1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tại sao nói hàng hóa sức lao động là hàng hóa đặc biệt

12 3,4K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 29,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trang 1

Câu 1 Tại sao nói hàng hóa sức lao động là hàng hóa đặc biệt Trả lời:

Hàng hóa sức lao động là hàng hóa đặc biệt vì :

Thứ nhất , trong những điều kiện lịch sử nhất định , sức lao động

được coi như là một hàng hóa.Có hai điều kiện, đó là: người có sức lao động phải được tự do về thân thể, làm chủ được sức lao động của mình và có quyền bán sức lao động như một hàng hóa ; bên cạnh đó, người có sức lao động phải bị tước đoạt hết mọi tư liệu sản xuất, nên buộc phải bán sức lao động để tồn tại Với hai điều kiện này , sức lao động tất yếu trở thành hàng hoá

Theo C.Mác:” Sức lao động , đó là toàn bộ các thể lực và trí lực ở trong thân thể một con người, trong nhân cách sinh động của con người , thể lực và trí lực mà con người phải làm cho hoạt động để sản xuất ra những vật có ích” Do đó sức lao động có hai thuộc tính cơ bản của một hàng hóa, đó là giá trị và giá trị sử dụng

Về giá trị hàng hóa sức lao động: Giá trị của hànghoá là một

thuộc tính của hàng hoá, đó chính là lao động hao phí của người sản xuất để sản xuất ra nó đã được kết tinh vào trong hàng hoá.Để hiểu khái niệm này, phải đi từ sự trao đổi và giá trị trao đổi.Giá trị trao đổi là một quan hệ về số lượng, là tỉ lệ theo đó một giá trị sử dụng loại hàng hoá này được trao đổi với một giá trị sử dụng khác Ví dụ 1 m vải có thể đổi được 4 kg gạo Gạo và vải, tại sao lại trao đổi được với nhau, hơn nữa lại trao đổi được theo một tỉ lệ nhất định như vậy, rõ ràng nó phải có một cơ sở chung, đó không phải là giá trị sử dụng của chúng vì vải và gạo có giá trị sử dụng hoàn toàn khác nhau, cái chung đó là cả vải và gạo đều là sản phẩm của lao động, do lao động (thời gian lao động và công sức lao động) được chứa đựng trong hàng hoá, đó chính là cơ sở giá

Trang 2

trị của hàng hoá.Đây là khái niệm được khẳng định trong các giáo trình kinh tế chính trị Nếu xét nó trên quan điểm của trường phái hiệu dụng biên thì vẫn đạt được lý lẽ hoàn chỉnh Theo đó, đối tượng chung của nhu cầu có trong các cá nhân khác nhau vẫn đảm bảo cơ sở cho trao đổi Ví dụ: nhu cầu ăn và mặc có trong hai cá nhân A và B, trong lúc A sở hữu áo và B sở hữu gạo thì nhu cầu chung kia sẽ tạo tiền đề cho trao đổi, tỷ lệ trao đổi tùy thuộc rất nhiều yếu tố: vị thế, độ bức xúc nhu cầu, thói quen tâm lý, quy định xã hội v.v., vì thế tỷ lệ trao đổi sẽ là ngẫu nhiên nhưng mang tính ổn định nhất định Về tổng thể, ta nhận thấy sức lao động cũng như thế, là một sản phẩm có được từ lao động của con

người, và được đo bằng thời gian lao động Bởi sức lao động chỉ tồn tại như năng lực sống của con người nên không thể tự sinh ra, muốn tái sản xuất ra nó , người công nhân phải tiêu dùng một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định về ăn , mặc, ở, học nghề Hơn nữa anh ta cũng cần phải thỏa mãn những nhu cầu của gia đình và con cái Để thực hiện tất cả các mục đích ấy, anh ta cần phải được chủ doanh nghiệp trả lương bằng cách lao động và tạo ra những sản phẩm xã hội yêu cầu Những sản phẩm này thực chất chính là những tư liệu sinh hoạt mà anh ta và gia đình sử dụng trong cuộc sống hằng ngày Cho nên thời gian lao động xã hội cần thiết để tái sản xuất sức lao động sẽ được quy thành thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt ấy

Về giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động: Gía trị sử dụng của

một vật phẩm là tính chất có ích, công dụng của vật thể đó có thể thoả mãn một nhu cầu nào đó cho việc sản xuất hoặc cho sự tiêu dùng cá nhân Một vật thể có thể có nhiều giá trị sử dụng Ví dụ một con dao dùng để cắt nên giá trị sử dụng của nó là để cắt Tuy nhiên, ở những tình huống nhất định nó có thể dùng vào những việc khác như làm một vũ khí để chiến đấu, khi đó giá trị sử dụng của nó là loại vũ khí để chiến đấu Giá trị sử dụng được quyết định

Trang 3

bởi những thuộc tính tự nhiên và những thuộc tính mà con người hoạt động tạo ra cho nó.Cũng giống bất cứ một hàng hóa nào đó, sức lao động là hàng hóa có thể thỏa mãn nhu cầu của con người thông qua trao đổi mua bán Bởi vì bất cứ hoạt động sản xuất nào cũng cần phải có sức lao động mới tạo ra được sản phẩm, cho dù khoa học công nghê phát triển và máy móc , trang thiết bị ngày một tiên tiến, sức lao động vẫn lá yếu tố không thể thiếu Với sức lao động của mình, người công nhân làm thuê cho các chủ doanh nghiệp để tạo ra thu nhập, còn chủ doanh nghiệp mua sức lao động nhằm sản xuất hàng hóa và thu về lợi nhuận Sức lao động

đã thỏa mãn nhu cầu của cả hai bên thông qua hoạt động mua bán Điều này cũng thể hiện giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động Như vậy, sức lao động chính là một hàng hóa với hai thuộc tính cơ bản của nó, thỏa mãn điều kiện “ là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi mua bán”

Thứ hai, hàng hóa sức lao động là hàng hóa đặc biệt vì nó

có hai điểm khác biệt so với hàng hóa thông thường, biểu hiện ở hai thuộc tính :

Giá trị hànghóa sức lao động còn bao hàm cả yếu tố tinh thần và

lịch sử, trong khi hàng hóa thông thường không có Bởi người công nhân luôn có những nhu cầu về vật chất và tinh thần , văn hóa Những nhu cầu đó phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử của mỗi nước ở từng thời kì , đồng thời phụ thuộc cả vào các yếu tố như điều kiện địa lý, khí hậu của nước đó

Tuy giá trị hàng hóa sức lao động bao hàm yếu tố tinh thần và lịch sử, nhưng đối với mỗi nước nhất định và trong một thời kì nhất định, thì quy mô những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho người lao động là một đại lượng nhất định, do đó có thể xác định được

Trang 4

lượng giá trị hàng hóa sức lao động do những bộ phận sau đây hợp thành:

Một là, giá trị những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết để tái sản xuất sức lao động, duy trì đời sống của bản thân người công nhân

Hai là, phí tổn đào tạo người công nhân

Ba là, giá trị những tư liệu sinh hoạt vật chất và tinh thần cần thiết cho con cái người công nhân

Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động cũng chỉ thể hiện ra

trong quá trình tiêu dùng sức lao động, tức là quá trình lao động của người công nhân Tuy nhiên quá trình sử dụng hay tiêu dùng hóa sức lao động khác với quá trình tiêu dùng hàng hóa thông thường ở chỗ: hàng hóa thông thường sau khi tiêu dùng hay sử dụng thì cả giá trị và giá trị sử dụng đều bị tiêu biến mất theo thời gian Trái lại, quá trình tiêu dùng hàng hóa sức lao động lại là quá trình sản xuất ra các hàng hóa khác, đồng thời là quá trình sáng tạo ra giá trị mới Mục đích của nhà tư bản là muốn giá trị mới được sáng tạo ra phải lớn hơn giá trị sức lao động và thực tế việc nhà tư bản tiêu dùng sức lao động thông qua hoạt động lao động của người công nhân đã hàm chứa khả năng này Phần lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư mà nhà tư bản sẽ chiếm đoạt Như vậy, giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động có tính chất đặc biệt khi vừa là nguồn gốc sinh ra giá trị vừa có thể tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó Cũng từ đặc tính này đã làm cho sự xuất hiện của hàng hóa sức lao động trở thành điều kiện để tiền tệ chuyển hóa thành tư bản

Từ hai điều trên có thể kết luận rằng hàng hóa sức lao động là hàng hóa đặc biệt

Trang 5

Câu 2: So sánh giữa tư bản bất biến, tư bản khả biến, tư bản cố định và tư bản lưu động Và nêu ý nghĩa của việc nghiên cứu đó

1. So sánh các loại tư bản:

• Sự giống nhau: các loại tư bản này đều có chung nguồn gốc, đó là số tiền nhà tư bản đầu tư ra để sản xuất kinh doanh Nói cách khác , chúng đều là những giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột không công của công nhân làm thuê

• Sự khác nhau:

Tư bản

bất biến

(TBBB)

Tư bản khả

biến(TBKB )

Tư bản cố định(TBCĐ) Tư bản lưu động(TBLĐ

) Căn cứ

để

phân

chia

Dựa vào

vai trò

khác nhau

của các

bộ phận

của tư

bản trong

quá trình

sản xuất

ra giá trị

thặng dư,

từ đó chỉ

rõ bản

chất bóc

lột của

chủ nghĩa

tư bản

Dựa vào vai trò khác nhau của các bộ phận của tư bản trong quá

trình sản xuất ra giá

trị thặng dư

Dựa vào phương thức chuyển dịch giá trị khác nhau của từng bộ phận tư bản trong quá trình sản xuất

Dựa vào phương thức chuyển dịch giá trị khác nhau của từng bộ

phận tư bản trong quá trình sản xuất

Hình

thức

Tồn tại

dưới hình

Tồn tại dưới hình

Là bộ phận chủ yếu của tư

Là một phần của tư bản

Trang 6

tồn tại thức tư

liệu sản

xuất như

nhà

xưởng ,

máy

móc(C1) ;

và

nguyên

liệu, vật

liệu(C2)

thức của sức lao động

bản bất biến nên tồn tại dưới hình thức

tư liệu sản xuất như máy móc, thiết bị, nhà

xưởng(C1)

bất biến nên tồn tại dưới hình thức nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu phụ(C2); và

tư bản khả biến , tức là mang hình thức của sức lao động Giá trị,

sự thay

đổi và

thời

gian

chu

chuyển

giá trị

vào

sản

phẩm

Ở hình

thức tư

liệu sản

xuất,

TBBB

được sử

dụng toàn

bộ vào

quá trình

sản xuất

nhưng chỉ

hao mòn

dần , do

đó giá trị

của nó

được

chuyển

dần vào

sản phẩm

Ở hình

thức

nguyên

liệu, vật

Một mặt, giá trị của nó biến thành các tư liệu sinh hoạt của người công nhân, và

mất đi trong tiêu dùng của họ Mặt khác,trong quá trình sx xét về mặt lao động trừu tượng, công nhân tạo ra giá trị

lớn hơn, không chỉ

bù đắp sức lao động mà còn có

Tham gia tòan bộ vào quá

trình sản xuất, nhưng giá trị

của nó được chuyển dần từng phần qua nhiều chu kỳ sản xuất theo mức độ hao mòn của nó

trong thời gian sản xuất đó

Về hiện vật, nó luôn cố định trong quá

trình sản xuất, chỉ có giá trị

tham gia vào quá trình lưu thông cùng sản phẩm, hơn nữa nó chỉ lưu

Giá trị của nó được tiêu dùng hoàn toàn trong một chu kỳ sản xuất và được chuyển toàn bộ vào giá trị sản phẩm trong quá trình sản xuất Nếu TBCĐ muốn chu chuyển hết giá trị của nó phải mất nhiều năm, thì tư bản lưu động trong một năm giá trị của nó có thể chu

Trang 7

liệu, nó bị

tiêu hao

toàn bộ

khi sử

dụng nên

toàn bộ

giá trị của

nó được

chuyển

ngay vào

giá trị sản

phẩm.Nh

ư vậy,

trong quá

trình sx,

giá trị của

TLSX

được lao

động cụ

thể của

người

công

nhân

chuyển

vào Sản

phẩm

mới,

lượng giá

trị của

chúng

không

đổi

giá trị thặng

dư Điều đó

cho thấy, tư bản khả

biến đã làm tăng giá trị

của nó

trong quá

trình sản xuất, bộ

phận tư bản dùng để

mua sức lao động đã không ngừng chuyển hóa

từ đại lượng bất biến thành một đại lượng khả biến, tức là đã tăng lên về

lượng trong quá trình sản xuất

thông từng phần, còn một phần vẫn bị cố định trong tư liệu lao động, phần này không ngừng giảm xuống cho tới khi nó

chuyển hết giá

trị vào sản phẩm Chính

do đặc điểm này mà thời gian mà

TBCĐ chuyển hết giá trị của nó vào sản phẩm bao giờ

cũng dài hơn thời gian một vòng tuần hoàn

chuyển nhiều lần hay nhiều vòng cho nên tư bản lưu động chu chuyển nhanh hơn

tư bản cố định về mặt giá trị

Các

yếu tố

Tư bản

bất biến

Tư bản khả

biến là

Tư bản cố định được sử

Tốc độ chu chuyển

Trang 8

khác là điều

kiện tạo

ra giá trị

thặng dư

nguồn tạo

ra giá trị

thặng dư

dụng lâu dài trong quá trình sản xuất và bị

hao mòn dần trong quá trình sản xuất .Có

hai loại hao mòn là hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình: Hao mòn hữu hình là

hao mòn về

vật chất do quá trình sử

dụng hoặc do bị phá huỷ của tự nhiên làm cho tư bản cố định giảm về

giá trị và giá

trị sử dụng tới chỗ hỏng và

phải thay thế

Hao mòn vô hình là hao mòn thuần túy về giá trị do ảnh hưởng của sự tiến bộ

khoa học - công nghệ

TBLĐ tăng lên sẽ làm tăng lượng TBLĐ được sử dụng trong năm,

do đó tiết kiệm được

TB ứng trước Tốc độ chu chuyển TBLĐ (bộ phận TB khả biến) làm cho tỷ suất giá trị thặng

dư hằng năm tăng lên (M’)

2. Ý nghĩa của việc nghiên cứu:

Trang 9

Từ nghiên cứu, ta hiểu rõ bản chất, sự giống nhau, khác nhau, nguồn gốc các tư bản, cũng như phạm vi của chúng Ta thấy

chúng giống nhau là có chung nguồn gốc, đó là số tiền nhà tư bản đầu tư ra đểsản xuất kinh doanh, nhưng chúng khác ở chỗ cách thức phân chia sử dụng đồng tiền Do đó nếu tư bản bất biến là C gồm C1 tài sản cố định và C2: những nguyên vật liệu thì tư bản cố định chỉ là C1 mà thôi Do đó tư bản cố định là một bộ phận của

tư bản bất biến tức là tư bản cố định sẽ nhỏ hơn tư bản bất biến Trong khi đó tư bản khả biến dùng để mua nguyên vật liệu tức là C2 và toàn bộ tư bản khả biến V, vì vậy tư bản lưu động có một bộ phận thuộc tư bản bất biến và một bộ phận tư bản khả biến, do đó tư bản lưu động lớn hơn tư bản khả biến

Ngiên cứu các loại tư bản này giúp ta hiểu được ý nghĩa của sự phân

chia chúng :

Một là, việc phân chia tư bản thành tư bản bất biến (C) và tư bản khả biến (V), từ đó hiểu rõ bản chất của hai loại tư bản này, càng vạch rõ nguồn gốc của giá trị thặng dư là do lao động làm thuê bị nhà tư bản chiếm đoạt.Trong đời sống thực tế, người ta thấy doanh nghiệp sử dụng máy móc và công nghệ hiện đại thì nâng cao năng suất lao động, nhờ đó thu được lợi nhuận nhiều Điều đó, gây cảm nghĩ sai lầm là máy móc cũng tạo ra giá trị thặng dự Nhưng sự thật, việc sử dụng máy móc thiết bị hiện đại như thế nào đi chăng nữa, cũng chỉ là lao động chết, giá trị của nó cũng chỉ được chuyển đủ vào sản phẩm Muốn có giá trị thặng dư, phải bóc lột lao động sống Phương tiện hiện đại chỉ có vai trò tăng sức sản xuất của lao động Như vậy, tư bản bất biến (C) chỉ là điều kiện, còn tư bản khả biến (V) mới là nguồn gốc tạo ra giá trị thặng dư

Trang 10

Hai là, việc phân chia tư bản thành tư bản cố định và tư bản lưu động không phản ánh được nguồn gốc sinh ra giá trị thặng dư, nhưng lại có ý nghĩa quan trọng trong quản lý kinh tế, cụ thể là việc tổ chức quản lý sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng tư bản, nó là cơ sở quản lý vốn cố định, vốn lao động hiệu quả Đặc biệt, với sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, sự đổi mới tiến bộ của máy móc diễn ra nhanh chóng thì việc giảm tối đa hao mòn tư bản cố định nhất là hao mòn tài sản vô hình đòi hỏi đặt ra đối với khoa học và quản lý kinh tế, đồng thời là đòi hỏi bức xúc hiện nay ở nước ta

Như vậy, nghiên cứu và hiểu rõ sự phân chia tư bản, cũng như bản chất các loại tư bản có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với lí luận và thực tiễn

Ngày đăng: 20/05/2016, 16:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w