Trong số những nhận thức đó, đặc biệt quan trọng, là sự đổi mới trong nhận thức về của lợi nhuận mà một khía cạnh là nhận thức rõ bản chất sự phân chia lợi nhuận của các tập đoàn tư bản.
Trang 1ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN HÀ NỘI
KHOA TRIẾT – KHOA HỌC XÃ HỘI
TIỂU LUẬN
Môn những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin II
Chủ đề:
Sự phân chia lợi nhuận của các tập đoàn tư bản và biểu hiện qua các giai đoạn cơ bản chủ nghĩa,từ đó rút ra ý nghĩa và biểu
hiện thực tế
Giảng viên hướng dẫn: Lê Ngọc Thông Sinh viên thực hiện: Mai Thị Lan Hương
Lớp:
Mã sinh viên: 11131828
Hà Nội ngày 6 tháng 5– 2014
Trang 2MỤC LỤC
Trang
A.PHẦN MỞ ĐẦU
………3
B.NỘI DUNG:
I Các hình thức biểu hiện của lợi nhuận
……… 4
1 Lợi nhuận công nghiệp và lợi nhuận thương
nghiệp……… 4
2 Lợi nhuận cho vay và lợi nhận ngân
hàng……… 6
3 Địa tô tư bản chủ nghĩa
……… …8
4.Lợi nhuận độc
quyền……… …… 10
II Vai trò lợi nhuận ở Việt
Nam……… …… 10
C.KẾT
LUẬN……….1 3
D.DANH MỤC TÀI LIỆU THAM
KHẢO……… 14
Trang 3BÀI LÀM
A PHẦN MỞ ĐẦU:
Sự phát triển của Việt Nam cũng như của các nước Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN) khác được đánh dấu bằng sự chuyển hướng trong
tư tưởng, nhận thức của các Đảng và Nhà Nước về Chủ Nghĩa Xã Hội(CNXH) và con đường đi lên CNXH Ở Việt Nam, từ sau
những năm đổi mới đến nay mới chỉ có hơn 25 năm, đó thực sự chỉ
là một khoảng thời gian rất ngắn so với lịch sử phát triển của một dân tộc, một đất nước.Tuy nhiên, trong 25 năm đó, Việt Nam đã có những sự thay đổi và phát triển vượt bậc Từ một nước nghèo đói
và thiếu ăn quanh năm, luôn phải trông chờ vào các khoản viện trợ, trợ giúp của các nước khác, Việt Nam đã trở thành một nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới (sau Thái Lan) Các nghành sản xuất Công-Nông Nghiệp và Dịch Vụ đã đạt được những thành quả đáng kể, đời sống của nhân dân được cải thiện vv Có được sự phát triển đó, chính là nhờ sự đổi mới trong nhận thức, tư duy về CNXH và con đường đi lên CNXH Trong số những nhận thức đó, đặc biệt quan trọng, là sự đổi mới trong nhận thức về của lợi nhuận
mà một khía cạnh là nhận thức rõ bản chất sự phân chia lợi nhuận của các tập đoàn tư bản Từ sự phân chia đó để nhận định rõ bản chất của chủ nghĩa tư bản độc quyền và chủ nghĩa tư bản độc
quyền nhà nước Việt Nam đang hội nhập sâu hơn với quốc tế, đặc biệt là chủ nghĩa tư bản phương Tây Hiểu rõ bản chất lợi nhuận và cách phân chia lợi nhuận trong thế giới tư bản không những giúp chúng ta định hướng đúng con đường Kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa mà còn giúp chúng ta hội nhập sâu sắc và luôn tìm được hướng đi đúng đắn và có lợi cho sự phát triển đất nước.Trong phạm vi cho phép của bài viết và do hiểu biết còn hạn chế nên bài viết này khó tránh khỏi những sai sót Vì vậy, em rất mong nhận được sự chỉ dẫn, giúp đỡ của thầy giáo để em có được những nhận thức đúng đắn hơn
Em xin chân thành cảm ơn.!
Trang 4B/ NỘI DUNG:
I Các hình thức biểu hiện của lợi nhuận :
1, Lợi nhuận công nghiệp và lợi nhuận thương nghiệp:
Trước tiên, xét trong lĩnh vực sản xuất và lưu thông hàng hóa
ta sẽ thấy tồn tại hai dạng tư bản là tư bản Thương nghiệp và tư bản Công nghiệp và tương ứng với chúng là hai hình thức lợi nhuận, lợi nhuận Thương nghiệp và lợi nhuận Công nghiệp Không phải chỉ tới CNTB thì mới tồn tại hai dạng tư bản cũng như hai hình thái lợi nhuận này Nhưng trong các xã hội trước CNTB thì hai dạng tư bản này hoàn toàn độc lập với nhau
Trang 5 Nhưng trong giai đoạn TBCN, do nhu cầu của sự chuyên môn hoá và hợp tác hoá thì Công nghiệp và Thương nghiệp hay nói rộng hơn là quá trình sản xuất và lưu thông không thể tách biệt độc lập mà đã trở nên phụ thuộc, gắn kết lẫn nhau Lúc này thì tư bản Thương nghiệp, thực chất “là một bộ phận của tư bản Công nghiệp tách rời ra, phục vụ qúa trình lưu thông hàng hoá của nhà tư bản Công nghiệp”
Ngoài ra, sự chuyên môn hoá này còn góp phần mở rộng qui mô tái sản xuất, mở rộng thị trường, tạo điều kiện cho Công nghiệp phát triển Hơn nữa, tuy không trực tiếp tạo ra giá trị thặng dư nhưng tư bản Thương nghiệp lại góp phần làm tăng năng suất lao động, tăng lợi nhuận và do đó, làm cho tỷ suất lợi nhuận chung của xã hội tăng
Mà thực chất thì nhà Tư bản Thương nghiệp sẽ mua hàng hoá thấp hơn giá trị và bán đúng bằng giá trị của hàng hoá Nguyên nhân của hiện tượng này là do sự hình thành một tỉ suất lợi nhuận bình quân mới là bình quân các tỉ suất lợi
Trang 6nhuận của hai nghành Công nghiệp và Thương nghiệp Ta có thể thấy rõ điều này khi phân tích ví dụ sau:
VD : Một nhà Tư bản Công nghiệp có một lượng tư bản là 800 với
cấu tạo: 700c + 100v với tỉ suất giá trị thặng dư: m’ = 100% => giá trị hàng hóa là: 700c + 100v + 100 = 900
Tỉ suất lợi nhuận nghành Công nghiệp sẽ là:
P’CN = 100/800 * 100% = 12,5% Bây giờ, nếu có thêm một nhà tư bản Thương nghiệp bỏ ra 200
để mua hàng hoá =>lúc đó ta có tỉ suất lợi nhuận bình quân sẽ bằng:
100 *100% = 10%
800 + 200
Theo tỉ suất lợi nhuận chung mới này thì phần lợi nhuận Công nghiệp và lợi nhuận Thương nghiệp tương ứng sẽ bằng:
LnCN = 800 * 10% = 80
LnTN = 200 * 10% = 20
Khi đó nhà tư bản Thương nghiệp sẽ mua hàng hoá từ nhà tư bản Công nghiệp với giá thấp hơn giá trị:
800 + 80 = 880 (<900)
và sẽ bán với giá đúng bằng giá trị và thu được lợi nhuận Thương nghiệp:
880 + 20 = 900
Như vậy là, với sự hình thành tỉ suất lợi nhuận chung giữa hai ngành Công nghiệp và Thương nghiệp thì lợi nhuận Thương
Trang 7nghiệp đã được thực hiện Với sự xuất hiện của lợi nhuận
Thương nghiệp trong xã hội tư bản, đã hình thành nên hai loại giá cả sản xuất là giá cả sản xuất Công nghiệp và giá cả sản xuất thị trường Nó cũng góp phần che dấu thêm một mức nữa quan
hệ bóc lột TBCN
2/ Lợi nhuận cho vay và lợi nhuận ngân hàng:
Như trên đã phân tích, tư bản Thương nghiệp là một bộ phận
tư bản Công nghiệp tách ra, phục vụ quá trình lưu thông hàng hoá của nhà tư bản Công nghiệp Còn tư bản cho vay, thực chất cũng là một bộ phận của tư bản Công nghiệp được tách
ra nhưng là để, một mặt vừa đáp ứng nhu cầu về tư bản, mặt khác là để thoả mãn sự thèm khát lợi nhuận của nhà tư bản Sau đây, ta sẽ tiến hành xem xét nguồn gốc hình thành của tư bản cho vay để làm rõ thêm điều đó
Tư bản cho vay "là tư bản tiền tệ mà người chủ của nó
nhường cho một người khác sử dụng trong một thời gian để nhận được một số lời nào đó" Đặc điểm nổi bật của tư bản cho vay là nó không thuộc sở hữu của nhà tư bản sử dụng nó vào sản xuất Có nghĩa là khi nhà tư bản cho vay cho người khác vay một lượng tư bản tiền tệ là chỉ cho người đó quyền sử dụng lượng tư bản tiền tệ đó chứ không cho quyền sở hữu lượng tư
Trang 8bản đó Do vậy mà ở tư bản cho vay thì quyền sử dụng và quyền
sở hữu được tách rời nhau, đây cũng là sự khác biệt căn bản của
tư bản cho vay với tư bản Công nghiệp và tư bản Thương
nghiệp
Vậy lợi tức là một phần lợi nhuận bình quân mà nhà tư bản đi vay phải trả cho nhà tư bản cho vay căn cứ vào món tiền mà nhà tư bản cho vay đã đưa cho nhà tư bản đi vay sử dụng Như vậy thì xét cho cùng nguồn gốc của lợi tức chính là phần giá trị thặng dư mà nhà tư bản Công nghiệp chiếm đoạt của người lao động
Với sự hình thành của tư bản cho vay và tương ứng với nó là lợi tức cho vay thì lúc này phần lợi nhuận bình quân mà các nhà tư bản Công nghiệp và tư bản Thương nghiệp thu được không còn thuộc hoàn toàn về họ mà phần lợi nhuận bình quân đó được chia ra thành lợi tức cho vay là khoản đem trả cho nhà tư bản cho vay, phần còn lại sau khi trả lợi tức được gọi là thu nhập của chủ xí nghiệp Lượng lợi tức đem trả nhiều hay ít tuỳ theo quan hệ cung cầu về tư bản cho vay và
nó phụ thuộc vào tỉ suất lợi tức, là tỉ lệ phần trăm giữa tổng
số lợi tức và tổng số tư bản tiền tệ cho vay
Nếu kí hiệu lợi tức là Z còn tỉ suất lợi tức là Z’ thì ta có:
Z’ = ( Z/tư bản cho vay) * 100%
Còn với nghiệp vụ cho vay, ngân hàng cho các nhà tư bản trực tiếp kinh doanh, tức là các nhà tư bản Công nghiệp và tư bản Thương nghiệp vay tư bản tiền tệ để sử dụng hay nói khác đi nghiệp vụ cho vay là nghiệp vụ phân phối và sử dụng những tư bản ngân hàng có được qua nghiệp vụ nhận gửi
Trong nghiệp vụ nhận gửi, để huy động được các nguồn tư bản nhàn rỗi, Ngân hàng trả một khoản lợi tức nhận gửi cho các khoản gửi Đồng thời, trong nghiệp vụ cho vay, Ngân hàng lại thu một khoản lợi tức cho vay của những người đi
Trang 9vay Và như mọi tổ chức kinh doanh TBCN khác, mọi hoạt động của Ngân hàng cũng phải nhằm mục tiêu đem lại lợi nhuận Chính vì vậy, dựa trên việc quy định lợi tức nhận gửi nhỏ hơn lợi tức cho vay, Ngân hàng đã thu được lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của mình Khoản lợi nhuận này được gọi là lợi nhuận Ngân hàng
3/ Địa tô Tư bản Chủ nghĩa:
Trước tiên, ta sẽ xem xét sự xâm nhập của PTSX TBCN vào trong Nông nghiệp Với sự phát triển của CNTB, giai cấp
Tư bản không chỉ thống trị nghành Công nghiệp mà còn dần dần thao túng cả lĩnh vực Nông nghiệp Sự xâm nhập của CNTB vào lĩnh vực Nông nghiệp có thể diễn ra theo hai cách sau :
Một là, trước hết vẫn duy trì về căn bản nền kinh tế phong kiến địa chủ trước kia và sau đó thông qua các cuộc cải cách
mà dần dần chuyển sang đường lối kinh tế theo kiểu Tư bản Chủ nghĩa
Thứ hai là, ngay từ đầu, thông qua con đường Cách mạng
Tư sản lật đổ chế độ kinh tế phong kiến cũ; giải phóng lực lượng sản xuất thoát khỏi xiềng xích nông nô Trên cơ sở đã xoá bỏ quan hệ sản xuất phong kiến, thiết lập QHSX TBCN trong Nông nghiệp từ đó phát triển nhanh chóng Nông
nghiệp theo con đường các ấp trại TBCN
Trang 10
Chính vì sự xuất hiện của giai cấp địa chủ trong nông
nghiệp cho nên giá trị thặng dư, được hình thành do lao động không công của những công nhân làm thuê trong Nông
nghiệp, sẽ được phân chia khác với trong lĩnh vực Công nghiệp trên cơ sơ đảm bảo lợi nhuận cho không chỉ giai cấp
tư sản Nông nghiệp mà còn cho cả giai cấp địa chủ, những người mà thực chất là các nhà tư bản đã đầu tư vào ruộng đất Điều đó có nghĩa là lượng giá trị thặng dư mà giai cấp tư bản Nông nghiệp chiếm đoạt được sẽ phải không những đủ để họ
có thể thu được lợi nhuận bằng với lợi nhuận bình quân mà còn phải dư ra một khoản để trả cho chủ ruộng đất mà nhà tư bản đã thuê Khoản dư ra để trả cho ruộng đất đó được gọi là địa tô Tư bản Chủ nghĩa
Vậy địa tô Tư bản Chủ nghĩa “là một phần giá trị thặng dư còn lại sau khi đã khấu trừ đi phần lợi nhuận bình quân của nhà tư bản kinh doanh ruộng đất” Sở dĩ ở đây, phần lợi
nhuận mà nhà tư bản kinh doanh ruộng đất thu được phải bằng với lợi nhuận bình quân vì nếu nhỏ hơn lợi nhuận bình quân thì các nhà tư bản sẽ rút tư bản ra khỏi lĩnh vực Nông nghiệp dể đầu tư vào các lĩnh vực khác mang lại lợi nhuận nhiều hơn
Vậy địa tô tuyệt đối "cũng là một loại lợi nhuận siêu ngạch dôi ra ngoài lợi nhuận bình quân, được hình thành do cấu tạo hữu cơ của tư bản trong Nông nghiệp thấp hơn trong Công
Trang 11nghiệp,nó là số chênh lệch giữa giá trị nông sản với giá cả sản xuất chung"
Nói tóm lại, địa tô,dù là địa tô tuyệt đối hay địa tô chênh lệch, như Mác nói, đều “là một thứ cống vật mà xã hội, dưới chế độ Tư Bản Chủ Nghĩa, phải hiến cho những người nhiều ruộng đất” Xét về nguồn gốc thì địa tô cũng như các hình thức khác của lợi nhuận, đều có nguồn gốc từ giá trị thặng dư
mà nhà tư bản đã chiếm đoạt của người công nhân Hơn nữa, địa tô còn phản ánh tính “ăn bám” của giai cấp địa chủ, phản ánh những thiệt hại mà sự ăn bám đó mang lại Vì có địa tô tuyệt đối nên các nông phẩm ngày càng trở nên đắt đỏ làm cho mức sống của con người giảm sút Vì có địa tô chênh lệch nên xã hội không được hưởng những lợi ích từ việc tăng năng suất lao động trong Nông nghiệp cũng như nhiều lợi ích
do đất đai phì nhiêu mang lại
4/ Lợi nhuận độc quyền:
Trong lý luận của mình,Lênin đã chỉ ra rằng,với sự xuất hiện của Tư bản độc quyền mà đặc biệt là Tư bản tài chính,
đã dẫn tới sự hình thành nên lợi nhuận độc quyền Lênin đã chỉ rõ rằng lợi nhuận độc quyền, thực chất, là một hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư hình thành trong giai đoạn Chủ nghĩa Tư bản độc quyền, nó bao gồm lợi nhuận bình quân cộng với lợi nhuận độc quyền siêu ngạch có được do địa vị thống trị của độc quyền mang lại
Sự hình thành của lợi nhuận độc quyền đã dẫn tới sự hình thành tương ứng của giá cả độc quyền, bằng chi phí sản xuất cộng với lợi nhuận độc quyền Thông thường thì các tổ chức độc quyền, dựa trên sức mạnh độc quyền, để mà ép giá mua vào thấp hơn giá trị của hàng hoá mua vào và nâng giá trị của hàng hoá bán ra lớn hơn giá trị của nó
Trang 12
Chính vì vậy mà,với việc giải thích được sự hình thành và tồn tại của các hình thái khác nhau của lợi nhuận, Mác đã thể hiện sự khoa học và tiến bộ hơn so với các nhà lý luận trước Mác cũng như sau này Hơn thế nữa, thông qua việc vạch rõ bản chất bóc lột của các hình thái khác nhau của lợi nhuận, Mác đã vạch rõ bản chất bóc lột của giai cấp tư bản
II Vai trò lợi nhuận ở Việt Nam
Trước tình trạng nền kinh tế suy giảm trong giai đoạn trước năm 1986 và dựa trên sự đánh giá một cách khách quan, đúng đắn quá trình cải tạo kinh tế trong giai đoạn trước đổi mới, Đảng ta chủ trương phải sửa đổi, định hướng lại phương thức tiến hành quá trình cải tạo XHCN
Đảng ta đã quyết tâm sửa chữa, điều chỉnh cho phù hợp với nhận thức mới và thực tiễn của thời kỳ quá độ ở nước ta theo như Văn Kiện
Đại Hội Đảng Toàn Quốc lần thứ VI đã khẳng định:" Trong nhận thức cũng như trong hành động, chúng ta chưa thực sự
Trang 13thừa nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước ta còn tồn tại trong một thời gian tương đối dài, chưa nắm vững và vận dụng đúng quy luật về sự phù hợp giữa QHSX với tính chất
và trình độ của LLSX" Đại hội này cũng đánh dấu sự đổi mới trong nhận thức, đánh dấu cho sự bắt đầu giai đoạn đổi mới ở Việt Nam Với sự đổi mới trong nhận thức, Đảng ta đã nhận ra và từng bước khắc phục những nhận thức sai lầm trước kia Đặc biệt là,trên cơ sở có được những nhận thức đúng đắn, khoa học hơn về CNXH và con đường quá độ lên CNXH Đảng ta đã nhận thức, đánh giá lại về khái niệm lợi nhuận và vai trò động lực của nó trong giai đoạn hiện nay Ta
có thể thấy được điều đó qua một số biểu hiện sau:
Thứ nhất, cũng vẫn xét theo lý luận lợi ích, Đảng ta đã nhận thức được rằng muốn cho xã hội phát triển thì trước hết phải quan tâm đến những lợi ích mỗi con người, mỗi thành viên của xã hội đó trước đã Có nghĩa là, muốn cho xã hội phát triển thì trước hết phải tạo điều kiện cho từng con người, từng cá nhân phát triển thông qua việc sử dụng các lợi ích kinh tế thiết thân của họ như là một động lực trực tiếp cơ bản nhất, trước hết là, của mỗi cá nhân và sau đó là động lực cho
sự phát triển của toàn xã hội
Thứ hai, nói đến những nhận thức về CNXH và các đặc trưng của nó, Đảng ta đã nhận thức rõ hơn rằng do điều kiện hoàn cảnh của mỗi nước trong giai đoạn quá độ lên CNXH là khác nhau và khác nhiều so với trong lý luận của CN Mác-LêNin cho nên yêu cầu đặt ra là mỗi nước, trong giai đoạn quá độ ở nước mình,phải biết vận dụng những lý luận của
CN Mác-LêNin về CNXH và con đường đi lên CNXH cũng như vận dụng những kinh nghiệm thành công của các nước khác một cách hợp lý sao cho phù hợp với hoàn cảnh của từng nước
- Thêm vào đó, đi đôi với việc xây dựng QHSX mới là việc xác lập lại một cơ chế quản lý thích hợp Đảng ta đã khẳng