hướng dẫn: Ths

Lê Sỹ Hồng là người trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện đề tài này cùng sự cố gắng của bản thân đã giúp tôi hoàn thành khóa luận này

Nhân dịp này cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên đã tao điều kiện cho tôi hoàn thành khóa luận này

Đặc biệt cho tôi xin bày tỏ lòng biết ơn với chân thành và sâu sắc tới cô giáo

hướng dẫn Ths Lương Thị Anh, Lê Sỹ Hồng đã hướng dẫn tận tình trong suốt

thời gian tôi thực tập và hoàn thành khóa luận

Tôi xin cảm ơn cán bộ Trung tâm Nghiên cứu Lâm nghiệp Vùng núi phía Bắc đã giúp đỡ nhiệt tình trong thời gian thực tập tại trung tâm

Do điều kiện và thời gian có hạn, trình độ bản thân còn hạn chế nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót nhất định.Vì vậy tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn để đề tài hoàn thiện hơn

Thái nguyên ngày tháng năm 2015

Sinh viên Bàn Mùi Nhệ

Trang 5

Mẫu bảng 3.1: Bảng sắp xếp các trị số quan sát phân tích phương sai 1 nhân tố 24

Mẫu bảng 3.2: Bảng phân tích phương sai 1 nhân tố ANOVA 27

Bảng 4.1: Kết quả về ảnh hưởng của độ dài hom giâm đến tỷ lệ sống trung bình của hom cây Vù hương ở các công thức thí nghiệm 28

Bảng 4.2: Kết quả về khả năng ra rễ của hom cây Vù hương ở các 30

Bảng 4.3: Bảng tổng hợp kết quả về chỉ số ra rễ của độ dài hom 34

Bảng 4.4: Bảng phân tích phương sai một nhân tố ảnh hưởng 35

Bảng 4.5: Bảng sai dị từng cặp xixj cho chỉ số loại hom 36

Bảng 4.6: Tỷ lệ sống của loại hom cây Vù hương ở các công thức thí nghiệm 37

Bảng 4.7: Kết quả về khả năng ra rễ của loại hom giâm cây Vù hương 38

Bảng 4.8: Bảng tổng hợp kết quả về chỉ số ra rễ của loại hom của cây Vù hương ở cuối thí nghiệm 41

Bảng 4.9: Bảng phân tích phương sai một nhân tố ảnh hưởng đến chỉ số ra rễ của loại hom của cây Vù hương 43

Bảng 4.10: Bảng sai dị từng cặp xixj cho chỉ số loại hom của cây Vù hương 44

Trang 6

Hình 4.1: Tỷ lệ sống trung bình của hom cây vù hương ở các công thức thí nghiệm

về độ dài hom giâm 29 Hinh 4.3 Số TB/hom rễ củ a hom cây Vù hương ở các công thức thí nghi ệm về đô ̣ dài hom giâm 31 Hình 4.4 Chiều dài rễ TB/cm rễ của hom cây Vù hương ở các công thức thí nghiệm

vê đô ̣ dài hom giâm 31

hom giâm 32 Hình 4.6: Tỷ lệ sống trung bình của hom Vù hương ở các công thức thí nghiệm về loại hom giâm 37 Hình 4.7: Tỷ lệ ra rễ của hom cây Vù hương ở các công thức thí nghiệm về loại hom giâm 39 Hình 4.8: số TB/hom rễ của hom cây Vù hương ở các công thức thí nghiệm 39 Hình 4.8: Chiều dài rễTB/cm rễ của hom cây Vù hương ở các công thức thí nghiệm

về loại hom giâm 40

hom giâm 40

Trang 7

CTTN: Công thức thí nghiệm

(H.gốc) Hom gốc

(H.ngọn) Hom ngọn

Trang 8

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC HÌNH iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv

MỤC LỤC v

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích nghiên cứu 2

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2

Lựa chọn được loại hom, kích thước hom đem giâm cho tỷ lệ ra rễ tốt nhất để sản xuất cây giống Vù hương 2

1.4 Ý nghĩa nghiên cứu 2

PHẦN 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

2.1 Cơ sở khoa học của phương pháp nhân giống bằng hom 4

2.2 Những yêu cầu kỹ thuật cơ bản khi giâm hom 13

2.3 Những nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam 14

2.3.1 Trên thế giới 14

2.3.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam 15

2.4 Điều kiện tự nhiên 17

2.5 Giới thiệu chung về loài Vù hương 17

2.5.1 Đặc điểm hình thái: 18

2.5.2 Phân bố: 18

2.5.3 Giá trị kinh tế: 18

PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

3.1 Đối tượng nghiên cứu 19

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 19

3.3 Nội dung nghiên cứu 19

3.4 Phương pháp nghiên cứu 19

Trang 9

3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu 20

3.4.3 Xử lý số liệu: 23

3.4.4 Phương pháp khác 27

PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 28

4.1 Ảnh hưởng của độ dài hom giâm đến tỷ lệ sống và ra rễ, của hom cây Vù hương 28

4.1.1 Ảnh hưởng của độ dài hom giâm đến tỷ lệ sống của hom cây Vù hương 28

4.1.2 Ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom cây Vù hương ở các công thức thí nghiệm về độ dài hom giâm 29

4.2 Ảnh hưởng của loại hom giâm đến tỷ lệ sống, khả năng ra rễ, của hom cây Vù hương 37

4.2.1 Ảnh hưởng của loại hom giâm đến tỷ lệ sống của hom cây Vù hương ở các công thức thí nghiệm 37

4.2.2 Ảnh hưởng của loại hom giâm đến khả năng ra rễ của hom cây Vù hương 38

PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 45

5.1 Kết luận 45

5.2 Kiến nghị 45

TÀI LIỆU THAM KHẢO 46

Trang 10

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Giống là một trong những khâu quan trọng của trồng rừng thâm canh Không

có giống được cải thiện theo mục tiêu kinh tế thì không thể đưa năng suất rừng lên cao [4]

Nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm hom đã và đang đưa vào sử dụng ngày một nhiều và đóng một vai trò không thể thiếu được trong công tác chọn giống, bảo tồn lài nguyên di truyền ở trên thế giới nói chung và nước ta nói riêng Chính vì thế việc nghiên cứu nhân giống bằng hom là việc làm thiết thực nhằm góp phần đẩy nhanh sản xuất cây con bằng hom phục vụ cho việc trồng rừng

Đối với phương pháp giâm hom thì dễ dàng thực hiện, ít tốn kém đầu tư, dễ dàng

mở rộng và chuyển giao cộng nghệ cho các cơ sở sản xuất Các phương pháp chủ yếu là từ cành hoặc chồi được cắt thành từng đoạn dài 5- 10cm, tùy loại cây nhúng vào thuốc bột và cắm vào giá thể bằng cát hay trong túi bầu Hom được phun mù theo định kỳ để giữ ẩm cho hom giâm không bị quá khô hay quá ẩm Kết quả của hom giâm được xác định bởi thời gian ngắn và tỷ lệ ra rễ cao Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả của việc giâm hom, nhưng phụ thuộc bởi ba yếu tố chính là: khả năng ra rễ của hom giâm (cá thể, giai đoạn và vị trí của hom), môi trường giâm hom

và các chất kích thích ra rễ

Trong những năm gần đây, các Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng trong cả nước đã tiến hành về chọn giống, khảo nghiệm và nhân giống cho nhiều loại cây rừng, đã đạt được một số kết quả bước đầu, mở ra một triển vọng lớn cho trồng rừng nguyên liệu ở nước ta

Những loài cây rừng sau khi đã được chọn lọc, khảo nghiệm thì việc lựa chọn phương pháp nhân giống có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc duy trì những tính trạng tốt của loài cây rừng Một trong những phương pháp nhân giống duy trì được nguyên vẹn những tính trạng tốt từ đời trước cho đời sau là phương pháp nhân giống bằng hom [8]

Trang 11

Vù hương còn gọi là Gù hương, có tên khoa học là Cinnamomum balansae H.Lec,

thuộc họ Re (Lauraceae), là loài cây gỗ lớn, cao tới 20 – 30m, đường kính có thể đạt trên 1m Hạt, gỗ, rễ và vỏ có tinh dầu thơm (có nhiều ở vỏ và hạt), được sử dụng trong sản xuất xà phòng và dầu nhờn, sản xuất tinh dầu xá xị; gỗ tốt không mối mọt

có mùi thơm (mùi long não) nên được ưa chuộng trong đóng đồ gỗ gia dụng Loài cây có phân bố rải rác ở khu vực đồi, núi thấp của của các tỉnh phía Bắc Hiện nay,

số lượng cây vù hương còn rất ít, chỉ còn thấy ở VQG Cúc Phương (Ninh Bình), Ba

Vì (Hà Tây), trong rừng thứ sinh và vườn hộ ở Thạch Thành (Thanh Hoá) và rải rác

ở một số nơi; song hiện nay đã bị khai thác quá mức, không còn gặp nhiều trong rừng tự nhiên nên được xếp vào loại hiếm (Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, 1996) Khó tìm thấy cây có kích thước lớn và không phải cây trưởng thành nào cũng có quả, thu hái hạt giống ở cây lớn rất khó khăn, mặt khác do hạt có chứa nhiều tinh dầu, nhanh mất sức nảy mầm, tỷ lệ nảy mầm thấp, cho nên việc thử nghiệm nhân giống bằng hom để góp phần lưu giữ nguồn gen là hết sức cần thiết

Xuất phát từ vấn đề trên tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của

một số yếu tố nội tại đến khả năng hình thành cây hom Vù hươnng (Cinnamomum balansae H.Lec) tại Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên”

1.2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm rút ngắn thời gian, giảm chi phí trong nhân giống, tạo ra được cây con đảm bảo số lượng và chất lượng, cung cấp giống cho công tác trồng rừng hiện nay

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

Lựa chọn được loại hom, kích thước hom đem giâm cho tỷ lệ ra rễ tốt nhất

để sản xuất cây giống Vù hương

1.4 Ý nghĩa nghiên cứu

- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

+ Các kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo và xây dựng quy trình kỹ thuật sản xuất giống cây Vù hương

Trang 12

+ Giúp cho sinh viên làm quen với thực tế sản xuất, biết áp dụng và kết hợp giữa lý thuyết và thực hành

+ Tạo cho sinh viên một tác phong làm việc tự lập khi ra thực tế

- Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất

Kết quả nghiên cứu vận dụng vào thực tế để sản xuất cây giống Vù hương

Trang 13

PHẦN 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở khoa học của phương pháp nhân giống bằng hom

Nhân giống bằng hom là phương pháp dùng một phần lá, một đoạn thân, đoạn cành hoặc đoạn rễ để tạo ra cây mới gọi là cây hom, cây hom có có đặc tính di truyền như của cây mẹ.Nhân giống bằng hom là phương pháp có hệ số nhân giống lớn tương đối rẻ tiền nên được dùng phổ biến trong nhân giống cây rừng, cây cảnh và cây ăn quả [4]

Vấn đề có ý nghĩa quyết định trong giâm hom là làm cho hom ra rễ, còn thân cây sẽ được hình thành từ chồi bên hoặc chồi bất định Nếu sử dụng hom lá thì hom phải hình thành cả rễ và thân mới Tuy nhiên khả năng hình thành rễ và thân phụ thuộc vào đặc điểm di truyền của loài cây, bộ phận của cây lấy làm giống cũng như loại tế bào đã phân hóa của cây, do đó người ta phải tạo điều kiện thuận lợi nhất cho chúng ra rễ

Cơ sở tế bào của sự hình thành rễ bất định:

Rễ bất định là rễ sinh ra ở bất kì bộ phận nào của cây ngoài hệ rễ của nó, rễ bất định có thể sinh ra tự nhiên (ví dụ: Đa, si, khi ra rễ là mọc từ cành và đâm dài xuống đất, còn cây Cau, Dừa thì rễ lại mọc ra từ giữa các thân)

Có hai loại rễ bất định là: Rễ tiềm ẩn và rễ mới sinh, rễ tiềm ẩn là rễ có nguồn gôc tự nhiên trong thân, cành cây nhưng chỉ phát triển khi đoạn thân hoặc cành đó tách ra khỏi cây, còn rễ mới sinh được hình thành khi cắt hom và là hậu quả của phản ứng với vết cắt, khi hom bị cắt các tế bào sống ở vết cắt bị tổn thương và các tế bào dẫn truyền của mô gỗ được hở ra và gián đọan, sau đó quá trình tái sinh xảy ra theo ba bước: Các tế bào bị thương ở mặt một lớp bần, mạch gỗ được đậy lại bằng keo, lớp bảo vệ này giúp cho mặt cắt khỏi thoát nước

+ Các tế bào sống ở ngay dưới lớp bảo vệ đó sẽ bắt đầu phân chia ngay sau khi bị cắt vài ngày và có thể hình thành một lớp mô mềm Các tế bào ở vùng lân cận của tượng tầng mạch và li be bắt đầu hình thành rễ bất định

+ Cây gỗ có một hoặc nhiều lớp mô gỗ thứ cấp và li be thì rễ bất định thường phát sinh ở tế bào như mô còn sống của hom bắt nguồn từ li be thứ cấp còn non

Trang 14

Tuy nhiên, đôi khi rễ bất định cũng phát sinh từ mạch dây, tượng tầng, li be, bì khổng và tủy

Nói chung, các rễ bất định thường được hình thành bên cạnh và sát ngoài lõi trung tâm của mô mạch và ăn sâu trong thân (cành) tới gần ống mạch sát bên ngoài tượng tầng

Như vậy: Việc giâm hom để hình thành bộ rễ mới là quan trọng nhất, sau đó

là số lượng rễ trên hom, chiều dài của rễ

Cơ sở sinh lý của sự hình thành chồi và rễ bất định

Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ ra rễ trong quá trình giâm hom về

cơ bản có thể chia làm 2 nhóm chính: Nhóm nhân tố nội sinh và nhóm nhân tố ngoại sinh [5]

* Các nhân tố nội sinh

Đặc điểm di truyền của loài:

Kết quả nghiên cứu của (A.D Komixarop, 1964: B.Martin, 1974; Nanda, 1970 ) [13] đều đi đến một kết luận chung nhất là: Các loại cây khác nhau thì đặc điểm ra rễ khác nhau Các tác giả này đã dựa vào khả năng ra rễ để chia làm 3 nhóm:

+ Nhóm dễ ra rễ: bao gồm các loại cây không cần sử dụng chất kích thích vẫn có tỉ lệ ra rễ cao, nhóm này gồm 29 loại như: Đa, Sung, Tre, Nứa, Dương…

+ Nhóm khó ra rễ: bao gồm các loại hầu như không ra rễ hoặc phải dùng chất kích thích rễ mà vẫn cho tỷ lệ ra rễ thấp

+ Nhóm ra rễ trung bình: bao gồm các loại chỉ sử dụng chất kích thich với nồng độ thấp cũng có thể ra rễ với tỉ lệ cao

Đặc điểm di truyền của từng xuất xứ, từng các thể:

Trong một chi, các loài khác nhau cũng có đặc điểm ra rễ khác nhau (ví dụ: Bạch đàn trắng có tỉ lệ ra rễ 50- 90%, nhưng với Europhylla chỉ ra rễ 15- 35,5%

Trong một loài các xuất xứ khác nhau có tỷ lệ ra rễ khác nhau

E.camaldulensis xuất xứ Victroria River 60,0%, còn E.camaldulensis xuất xứ Gibb River là 85,0 %, E.camaldulensis xuất xứ Nghĩa Bình: 35%

Trang 15

Tuổi cây mẹ và tuổi cành lấy hom:

Khả năng ra rễ không những do tính di truyền quyết định mà còn phụ thuộc rất lớn vào tuổi cây mẹ và tuổi cành lấy hom, nó ảnh hưởng rất lớn đến lỷ lệ ra rễ của hom, nhất là đối với loài cây khó ra rễ Nhìn chung cây mẹ càng già thì tỷ lệ ra

rễ của hom càng giảm, cây chưa sinh sản bằng hạt thì dễ nhân giống bằng hom hơn khi cây đã sinh sản bằng hạt, ví dụ: Hom cây Mỡ 1 tuổi thì tỷ lệ ra rễ là 98%, Mỡ 3 tuổi là 47%, 20 tuổi thì không ra rễ [5] Sự thành thục của cây mẹ là một trở ngại cho giâm hom, song ngày nay con người đã biết khắc phục bằng các biện pháp như: ghép, chiết, giâm hom, nuôi cấy mô phân sinh, các biện pháp cơ giới như chặt, khoanh vỏ, hoặc các biện pháp lâm sinh như tưới nước, bón phân

Vị trí lấy hom trên cây và trên cành:

Hom lấy từ cành ở các vị trí khác nhau trên tán cũng có tỷ lệ ra rễ khác nhau Trên một cành, hom ở các vị trí khác nhau cũng có tỷ lệ ra rễ khác nhau Như vậy, với mỗi loài cây và vị trí lấy hom khác nhau thì tỷ lệ ra rễ khác nhau Vấn đề là xác định vị trí lấy hom tốt nhất cho mỗi loài (ví dụ: với Keo lá tràm và Keo tai tượng thì hom ngọn và hom sát ngọn có tỷ lệ ra rễ cao hơn (93,3% - 100%) so với hom giữa

và hom sát gốc (66,7 % - 97,6 %)

Theo thuyết phát triển giai đoạn thì gốc là phần non nhất của một cây, vì vậy hom lấy ở phần này cho tỷ lệ ra rễ cao Điều đó giải thích tại sao khi cần trẻ hóa một cây thành thục người ta thường chặt cây sát mặt đất để tạo ra những trồi bất định mới

Sự tồn tại của lá trên hom:

Ánh sáng là nhân tố không thể thiếu được trong quá trình ra rễ của hom, lá là

cơ quan hấp thụ ánh sáng trong quang hợp để tạo ra các chất hữu cơ cần thiết cho cây, đồng thời lá giữ vai trò quan trọng trong viêc xây dựng các mô phân sinh của rễ

ở các hom cành chưa hóa gỗ, lá là cơ quan thoát hơi nước để khuyếch tán tác dụng của chất kích thích ra rễ đến các bộ phận của hom, lá là cơ quan điều tiết các chất điều hòa sinh trưởng ở hom giâm

Trang 16

Ảnh hưởng của kích thước hom:

Đường kính và chiều dài của hom cũng ảnh hưởng đến tỉ lệ ra rễ của hom giâm Từ các kết quả nghiên cứu, D.A Komixarop (1964) với nhiều loại cây thấy rằng hom có kích thước lớn tốt hơn hom có kích thước nhỏ Tuy nhiên, hom cắt từ cây có đường kính nhỏ khả năng phát sinh ra rễ thấp, hom cắt từ cây lớn ra rễ cũng không tốt, các thí nghiệm của Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng cho thấy: chiều dài hom Bạch đàn, Keo 7-10cm Phi lao: 10-12cm là thích hợp

Ảnh hưởng của tuổi chồi gốc và tuổi gốc:

Tuổi chồi gốc và tuổi gốc ảnh hưởng đến tỉ lệ ra rễ của hom giâm Các thí nghiệm với hom Bạch đàn và các loài keo tai tượng và keo lá tràm ở Trung tâm nghiên cứu giông cây rừng cũng cho thấy: sau khi chặt gốc hai tháng lấy hom thì hom có tỉ lệ ra rễ cao Với loại keo lai, ở một số nước Đông Nam Á thường chặt cây dưới 5 tuổi để thu chồi gốc lấy hom

Như vậy, tuổi gốc cũng ảnh hưởng đến tỉ lệ ra rễ của hom (ví dụ: cây Mỡ, hom trồi gốc ở các cây 17-23 tuổi cho tỉ lệ ra rễ 75-85% Điều này cho phép sử dụng chồi ở các cây trội để nhân giống phục vụ công tác trồng rừng

Chất điều hòa sinh trưởng:

Trong các chất điều hòa sinh trưởng auxin được coi là những chất quan trọng nhất trong quá trình ra rễ của hom Song nhiều chất tác động cùng auxin cũng tồn tại một cách tự nhiên trong các mô của hom giâm và tác động đến quá trình ra rễ của chúng Những chất quan trọng nhất là Rhirocalin, đồng nhân tố ra rễ và chất kích thích kìm hãm ra rễ (Tewari,1993) [13]

+ Rhirocalin: được coi là cần thiết cho hình thành rễ của nhiều loại cây Builena, 1964 cho rằng: Rhirocalin là một phức chất của 3 nhân tố (1) Nhân tố đặc thù có khả năng chuyển dịch, có nhóm hiphenol được sản sinh từ lá dưới ánh sáng (2) Nhân tố không đặc thù là linh hoạt (auxin) tồn tại ở các nồng độ theo giới hạn sinh lý (3) Các enzym đặc thù có thể ở dưới dạng phenol-Oxydaza nằm ở biểu bì, phloem và tượng tầng phức hợp hai chất đầu cùng với chất thứ ba tạo thành Rhizocalin phát động ra rễ ở hom giâm

Trang 17

+ Đồng nhân tố ra rễ: Hess, 1961 cho rằng có một số chất nội sinh điều phối hoạt tính của IAA gây nên khởi động ra rễ và gọi là đồng nhân tố Một số chất thuộc loại này về sau đã được xác định là axit Chlozogenic, axit isochlozogenic và chất kích thích khác chưa rõ Những nghiên cứu sau này của các tác giả khác cũng ủng

hộ đồng nhân tố

+ Các chất kích thích ra rễ và kìm hãm ra rễ: nhiều nghiên cứu đã nêu lên

sự tồn tại của chất kích thích ra rễ trong các mô của các loài cây dễ ra rễ các chất kích thích và kìm hãm ra rễ đều có thể tồn tại ở hầu hết thực vật, tiềm năng ra rễ của hom giâm được xác định bằng nông độ tương đối của chất này, các loài cây dễ ra rễ chứa nồng độ các chất kích thích ra rễ và ngược lại

* Các nhân tố ngoại sinh

Điều kiện sinh sống của cây mẹ lấy cành

Điều kiện sinh sống của cây mẹ lấy cành có ảnh hưởng khá rõ đến tỷ lệ ra rễ của hom giâm, nhất là hom lấy từ những cây non (ví dụ: hom lấy từ cây 3 tuổi của loài Picea abies, Pinus resinosa … Có bón phân hữu cơ và phân khoáng đã có tỷ lệ

ra rễ cao hơn rõ rệt so với hom lấy từ cây không được bón phân

Điều kiện chiếu sáng cho cây mẹ lấy cành cũng ảnh hưởng đến khả năng ra

rễ của hom giâm, ví dụ: Komisrov,1964 đã có thí nghiệm tổng hợp về ảnh hưởng của ánh sáng, độ ẩm không khí và độ ẩm đất đến tỷ lệ ra rễ của hom cây Sồi 1 tuổi

và thấy rằng hom lấy từ cây trồng ở nơi có ánh sáng tán xạ lớn, độ ẩm không khí và

độ ẩm đất cao có tỷ lệ ra rễ 64%-92%, trong lúc hom lấy từ cây trồng ở nơi có ánh sáng mạnh, độ ẩm không khí và độ ẩm đất thấp chỉ có tỷ lệ ra rễ 44-68%, còn đối với cây 18 tuổi, dù mọc ở điều kiện nào cũng không ra rễ, từ đó tác giả nhận định là các điều kiện cây trồng có ảnh hưởng đến tỷ lệ ra rễ của hom lấy từ cây non, song không có ảnh hưởng đến tỷ lệ ra rễ của hom lấy từ cây lớn tuổi

Trang 18

-Thời vụ giâm hom

Thời vụ giâm hom là một trong những nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự ra rễ của hom giâm Tỷ lệ ra rễ của hom giâm phụ thuộc vào thời vụ lấy cành

và thời vụ giâm hom, một số loại cây có thể giâm hom quanh năm, nhưng một số loài thì cần có thời vụ nhất định, mùa mưa là mùa giâm hom có tỷ lệ ra rễ cao nhất của nhiều loại cây, trong khi một số loài khác lại ra rễ cao nhất vào mùa xuân Hom lấy trong thời kỳ cây mẹ có hoạt động sinh trưởng mạnh thường có tỷ lệ ra rễ cao hơn so với các thời kỳ khác

Nhiệt độ không khí và nhiệt độ giá thể

Cùng với ánh sáng nhiệt độ là một trong những nhân tố quyết định tốc độ ra

rễ của hom giâm, ở nhiệt độ quá thất, hom nằm ở trạng thái tiềm ẩn và không ra rễ, còn ở nhiệt độ quá cao lại tăng cường hô hấp và bị nóng, từ đó cũng làm giảm tỷ lệ

ra rễ của hom

Các loài cây nhiệt đới cần nhiệt độ không khí trong nhà giâm hom thích hợp cho ra rễ là 28-330C và nhiệt độ giá thể thích hợp là 25-300C (longman, 1993) Trong lúc các loài cây vùng lạnh cần nhiệt độ không khí trong nhà giâm hom thích hợp 23-270C, nhiệt độ giá thể thích hợp là 22-240C (Dansin, 1983) Nói chung,

D.A Komixarov [13] thì nhu cầu về nhiệt cho ra rễ của hom các loài thực vật biến động trong một phạm vi rộng và phụ thuộc vào đặc điểm sinh thái của chúng Song nhiệt độ thích hợp cho ra rễ còn phụ thuộc vào mức độ hóa gỗ của hom, hom hóa gỗ yếu ra rễ tốt hơn trong điều kiện nhiệt độ giảm thấp (20-220C) so với khi ở nhiệt độ cao (27-300C) các loài cây họ Dầu như: Shirea, Bracteolata và Hopca odolata… Ra

rễ tốt nhất ở nhiệt độ không khí 28-320C, nhiệt độ thấp nhất 150C thì sắc tố của lá giảm, còn nhiệt độ cao > 350C làm héo lá và tăng tỷ lệ héo lá các loài khó ra rễ và

ra rễ trung bình như: Thông, Sồi,… ra rễ của hom tốt hơn đáng kể khi nhiệt độ giá thể cao hơn nhiệt độ không khí 4-50C

Trang 19

- Độ ẩm không khí và độ ẩm giá thể

Độ ẩm không khí và độ ẩm giá thể là nhân tố hết sức quan trong trong quá trình giâm hom Các hoạt động quang hợp, hô hấp, phân chia tế bào và chuyển hóa vật chất trong cây đều cần nước, thiếu nước thì hom bị héo, nhiều nước quá thì hoạt động của men thủy giải tăng lên, quá trình quang hợp bị ngừng trệ, khi giâm hom mỗi loại cây cần một độ ẩm thích hợp, làm mất độ ẩm của hom từ 15-20% thì hom hoàn toàn mất khả năng ra rễ Đối với nhiều loại cây, độ ẩm thích hợp cho các thể cắm hom là 50-70% Yêu cầu độ ẩm không những thay đổi theo loại cây mà còn thay đổi theo mức độ hóa gỗ của hom giâm Nhiều loại cây hom hóa gỗ yếu nên yêu cầu độ ẩm giá thể thấp và độ ẩm không khí cao, trong khi hom nửa hóa gỗ lại yêu cầu độ ẩm giá thể cao hơn

Giá thể cắm hom

Giá thể cắm hom là nơi cắm hom sau khi đã sử lý chất kích thích ra rễ Nếu hom được cắm trực tiếp trên giá thể là đất vườn ươm hoặc trong bầu, cần chọn đất cát pha để đảm bảo độ thoát nước trung bình, không tạo cho giá thể quá khô hoặc quá ướt Để chống nấm bệnh, giá thể và hom đều phải được xử lí thuốc diệt nấm như: Benlat, Seradix, đối với giá thể xử lí thường xuyên nồng độ 6-10g/10lit nước 10-15 ngày mới tưới một lần, tưới đều lên giá thể để đảm bảo vệ sinh, không được đem các vật thể dễ lây truyền nấm bệnh vào nhà kính hoặc nhà giâm hom

Sử dụng chất điều hòa sinh trưởng:

Các chất điều hòa sinh trưởng có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình hình thành bộ rễ của hom giâm Để cho hom ra rễ thì mỗi loài cây phải được xử lí một loại thuốc với nồng độ và thời gian thích hợp

+ Các auxin (hay loại thuốc kích thích ra rễ)

Đa số hom các loại cây đều xử lí bằng các chất kích thích thì mới mọc rễ, trong đó các auxin là các chất được sử dụng nhiều nhất, các auxin được chia thành hai nhóm là auxin tự nhiên và auxin tổng hợp, auxin tự nhiên được viết là IAA (axit Indol- axitic) Các auxin tổng hợp là IBA (axit Indol-butiric); IPA (axit Indol-propionic) và NAA (axit Napthalen-axetic) Các chất được dùng kích thích ra rễ

Trang 20

hiện nay chủ yếu là những chất nói trên hoặc dẫn xuất của chúng Các loại chất kích thích ra rễ thường dùng hiện nay là: IAA, IBA, NAA ở dạng tinh khiết hay dạng thương phẩm như Seradix Exuberon, ABT… tuy vậy trong từng trường hợp cụ thể thì auxin lại có hiệu quả ra rễ khác nhau đối với từng loại cây khác nhau và các loại thuốc khác nhau Thí nghiệm giâm hom của các loại bạch đàn trắng, mỡ, sở tại Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng đã thấy rằng IBA là chất có hiệu quả ra rễ cao nhất đối với Bạch đàn trắng: 93,8%, IAA và 2,4D là chất cho hiệu quả ra rễ cao nhất đối với cây mỡ: 85%, còn đối với cây sở, hiệu quả ra rễ cao nhất: 75% lại thuộc về chất NAA Vì thế, cần phải xác định chất kích thích phù hợp với từng loại cây mới phát huy được tác dụng của chúng

Xử lí bằng thuốc nước:

Khi sử lý hom bằng thuốc nước thì nồng độ và thời gian xử lý ảnh hưởng rất lớn đến tỉ lệ ra rễ của hom giâm Nồng độ xử lý quá thấp, không có tác dụng phân hóa tế bào để hình thành ra rễ của hom giâm Nồng độ quá thấp, không có tác dụng phân hóa tế bào để hình thành rễ, nồng độ quá cao hom thối rữa trước lúc rễ hình thành, nồng độ thấp phải sử lý thời gian dài, còn nồng độ cao thì phải xử lý trong thời gian ngắn Thí nghiệm nghiên cứu 3 nồng độ: 300ppm, 600ppm, 900ppm Ví dụ: hom thông đuôi ngựa 2 tuổi được xử lý bằng thuốc nước IBA nồng

độ 75ppm, 100ppm, 150ppm trong 8h có tỷ lệ ra rễ tương ứng là: 60%, 80%, 87%

Khi lựa chọn nồng độ chất kích thích ra rễ cần chú ý đến nhiệt độ không khí

và mức độ hóa gỗ của hom Trong quá trình giâm hom khi nhiệt độ cao cần xử lý với nồng độ thấp hơn và ngược lại Hom quá non (chưa hóa gỗ) phải xử lý với nồng

độ thấp, ngược lại hom hơi già (cần hóa gỗ hoàn toàn) phải xử lý với nồng độ cao hơn Cái khéo của người thực hiện là chọn được nồng độ thích hợp với từng loại hom để nhận được tỷ lệ ra rễ cao nhất

Xử lý bằng thuốc bột:

Sử lý thuốc nước thường có hiệu quả ra rễ cao, song tốn rất nhiều thời gian

và không thuận lợi, vì thế trong những năm gần đây, nhiều nước đã chuyển sang sử dụng các dạng thuốc bột thương phẩm để xử lý ra rễ như: Seradix, Hormodin,

Trang 21

Hormex…, đó là các dạng bột thương phẩm có chứa IBA ở các nồng độ khác nhau Thuốc bột TTG được sử dụng ở trung tâm giống cây rừng là một dạng thương phẩm của IBA

Xử lý thuốc bột tuy tỷ lệ ra rễ thường thấp hơn so với xử lý bằng thuốc nước, song là phương pháp đơn giản, dễ thao tác, nên rất dễ áp dụng ở các cơ sở sản xuất Trong một số trường hợp xử lý thuốc bột TTG cho Bạch đàn trắng không những có tỷ lệ ra rễ cao mà số rễ mà chiều dài rễ còn lớn hơn xử lý bằng thuốc nước (ví dụ: nhân giông Phi lao bằng hom ở dạng bột 0,2%; 76,6% ra rễ [2]

Xử lý hỗn hợp các chất điều hòa sinh trưởng

Các auxin có vai trò khá quan trọng trong quá trình hình thành rễ của hom giâm, vì thế khi sử dụng riêng lẻ có thể chỉ gây hiệu quả từng mặt, còn khi dùng ở dạng hỗn hợp sẽ tạo được hiệu quả tổng hợp và tăng tỷ lệ ra rễ của hom giâm, biết lựa chọn các chất với nồng độ thích hợp sẽ làm tăng hiệu quả của thuốc và làm giảm giá thành cây hom (ví dụ: Thí nghiệm xử lý thuốc nước IBA + NAA cho Tinia Platyphyllos (Komixarov,1964) và xử lý hỗn hợp thuốc bột IAA + IBA cho Phi lao,

đã thấy rằng tỷ lệ ra rễ và số rễ và chiều dài rễ ở các công thức hỗn hợp đều cao hơn

rỗ rệt so với xử lý hom bằng chất riêng lẻ, kết quả là: Xử lý thuốc nước IBA + NAA cho hom Tilia Platyllos tỷ lệ ra rễ là 90%, chỉ số rễ: 17,0, còn xử lý hỗn hợp thuốc bột IAA+ IBA cho hom phi lao có tỷ lệ ra rễ là: 60% và chỉ số ra rễ là: 17,0, còn xử

lý riêng lẻ thuốc IBA cho hom phi lao thì tỷ lệ ra rễ: 33%, chỉ số ra rễ; 11,7 và cho hom Tilia Platyphyllos cũng tương tự…

Thời gian xử lý thuốc

Cùng một loại thuốc, cùng một nồng độ, nhưng thời gian xử lý khác nhau cũng cho kết quả khác nhau Cần chú ý là giữa thời gian sử lý, nồng độ và nhiệt độ không khí có mỗi quan hệ nhất định nên cần phải điều chỉnh sao cho thích hợp thì kết quả ra rễ của hom mới được cải thiên, nếu nồng độ chất kích thích cao, cần xử

lý với thời gian ngắn và ngược lại Nếu nhiệt độ không khí cao cần xử lý với nồng

độ thấp và thời gian ngắn hơn

Trang 22

Phương pháp xử lý hom:

Thông thường hom được xử lý bằng cách ngâm hom trong dung dịch chất kích thích ra rễ hoăc chấm phần gốc của hom vào hốn hợp chất kích thích dạng bột Lars schmist (1993) [13] đã nêu lên 3 cách xử lý sau:

Chất kích thích ra rễ là hỗn hợp chất tan thì phần gốc của hom được nhúng vào nước và chấm vào thuốc, sao cho thuốc dính vào gốc hom Chất kích thích là dung dịch có nồng độ thấp 20-200ppm phần gốc hom được nhúng vào dung dịch 24h, chất kích thích ra rễ có nồng độ 500-1000ppm, phần gốc của hom được nhúng nhanh vào dung dịch 4-5 giây

Tóm lại: xử lý hom bằng dung dịch có ưu điểm là tăng tỉ lệ ra rễ của hom, nhưng không thích hợp cho sản xuất lớn Dang hỗn hợp bột phù hợp cho sản xuất theo quy mô lâm nghiệp Dạng dung dịch thường được dùng trong nghiên cứu hoặc các thí nghiệm có lượng hom ít hay loại cây rất khó ra rễ Dạng hỗn hợp bột dễ áp dụng cho yêu cầu sản xuất số lượng lớn của cây hom

Nhận xét:

Như vậy, để hình thành một bộ rễ mới phải trải qua quá trình rất phức tạp, tổng hợp phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nội sinh, ngoại sinh, sử dụng các chất điều hòa sinh trưởng (auxin) Quá trình hình thành rễ phải trải qua rất nhiều giai đoạn khác nhau, mỗi giai đoạn cần phức hệ nhất định các điều kiện và hoàn cảnh, có thể nói chọn đúng thời gian giâm hom, cây tuổi mẹ lấy hom (ngọn), chọn đúng thuốc

xử lý và nồng độ thích hợp, kết hợp với các yếu tố kỹ thuật chăm sóc tốt… thì hom

sẽ có tỉ lệ ra rễ cao nhất, chất lượng của bộ rễ tốt nhất Chính vì vậy, nắm chắc cơ sở khoa học của việc nhân giống bằng hom thì hom giâm sẽ đạt tỉ lệ cao nhất

2.2 Những yêu cầu kỹ thuật cơ bản khi giâm hom

Vật liệu giâm hom rất nhạy cảm với sự mất nước và dễ bị nhiễm bệnh Hom phải ở độ hóa gỗ thích hợp cho từng loại cây và được bảo quản tốt Khi giâm hom yêu cầu: Không cắt hom quá già hoặc quá non, hom đã cắt không được để dưới ánh nắng mặt trời Vật liệu giâm hom không nên lấy quá xa nơi giâm hom và không nên cất giữ quá 1 ngày, khi vận chuyển phải cất giữ hom trong bình lạnh và phải giữ đủ

Trang 23

ẩm Hom phải được ngắt bỏ hết hoa, nụ hoa, chồi phụ đã ra lá, đối với cây lá kim, hom phải có đủ búp ngọn, hom giâm không ngắn dưới 5cm, song cũng không dài quá 10cm Khi cắt hom phải dùng dao ghép sắc để hom không bị dập nát và xây xước Phải xử lý thuốc chống nấm bệnh trước khi sử dụng thuốc kích thích ra rễ, phải để lại một số lá tối thiểu ở phía trên cho hom giâm và phải cắt bớt phiên lá, song phải cắt hết lá ở phần giâm dưới đất Giâm hom phải đặt trong lều nilon để giữ

ẩm và giữ nhiệt, trên lều có mái che để tránh ánh nắng trực xạ và giảm bớt cường độ sáng Giá thể giâm hom phải thoát nước tốt và không bị nấm bệnh phải thường xuyên tưới phun mù đủ ẩm và giữ đủ độ ẩm không khí cho hom giâm

Vậy để giâm hom thành công cho bất cứ loại cây nào đều phải kết hợp một cách đầy đủ và đồng bộ, các biện pháp kỹ thuật cần thiết từ khâu chăm sóc cây mẹ lấy cành đến lấy hom và giâm hom cũng như việc tạo diều kiện cần thiết để hom dễ

ra rễ Sau khi hom ra rễ lại phải biết huấn luyện cây hom để chúng thích ứng dần với điều kiện vườn ươm và rừng trồng

2.3 Những nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam

2.3.1 Trên thế giới

Rừng là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, có vai trò rất quan trọng đối với mọi sự sống trên trái đất Rừng là lá phổi xanh của nhân loại, là nơi cung cấp gỗ củi, bên cạnh đó còn có ý nghĩa rất to lớn về kinh tế Sớm hiểu được tầm quan trọng đó, con người đã trồng và bảo vệ để đảm bảo diện tích rừng đang ngày càng suy giảm nghiêm trọng Để phục vụ cho công tác trồng rừng thì nguồn giống vô cùng quan trọng Ngay từ đầu những năm 1950 đã có hàng loạt cuốn sách về chọn giống cây rừng đã được xuất bản ở nhiều nước trên thế giới Trong đó có cuốn “ Chọn giống cây rừng đại cương” (1951) của Syrach Larsen, ông đã nghiên cứu và sản xuất được một số cây ưu thế lai về sinh trưởng và có hình dáng đẹp đã lập được

sơ đồ bố trí cây trong vườn ươm

Đầu năm 1961 Girdano [13] đã tiến hành thí nghiệm giâm hom Bạch đàn E.camalodulensis một năm tuổi, đạt tỷ lệ ra rễ 60% Đến năm 1963 nhà nghiên cứu

Trang 24

người Pháp là Franclet đã đưa ra một danh sách gồm 58 loài Bạch đàn đã được thử nghiệm và giâm hom thành công

một công thức thích hợp đã cho tỷ lệ ra rễ của hom giâm là 65,8% Cũng theo nghiên cứu của Bhatgans và joski ở Ấn Độ năm 1973, giâm hom chồi, gốc Bạch đàn (Eucaly plustereti corus) xử lý bằng thuốc IBA nồng độ 100ppm cho tỷ lệ ra rễ đạt 60% [13] Năm 1984 nhà nghiên cứu nổi tiếng người Đức là R.Kleinschmit đã tiến hành nhân giống hom cây Vân sam ở Cộng Hòa Liên Bang Đức và Ruden cũng bắt đầu chương trình này tại Nauy Ban đầu họ chỉ tập trung tìm hiểu các kỹ thuật cơ bản và cần thiết cho quá trình giâm hom Và điều đặc biệt là ông đã tìm ra hom giâm được lấy từ những cây mẹ không quá lớn tuổi

đã đạt được nhiều thành công lớn như các loài cây lá Kim, các loài cây lá rộng

được tiến hành ở nhiều nước Trung tâm giống cây trồng rừng Asean – Canada (ACFTSC) đã tổ chức nghiên cứu giống hom từ những năm 1988 Là nơi có cơ sở

hạ tầng tốt nhất, thích hợp nhatscho công tác giâm hom và đã thu được nhiều kết quả với các loài cây họ Đậu

con bằng mô hom cho hàng loạt loài cây thân gỗ, cây ăn quả và cây cảnh

2.3.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam

giâm hom, các nhà khoa học Việt Nam cũng tìm ra những quy trình, phương pháp riêng cho việc giâm hom cho một số loài cây rừng phù hợp với điều kiện tự nhiên của nước ta

loài cây như Thông, Bạch đàn được tiến hành tại rung tâm nghiên cứu cây nguyên liệu giấy tại Phù Ninh- Phú Thọ

Trang 25

Những năm 1983-1984, các thử nghiệm nhanan giống bằng hom được tiến hành tại viện khoa học Lâm Nghiệp Việt Nam nội dung nghiên cứu tập trung vào đặc điểm giải phẫu của hom,ảnh hưởng của nhiệt độ, độ ẩm của môi trường và xử lý hom bằng chất kích thích

cây non hoặc từ chồi gốc cây trưởng thành Ông cho biết tỷ lệ ra rễ là 40% ở hom chưa hóa gỗ hoặc cây Mỡ khi các hom này được xử lý với thuốc 2,4D nồng độ 50ppm trong 3 giây [7]

Và từ những năm 1990 trở lại đây đã có rất nhiều các nghiên cứu về rất nhiều loài cây khác nhau tạo nên sự phong phú và đa dạng giống cây rừng Như các loài cây Bạch đàn (1990-1991), cây Sổ (Lang Sơn 1990), Keo lá tràm và Keo lai (1995), Pơmu (Lâm Đồng) cây Bách xanh (1999), Thông đỏ (Ba Vì 1995)

Theo bản tin Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng số 4 – 2005 nhân giống một số loài cây rừng bằng phương pháp giâm hom đã có nhiều triển vọng :

- Đối với cây Pơmu độ tuổi từ 2 - 8 tuổi lấy cành của cây trưởng thành hoặc

đã qua tạo chồi Hom ra rễ đạt 85 – 90% khi xử lý bằng NAA 1,5% với giá thể bằng cát hay trực tiếp trong túi bầu

- Đối với cây Bách xanh ở độ tuổi 2 -10 tuổi lấy cành của cây trưởng thành hoặc đã qua tạo chồi Hom ra rễ đạt 85- 95% khi xử lý IBA 1% với giá thể bằng cát

- Với cây Hồng tùng giâm hom thành công ở các giai đoạn có độ tuổi khác nhau bằng chồi vượt và cây trưởng thành hoặc đã qua tạo chồi hôm ra rễ đạt 80-85% khi xử lý IBA 1,5% trên giá thể bằng cát

- Đối với vây Trầm Hương có một số nghiên cứu sau :

Hiện nay trên thế giới biết đên với 25 loại Trầm Hương khác nhau, trong đó

có 15 loài có khả năng tạo trầm Từ những năm 1999 TS> Trần Văn Minh - viện sinh học nhiệt đới đã đưa vào nghiên cứu nhân giống Trầm Hương bằng phương pháp nuôi cấy mô từ cây đã có Trầm ngoài tự nhiên

Trang 26

Năm 2001 công ty giống lâm nghiệp trung ương nghiên cứu quá trình nhân giống cây Trầm Hương đã có công thức thử nghiệm nhưng chưa công bố quy trình kỹ thuật

Thảo luận: Từ những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước đã trình bày ở

trên, tại Thái Nguyên chưa có nghiên cứu nào về nhân giống bằng hom cho Vù hương Vì vậy tôi tiến hành đề tài: „„Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố nội

tại đến khả năng ra rễ hình thành cây hom Vù hương (Cinnamomum

balansae H.Lec) tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”

2.4 Điều kiện tự nhiên

* Vị trí địa lí

Vườn ươm khoa lâm nghiệp thuộc trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên

nằm cách thành phố khoảng 3km về phía Tây Căn cứ vào bản đồ địa lý của thành phố Thái Nguyên thì vị trí của vườn ươm khoa lâm nghiệp như sau:

- Phía Bắc giáp với Phường Quán Triều

- Phía Nam giáp với Phường Quyết Thắng

- Phía Tây giáp với Xã Phúc Hà

- Phía Đông giáp với khu dân cư trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên Đặc điểm địa hình:

Vườn ươm khoa Lâm nghiệp trường Đại Học Lâm Nghiệp Thái Nguyên nằm dưới chân đồi nhưng nhìn chung tương đối bằng phẳng

2.5 Giới thiệu chung về loài Vù hương

Vù hương còn gọi là Gù hương, có tên khoa học là Cinnamomum balansae H.Lec, thuộc họ Re (Lauraceae), là loài cây gỗ lớn, cao tới 20 – 30m,

đường kính có thể đạt trên 1m Hạt, gỗ, rễ và vỏ có tinh dầu thơm (có nhiều ở vỏ và hạt), được sử dụng trong sản xuất xà phòng và dầu nhờn, sản xuất tinh dầu xá xị; gỗ tốt không mối mọt có mùi thơm (mùi long não) nên được ưa chuộng trong đóng đồ

gỗ gia dụng Loài cây có phân bố rải rác ở khu vực đồi, núi thấp của của các tỉnh phía Bắc Hiện nay, số lượng cây vù hương còn rất ít, chỉ còn thấy ở VQG Cúc Phương (Ninh Bình), Ba Vì (Hà Tây), trong rừng thứ sinh và vườn hộ ở Thạch

Trang 27

Thành (Thanh Hoá) và rải rác ở một số nơi; song hiện nay đã bị khai thác quá mức, không còn gặp nhiều trong rừng tự nhiên nên được xếp vào loại hiếm (Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, 1996) Khó tìm thấy cây có kích thước lớn và không phải cây trưởng thành nào cũng có quả, thu hái hạt giống ở cây lớn rất khó khăn, mặt khác do hạt có chứa nhiều tinh dầu, nhanh mất sức nảy mầm, tỷ lệ nảy mầm thấp, cho nên việc thử nghiệm nhân giống bằng hom để góp phần lưu giữ nguồn gen

Trang 28

PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là độ dài hom (5cm; 6cm; 7cm), loại hom (hom ngọn, hom giữa, hom gốc) cây Vù hương

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Thí nghiệm được tiến hành tại vườn ươm trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, thời gian từ tháng 2/2015 - 4/2015

3.3 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu ảnh hưởng của độ dài hom giâm đến tỷ lệ sống và ra rễ, của hom cây Vù hương

- Nghiên cứu ảnh hưởng của loại hom giâm đến tỷ lệ sống và ra rễ, của hom cây Vù hương

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm1: Nghiên cứu ảnh hưởng của độ dài hom giâm đến khả năng

hình thành cây hom Vù hương

+ Thí nghiệm gồm 3 công thức, 3 lần nhắc lại, mỗi công thức giâm 30 hom, tổng số hom giâm trong thí nghiệm là 270 hom Thí nghiệm bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh

Công thức 1: hom giâm dài 5cm

Công thức 2: hom giâm dài 6cm

Công thức 3: hom giâm dài 7cm

Các công thức đều sử dụng thuốc kích thích ra rễ là IBA nồng độ 450ppm; đồng đều về các điều kiện chăm sóc và cùng 1 thời vụ giâm

+ Các chỉ tiêu theo dõi:

Số hom sống (20 ngày thu thập số liệu 1 lần); Số hom ra rễ, số rễ/hom, chiều dài rễ; (thu thập số liệu vào cuối đợt thí nghiệm)

Trang 29

Thí nghiệm 2:Nghiên cứu ảnh hưởng của loại hom giâm đến khả năng hình

thành cây giống Vù hương

+ Thí nghiệm gồm 3 công thức, 3 lần nhắc lại, mỗi công thức giâm 30 hom, tổng số hom giâm trong thí nghiệm là 270 hom Thí nghiệm bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh

+ Các chỉ tiêu theo dõi: Số hom sống (20 ngày thu thập số liệu 1 lần); Số hom

ra rễ, số rễ/hom, chiều dài rễ; (thu thập số liệu vào cuối đợt thí nghiệm)

Sơ đồ bố trí các thí nghiệm giâm hom

Quá trình làm thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố nội tại đến

sự hình thành rễ, tại mỗi công thức tiến hành theo dõi trực tiếp ở tại khu giâm theo các chỉ tiêu đã định Định kỳ 20 ngày theo dõi một lần Quan sát bằng mắt thường

đo đếm số liệu cần theo dõi thông qua chỉ tiêu sinh trưởng:

+ Thời gian ra rễ của hom

Ngày đăng: 20/05/2016, 16:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Đoàn (1996), Báo cáo đề tài cây Vên vên, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đề tài cây Vên vên
Tác giả: Bùi Đoàn
Năm: 1996
2. Lê Đình Khả, Đoàn Thị Bích (1994), “Giâm hom Bạch đàn trắng bằng thuốc bột AIB”, Tạp chí Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giâm hom Bạch đàn trắng bằng thuốc bột AIB”
Tác giả: Lê Đình Khả, Đoàn Thị Bích
Năm: 1994
3. Lê Đình khả, Phạm Văn Tuấn (1996), “ Nhân giống cây Mỡ bằng hom”, Tạp chí Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Nhân giống cây Mỡ bằng hom”
Tác giả: Lê Đình khả, Phạm Văn Tuấn
Năm: 1996
4. Lê Đình Khả, Dương Mộng Hùng (1998), Giáo trình cải thiện giống cây rừng, Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cải thiện giống cây rừng
Tác giả: Lê Đình Khả, Dương Mộng Hùng
Năm: 1998
5. Lê Đình Khả, Đoàn Thị Bích (1999), Nhân giống cây Dầu rái bằng hom”, Tạp chí Khoa học - công nghệ và Kinh tế Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân giống cây Dầu rái bằng hom”
Tác giả: Lê Đình Khả, Đoàn Thị Bích
Năm: 1999
6. Ngô Kim Khôi (1998), Thống kê toán học trong Lâm nghiệp, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê toán học trong Lâm nghiệp
Tác giả: Ngô Kim Khôi
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1998
7. Phạm Văn Nguyên (1986), “Thống kê nguyên nguồn nguyên liệu của một số loài sao dầu ở Việt Nam”, Thông tin khoa học kỹ thuật Lâm nghiệp, Phân viện Lâm nghiệp phía Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê nguyên nguồn nguyên liệu của một số loài sao dầu ở Việt Nam”
Tác giả: Phạm Văn Nguyên
Năm: 1986
8. Ngọc Tân (1994), “Chất điều hòa sinh trưởng ABT”, Tạp chí Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chất điều hòa sinh trưởng ABT”
Tác giả: Ngọc Tân
Năm: 1994
9. Phạm Văn Tuấn (1992), “Sản xuất cây giống bằng phương pháp mô-hom ý nghĩa và ứng dụng”, Thông tin chuyên đề Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản xuất cây giống bằng phương pháp mô-hom ý nghĩa và ứng dụng”
Tác giả: Phạm Văn Tuấn
Năm: 1992
10. Phạm Văn Tuấn (1996), “ Một số nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ ra rễ của hom”, Bản tin hội khoa hoc kỹ thuật Lâm nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Văn Tuấn (1996), "“ Một số nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ ra rễ của hom”
Tác giả: Phạm Văn Tuấn
Năm: 1996
11. Thái Văn Trừng (1987), “ Báo cáo tổng quan về họ sao Dầu, một họ đặc sắc của khu vực Ấn Độ- Mã Lai”, Thông tin tài liệu khoa học kỹ thuật Lâm nghiệp, Viện Lâm nghiệp Phân viện Lâm nghiệp phía Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng quan về họ sao Dầu, một họ đặc sắc của khu vực Ấn Độ- Mã Lai”
Tác giả: Thái Văn Trừng
Năm: 1987

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Mẫu bảng 3.1: Bảng sắp xếp các trị số quan sát phân tích phương sai 1 nhân tố - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố nội tại đến khả năng hình thành cây hom vù hương tại trường đại học nông lâm thái nguyên
u bảng 3.1: Bảng sắp xếp các trị số quan sát phân tích phương sai 1 nhân tố (Trang 33)
Mẫu bảng 3.2: Bảng phân tích phương sai 1 nhân tố ANOVA - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố nội tại đến khả năng hình thành cây hom vù hương tại trường đại học nông lâm thái nguyên
u bảng 3.2: Bảng phân tích phương sai 1 nhân tố ANOVA (Trang 36)
Bảng 4.1: Kết quả về ảnh hưởng của độ dài hom giâm đến tỷ lệ sống trung - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố nội tại đến khả năng hình thành cây hom vù hương tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 4.1 Kết quả về ảnh hưởng của độ dài hom giâm đến tỷ lệ sống trung (Trang 37)
Hình 4.1: Tỷ lệ sống trung bình của hom cây vù hương ở các công thức thí - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố nội tại đến khả năng hình thành cây hom vù hương tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Hình 4.1 Tỷ lệ sống trung bình của hom cây vù hương ở các công thức thí (Trang 38)
Hình 4.2 Tỷ lệ ra rễ của hom cây Vù hương ở các công thức thí nghiệm - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố nội tại đến khả năng hình thành cây hom vù hương tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Hình 4.2 Tỷ lệ ra rễ của hom cây Vù hương ở các công thức thí nghiệm (Trang 39)
Bảng 4.2: Kết quả về khả năng ra rễ của hom cây Vù hương ở các - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố nội tại đến khả năng hình thành cây hom vù hương tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 4.2 Kết quả về khả năng ra rễ của hom cây Vù hương ở các (Trang 39)
Hình 4.4  Chiều dài rễ TB/cm rễ của hom cây Vù hương ở các công thức - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố nội tại đến khả năng hình thành cây hom vù hương tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Hình 4.4 Chiều dài rễ TB/cm rễ của hom cây Vù hương ở các công thức (Trang 40)
Hình 4.5: Chỉ số ra rễ của hom cây Vù hương ở các công thức thí nghiệm - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố nội tại đến khả năng hình thành cây hom vù hương tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Hình 4.5 Chỉ số ra rễ của hom cây Vù hương ở các công thức thí nghiệm (Trang 41)
Bảng 4.4: Bảng phân tích phương sai một nhân tố ảnh hưởng - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố nội tại đến khả năng hình thành cây hom vù hương tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 4.4 Bảng phân tích phương sai một nhân tố ảnh hưởng (Trang 44)
Bảng 4.6: Tỷ lệ sống của loại hom cây Vù hương ở các công thức thí nghiệm - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố nội tại đến khả năng hình thành cây hom vù hương tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 4.6 Tỷ lệ sống của loại hom cây Vù hương ở các công thức thí nghiệm (Trang 46)
Hình 4.7: Tỷ lệ ra rễ của hom cây Vù hương ở các công thức thí nghiệm - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố nội tại đến khả năng hình thành cây hom vù hương tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Hình 4.7 Tỷ lệ ra rễ của hom cây Vù hương ở các công thức thí nghiệm (Trang 48)
Hình 4.8: số TB/hom rễ của hom cây Vù hương ở các công thức thí nghiệm - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố nội tại đến khả năng hình thành cây hom vù hương tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Hình 4.8 số TB/hom rễ của hom cây Vù hương ở các công thức thí nghiệm (Trang 48)
Hình 4.8: Chiều da ̀i rễTB/cm rễ của hom cây Vù hương ở các công thức thí - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố nội tại đến khả năng hình thành cây hom vù hương tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Hình 4.8 Chiều da ̀i rễTB/cm rễ của hom cây Vù hương ở các công thức thí (Trang 49)
Hình 4.9: Chỉ số ra rễ của hom cây Vù hương ở các công thức thí nghiệm - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố nội tại đến khả năng hình thành cây hom vù hương tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Hình 4.9 Chỉ số ra rễ của hom cây Vù hương ở các công thức thí nghiệm (Trang 49)
Bảng 4.9: Bảng phân tích phương sai một nhân tố ảnh hưởng - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố nội tại đến khả năng hình thành cây hom vù hương tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 4.9 Bảng phân tích phương sai một nhân tố ảnh hưởng (Trang 52)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w