Lao động nếu coi là sự hao phí sức lao động con người nói chung không kể hình thức cụ thể của nó thế nào thì gọi là lao động trừu tượng.Trong sản xuất hàng hoá, cần thiết phải quy các la
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BÀI TẬP LỚN
MÔN: NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC –
LÊ NIN (HỌC PHẦN II)
ĐỀ BÀI:Phân tích nội dung lý luận của C.Mác về lợi nhuận Ý nghĩa của việc nghiên cứu (cả về lí luận và thực tiễn).
HỌ TÊN SINH VIÊN:PHAN NGỌC TRUNG
LỚP: NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC –
LÊ NIN 2_4
MÃ SINH VIÊN:11124301
HÀ NỘI 2013
Trang 2MỤC LỤC
Trang
1.2Tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư 4 1.3Giá trị thặng dư tuyệt đối, tương đối, siêu ngạch 5
2 Các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư 6 2.1Lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận, lợi nhuận bình quân 6
2.1.2 Sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân – quy
2.3.2 Ngân hàng và lợi nhuận ngân hàng 9
II Ý nghĩa của việc nghiên cứu trên lý luận và thực tiễn 10
Trang 31 Trên lý luận 10
I Lý luận của Mác về lợi nhuận.
C.Mác (1818 - 1883) và F Ănghen (1820 - 1895) là hai nhà tư tưởng vĩ đại đã có công sáng lập ra chủ nghĩa Mác, vũ khí tư tưởng sắc bén của giai cấp công nhân trên toàn thế giới Hai ông đã viết rất nhiều tác phẩm phân tích nền kinh tế TBCN, chỉ rõ những đặc điểm, những qui luật kinh tế, những xu hướng vận động, những ưu thế và hạn chế của nó, mà trong đó nổi tiếng nhất là bộ tư bản "tác phẩm kinh tế chính trị học nổi tiếng nhất của thế kỷ chúng ta" theo như Lênin đã viết Trong bộ tư bản này Mác đã nêu lên một trong những phát kiến vĩ đại nhất của ông đó là học thuyết về giá trị thặng dư và chỉ ra rằng nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận chính là xuất phát từ giá trị thặng dư Do vậy, muốn làm rõ được nguồn gốc, bản chất và vai trò của lợi nhuận chúng ta phải đi từ quá trình sản xuất giá trị thặng dư, quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa
tư bản
1 Giá trị thặng dư.
1.1 Quá trình sản xuất giá trị thặng dư.
Mác viết: “ Tôi là người đầu tiên phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động biểu thị trong hàng hoá” Sở dĩ hàng hoá có hai thuộc tính là giá trị
sử dụng và giá trị vì lao động sản xuất có hai thuộc tính là lao động cụ thể và lao động trừu tượng Theo Mác, lao động cụ thể là lao động hao phí dưới một hình thức cụ thể của một nghề nghiệp chuyên môn nhất định, có mục đích riêng, đối tượng riêng, thao tác riêng, đối tượng riêng và cho một kết quả riêng Kết quả lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng cho hàng hoá Vì vậy, lao động cụ thể là một phạm trù vĩnh viễn Lao động nếu coi là sự hao phí sức lao động con người nói chung không
kể hình thức cụ thể của nó thế nào thì gọi là lao động trừu tượng.Trong sản xuất hàng hoá, cần thiết phải quy các lao động cô thể khác nhau vốn không thể so sánh được đó là lao động trừu tượng Vì vậy, lao động trừu
Trang 4tượng là một phạm trù lịch sử Lao động trừu tượng tạo ra giá trị của hàng hoá
Mác đã nghiên cứu quá trình sản xuất và lưu thông và thấy rằng nếu
tư bản đưa ra một lượng tiền T vào lưu thông thì số thu về lớn hơn số tiền ứng ra Ta gọi là T’ (T’ >T) hay: T’ = T + T Mác gọi T là giá tri thặng dư Ông cũng thấy rằng mục đích của lưu thông tiền tệ với tư cách là tư bản không phải là giá trị sửdụng mà là giá trị Mác thấy rằng
tư bản không thể xuất hiện từ lưu thông và cũng không thể xuất hiện bên ngoài lưu thông Để giải thích mâu thuẫn đó, Mác tìm ra quá trình sản xuất giá trị thặng dư Quá trình sản xuất TBCN là sự thống nhất giữa quá trình sản xuất ra giá trị và quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư
Giả định để sản xuất 10 kg sợi cần 10 kg bông, giá 10 kg bông là 10 đôla Để biến số bông đó thành sợi, một công nhân phải lao động trong 6 giờ và hao mòn máy móc là 2 đôla, giá trị sức lao động trong ngày của một công nhân là 3 đôla, trong một giờ lao động người công nhân tạo ra một giá trị là 0,5 đôla, cuối cùng giả định rằng trong quá trình sản xuất sợi thời gian lao động đã hao phí theo thời gian xã hội cần thiết.Với giá định như vậy, nếu như quá trình lao động chỉ kéo dài đến cái điểm mà ở
đó bù đắp được giá trị sức lao động (6 giờ) tức là bằng thời gian lao động xã hội cần thiết thì chưa có sản xuất ra giá trị thặng dư, nhà tư bản không được lợi gì Trong thực tế, nhà tư bản bắt công nhân lao động thêm giờ, giả sử 12 giờ một ngày thì:
Tư bản ứng trước Giá trị của sản phẩm mới ( 20 kg sợi)
Tiền mua bông: 20$
Hao mòn máy móc: 4$
Tiền mua sức lao động
của công nhân trong 1
ngày: 3$
Tổng 27$
bông chuyển vào sợi: 20$
Giá trị của máy móc chuyển vào sợi: 4$
Giá trị do lao động của người công nhân tạo ra trong 12 giờ: 0,5
x 12= 6$
Tổng
Trang 5Như vậy toàn bộ chính phủ của nhà tư bản để mua tư liệu sản xuất và sức lao động là 27 đôla Trong 12 giờ lao động, công nhân tạo ra 1 sản phẩm mới (20kg sợi) có giá trị bằng 30 đôla, lớn hơn giá trị ứng trước là
3 đôla Vậy 27 đôla ứng trước đã chuyển hoá thành 30 đôla, đã đem lại một giá trị thặng dư là 3 đôla Do đó tiền đã biến thành tư bản Phần giá trị mới dôi ra so với giá trị sức lao động gọi là giá trị thặng dư
Phân tích giá trị sản phẩm đuọc sản xuất ra (20kg sợi) chúng ta thấy có 2 phần: Phần giá trị những tư liệu sản xuất được lao động cụ thể của người công nhân bảo tồn và chuyển vào sản phẩm mới để hình thành nên giá trị của sản phẩm mới (sợi) gọi là giá trị cũ ( trong ví dụ trên là 6 đô la) phần giá trị mới này lớn hơn giá trị sức lao động, nó bằng giá trị sức lao động cộng thêm giá trị thặng dư Vậy, giá trị thặng dư là phần giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do người công nhân tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không Sản xuất ra giá trị thặng dư chỉ là quá trình tạo ra giá trị được kéo dài quá cái điểm mà ở đó giá trị sức lao động do nhà tư bản trả được hoàn lại bằng vật ngang giá mới
1.2Tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư.
Tỷ suất giá trị thặng dư
Tỷ suất giá trị thặng dư là tỷ số giữa giá trị thặng dư và tư bản khả biế
n, tức là tỷ số theo đó tư bản khả biến tăng them giá trị Mác đã dung ký hiệu m’ để chỉ tỷ suất giá trị thặng dư:
m' = m/v.100%
Trong đó:
m là giá trị thặng dư
v là giá trị mới do lao động công nhân tạo ra
Tỷ suất giá trị thặng dư vạch ra một cách chính xác trình độ bóc lột công nhân Về thực chất, tỷ lệ này là tỷ lệ phân chia ngày lao động thành thời gian lao động cần thiết và thời gian lao động thặng dư Tuy nhiên tỷ suất giá trị thặng dư không biểu hiện lượng tuyệt đối của sự bóc lột
Khối lượng giá trị thặng dư
Khối lượng giá trị thặng dư là tích số giữa giá trị thặng dư và tổng tư s
ản khả biến (v) được sử dụng
Nếu gọi M là giá trị thặng dư thì M = m’ v
Trang 61.3Giá trị thặng dư tuyệt đối, tương đối, siêu ngạch.
Giá trị thặng dư tuyệt đối
Trong những giai đoạn phát triển đầu của CNTB, khi kỹ thuậtcònthấp hoặc tiến bộchạp thì việc tăng giá trị thặng dư bằng phương pháp kéo dài ngày lao động quan trọng nhất Giả sử ngày laođộng là 10 giờ, trong
đó 5 giờ là thời gian lao động cần thiết và 5 giờ là thời gian lao động thặng dư Nhưng nhà tư bản kéo dàingày lao động thêm 2 giờ nữa trong khi đại lượng của thời gian lao động cần thiết không đổi (5giờ) Như vậy thời gian lao động thặng dư tăng lên một cách tuyệt đối và cùng với
nó là sự tăng lên của tỷ suất giá trị thặng dư Trước đây tỷ suất giá trị
thặng dư là 5/5 100 = 100% thì bây giờ là 7/5 100 = 140 %.
Giá trị thặng dư tương đối
Việc kéo dài ngày lao động bị giới hạn về tự nhiên và sinh học, ngoài ra
sự phản kháng mạnh mẽ của giai cấp công nhân cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã làm cho các nhà tư bản chuyển hướng sang việc tạo
ra giá trị thặng dư tương đối trên cơ sở tăng năng suất lao động Nhà tư bản tìm cách rút ngắn thời gian lao động cần thiết do đó làm tăng một cách tương ứng thời gian lao động thặng dư trong điều kiện độ dài ngày lao động không thay đổi Chúng ta giả sử rằng độ dài ngày lao động là 8 giờ trong đó 4 giờ lao động cần thiết và 4 giờ lao động thặng dư Giảđịnh tiếp bằng cách tăng năng suất lao động, công nhân chỉ cần 3 giờ lao động đã tạo ra được một giá trị bằng với giá trị sức lao động củamình, và do đó thời gian lao độngthặng dư đã tăng lên 5 giờ Như
vậy, nếu trước đây m’=4/4 100 = 100% thì bây giờ là 5/3 100 = 166%.
Giá trị thặng dư được tạo ra bằng cách rút ngắn thời gian lao động cần thiết trong điều kiện độ dài ngày lao động không đổi, nhờ đó kéo dài tương ứng thời gian lao động thặng dư do tăng năng suất lao động, được gọi là giá trị thặng dư tương đối
Giá trị thặng dư siêu ngạch
Giá trị thặng dư siêu ngạch là phần giá trị thặng dư phụ thêm xuất hiện khi giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá trị xã hội, mang tính chất tạm thời
Trang 7Giá trị thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối có một cơ sở chung đó là dựa trên cơ sở tăng suất lao động để rút ngắn thời gian lao động cần thiết Tuy vậy giữa chúng có sự khác nhau: Giá trị thặng dư tương đối dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động xã hội, còn giá trị thặng dư siêu ngạch dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động cá biệt Giá trị thặng dư siêu ngạch sẽ được thay thế bằng giá trị thặng dư tương đối khi trình độ kỹ thuật mới từ trường hợp cá biệt được áp dụng trở thành phổ biến Vì vậy, C Mác gọi giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư tương đối
2 Các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư.
2.1 Lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận, lợi nhuận bình quân.
2.1.1 Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận.
Lợi nhuận
Để sản xuất hàng hoá, xã hội phải chi phí một số lao động nhất định _Lao động quá khứ (lao động vật hoá) tức là giá trị của tư liệu sản xuất
_Lao động sống (lao động hiện tại) tức là lao động tạo ra giá trị mới(v + m).
Do đó giá trị xã hội của hàng hoá là c + v + m Nhưng nhà tư bản là
chủ lao động, họ không phải hao phí lao động, họ chỉ quan tâm đến việc
đã bỏ chi phí bao nhiêu để sản xuất hàng hoá(gồm tiền mua tư liệu sản xuất và tiền mua sức lao độngv) C Mác gọi chi phí đó là chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa, và ký hiệu bằng k (k = c + m)
Như vậy, khi xuất hiện chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa thì công thức
giá trị hàng hoá : gt = c + v + m sẽ chuyển thành gt = k + m Sau khi bán hàng hoá, nhà tư bản không những bù đắp đủ số tư bản đã bỏ ra (c + m) mà còn thu được số tiền lời ngang bằng với m Số tiền này gọi là lợi
nhuận
Vậy, giá trị thặng dư được so với toàn bộ tư bản ứng trước và mang hình thức chuyển hoá là lợi nhuận
Nếu ta ký hiệu lợi nhuận là p thì công thức gt = c + v + m = k + msẽ chuyển thành gt = k + p (hay giá trị hàng hoá bằng chi phí sản xuất tư
bản chủ nghĩa cộng với lợi nhuận)
Vấn đề đặt ra là giữa p và m có gì khác nhau?
Trang 8_“Về mặt lượng” : Nếu hàng hoá bán đúng giá trị thì m = p, và p giống
nhau ở chỗ chúng đều có chung một nguồn gốc là kết quả lao động không công của công nhân làm thuê
_“Về mặt chất” : m phản ánh nguồn gốc sinh ra từ v, còn p thì được
xem như toàn bộ tư bản ứng trước đề ra Dó đó p đã che dấu quan hệ bóc lột TBCN, che dấu nguồn gốc thực sự của nó, đó là lao động thặng dư không được trả công của người công nhân
Trên thực tế, do chi phí sản xuất TBCN luôn luôn nhỏ hơn chi phí sản xuất thực tế, cho nên nhà tư bản chỉ cần bán hàng hóa cao hơn chi phí sản xuất TBCN và có thể thấp hơn giá trị hàng hoá (Chi phí sản xuất thực tế là đã có lợi nhuận rồi.Tương quan giữa m và p chính là tương quan giữa giá bán hàng hoá của nhà tư bản với giá trị hàng hoá Sự không thống nhất giữa m và p này đã càng làm che dấu thực chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản
Tỷ suất lợi nhuận
Trên thực tế các nhà tư bản không chỉ quan tâm đến lợi nhuận mà còn quan tâm đến tỷ suất lợi nhuận
Tỷ suất lợi nhuận là tỷ suất tính theo phần trăm giữa giá trị thặng dư
và toàn bộ tư bản ứng trước Nếu ký hiệu tỷ suất lợi nhuận là p’ ta có:
p’ = [(giá trị thặng dư)/(tư bản ứng trước)] 100% = [m / (c + v)]
100%
Về mặt lượng, p’ luôn nhỏ hơn m’ Về mặt chất thì m’ phản ánh trình
độ bóc lột của nhà tư bản đối với công nhân làm thuê Còn p’ không thể phản ánh được điều đó mà chỉ nói lên mức lãi của việc đầu tư
Tỷ suất lợi nhuận chỉ cho nhà tư bản biết tư bản của họ đầu tư vào đâu thì có lợi Do đó, việc thu p và theo đuổi p’ là động lực thúc đẩy nhà tư bản, là mục tiêu cạnh tranh của các nhà tư bản
2.1.2 Sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân – Quy luật lợi nhuận bình quân
Dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, dưới CNTB luôn tồn tại cạnh tranh.Đây là hình thức đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện có lợi nhất về sản xuất và tiêu thụ hàng hoá Trong
Trang 9xã hội tư bản có hai loại cạnh tranh: cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành.
_Cạnh tranh trong nội bộ ngành là sựcạnh tranh giữa các xí nghiệp
trong cùng một ngành, cùng sản xuất ra một hàng hoá nhằm mục đích tiêu thụ hàng hoá có lợi hơn để thu lợi nhuận siêu ngạch
_Cạnh tranh giữa các ngành là sự cạnh tranh giữa các nhà tư bản trong
các ngành sản xuất khác nhau nhằm mục đích tìm nơi đầu tư có lợi hơn.Kết quả của cuộc cạnh tranh này là hình thành dần tỷ suất lợi nhuận bình quân và giá trị hàng hoá chuyển hoá thành giá trị sản xuất
Do các xí nghiệp khác nhau có cấu tạo hữu cơ của tư bản khác nhau, cho nên để thu được nhiều lợi nhuận thì các nhà tư bản phải chọn nhữngngành nào có tỷ suát lợi nhuận cao để đầu tư vốn Nhưng trên thực
tế của xã hội tư bản lại biểu hiện rằng: Bất kể tư bản được đầu tư vào ngành nào, nếu có khối lượng tư bản bằng nhau thì phải thu được lợi nhuận bằng nhau
Sở dĩ có điều đó là do lòng tham vô đáy của các nhau tư bản quyết định, các nhà tư bản ở những ngành có tỷ suất lợi nhuận thấp sẽ di chuyển tư bản của mình sangnhững ngành có tỷ suất lợi nhuận cao hơn Quá trình
di chuyển đó làm cho cung cầu ở các ngành đó thay đổi, dẫn tới sự thay đổi tỷ suất lợi nhuận ở các ngành khác nhau : tăng lên ở những ngành có
tỷ luật lợi nhuận thấp và giảm đi ở những ngành có tỷ suất lợi nhuận cao Kết quả của sự thay đổi này là hình thành nên tỷ suất lợi nhuận bình quân một các tự phát Đó là tỷ số tính theo % giữa tổng giá trị thặng dư trong xã hội tư bản và tổng tư bản xã hội đã đầu tư vào tất cả các lĩnh vực, các ngành của nền sản xuất TBCN
P’= [(Tổng m các ngành) / (Tổng c + v các ngành)] x 100%
Quá trình bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận là sự hoạt động của quy luật tỷ suất lợi nhuận bình quân là biểu hiện cụ thể của sự hoạt động của quy luật giá trị thặng dư trong thời kỳ tự do cạnh tranh của chủ nghĩa tư bản
2.2 Lợi nhuận thương nghiệp.
Do việc sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển, sự phân công lao động xã hội, sự chuyên môn hoá ngày càng cao mà xuất hiện tư bản thương nghiệp dưới CNTB
Trang 10Tư bản thương nghiệp dưới CNTB là một bộ phận của tư bản công nghiẹp tách rời ra, phục vụ quá trình lưu thông hàng hoá của tư bản công nghiệp.Tư bản thương nghiệp có chức năng chính là mua hàng của nhà
tư bản công nghiệp (với giá mua nhỏ hơn giá trị hàng hoá) và bán cho người tiêu dùng (với giá bán bằng giá trị hàng hoá) Nếu xét một cách hạn chế ở chức năng mua và bán, tư bản thương nghiệp không sáng tạo
ra giá trị và giá trị thặng dư Về thực chất, lợi nhuận thương nghiệp là một phần giá trị thặng dư được sáng tạo ra trong lĩnh vực sản xuất mà nhà tư bảncông nghiệp nhường cho nhà tư bản thươngnghiệp
Tư bản thương nghiệp với những đặc trưng của mình đã có vai trò to lớn đối với tư bản công nghiệp, đó là đảm bảo quá trình tái sản xuất được tiếp tục và mở rộng, giúp vốn của nhà tưbản công nghiệp chu chuyển nhanh hơn và nâng cao tỷ suất lợi nhuận cho nhà tư bản công nghiệp Lợi nhuận thương nghiệp là số chênh lệch giữa giá bán và giá mua hàng hoá Đó là một phần giá trị thặng dư mà nhà tư bản công nghiệp đã thu được Sự phân chia giá trị thặng dư giữa nhà tư bản công nghiệp và nhà
tư bản thương nghiệp được tiến hành theo quy luật tỷ suất lợi nhuận bình quân, tức là lợi nhuận thương nghiệp cũng vận động theo quy luật tỷ suất lợi nhuận bình quân
Sự hình thành Pthương nghiệp đã che giấu đầu thêm một bước quan trọng hệ bóc lột của TBCN
II.3 Lợi tức cho vay.
II.3.1 Lợi tức cho vay.
Trong xã hội tư bản, luôn luôn tồn rại việc một số nhà tư bản nào đó có một số tư bản tiền tệ tạm thời nhàn rỗi, không sinh lợi Nhưng nhà tư bản rất mong muốn tiền phải đẻ ra tiền… Mặt khác, luôn luôn có một số nhà tư bản khác rất cần tiền dẫn tới xu hướng muốn đi vay
Từ hai mặt trên tất yếu sinh ra sự vay mượn lẫn nhau, sinh ra quan hệ tín dụng TBCN.Và nhờ có quan hệ vay mượn này mà tư bản nhàn rỗi đã trở thành tư bản cho vay Vậy tư bản cho vay là tư bản tiền tệ mà người chủcủa nó nhường cho mộtngười khác sửdụng trong một thời gian để nhận được một số lời lãi nào đó Số lời lãi đó được gọi là lợi tức.Nhà tưbản cho vay nhường quyền sửdụng tưbản của mình cho người khác,