1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng chính trị platon qua tác phẩm nền cộng hòa và ý nghĩa lịch sử của nó

174 1,3K 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 174
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dầu có những hạn chế về thế giới quan và quan điểm nhân sinh, xã hội, song ông được các nhà nghiên cứu xem như một bộ óc lớn của thời đại, nhiều vấn đề do ông nêu ra đến nay tiếp tục

Trang 1

-oOo -

NGUYỄN THỊ THANH THỦY

TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ PLATON QUA TÁC PHẨM NỀN CỘNG HÒA VÀ Ý NGHĨA

LỊCH SỬ CỦA NÓ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

Chuyên ngành: Lịch sử Triết học

Thành phố Hồ Chí Minh – 2012

Trang 2

-oOo -

NGUYỄN THỊ THANH THỦY

TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ PLATON QUA TÁC PHẨM NỀN CỘNG HÒA VÀ Ý NGHĨA

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đề cập quy luật về tính kế thừa trong sự phát triển tư tưởng, Ph Ăngghen viết: “tư duy lý luận chỉ là một đặc tính bẩm sinh dưới dạng năng lực của người ta mà có thôi Năng lực ấy cần phải được phát triển hoàn thiện,

và muốn hoàn thiện nó thì cho tới nay, không có một cách nào khác hơn là nghiên cứu toàn bộ triết học thời trước”[10, 487]

Trong tác phẩm Bút ký triết học V.I Lênin cũng đã vạch ra những

“vòng khâu” hay những vòng tròn xoáy ốc của lịch sử nhận thức V.I Lênin viết: “nhận thức của con người không phải là một đường thẳng, mà là một đường cong đi gần vô hạn đến một loạt những vòng tròn, đến một vòng xoáy ốc”.V.I Lênin [51, 385].

Nhận định của những nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin cho thấy việc nghiên cứu quá khứ để rút ra những bài học cho hôm nay thực sự có

ý nghĩa

Platon1 là một trong những nhà tư tưởng vĩ đại nhất thời cổ đại Tư tưởng chính trị của ông hình thành trong điều kiện khủng hoảng của nền dân chủ chủ nô, sự gia tăng căng thẳng và xung đột xã hội, sự mất phương hướng của con người trong đời sống tinh thần Vì thế, tư tưởng triết học – chính trị của ông một mặt phản ánh lập trường của quý tộc chủ nô, mặt khác gợi mở những giải pháp vượt qua tình trạng hiện có, vươn đến các giá trị tốt đẹp trong cuộc sống

Dưới hình thức duy tâm, ông phát triển tư tưởng của Socrates, xây dựng những nền tảng vững chắc của ý thức con người Ông có công lớn trong việc nghiên cứu các vấn đề của ý thức xã hội, khẳng định vai trò to lớn của nó

1 Bản tiếng Anh dịch thành Plato, song chúng tôi để nguyên cách phiên âm ra tiếng Latin là Platon (từ nguyên Hy Lạp: Πλάτων, phiên ra tiếng Latin: Plátōn)

Trang 4

trong việc hình thành nhân cách và ý thức cá nhân con người Đồng thời bước đầu ông xây dựng những nền tảng của các khái niệm, phạm trù và tư duy lý luận nói chung Mặc dầu có những hạn chế về thế giới quan và quan điểm nhân sinh, xã hội, song ông được các nhà nghiên cứu xem như một bộ óc lớn của thời đại, nhiều vấn đề do ông nêu ra đến nay tiếp tục được tìm hiểu, đánh giá, rút ra những bài học bổ ích cho quá trình hoàn thiện các chuẩn mực, giá trị xã hội

Tư tưởng chính trị chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống tư tưởng của

vấn đề nhà nước, hay chế độ chính trị lý tưởng được nhiều nhà tư tưởng đề cập, thể hiện khát vọng của nhân loại hướng đến một không gian xã hội tốt đẹp, thay thế cho cái đang tồn tại

Là nhân chứng của những biến cố lịch sử phức tạp tại Hy Lạp, gắn liền với những thăng trầm của nền dân chủ chủ nô, Platon đã đưa vào các tác phẩm của mình tâm trạng và khát vọng của người Hy Lạp, suy tư của triết gia

về sự cần thiết cải tổ đời sống xã hội vì mục tiêu nhân văn, khai sáng Do định kiến giai cấp và điều kiện lịch sử trong khuôn khổ chế độ chiếm hữu nô

lệ, một số quan điểm của ông, trong đó có quan điểm chính trị, chứa đựng những yếu tố không tưởng và bảo thủ Song, như một tất yếu của sự phát triển

tư tưởng, những vấn đề mà ông nêu ra, cùng với các tên tuổi của thế giới cổ đại phương Tây như Solon, Pericles, Socrates, Democritos, Aristoteles, Polybius, đã tạo nên điểm xuất phát của lịch sử tư tưởng chính trị phương Tây

Tác phẩm c h hình thành vào giai đoạn phát triển rực rỡ của

tư tưởng triết học Platon Tác phẩm này được xem như một trong những công

Trang 5

trình tiêu biểu về chính trị3 của Platon, trong đó chứa đựng cách tiếp cận về các vấn đề chính trị, xã hội sau hơn nửa thế kỷ sụp đổ của nền dân chủ Athenes Cái chết của Pericles (429 TCN), sự bất ổn trong nội bộ những người đứng đầu Athenes, sự mệt mỏi và tâm trạng bất an của dân chúng, những mâu thuẫn xã hội gay gắt và hàng loạt yếu tố khác đã khiến cho nền dân chủ chủ nô - sự thể nghiệm đầu tiên mô hình nhà nước dân chủ đi đến cáo chung

Vấn đề chính trị - xã hội trong công trình của các nhà tư tưởng Hy Lạp,

La Mã cổ đại chứng tỏ rằng bất kỳ hệ thống triết học, chính trị nào cũng đều

là sản phẩm của thời đại, chịu sự chi phối của những điều kiện lịch sử - xã hội của thời đại ấy C Mác từng khẳng định: “Mọi triết học chân chính đều là tinh hoa về mặt tinh thần của thời đại mình”[12, 157] Có người hiểu “triết học chân chính” một cách đơn giản và mang nặng tính định kiến về mặt thế giới quan, song theo chúng tôi, nhận định ấy của C Mác càng cho thấy triết học, với tính cách là sáng tạo của tư duy con người trong quá trình hoàn thiện đời sống xã hội, là một phần sống động của văn hóa, là linh hồn sống của văn hóa Nhận định của C Mác trong trường hợp này không gắn giá trị của một

hệ thống triết học với một lực lượng xã hội, mà với toàn bộ dòng chảy của lịch sử, trong đó sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là động lực của phát triển Triết học của Socrates, Platon, Aristoteles và nhiều tên tuổi lớn khác của thế giới cổ đại phương Tây là một phần của kho báu tư duy nhân loại

Tư tưởng chính trị của Platon một mặt phản ánh lập trường chính trị của giới quý tộc chủ nô, mong muốn thay thế chế độ dân chủ sơ khai, với tất

cả những thành quả và hạn chế của nó trong hơn nửa thế kỷ tồn tại bằng một chế độ chính trị kết hợp cái tốt đẹp thuộc về dĩ vãng và những mặt tích cực của quả đầu chính trị theo mô hình Sparte; mặt khác bày tỏ khát vọng của

3

Mặc dù, cũng như các tác phẩm khác, c h không bàn về những vấn đề chính trị thuần tuý, mà

chứa đựng các yếu tố bản thể luận, nhận thức luận

Trang 6

người Hy Lạp trong việc tìm kiếm hình mẫu lý tưởng của thiết chế chính trị, với nguyên tắc hàng đầu là công bằng, đồng thời gắn với nó là tính trật tự, nghiêm minh và ổn định

Tác phẩm c h và một số tác phẩm đối thoại khác như t

h , h h tr , Critias, Timaeus là những tác phẩm điển hình của tư tưởng

chính trị Platon Ngoài ra tư tưởng chính trị cũng được bàn đến ở những mức

độ khác nhau trong nhiều đối thoại khác, chẳng hạn Phedon (Phaedo),

Sophist… Dưới hình thức đối thoại, những tác phẩm ấy đã thể hiện quan

điểm chính trị cơ bản của Platon, thống nhất với thế giới quan và nhận thức

luận của ông Tác phẩm c h được hình thành nhằm giải đáp câu

hỏi: thế nào là một nhà nước hoàn thiện, hay nhà nước lý tưởng Câu trả lời nằm ở nguyên tắc xuyên suốt của nhà nước là nguyên tắc công bằng Sự cụ thể hóa lời đáp ấy đã được Platon phân tích sâu sắc trong hàng loạt các vấn đề

có mối liên hệ hữu cơ với nhau, đó là: phân công lao động và phân tầng xã hội, chủ thể quyền lực và tổ chức đời sống, sở hữu và gia đình, giáo dục và nghệ thuật Tất cả đều hướng đến kiểu nhà nước tốt đẹp, vượt qua những kiểu nhà nước khác, mà theo Platon, đều ít nhiều vi phạm tính công bằng Có thể tìm thấy mối liên hệ giữa học thuyết về ý niệm và học thuyết về nhà nước

của Platon trong c h Tương tự như vậy đối với vấn đề phẩm chất

công dân và phẩm chất nhà nước, phân chia linh hồn và phân tầng xã hội Tác

phẩm h h tr (Πολιτικός, phiên ra tiếng Latinh “Politikos”) đề cập tư cách

nhà chính trị, vấn đề quyền lực, mối quan hệ giữa luật pháp và nghệ thuật,

các hình thức cai trị hoàn thiện và không hoàn thiện Tác phẩm t h đề

cập vấn đề lập pháp, tổ chức nhà nước lý tưởng vấn đề nghĩa vụ, giáo dục và lối sống công dân, quan hệ công dân, vấn đề tội phạm và trừng phạt, vấn đề tôn giáo, và cuối cùng là vấn đề bảo vệ luật pháp Thị quốc thù địch với Athenes là Atlantis hùng mạnh và kiêu ngạo được Platon nhắc đến trong

Critias và Timaeus

Trang 7

Tư tưởng chính trị của Platon hình thành vào thời kỳ khủng hoảng của nhà nước Athenes, nơi mà những thành công vĩ đại của nó trong chiều dài nhiều thế kỷ, với đỉnh cao là nền dân chủ chủ nô, không thể che mờ những bất cập và mâu thuẫn, những điều dẫn đến sự khủng hoảng không thể vượt qua Vì l đó, trong tư tưởng chính trị của mình Platon đã phê phán các kiểu nhà nước không chân chính, trong đó có nền dân chủ Sự phê phán này xuất phát từ lập trường của quý tộc chủ nô, song đã để lại nhiều bài học quý giá cho các thời đại sau

Tư tưởng chính trị, đạo đức làm nổi bật hai hình ảnh trái ngược nhau của Platon – Platon như nhà nhân văn, nhà khai sáng, và Platon như người

mở đường cho chủ nghĩa bảo thủ trong chính trị Mô hình nhà nước của ông thực chất là sự thụt lùi về quan điểm chính trị, vì ông đã lấy cái quá khứ làm hình mẫu cho tư tưởng chính trị của mình, mà không nhìn vào tương lai, để hiểu rằng nhân loại s đi trên con đường tiến bộ, gắn nguyên tắc công bằng

mà ông hằng ấp ủ với tự do, dân chủ và văn minh

Nếu tác phẩm c hòa tập trung làm r mô hình nhà nước lý tưởng dựa trên nguyên tắc công bằng, t h và h h tr làm sâu sắc thêm nghệ thuật quyền lực, thì Critias và Timaeus, với cách thể hiện sinh động của một nhà nước kiểu mẫu về sự hùng mạnh là Atlantis, lại mô tả sức

mạnh của nhà nước trong cách tổ chức và hoạt động của nó Nói khác đi, hai

tác phẩm sau cùng là sự triển khai tinh thần của tác phẩm c hòa,

nhưng dưới hình thức đối chiếu, vì ở đây Platon so sánh Athenes trên thực tế với Atlantis trong tưởng tượng Song, chính điều đó đã khiến cho mô hình

nhà nước lý tưởng của Platon trở nên sinh động Các tác phẩm c hòa,

h h tr , t h , Critias, Timaeus và những tác phẩm khác có chứa đựng

tư tưởng chính trị của Platon đều làm nổi bật hình ảnh Platon như người tha thiết với lý tưởng chính trị tốt đẹp Tiếc thay, do điều kiện lịch sử chi phối mà

Trang 8

cách tiếp cận của Platon còn mang tính chất không tưởng, đôi ch rơi vào quan điểm bảo thủ chính trị

Cùng với khía cạnh thế giới quan và nhận thức luận, tư tưởng chính trị Platon để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử tư tưởng nhân loại, từ thời cổ đại, trung cổ, cận đại, và đến tận hôm nay vẫn tiếp tục gợi lên những suy nghĩ khác nhau về mô hình nhà nước lý tưởng, vấn đề chủ thể quyền lực, tổ chức đời sống xã hội, quan điểm về sở hữu và giáo dục… Ngay sau loạt tác phẩm

của Platon, chúng ta lại biết đến các tác phẩm h h tr và c học

ic c của Aristoteles, và tư tưởng chính trị của nhiều triết gia, sử gia Hy

Lạp, La Mã như Polybius, khoảng 2 – TCN), các nhà khắc kỷ, đặc biệt

là Cicero ( – 43 TCN) Tư tưởng chính trị Platon được tiếp tục nhắc đến,

kế thừa hoặc phê phán ở các thời đại sau qua St.Augustine, Thomas Aquinas, chủ nghĩa nhân văn Phục hưng, Bacon, Hobbes, Kant, Fichte, Hegel, và sau cùng là các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin và thế giới phương Tây hiện đại Đó là minh chứng về giá trị và ý nghĩa lịch sử của tư tưởng chính trị Platon

Mặc dù không tránh khỏi hạn chế do điều kiện lịch sử chi phối, nhưng những vấn đề của tư tưởng chính trị mà các tác phẩm của Platon đặt ra có ý nghĩa thực sự đối với chúng ta Tình yêu lý tưởng một cách tha thiết, ước muốn về một không gian xã hội đồng thuận và ổn định dựa nguyên tắc công

bằng, với một c h đặc trưng theo cách hiểu của Platon, nơi quyền

lực tập trung vào tay những người tiêu biểu cho trí tuệ của quốc gia, kết hợp với các hình thức quyền lực đã có như quân chủ, quý tộc, quả đầu chính trị (đầu sỏ, hoạt đầu), nhằm đảm bảo ổn định và trật tự của nhà nước, dựa trên nguyên tắc xuyên suốt là công bằng, với hình ảnh Atlantis hùng mạnh trong

Timaeus và Critias, với “nghệ thuật quyền lực” trong h h tr và t h ,

tất cả đều là những gợi mở đáng trân trọng của Platon cho mai sau

Trang 9

Với sự cần thiết tìm hiểu tư tưởng chính trị Platon, qua đó làm r mối liên hệ lịch sử giữa quá khứ và hiện tại, rút ra những vấn đề, những bài học cho quá trình hoàn thiện nhà nước, phát triển xã hội trong điều kiện hiện nay,

nghiên cứu sinh chọn “Tư tưởng chính trị Platon qua tác phẩm Nền cộng

Trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam, chúng ta một mặt kế thừa những tinh hoa và kinh nghiệm lịch sử của nhân loại trên nền tảng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó có những yếu tố tích cực của tư tưởng chính trị phương Đông

và phương Tây cổ đại, tư tưởng pháp quyền của phương Tây cận đại, mặt khác rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu của lịch sử, kể cả những bài học “phản diện”, để vượt qua thách thức, khó khăn, hướng đến mục tiêu “dân

giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” Tìm hiểu “ c

hòa” tỏ ra bổ ích, thiết thực, bởi l thông qua những đánh giá có tính phê

phán của Platon đối với nền dân chủ Athens, thiêt lập mô hình nhà nước lý tưởng, Platon đã gửi đến chúng ta một thông điệp sau đây: một nhà nước vững mạnh trước hết phải vững mạnh ở hệ thống chính trị, ở việc hiện thực hóa các giá trị dân chủ, nhân văn, không biến dân chủ thành trò chơi chính trị của giới cầm quyền, ở sự đồng thuận xã hội và sự ổn định Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và

vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Giữa chúng ta và Platon có một khoảng cách lịch sử khá xa, ngót hơn 25 năm, và có những khác biệt

về chất trong nhận thức và hoạt động thực tiễn Tuy nhiên quy luật kế thừa tư tưởng chỉ ra mối liên hệ lịch sử giữa quá khứ và hiện tại, giữa những vấn đề của truyến thống với các chuẩn mực, lý tưởng của hôm nay Tìm hiểu vấn đề nguồn gốc và và hình thức nhà nước, thái độ của Platon đối với nền dân chủ đang bị suy thoái, vấn đề chủ thể quyền lực, phân tầng xã hội, tổ chức đời

sống chính trị, vấ đề sở hữu, giáo dục, được thể hiện trong tác phẩm N n

Trang 10

c h , chúng ta có thể rút ra nhiều điều thiết thực trong quá trình xây

dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Tư tưởng triết học nói chung, và tư tưởng chính trị Platon nói riêng luôn là đề tài thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Ngoài các tác phẩm của Platon đã được dịch ra nhiều thứ tiếng, trong

đó có tiếng Việt, việc tìm hiểu tư tưởng của Platon nói chung, tư tưởng chính trị nói riêng được quan tâm sâu sắc m theo các bản dịch là những bài giới

thiệu về tư tưởng Platon iêng trong tư tưởng chính trị, tác phẩm c

hòa được tìm hiểu nhiều nhất do tính chất điển hình của nó so với các tác

(Hùng Nguyên Nguyễn Ngọc Huy, Cấp tiến xuất bản, Sài gòn, 97 ) hay Lê

Tôn Nghiêm với “ ch ử triết học ây hươ – thời kỳ kh i yê triết lý

Hy ” (Lá Bối, Sài gòn, 97 ); và “ riết học thời hượ cổ và r cổ”

(Lá Bối, Sài Gòn, 973); Mặc Đ với công trình hầ hâ và thầ th i Tây

hươ (cơ sở Trương Vĩnh ý xuất bản); hay Platon- Bữ tiệc (bản dịch từ

tiếng Pháp của Nguyễn Văn, 9 4) Nietzsche – riết lý Hy thời bi k ch

(Bản dịch Trần Xuân iêm, Nxb Tân An, Sài Gòn 1975); Lê Tôn Nghiêm – Socrates (ca dao - người dịch Hoài Khanh, Sài Gòn 1975) Cuốn sách â

tr yệ triết học4

của Will Durant (bản dịch của Trí Hải và Bửu Đích, Nha tu thư và sưu khảo, Viện Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn, 97 ) không chỉ là những câu chuyện thú vị về các triết gia và sự nghiệp của họ, mà còn chứa đựng những đánh giá sâu sắc về tư tưởng của họ Will Durant dành cho Platon sự

4 Có l do chịu ảnh hưởng của phuơng ngữ mà Trí Hải và Bửu Đích dịch “The story of philosophy” thành

“Câu tr yệ triết học”

Trang 11

quan tâm lớn về tư tưởng chính trị Lý giải về tính hai mặt của nền dân chủ, phân tích nguyên nhân khủng hoảng của nó, Durant viết: “…chính thể dân chủ tự hủy vì quá dân chủ Họ muốn rằng tất cả mọi người đều có quyền tham gia chính phủ và ấn định đường lối quốc gia Mới xem qua thì đó là một

lý tưởng quá tốt đẹp nhưng thực ra nó trở nên vô cùng nguy hiểm vì dân chúng không được giáo dục để có thể lựa chọn người tài giỏi ra cầm quyền và

ấn định đường lối thích hợp nhất” 5, 37] Hạn chế của nền dân chủ chủ nô, theo Durant, nằm ở bản chất của chính xã hội chiếm hữu nô lệ, với số đông dân chúng là nô lệ, chỉ rất ít người được gọi là công dân

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác cũng giành sự quan tâm đến triết

học Hy Lạp trong đó có Platon: Đó là các tác phẩm Bả thả Ki h tế - triết

học ă 1844 (C Mác); hố yrinh; Biệ ch củ tự hiê (Ph

Ăngghen), Bút ký triết học (V.I Lê-nin), trong đó có những nhận định, phân

tích của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lê nin, đó là định hướng và chỉ dẫn quý báu đối với nghiên cứu sinh trong việc đánh giá quá khứ và rút ra

bài học cho hôm nay trong công trình nghiên cứu của mình

Bên cạnh đó còn có những công trình nghiên cứu về tư tưởng chính trị

của Platon ở Việt Nam trong thời gian gần đây như tác phẩm; ch ử c c học

th yết ch h tr trê thế iới (Lưu iếm Thanh, Phạm Hồng Thái dịch, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà NộI, 1993); Vă học cổ iể Hy Homer - Anh

hùng ca Iliade, Hoàng Hữu Đản dịch (tập , Nxb Văn học, Hà Nội 1997);

hầ th i Hy L của Nguyễn Văn hỏa (Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội,

1998, 2 tập) riết học Hy ổ i của Đinh Ngọc Thạch (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1999); hay ch ử c c học th yết ch h tr (Doãn Chính và

Nguyễn Thế Nghĩa, Nxb hoa học xã hội, 999); Tìm hiểu một cách thận trọng những cách tiếp cận khác nhau của các tác giả nước ngoài như E.Bréhier, J.Burnet, Jaspers… Lê Tôn Nghiêm đã phân tích chân dung tư tưởng của Platon từ nhiều góc độ với tính cách là người hệ thống hóa và phát

Trang 12

triển tư tưởng Socrates trong điều kiện khủng hoảng của nền dân chủ chủ nô, nhấn mạnh vai trò của Platon trong việc hình thành quan điểm chính trị - xã

hội, mà tác phẩm c h là một sáng tạo tiêu biểu mang hình ảnh mô

phạm cao cả

Gần đây ở Việt Nam có khá nhiều tác giả viết về triết học Hy Lạp - La

Mã như Đặng Hữu Toàn, Đinh Ngọc Thạch, Hà Thúc Minh, Đ Minh Hợp, Nguyễn Tiến Dũng, Nguyễn Thanh, Trần Văn Phòng… Trong các chuyên khảo và bài viết của các tác giả trên có khá nhiều nhận định sâu sắc về Platon, nêu được những mâu thuẫn của tư tưởng chính trị Platon, so sánh ông với Aristoteles, ảnh hưởng của tư tưởng chính trị Platon đến các thời đại sau

riết học cổ i Hy của Hà Thúc Minh (Nxb Mũi Cà Mau, 99 )

phân tích khá sâu sắc và hệ thống tư tưởng chính trị, đạo đức của Platon, đánh

gia cáo quan niệm về công bằng…), ch ử triết học của Nguyễn Hữu Vui

(Nxb Chính trị uốc gia, Hà Nội, 99 ) Điểm đáng trân trọng của cuốn sách

là trình bày khái quát toàn bộ lịch sử triết học Đông – Tây, giúp NCS có điều

kiện so sánh, đối chiếu tư tưởng Platon với các tư tưởng khác riết học Hy

cổ i của Thái Ninh (Nxb Sách giáo khoa Mác – Lênin, Hà Nội, 9 7)

trong đó có phân tích một cách tổng thể tư tưởng của các triết gia cổ đại Trong đó tác giả dành hẳn chương VI để trình bày triết học Platon những

n t khái quát nhất, tác giả chỉ ra những điểm nhấn có ý nghĩa trong tư tưởng đạo đức và chính trị của Platon, với tư cách đại biểu của quý tộc chủ nô, nhưng đặt ra lý tưởng công bằng như một thông điệp của tiến bộ lịch sử

Các công trình nghiên cứu về triết học Hy Lạp, trong đó có triết học Platon trong và ngoài nước nêu trên đã đề cập đến hệ thống triết học Platon, trong đó phân tích tư tưởng chính trị của Platon, giúp cho người đọc có được những thông tin và nhận định quý báu về thời kỳ đầu của triết học phương Tây Song, những công trình đó tập trung chủ yếu vào tất cả các vấn đề của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại, mà Platon chỉ là một trong số những nhà triết

Trang 13

học được đề cập tới: vấn đề thế giới quan, vấn đề con người, đạo đức, thẩm

ra ở đây một vài công trình đã được dịch ra tiếng Việt

Bertrand Russel trong phần 2 cuốn ch ử triết học hươ ây”

(nguyên tác: History of Western philosophy, bản dịch sang tiếng Nga: История Западной философии и его связи с политическими и социальными условиями от античности до наших дней, Москва,

“Академический проект”, 2 ), có tựa đề “Socrates, Platon, Aristoteles”

đã đề cập không tưởng chính trị Platon, được thể hiện trong c hòa và

một số tác phẩm chính trị khác, đồng thời chỉ ra mối liên hệ từ Platon đến

Nhà triết học Anh C Popper dành hẳn

tập của X h i ở và hữ kẻ thù củ ó (Nguyên tác: The Open Society

and its Enemies Người dịch: Nguyễn uang A, 2 4 - 2 5, đối chiếu bản dịch tiếng Nga “Otkrytoe obsestvo I evo vragi, dvukh tomakh, Moscow, 1992) cho Platon, có tên “Ph p thuật Platon”, lấy Platon làm nhân vật trung tâm, xoay quanh là những tên tuổi khác như Heraclitus, Socrates… C Popper vạch ra tính thống nhất của tư tưởng Platon, làm r mối liên hệ giữa

ba tác phẩm lớn về chính trị, đó là c h , h h tr và t h , mối

liên hệ giữa tư tưởng chính trị Platon với những vấn đề của thế giới hiện đại

Trong ch ử triết học và c c l (Samuel Enoch Stumpf, Biên

dịch Đ Văn Thuấn, Lưu Văn Hy Nxb Lao động, Hà Nội, 2 4), tác giả S.E.Stumpf xem quan điểm về nhà nước của Platon là sự tiếp nối tư tưởng về

5

Xem Бертран Рассел: История Западной философии и его связи с политическими и социальными условиями от античности до наших дней, Москва, “Академический проект”, 2 cтp 113 - 122

Trang 14

thế giới, về đạo đức, và là “hình ảnh phóng đại của con người” Ông cũng nhấn mạnh rằng chính Platon là người đã xác lập “nghệ thuật quyền lực” trên

cơ sở hiểu biết về bản chất con người [79, 62 – 67]

Cuốn Hà h trì h cù triết học, do Ted Honderich chủ biên (Biên

dịch: Lưu Văn Hy Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2 ) dù chỉ dưới hình thức từ điển triết học, song cũng có những thông tin đáng chú ý, nhất là việc phân loại các tác phẩm của Platon theo ba thời kỳ - thời kỳ đầu, thời kỳ giữa,

thời kỳ cuối, trong đó c h được xếp vào các tác phẩm đối thoại thời

kỳ giữa [84, 849]

Đối thoại c hòa cũng được tác giả Stanley osen trong cuốn

riết học hâ i h (Biên dịch: Nguyễn Minh Sơn, Lưu Văn Hy, Nguyễn

Đức Phú Nxb Lao động, Hà Nội, 2 4) xem là một trong ba tác phẩm mẫu mực, thể hiện triết học nhân sinh Platon (cùng với “Gorgias” và “Bữa tiệc đêm”)

Lescuyer người dịch Bùi Ngọc Chương chương trình X 5- 2, Hà Nội, 1992) là một trong những công trình lớn về tư tưởng chính trị thế giới, trong

đó tư tưởng chính trị Hy Lạp – La Mã, sự phân loại tư tưởng chính trị dân chủ

và chống nền dân chủ, quan điểm không tưởng về chính trị của Platon được phân tích khá sâu sắc

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin dành sự quan tâm đáng

kể đến triết học Hy Lạp, trong đó có Platon Chính Ph Ăngghen đã viết:

“…từ các hình thức muôn hình muôn vẻ của triết học Hy Lạp, đã có mầm mống và đang nảy nở hầu hết tất cả các loại thế giới quan sau này” [7, 491]

Từ luận án tiến sĩ ( 4 ) đến những bài viết những năm 42 - 1844, các tác phẩm kinh tế những năm của C Mác, các công trình của Ph Ăngghen và

V.I Lênin như hố yrinh, Biệ ch củ tự hiê (Ph Ăngghen), hủ

hĩ d y v t và chủ hĩ ki h hiệ hê h , Bút ký triết học (V.I

Trang 15

Lênin) triết học Hy Lạp, trong đó có triết học Platon, được đánh giá một cách xác đáng và sâu sắc, trong đó có sự kết hợp hai cách tiếp cận - thế giới quan

và giá trị luận Những nhận định, phân tích của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin về lịch sử triết học phương Tây, mà triết học Hy Lạp cổ đại là điểm xuất phát, có ý nghĩa chỉ dẫn và định hướng quý báu đối với nghiên cứu sinh trong việc đánh giá quá khứ và rút ra bài học cho hôm nay trong chuyên

Cuối cùng, để đọc và hiểu tư tưởng chính trị của Platon trong tác phẩm

c hòa và một số tác phẩm khác, cần tiếp cận chính văn của tác phẩm

này Hiện nay, cùng với việc xuất bản thành những cuốn sách riêng hoặc

trong toàn tập Platon, đối thoại c h đã được phổ biến rộng rãi trên các phương tiện thông tin, nhất là trên mạng internet Tại Việt Nam c

hòa và t h đã được biên dịch ra tiếng Việt trong cuốn Platon chuyên khả của Benjamin Jowett & M.J night (Lưu Văn Hy và Trí Tri biên dịch,

Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2 ).Trong cuốn l t ối th i Socratis

1 (Nguyễn Văn hoa dịch, chú giải và dẫn nhập Nxb Tri thức, 2 ), nền

dân chủ Athenes được xác định từ 594 đến 322 TCN Dịch giả và nhà nghiên cứu Nguyễn Văn hoa nhắc đến những thăng trầm của nền dân chủ, những biểu hiện của trò chơi dân chủ với Hội nghị nhân dân (Nguyễn Văn hoa dịch là đại hội quôc dân) “sặc mùi rượu và có n t điên”, cái chết của Socrates

và sự phản ứng tất yếu đối với nền dân chủ đang sa đọa Chắc hẳn những biến

cố này ảnh hưởng không nhỏ đến các tác phẩm chính trị của Platon Ngoài ra,

cũng cần nói thêm rằng, do cuốn Platon ch yê khả được xuất bản ở Việt

Nam dưới hình thức biên dịch, nên chắc hẳn đôi ch người biên dịch đã thoát

Trang 16

khỏi nguyên bản để thể hiện cách diễn đạt của mình Do đó, để đảm bảo tính trung thực của văn bản, chúng tôi đối chiếu thêm một bản dịch từ tiếng gốc,

đó là bản dịch tiếng Nga, trong đó Πολιτεία” (phiên ra tiếng Latin là Politeia) được dịch thành hà ước Tương tự như vậy đối với tác phẩm t h và

các tác phẩm khác

Nhìn chung, những công trình vừa nêu đã đánh giá xác đáng những mặt tích cực và hạn chế của tư tưởng chính trị Platon, cũng như của triết học Platon nói chung

Việc phân tích các tác phẩm riêng biệt của Platon về chính trị là một việc không đơn giản, vì chúng được hình thành dưới hình thức đối thoại, và các chủ đề đôi khi đan xen nhau, khó tách biệt, từ bản thể luận đến quan điểm nhân sinh, xã hội Điều này chứng tỏ tính thống nhất tư tưởng của Platon, song lại buộc người đọc phải tách biệt các vấn đề nhằm làm nổi bật cái cốt l i nhất

hảo sát tình hình nghiên cứu về Platon cho thấy, việc tìm hiểu và nghiên cứu tư tưởng chính trị của Platon, và rút ra những bài học cho hôm nay vẫn là vấn đề còn bỏ ngỏ, cần được tiếp tục làm sáng tỏ trong điều kiện lịch sử mới

3 Mục đích nhi m vụ của lu n án

Mục đích của luận án là phân tích, đánh giá nội dung tư tưởng chính trị

của Platon trong tác phẩm c h , từ đó rút ra ý nghĩa, mối liên hệ

giữa tư tưởng chính trị Platon với những vấn đề của thời đại chúng ta, trong

đó có thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam Để đạt được mục đích trên, đề tài thực hiện các nhiệm vụ sau:

- hái quát điều kiện lịch sử và tiền đề lý luận dẫn đến sự hình thành

tư tưởng chính trị Platon; vạch ra mối liên hệ về thế giới quan giữa bản thể luận, nhận thức luận và tư tưởng chính trị Platon

Trang 17

- Giới thiệu tóm tắt một số tác phẩm của Platon về chính trị, có mối

liên hệ với tác phẩm chính – c h ;

- Phân tích và đánh giá những nội dung cơ bản của c h - tác

phẩm tiêu biểu của Platon về chính trị;

- Nêu ảnh hưởng của tư tưởng chính trị Platon đến lịch sử tư tưởng chính trị châu u

- Làm r những vấn đề đặt ra từ tư tưởng chính trị Platon trong

c h đối với thời đại hiện nay, trong đó có vấn đề xây dựng nhà nước

pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

4 Cơ sở lý lu n và phương pháp nghiên cứu

Đề tài luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử Bên cạnh đó trong quá trình thực hiện đề tài tác giả còn sử dụng các phương pháp khác nhau như: phân tích, tổng hợp, lôgic, lịch sử…

5 Phạm vi nghiên cứu của lu n án

Đề tài luận án không nghiên cứu tất cả các tác phẩm liên quan đến

chính trị mà tập trung vào tác phẩm chính c h , tác phẩm thể hiện

tiêu biểu quan điểm chính trị của Platon, có liên hệ với các tác phẩm khác Từ

đó rút ra ý nghĩa lịch sử, những bài học của tư tưởng chính trị Platon, những vấn đề đặt ra từ tư tưởng chính trị Platon đối với quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay và chú trọng mối liên hệ lịch sử giữa Platon và tư tưởng chính trị sau Platon, cũng như hiện thực chính trị hiện nay, đặc biệt là vấn đề chính thể nhà nước

Đóng góp m i của lu n án

Đề tài luận án ư tưở ch h tr Platon q t c hẩ c h

và ý hĩ l ch ử củ ó tập trung tìm hiểu tư tưởng chính trị của Platon qua

một tác phẩm tiêu biểu, có đối chiếu với một số tác phẩm khác, để qua đó nêu bật tính thống nhất trong hệ thống tư tưởng triết học Platon Đề tài được thực

Trang 18

hiện từ cách tiếp cận của triết học chính trị Cái mới mà nghiên cứu sinh thể hiện trong luận án

h hất thông qua một tác phẩm chính trị điển hình – tác phẩm

c h à, luận án vạch ra tính thống nhất của tư tưởng triết học Platon ở các

khía cạnh bản thể luận, nhận thức luận và nhân bản xã hội

h h i phân tích một cách có hệ thống những nội dung tư tưởng

chính trị cơ bản của tác phẩm c hòa, nêu bật những giá trị và hạn chế

của tư tưởng chính trị Platon, xác định mối liên hệ lịch sử giữa Platon và quá trình phát triển tư tưởng chính trị phương Tây, qua đó làm sáng tỏ quy luật kế thừa tư tưởng

h b , rút ra từ sự phân tích đó những vấn đề cần thiết cho quá trình

xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam

hiện nay

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của lu n án

Luận án góp phần làm sáng tỏ nhận thức về di sản tư tưởng của Platon

trong tác phẩm c h một trong những tên tuổi lớn của triết học Cổ

đại ở phương diện triết học chính trị qua các nội dung cơ bản như vấn đề phân chia giai cấp và quyền lực chính trị, quan niệm về sở hữu và các kiểu nhà nước…, gợi mở một số vấn đề liên quan đến thời đại hiện nay, trong đó

có vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nội dung luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho những người quan tâm đến những vấn đề về triết học và tư tưởng chính trị trong lịch sử tư tưởng nhân loại, trong đó có tư tưởng chính trị của Platon

8 Kết cấu lu n án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận án gồm ba chương, 6 tiết

Trang 19

Chương 1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN QUÁ TRÌNH HÌNH TH NH TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ PLATON

1.1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH TH NH TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ PLATON

1.1.1 Điều ki n lịch sử tác đ ng đến sự hình thành tư tưởng chính trị Platon

Một trong những trang sử đầy ý nghĩa trong đời sống chính trị xã hội

Hy Lạp cổ đại là sự ra đời, phát triển của nền dân chủ chủ nô Thuật ngữ “dân

của nhân dân, hay “dân chủ”, được hợp nhất và giản lược từ “Demos”(δῆμος, nhân dân) và “ ratos” (κράτος, quyền lực), và được hiểu là hình thức nhà nước, một chế độ chính trị được xác lập trên cơ sở thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, trên nguyên tắc bình đẳng và tự do 57, 146]

Nền dân chủ chủ nô được bắt đầu từ những cải cách của Solon (Solon khoảng 638-558 TCN) từ thế kỷ VI TCN, đạt đến sự phát triển cực thịnh và được thể chế hóa vào nửa sau thế kỷ V TCN

Ngay sau khi nắm quyền vào năm 594 TCN, Solon bắt đầu thực hiện một cuộc cải cách nổi tiếng, gọi là sêsasơchêia, tiếng Hy Lạp cổ có nghĩa là trút gánh nặng Ông tuyên bố xóa bỏ mọi nợ nần, nhổ hết những thẻ cầm cố ruộng đất cắm khắp đồng ruộng của nông dân Ông giải phóng cho những người nô lệ vì nợ và cấm họ gán mình hay vợ con làm nô lệ cho kẻ khác để chuộc nợ, cấm ký kết những văn tự lấy bản thân con nợ làm bảo đảm Những nông dân trước đây vì nợ mà phải bán mình làm nô lệ hoặc phải đi lưu vong, đều k o nhau trở về quê hương nhận phần ruộng đất cũ của mình để làm ăn với tư cách là người nông dân tự do Solon còn quy định mức độ ruộng đất tối

đa mà m i cá nhân có thể chiếm hữu được, nhằm ít nhất là hạn chế phần nào tham vọng về đất đai của giới quý tộc đối với ruộng đất của nông dân

Trang 20

Cải cách trên của Solon có một ý nghĩa cách mạng lớn lao, mở đầu cho một loạt những cái mà người ta gọi là cách mạng chính trị Điều đó cũng được Aristoteles (384 - 322 TCN) nhận định: “Solon cấm mọi người gán thân làm nô lệ để chuộc nợ Bằng cách đó ông đã giải phóng cho nhân dân thời bấy giờ cũng như cả về sau nữa” [6, 170]

Những cuộc cải cách trên đây của Solon có ý nghĩa tiến bộ r rệt Nó nhằm thay đổi hẳn chế độ chính trị và xã hội cũ Athenes, đánh một đòn nặng

nề vào những tàn tích của chế độ thị tộc và sự thống trị của giai cấp quý tộc thị tộc, tạo điều kiện cho sự phát triển của chế độ tư hữu, đặt cơ sở cho nền dân chủ chủ nô Athenes

Bắt đầu từ giữa thế kỷ V TCN sau khi cuộc chiến tranh Hy Lạp và Ba

Tư kết thúc, tại nhiều quốc gia - thành thị Hy Lạp nằm trên bán đảo Ban căng, đặc biệt là ở Athenes, thủ công nghiệp rất phát triển, sản xuất hàng hóa tăng nhanh, quan hệ thương mại được mở rộng, nông nghiệp chuyển hướng mạnh từ việc trồng trọt ngũ cốc sang trồng nho và ôliu nhằm mục đích xuất cảng nhiều rượu vang và dầu ôliu để đổi lấy lúa mì Trong thời gian này, thế

kỷ V – IV TCN tại những quốc gia - thành thị tiên tiến nhất như Athenes, Egine, Megare, Corinth, Milet , phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ đã đạt đến mức hoàn chỉnh nhất và cao nhất của nó

Trong những năm 47 - 4 TCN ở Athenes nổi lên Pericles khoảng 495-429 TCN), cháu ngoại của nhà cải cách Colisthenes Ông là nhà chính trị

và nhà hùng biện có biệt tài và cũng là nhà quân sự l i lạc cầm đầu đảng dân chủ ở Athenes lúc này Trong thời kỳ nắm quyền lãnh đạo ở Athenes, Pericles

và đảng của ông đã thực hiện nhiều chính sách tiến bộ có thể thỏa mãn được một phần nào những nguyện vọng và những yêu cầu của các tầng lớp dân tự

do bên dưới của xã hội Athenes Ông đã mạnh dạn hoàn thành chương trình cải cách của Ephiantes, đưa nền chính trị dân chủ chủ nô ở Athenes phát triển đến mức hoàn hảo nhất

Trang 21

Trước hết, Pericles ban hành chế độ trả lương cho các công chức phục

vụ trong bộ máy nhà nước Athenes Có thể xem đây là chế độ trả lương cho công chức đầu tiên trong lịch sử Chế độ này đã tạo điều kiện cho những người công dân Athenes lớp dưới có thể thoát ly sản xuất tham gia một cách thiết thực vào việc công Từ năm 457 TCN, lần đầu tiên trong lịch sử, những người thuộc tầng lớp trung nông đã được bầu làm chấp chính quan, sau đó thì

cả những người thuộc tầng lớp ngh o nhất cũng được cử giữ mọi chức vụ lớn nhỏ trong bộ máy nhà nước Như vậy, chế độ trả lương cho công chức đã cho

ph p các tầng lớp dân ngh o đó sử dụng một cách thiết thực quyền tham gia quản lý nhà nước của họ

Dưới thời Pericles, chính phủ thực hành một cách rộng rãi chế độ di dân đến các vùng nhượng địa, là đất đai mà các nước chư hầu của Athenes tham gia đồng minh Đêlôt, buộc phải cắt nhường cho Athenes để di dân ngh o của mình đến đó sinh sống Thời kỳ này có trên một vạn gia đình công dân Athenes ngh o di cư được cấp phát ruộng đất ở nước ngoài Bằng cách

đó, không những Pericles đã thỏa mãn yêu cầu của nông dân Athenes là có ruộng đất để cày, mà còn tăng sức khống chế của Athenes đối với các nước chư hầu về mặt chính trị, quân sự và cả mặt kinh tế của Athenes trên đất đai của các nước đồng minh chư hầu

Ngoài ra, Pericles còn có sáng kiến tiến hành những công trình quốc phòng và kiến thiết quy mô như: củng cố thành trì, quân cảng, xây dựng đền đài, dinh thự nhằm tạo công ăn việc làm cho những người ngh o khổ Nhưng đáng chú ý nhất trong chính sách cải cách của Pericles là việc thực hành rộng rãi chế độ bổ nhiệm bằng phương pháp bốc thăm, theo đó trừ một

số rất ít chức vụ đặc biệt đòi hỏi phải có kinh nghiệm và trình độ chuyên môn nhất định, hoặc đòi hỏi có sự bảo vệ tài sản là do phổ thông đầu phiếu mà bầu ra, còn hầu hết các chức vụ lớn nhỏ trong bộ máy nhà nước đều phải thông qua phương pháp bốc thăm để cắt cử người phụ trách Nếu như trước

Trang 22

kia chỉ tầng lớp quý tộc giàu có mới được sử dụng các chức vụ quan trọng thì

từ nay (năm 457TCN) cả tầng lớp dân ngh o, nói chung là quần chúng dân tự

do lớp dưới đều có thể bằng phương pháp bốc thăm, được cử giữ bất cứ một chức vụ gì trong bộ máy nhà nước, kể cả chức chấp chính quan Người Athenes quan niệm rằng, nếu thực hành phương pháp phổ thông đầu phiếu thì thông thường chỉ những người có tài sản, có danh vọng hay có tài năng mới được trúng cử, chi bằng cứ theo phương pháp bốc thăm thì bất cứ người công dân Athenes nào, không phân biệt dòng họ, sang h n, giàu ngh o, cũng đều

có khả năng được cắt cử giữ bất cứ một chức vụ nào trong chính phủ có như vậy thì mới thật là hoàn toàn bình đẳng Đó chính là quan niệm tự do, dân chủ, bình đẳng dùng làm cơ sở cho những nguyên tắc xây dựng nền dân chủ chủ nô ở Athenes Với cải cách của Pericles, quyền lợi chính trị trong nội bộ các tầng lớp dân tự do Athenes được phổ cập hết sức rộng rãi

uyền tối cao trong nhà nước thuộc về Hội nghị nhân dân, tương tự như uốc hội ngày nay Với tư cách là cơ quan quyền lực tối cao, Hội nghị nhân dân thảo luận về mọi vấn đề liên quan đến việc quản lý nhà nước và có quyền quyết định mọi vấn đề lớn nhỏ, về mặt đối nội cũng như về mặt đối ngoại Chính Hội nghị nhân dân là nơi người ta lựa chọn ra tất cả các viên chức nhà nước Chính đây cũng là nơi các viên chức này phải báo cáo công tác của mình và cũng là nơi người ta thường định ra tất cả những luật lệ đẳng cấp

Như vậy Hội nghị nhân dân thực hiện quyền bầu cử và giám sát đối với tất cả những chức vụ dân cử và nói chung đối với tất cả những viên chức đại diện cho quyền lực công cộng uyền giám sát đó có thể thực hiện một cách

dễ dàng, vì trên nguyên tắc, bất cứ một người công dân nam giới nào cũng có quyền tham gia và phát biểu ý kiến ở Hội nghị nhân dân

Hội nghị nhân dân là cơ quan đại diện nhà nước về mặt quan hệ ngoại giao, có nhiệm vụ đón tiếp các Đại sứ của các nước đến và giới thiệu họ ra

Trang 23

trước Hội nghị nhân dân Có thể nói, dưới thời Pericles, chính trị dân chủ của Athenes đã phát triển đến mức triệt để trong thế giới cổ đại hông phải ngẫu nhiên mà thời kỳ chấp chính của Pericles (461-469 TCN) được coi là thời kỳ cực thịnh của quốc gia – thành thị Athenes và của cả lịch sử Hy Lạp Cũng không phải ngẫu nhiên mà tên tuổi của Pericles được người ta dùng để đặt tên cho thời đại vẻ vang nhất đó của lịch sử Hy Lạp, thế kỷ V TCN, mà người Hy Lạp gọi là thế kỷ vĩ đại hay thế kỷ Pericles

Như vậy, nếu Solon là người khởi xướng các cải cách dân chủ, thì thời đại Pericles chính là thời đại thể chế hóa nền dân chủ, là thời đại nền dân chủ

đã được xác định theo nghĩa cụ thể và trực tiếp nhất – “quyền lực của nhân dân” (Demokratia)

Trong tư tưởng dân chủ của mình Pericles nhấn mạnh trước tiên nguyên tắc bình đẳng chính trị, theo đó tất cả mọi người đều được hưởng bình đẳng, bình đẳng đời sống trong riêng tư, bình đẳng trong việc tham gia tổ chức quyền lực Đặc biệt Pericles nhấn mạnh rằng “những người làm nghề lao động chân tay không xa lạ với chính trị” Bình đẳng chính trị là cơ sở cho tính tích cực công dân Pericles nói: “Chúng ta là những người duy nhất coi người công dân xa lạ với các công việc chung không phải như là một sinh vật nhàn r i và như một sinh vật vô ích” [70, 35] Pericles cũng đề cao quyền tự

do tư tưởng, đề cao quyền bày tỏ chính kiến của cá nhân Ông xác định mục đích của nhà nước là lợi ích của toàn xã hội, không phân biệt các tầng lớp, giai cấp

Sự hưng thịnh của nền dân chủ chủ nô đã tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, đối nội và đối ngoại, biến Athenes thành trung tâm và biểu tượng của Hy Lạp cổ đại Trong thời kỳ Pericles nắm chính quyền (những năm 3 –

4 của thế kỷ V TCN) Athenes đạt tới mức phát triển cao nhất về kinh tế, chính trị, văn hóa và khoa học

Trang 24

Vào thời kỳ này, những tri thức của người Hy Lạp cổ đại về văn học, nghệ thuật, y học, thiên văn, vật lý, toán học đã trở nên sâu sắc hơn nhiều, với những tên tuổi lớn như Aeschylus, Sophocles, Euripides, Aristophanes (văn học), Hyppocrates (y học), Phidias, Polykleitos (điêu khắc) Trong toán học,

sự nghiệp của Thales và Pythagoras tiếp tục được kế thừa tại các thị quốc

Tuy nhiên, ngay từ giữa thế kỷ V TCN, dù đang trong thời cực thịnh nền dân chủ Athenes đã bộc lộ nhiều mâu thuẫn, báo trước sự khủng hoảng đang đến Cuộc chiến tranh giữa Athenes và Corinth đã nhanh chóng trở thành cuộc chiến đấu khốc liệt giữa những lực lượng dân chủ do Athenes lãnh đạo và tầng lớp thượng lưu quý tộc tập hợp xung quanh Sparte Chiến tranh Peloponese (431- 4 4 TCN) làm phá sản nền kinh tế Athenes và đưa tới cuộc khủng hoảng của nền dân chủ nô Athenes Thủ công nghiệp, nông nghiệp và thương mại đi đến ch suy thoái, chiến tranh liên miên xảy ra giữa những tỉnh thành thị Hy Lạp – những (Polis) Trong nội bộ những thành bang, diễn ra một cuộc đấu tranh chính trị quyết liệt giữa các tập đoàn chủ nô khác nhau Mâu thuẫn giữa chủ nô và nô lệ, giữa người giàu và người ngh o, giữa phe đầu sỏ và thường dân, trở nên sâu sắc

Người Hy Lạp phát minh ra dân chủ, nhưng đó là nền dân chủ dành cho thiểu số các “công dân tự do” Nô lệ không được gọi là con người, mà chỉ

là thứ công cụ biết nói, hàng hóa trao đổi giữa các chủ nô Nhiều triết gia như Anaxagoras và Socrates trở thành nạn nhân của dân chủ, bởi họ dám thách thức các nghi lễ tín ngưỡng cổ hủ Sự trừng phạt của giới thống trị đối với tư tưởng bài thần của Anaxagoras và cái chết của Socrates đã khiến cho Platon một mặt tìm kiếm sự an ủi ở thế giới lý tưởng siêu việt, mặt khác tỏ thái độ ác cảm đối với chính thể dân chủ, nhìn chế độ đó từ lập trường chống dân chủ Một số nhà nghiên cứu lịch sử nhận định: “Một đằng thì người Hy Lạp đã khám phá, hay phát minh ra nền dân chủ, kịch nghệ, triết lý, nhưng đằng khác

họ lại bo bo giữ lấy những nghi lễ, tín ngưỡng cổ hủ và không tránh được nội

Trang 25

chiến Người Athenes chuộng tự do mà lại xử tử Socrates Tuy họ đưa ra thuyết “Tri bi” và thuyết trung dung, thực hiện được những kiến trúc cân đối, hoàn mỹ, và nền giáo dục của họ phát triển toàn diện con người về thể xác cũng như về trí tuệ, họ thường tỏ ra khinh mạn con người ngạo mạn đã mang hình phạt tới cho họ” [59, 83]

Hơn nữa, trong khi ở Athenes, nền dân chủ đang được thực hiện, thì Sparte láng giềng lại tồn tại chế độ cai trị hoạt đầu Chiến tranh xảy ra vào năm (43 – 4 4 TCN) giữa Sparte và Athenes đã đưa đất nước tới ch suy vong Vua Philip xứ Macedonia lợi dụng thời cơ đánh chiếm Hy Lạp năm

3 7 TCN Sau khi Philip chết, con trai là Alexander xây dựng được một đế quốc rộng lớn, nhưng ông lại chết sớm, khi mới 33 tuổi Suốt hai mươi năm trời các tướng lĩnh chỉ lo tranh giành quyền lực, khiến xã hội xa vào tình trạng kiệt quệ Cuối cùng cả Hy Lạp, Macedonia và đế quốc của Macedonia

bị La Mã dùng vũ lực chinh phục và thôn tính vào năm 4 TCN

Mâu thuẫn chủ yếu của xã hội chiếm hữu nô lệ được hình thành là mâu thuẫn giữa chủ nô và nô lệ Người nô lệ chống lại sự áp bức nghiệt ngã, sự xâm phạm thô bạo đến phẩm giá con người của họ Sự uất hận của họ nhiều lúc đã bùng lên thành cuộc khởi nghĩa Song, xiềng xích nô lệ mà họ mong muốn vứt bỏ để giành tự do cá nhân đã không thực hiện được Tuy vậy cuộc đấu tranh của những người nô lệ, các phong trào sâu rộng của người dân mất quyền và ngh o đói đã có ảnh hưởng to lớn đối với hệ tư tưởng chính trị Nhiều quan niệm về bình quyền tự nhiên và tự do cho tất cả mọi người đã nảy sinh, có những cuộc nổi dậy chống đối chế độ chiếm hữu nô lệ và đòi thiết lập nhà nước, nơi mà lao động trở thành trách nhiệm của m i con người

Sự thăng trầm của nền dân chủ xuất phát từ những nguyên nhân bên trong, trước hết từ những mâu thuẫn của bản thân nền dân chủ Nền dân chủ Athenes, dù tạo ra sự khởi sắc nhất định trong đời sống xã hội, vẫn chỉ là hệ thống chính trị hạn chế, chật hẹp và kh p kín, chỉ mở rộng cửa cho dân tự do,

Trang 26

tức công dân, lúc ấy có khoảng 3 đến 4 ngàn người trong số hơn 25 đến

3 ngàn người, bằng / dân số Nô lệ là giai cấp bị khinh rẻ nhất và có cuộc sống thấp h n nhất, vì vậy từ thế kỷ 5 TCN trở đi những công cụ biết nói này đã tổ chức nhiều cuộc khởi nghĩa, đặc biệt vào các năm 4, 4, 4 ,

37 TCN, trong số đó có những cuộc khởi nghĩa đã thu hút tới 2 ngàn người, kể cả một bộ phận nông dân, thợ thủ công

Giữa các lớp dân cư tự do cũng nảy sinh mâu thuẫn trong việc phân chia tài sản, nô lệ, tranh giành quyền lực Giới quý tộc phê phán cơ chế hiện hành, vì không khuyến khích người ta làm giàu Những người nhập cư cũng góp thêm tiếng nói vào tình hình căng thẳng của xã hội Lực lượng này vào thế kỷ IV TCN đóng vai trò đáng kể trong đời sống kinh tế, nhưng về chính trị bị đối xử bất công Họ bày tỏ nguyện vọng trở thành công dân bình đẳng như người bản xứ Tuy nhiên nguyện vọng đó lại đụng chạm đến lòng kiêu hãnh của người Hy Lạp, vốn không thích “kẻ tha hương” sánh ngang cùng họ

ở mọi phương diện Làn sóng bất bình và bạo động lan rộng đến mức trong nhiều thị quốc đã trở lại nền độc tài như giải pháp thoát khỏi khủng hoảng

Platon, cũng như Socrates, vừa là nhân chứng, vừa là nạn nhân của nền dân chủ chủ nô, sự thể nghiệm dân chủ đầu tiên trong lịch sử nhân loại Những mâu thuẫn và quá trình suy thoái của nền dân chủ chủ nô trở thành đối tượng tìm hiểu, nghiên cứu của các nhà triết học, nhằm tìm kiếm khả năng khắc phục những khiếm khuyết của nền dân chủ, hướng đến hình thức chính trị phù hợp hơn Đây là điểm chung trong lịch sử tư tưởng nhân loại Chính trong thời kỳ khủng hoảng của đời sống chính trị – xã hội mà các nhà tư tưởng cố gắng tìm kiếm những giá trị và chuẩn mực mới để khắc phục khủng hoảng

Tại Hy Lạp tư tưởng chính trị của Platon, cũng như Socrates, Democritus, Aristoteles, đã phản ánh những bước thăng trầm của nền dân chủ chủ nô

Trang 27

Việc nêu ra bối cảnh lịch sử – xã hội và đời sống chính trị của Hy Lạp

cổ đại qua những bước thăng trầm của nền dân chủ chủ nô cho ph p giải thích cội nguồn, tiêu đề, bản chất của tư tưởng chính trị Platon Tuy nhiên đó chỉ là một mặt của vấn đề lớn, vấn đề khủng hoảng và khắc phục khủng hoảng chính trị trong khuôn khổ của một hình thái kinh tế – xã hội Triết học Platon nói chung, tư tưởng chính trị nói riêng, còn thể hiện xu thế vận động của tư tưởng thời kỳ nền dân chủ chủ nô Sự phê phán gay gắt nền dân chủ chủ nô từ phía “hữu” chứng tỏ rằng, nền dân chủ ấy đã thực sự suy thoái, sự thay thế nó trở thành đòi hỏi tất yếu Song, khi những nhân tố mới chưa xuất hiện, thì óc tưởng tượng của con người được dịp bùng nổ, với những biến thái khác nhau Platon thuộc về trường hợp đó

Tư tưởng chính trị chống dân chủ, kết hợp mô hình Sparte và c

hòa quý tộc lý tưởng của Platon hình thành dưới tác động của những chuyển

biến kinh tế, chính trị - xã hội phức tạp ở Hy Lạp, nhất là sự mâu thuẫn và khủng hoảng của nền dân chủ chủ nô, cái chết của Socrates và tâm trạng chung của các tầng lớp nhân dân khi những nhu cầu chính đáng của mình không được đáp ứng, hoặc đáp ứng một cách nửa vời

1.1.2 Tiền đề lý lu n hình thành tư tưởng chính trị của Platon

Tiền đề lý luận sâu xa của tư tưởng chính trị Platon là những tư tưởng chính trị hình thành từ thời sơ khai, phát triển mạnh m vào thời kỳ nền dân chủ chủ nô, được xem là thời kỳ “cổ điển ” của văn hóa Hy Lạp Cũng như Socrates, tư tưởng chính trị Platon hình thành vào thời kỳ nền dân chủ chủ nô đang dần dần bộc lộ những mâu thuẫn của nó sau thời gian phục hồi ngắn ngủi Những mặt trái của dân chủ được hai ông xem x t từ lập trường của giới quý tộc chủ nô Cuộc tranh luận giữa quan điểm dân chủ và chống dân chủ dần dần đi đến hồi kết thúc sau cái chết của Pericles và sự tr i dậy của các lực lượng bảo thủ

Trang 28

Trong các tác phẩm bàn về chính trị Platon thường xuyên nhắc đến các nhân vật lịch sử, so sánh, đối chiếu tư tưởng của họ, từ đó nêu ra các đánh giá của mình, xây dựng mô hình nhà nước lý tưởng Ngay từ đầu trong tư tưởng chính trị Hy Lạp đã hình thành hai khuynh hướng đối lập nhau Một khuynh hướng bắt đầu từ Solon, được Pericles kế thừa, phát triển trong điều kiện hưng thịnh của nền dân chủ chủ nô Cùng với những nhà chính trị, các triết gia, đặc biệt là Democritus cũng góp thêm tiếng nói ủng hộ nền dân chủ - sự thể nghiệm đầu tiên mô hình nhà nước dân chủ trên thế giới Một khuynh hướng khác, đại diện cho quý tộc chủ nô, xuất phát từ Pythagoras, được Socrates và Xenophones làm sâu sắc thêm trong điều kiện khủng hoảng của nền dân chủ

Solon (khoảng 3 -559 TCN), là đại diện đầu tiên của khuynh hướng dân chủ trong điều kiện chế độ chiếm hữu nô lệ Những cải cách của ông đã

“mở đầu một loạt những cái mà người ta gọi là cuộc cách mạng chính trị” [4,

178 - 179]

Nếu Solon bảo vệ quyền lợi cho tầng lớp thị dân đang lên, thì Pythagoras (khoảng 5 -5 TCN) đã đưa ra học thuyết về cơ bản bảo vệ quyền lợi của tầng lớp quý tộc Luận thuyết trung tâm của Pythagoras là nhằm chống những người bình dân (demos) và thiết chế nhà nước dân chủ Chẳng hạn như việc điều hành xã hội thuộc về tầng lớp những người được giáo dục thẩm mỹ – tín ngưỡng đặc biệt và hơn hẳn người khác về trí tuệ và đức hạnh (kiểu như tinh thần quý tộc) Ông kêu gọi vâng lời người trên và cha mẹ, hoàn toàn tuân thủ người cầm quyền và điều tệ hại nhất trong xã hội chính là tình trạng không có lãnh đạo, không có chính quyền

Dẫu sao cũng không thể hoàn toàn đánh đồng học thuyết chính trị của Pythagoras với tư tưởng của giới quý tộc thị tộc đang tàn lụi Những người theo phái Pythagoras không ngăn cản sự phát triển các quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ mới, mà ủng hộ các ngành nghề và thương mại Pythagoras

Trang 29

đòi cần phải thực hiện các mệnh lệnh của nhà nước, tuân thủ pháp luật được ban hành, những điều được ông đặt cao hơn các phong tục cổ truyền không thành văn đã từng có lợi cho giới quý tộc thị tộc

Là một trong những người thực hiện sự tổng kết lịch sử về triết học Hy Lạp từ bản thể luận đến lý luận nhận thức và tư tưởng đạo đức – chính trị, Platon đã đưa cả hai khuynh hướng đó vào hệ thống quan điểm chính trị của mình, nhưng không theo phương pháp của chủ nghĩa chiết trung, mà lựa chọn một khuynh hướng phù hợp với cách tiếp cận của mình, rồi từ đó phác thảo hình thức nhà nước lý tưởng Tuy nhiên nguồn gốc lý luận trực tiếp của tư tưởng chính trị Platon là Socrates Platon kế thừa Socrates ở cả hai bình diện – thế giới quan và nhân sinh quan, trong đó có quan điểm chính trị

Về thế giới quan, trong các tác phẩm đối thoại Platon đã kể lại và đánh

giá cao công lao lịch sử của Socrates là ở ch , th hất, Socrates đã khắc

phục triết học tự nhiên, thực hiện bước ngoặt từ triết học tự nhiên sang triết học đạo đức, xem triết học là phương tiện dạy con người sống Sự chuyển hướng này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vì nó mở đường cho quá trình tìm kiếm những chuẩn mực lý tưởng sống cho con người, thiết lập phương thức

tổ chức quyền lực dựa trên sự hiểu biết bản chất của con người Theo Socrates, hạn chế của triết học tự nhiên là ở ch , nó không xem con người là đối tượng, mà chỉ là chủ thể nhận thức thế giới Socrates cho rằng tham vọng của các nhà triết học tự nhiên muốn tìm hiểu các vấn đề vũ trụ trong điều kiện nhận thức còn hạn chế, là không thực tế và còn xúc phạm đến thần linh Đưa triết học từ việc tìm hiểu các vấn đề của thế giới, của giới tự nhiên sang các vấn đề của chính con người là nhằm khẳng định chức năng của triết học là giáo hóa con người, hoàn thiện nhân cách của nó, đem đến cho con người phương pháp đạt đến cái thiện Vì l đó tuyên bố của Socrates “hãy nhận biết chính mình!” đã gợi mở một cách nhìn mới về vị trí của triết học trong đời

Trang 30

sống xã hội Con người trở thành đối tượng, thành một trong những nội dung của triết học

h h i Socrates đã khắc phục những khiếm khuyết của phái biện

thuyết do Protagoras đứng đầu, mặc dù trước đó ông đã từng theo học các lớp dạy thuật tranh biện do Protagoras tổ chức tại Athenes Hạn chế của phái biện thuyết là ở ch trong khi đề cao chủ thể nhận thức nó đã xa rời chân lý khách quan, đánh mất ý nghĩa nghiêm túc của những vấn đề triết học, dùng

ba tấc lưỡi bẻ cong chân lý, vì vậy về sau bị kết án là những kẻ ngụy biện Hơn nữa, cả Socrates và Platon đều phê phán chủ nghĩa tương đối trong lý luận nhận thức Theo Protagoras, tính biến đổi của vạn vật, sự “tuôn chảy” của nó khiến cho nhận định của con người về bản chất sự vật chỉ mang tính

tương đối “tất cả đều đúng” Trong “Protagoras”, Platon viết: “đối với m i

chúng ta những bản chất của sự vật là những bản chất đặc biệt – đó là theo lời Protagorasras “con người – thước đo của vạn vật” – và do vậy, sự vật xuất hiện ra cho riêng tôi như thế nào thì đối với tôi như thế ấy, cho riêng anh như thế nào thì đối với anh như thế ấy” [84, 418] Trong Theaetetus, Platon dẫn lời Protagoras rằng sự xuất hiện của một vật và cảm nhận về vật ấy là hai vấn

đề khác nhau, tùy thuộc vào chủ thể nhận thức Sau này chủ nghĩa tương đối của phái biện thuyết cũng được Aristoteles nhắc lại và phê phán “Ông (Protagoras) cho rằng, - Aristoteles viết, - con người là thước đo của vạn vật, nhằm nói đến một điều: cái gì mà con người cảm thấy, thì cái đó là chân thực Nhưng nếu như vậy thì hóa ra cùng một nhân vật lại vừa tồn tại, vừa không tồn tại, vừa tốt vừa xấu, những kiến giải đối lập nhau cũng đều đúng cả, vì người thì cảm thấy lý giải này hay, và cái m i người cảm thấy là chuẩn mực… Nan giải này có thể được loại bỏ, giá như (biết) chỉ ra cơ sở của cách

đối và luận điểm “con người - thước đo của vạn vật” của Protagoras để bảo

vệ quan điểm chính trị của mình, trong đó chỉ ra sự cần thiết dựa vào bản tính

Trang 31

con người để xác lập quan điểm chính trị, theo đó thước đo giá trị con người nằm ở tố chất tinh thần cao nhất - lý trí Tuy nhiên, cũng như Socrates, Platon không chấp nhận tính chất ngụy biện, xa rời chân lý của Protagoras và Gorgias

Socrates, theo lời kể của Platon, đă khắc phục tính phiến diện trong lý luận nhận thức của Protagoras bằng việc xác lập phương pháp hướng con người đạt đến chân lý, tức cái thiện phổ quát Phương pháp đối thoại của Socrates được Platon kế thừa trong quá trình xây dựng học thuyết của mình,

từ bản thể luận đến đạo đức và chính trị Dấu ấn Socrates thể hiện đậm nét trong tư tưởng chính trị của Platon Thực chất vấn đề này là gì? Socrates là người sống cùng thời với Democritus, song quan điểm của ông hoàn toàn đối lập với đại diện tiêu biểu của nguyên tử luận duy vật Vào thời Democritus và Socrates nền dân chủ chủ nô đang bước vào khủng hoảng, nhưng thái độ của hai nhà tư tưởng lớn về dân chủ hoàn toàn trái ngược nhau Trước hết thử điểm qua một số nội dung trong tư tưởng chính trị của Democritus, để từ đó làm sáng tỏ tính phức tạp của cuộc tranh luận chính trị trong thế giới cổ đại

Là đại diện cho tầng lớp dân chủ chiếm hữu nô lệ, Democritus (khoảng 4 –

37 TCN) một mặt thừa nhận sự phân tầng xã hội ra thành người tự do và nô

lệ, mặt khác, với tính cách là nhà duy vật ông lý giải vấn đề nhà nước và các quan hệ chính trị từ nhu cầu vật chất của con người

Theo Democritus, nhà nước và pháp luật đã xuất hiện không hề phụ thuộc vào một thế lực thần bí nào Sự xuất hiện của chúng là kết quả đấu tranh lâu dài của con người bị thiếu thốn và đ n n trong xã hội tiền văn minh buộc phải sống liên kết với nhau thành cộng đồng Nhà nước là sự thể hiện các quyền lợi chung của các công dân trong đó Nó chỉ có thể thực hiện vai trò nền móng cho những người Hy Lạp tự do trong những điều kiện tiên quyết sau: phải có sự tuân thủ chính xác của tất cả mọi người đối với luật

Trang 32

pháp và có hành vi phù hợp với vai trò là thành viên trong thành bang, phải

có sự bình đẳng và nhất trí của mọi công dân và không có nội chiến

Để đạt được điều đó cần xóa bỏ những thái cực và làm sao cho chúng không thể xảy ra, nhất là đảm bảo quyền bình đẳng trong quan hệ giữa người với người Sự thừa thãi và thiếu thống ở hai cực của các lực lượng xã hội hoàn toàn không phù hợp với tự nhiên Democritus không mệt mỏi đưa ra những luận chứng về sự hòa giải chung Luận chứng này của ông mang màu sắc chính trị r rệt Theo ông, sự ngh o đói trong một quốc gia dân chủ vẫn được đánh giá cao hơn cuộc sống hạnh phúc trong chế độ quân chủ, cũng như

tự do hơn nô lệ vậy đâu có sự tương phản về sở hữu giảm đi, người giàu

có sự ưu ái đối với người ngh o, thì ở đó s có sự cảm thông, tình hữu ái, sự bảo vệ lẫn nhau và bao điều phúc đức khác không thể tính đếm được

Democritus đã không giản đơn tách chính trị ra khỏi tự nhiên và tuyên

bố là kết quả của những n lực của con người Ông coi chính trị là một thứ nghệ thuật vĩ đại Có l bởi vậy, Democritus muốn thấy trong các cơ quan điều hành tính hơn hẳn những người bị điều hành về khả năng trí tuệ và hiểu biết Democritus cho rằng đạo đức đòi hỏi phải có sự tuân thủ pháp luật, chính quyền và sự hơn hẳn về trí tuệ Thật khổ tâm khi phải chịu sự lãnh đạo của một con người thấp k m hơn Điều hợp l tự nhiên là người giỏi hơn phải nắm quyền điều hành Thêm vào đó, Democritus không bác bỏ khả năng của

m i người Hy Lạp tự do sau khi được đào tạo và giáo dục thích đáng có thể điều hành được công việc nhà nước, bởi l con người ta trở nên tốt hơn là do

có sự r n luyện nhiều hơn so với lúc bẩm sinh Việc coi chính trị như nghệ thuật quyền lực đã ảnh hưởng đến quan điểm chính trị của Platon Sau này dù phê phán nền dân chủ, song Platon đã chú trọng đến công bằng và bình đẳng, đến sự phân phối của cải sao cho hợp lý, để không xảy ra tình trạng phân cực

xã hội gay gắt

Trang 33

Người thầy, nhà tư tưởng ảnh hưởng lớn nhất đến sự hình thành hệ thống thế giới quan nói chung, tư tưởng chính trị Platon nói riêng là Socrates (469 – 399 TCN) Giống như các nhà ngụy biện, ông cũng tự coi mình là nhà hiền triết, đấu tranh cho sự khai sáng, Socrates chủ tâm không viết một tác phẩm nào cả, mà chỉ đơn thuần truyền khẩu những quan điểm của mình, cho nên việc phân tích các quan điểm chính trị đầy mâu thuẫn của ông hết sức khó khăn

Socrates căm gh t nền dân chủ cực đoan hình thành ở Athenes và những đại diện của nó Ông thể hiện r việc ủng hộ thể chế quý tộc của Sparte Socrates không hài lòng với việc một số đông thường dân, những người tầm thường, vụng về và dốt nát tham gia vào công việc điều hành nhà nước Ông cho rằng, đứng đầu quốc gia, giữ các trọng trách nhà nước phải thuộc về thiểu số những người được lựa chọn, được chuẩn bị cần thiết để lãnh đạo chính trị

Theo Socrates, nhà nước là điều ác không thể tránh được mà ai cũng buộc phải phục tùng để có thể bình tâm trao cho mình, điều quan trọng nhất của cuộc đời là tự hoàn thiện đạo đức Cần tận tâm thực hiện mọi đòi hỏi của chính quyền và tuyệt đối phục tùng nó hi sống trong một quốc gia, người nông dân dường như đã ký một bản hợp đồng về việc tuân thủ tuyệt đối các đạo luật của nó, cho dù những đạo luật ấy tốt hay xấu Xã hội không thể tồn tại nếu như các đạo luật bất lực Giá trị cao nhất là công lý, nghĩa là sống tuân thủ pháp luật nhà nước

Socrates là một nhân vật đầy mâu thuẫn, các quan điểm của ông cho đến nay vẫn gây nên nhiều tranh luận Thí dụ như việc ông cho rằng cần lựa chọn các quan chức theo kiểu rút thăm có đồng nhất với việc phủ nhận dân chủ nói chung không Việc tôn sùng quá mức pháp luật có dung hợp được với sự coi thường luật pháp Athenes từ phía tập đoàn thống trị hay không L nào không phải chính Socrates đã gây nên sự tức giận cho giai cấp chủ nô khi

Trang 34

ông coi việc lao động chân tay là trách nhiệm của m i công dân tự do, chứ đâu phải là bổn phận của riêng những người nô lệ Cuối cùng, phải chăng không phải chính ông đã dạy rằng đạo đức, lòng trung thực, thói quen, hành động hoàn toàn biến con người một cách có ý thức thành thực thể không biết làm điều ác Thực ra, nếu đánh giá Socrates chỉ là phản động thì không thể giải thích thỏa đáng được mọi n t đa dạng trong các quan điểm chính trị cấp tiến và sự suy thoái của nhà tư tưởng này

phương diện thế giới quan, Platon kế thừa trực tiếp quan điểm triết học của Socrates Song ở phương diện chính trị ông không chỉ tiếp thu và phát triển những luận điểm nền tảng của Socrates (thái độ đối với nền dân chủ chủ nô, ý tưởng về chế độ cộng hòa quý tộc, vấn đề đức hạnh chính trị….),

mà còn kết hợp nó với những tư tưởng khác và với kinh nghiệm thực tiễn chính trị tại các thị quốc Hy Lạp, nhất là Sparte, từ đó hình thành quan điểm chính trị theo xu hướng cộng hòa qúy tộc lý tưởng

Tóm lại, tiền đề lý luận sâu xa của tư tưởng chính trị Platon là cuộc đấu tranh giữa tư tưởng dân chủ và phản dân chủ ngay từ thời Solon, được tiếp tục triển khai trong thời kỳ tiếp theo Từ lập trường của quý tộc chủ nô, Platon nhìn thấy trong nền dân chủ những khuyết tật cần được khắc phục, mà phương pháp khắc phục hiệu quả nhất, theo ông, là loại trừ nó khỏi đời sống chính trị Tiền đề trực tiếp của tư tưởng chính trị Platon là tư tưởng chính trị của Socrates

Platon là một trong những tên tuổi kiệt xuất của triết học Hy Lạp cổ đại Trong hệ thống quan điểm triết học của ông, vấn đề chính trị chiếm vị trí quan trọng, thể hiện tính nhất quán về thế giới quan và nhân sinh quan của ông Sự khủng hoảng của nền dân chủ chủ nô, nhất là sự khủng hoảng của nó, cùng với những biến đổi phức tạp khác của đời sống chính trị - xã hội là điều kiện cho sự hình thành tư tưởng chính trị của Platon phương diện lý luận, cuộc đấu tranh giữa quan điểm dân chủ và quan điểm phản dân chủ, tư tưởng

Trang 35

chính trị theo đường lối quý tộc chủ nô của Pythagoras, đặc biệt của Socrates

đã ảnh hưởng trực tiếp đến thiên hướng và lập trường chính trị của Platon Sự hình thành tư tưởng chính trị của Platon phản ánh cuộc xung đột chính trị triền miên trong chế độ chiếm hữu nô lệ tại Hy Lạp cổ đại

1.2 SỰ HÌNH TH NH TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA PLATON QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU

1.2.1 Khái lược n i dung m t số tác phẩm tiêu biểu qua các thời

kỳ

Các nhà nghiên cứu lịch sử tư tưởng gọi thời kỳ hưng thịnh của văn hóa Hy Lạp, với sự phát triển mạnh m của các lĩnh vực khoa học, triết học, nghệ thuật là thời kỳ cổ điển (classic) ngụ ý rằng đây là thời kỳ xác lập những khuôn mẫu, chuẩn mực cho văn hóa Châu u ở các thời đại sau Tuy nhiên thuật ngữ “cổ điển” không xuất hiện ngay tại Hy Lạp cổ đại, mà gắn liền với những đánh giá của các nhà nhân văn Phục hưng (thế kỷ XIV – thế kỷ XVI)

về toàn bộ văn hóa Hy Lạp – La Mã cổ đại Đây là thời kỳ khôi phục và phát triển những giá trị văn hóa thời cổ đại sau đêm trường trung cổ Từ nghĩa rộng đó, ngày nay người ta sử dụng thuật ngữ “cổ điển” để chỉ tính chất phát triển hài hòa, rực rỡ, cân đối, chuẩn mực, và thực sự có ý nghĩa vạch hướng của các hoạt động xã hội nhất là văn hóa

Di sản tư tưởng của Platon được hình thành vào thế kỷ V - IV TCN, nghĩa là vào thời kỳ mà người Hy Lạp đã tạo nên cả một “vòng khâu”, hay

“vòng xoắn ốc” năng động trong sự phát triển kế tiếp nhau của tư tưởng nhân loại

Platon (Πλάτων) tên thật là Aristokles (427 – 347 TCN), sinh tại một hòn đảo không xa Athenes, đảo Egea, trong gia đình thuộc dòng d i quý tộc Theo nhiều công trình nghiên cứu, tên gọi Aristokles, nghĩa là “vinh quang tột đỉnh” xuất hiện vào thời kỳ Hy Lạp hóa

Trang 36

Thời trai trẻ Platon là con người vừa thông minh, vừa khoẻ mạnh, từng hai lần đoạt danh hiệu vô địch điền kinh của thị quốc trong môn đấu vật, được

Người thầy đầu tiên của Platon là Cratylos Tuy nhiên, như đã nêu trên, người có ảnh hưởng sâu đậm nhất đến tư tưởng Platon là Socrates Trên thực

tế Socrates là nhân vật tham gia chính vào tất cả các đối thoại của Platon, do

đó chúng ta khó phân biệt đâu là quan điểm của Platon, đâu là của Socrates

Sau khi Socrates mất (399), Platon đến Megare Ông cũng từng đến Cyren, Ai Cập vào các năm 399-389 đến Ý và Cisile, làm quen với phái Pythagoras Năm 3 7 TCN ông trở về Athenes mở trường phái riêng, gọi là Hàn lâm viện Platon Theo một số thông tin, Platon mất vào đúng ngày sinh nhật của mình

Platon sinh ra và lớn lên trong thời đại khủng hoảng sâu sắc của nền dân chủ chủ nô Chiến tranh, ngh o đói, sự thay đổi đường lối cai trị tác động không ít đến sáng tác của ông

hời th h iê (409 – 4 TCN) ông chịu ảnh hưởng trực tiếp của

Socrates, cả về tư tưởng lẫn lối sống, quan điểm chính trị – xã hội

hời viễ d (400 – 389 TCN), hay thời chuyển tiếp, gắn với quá trình quan sát, thu thập học hỏi những tri thức khoa học từ các nhà tư tưởng tiền bối, nhằm định hình một thế giới quan riêng Sau khi Socrates bị kết án tử hình, Platon rời Athenes, đi nhiều nơi, sang cả Ai Cập, Phenice, Ba Tư, Babilon Năm 3 9 TCN, Platon tham gia cố vấn chính trị cho bạo chúa Denis,

thuẫn cá nhân, Anukerít, môn đệ của Arít típ, chuộc ông, rồi giải phóng

hời ch ồi v tư tưở (những năm 7 - 60 TCN), hay thời kỳ Hàn

lâ việ , được đánh dấu bằng việc thành lập trường phái triết học riêng tại

Bắc Athenes, trong khu vườn mang tên Arađêmốt, là tên một nhân vật thần thoại

Trang 37

Vào những thập niên cuối cùng của sự nghiệp, Platon cùng các học trò tạo được tiếng vang trong sinh hoạt xã hội Cho dù Hy Lạp về sau bị La Mã thôn tính, song trường phái Platon vẫn tiếp tục phát triển dưới tên gọi trường phái Platon mới (NeoPlatonism), mãi đến năm 529 mới bị đóng cửa vĩnh viễn, nghĩa là sau khi Tây bộ đế quốc La Mã bị sụp đổ cả nửa thế kỷ (47 )

Suốt quảng đời còn lại, Platon chỉ chú tâm vào việc truyền bá tri thức khoa học, song có lúc bị cầm tù và suýt mất mạng dưới tay bạo chúa Denis con6

Trong gần năm mươi năm sáng tác, Platon để lại một di sản đồ sộ, nhưng việc tập hợp và sàng lọc thật khó khăn, vì ngoài những tác phẩm được thừa nhận do ông viết (chính văn), vẫn có một số là giả mạo (mạo văn) Số lượng tác phẩm gồm một độc thoại (lời bào chữa của Socrates), 34 đối thoại (kể cả chính văn lẫn mạo văn), 3 bức thư (có thể là mạo văn), chia đều ra những thời gian khác nhau Xuyên suốt toàn bộ đối thoại của Platon là những chủ đề và những nhân vật truyền thống, có sức hấp dẫn đối với thời đại Platon, suy nghĩ của ông về triển vọng của nhân loại ở các bình diện khác nhau của tri thức và đời sống

Tổng tập Platon (Corpus Platonicum), có nghĩa là tổng thể các tác phẩm hình thành trong lịch sử cổ đại, gắn liền với tên tuổi Platon, được xác định trong một thời gian dài Có thể thấy, trong quá trình hình thành tuyển văn có tính kinh điển của triết gia xảy ra cả mất mát lẫn những tìm tòi, khám phá, chịu sự chi phối không chỉ bởi tâm thế của truyền thống ch p sử, mà còn bởi trình độ và khuynh hướng phê phán về mặt ngôn ngữ cùng thời với ông

Mốc quan trọng đầu tiên trên con đường hình thành Tổng tập là tập hợp các bản văn của Platon do nhà ngôn ngữ cổ đại Aristophanes lập nên vào thế kỷ III TCN Aristophanes trong quá trình tập hợp các tác phẩm của Platon

6 Đây chỉ là một cách phân chia V.Ph Asmus phân chia các tác phẩm của Platon thành 4 nhóm, tương ứng với các thời kỳ, nhưng không nói rơ thời nào trong đời sống của ông: “Những đối thoại Socrate”, thời kỳ chin muồi (hai nhóm tác phẩm), thời kỳ cuối ( B Acmyc: Aнтиҹная Фнлософия, Mockвa, 1976, ctp 182 – 183)

Trang 38

đã bước đầu hệ thống hóa các tác phẩm của Platon, phân thành nhóm ba tác phẩm, chẳng hạn nhóm - Nhà nước, Timee, rati nhóm 2 - các luật, Phedon, Các bức thư, từ đó xác lập nguyên tắc theo chủ đề phân loại tác phẩm, dù khác nhau về khối lượng, cơ cấu và tính nghệ thuật

Giai đoạn quan trọng tiếp theo của lịch sử Tổng tập Platon gắn với hoạt động của Trasill (thế kỷ I TCN) cách sắp xếp, phân loại tác phẩm Platon của ông vẫn còn được sử dụng ngày nay

Tổng tập hiện nay tiếp tục được thực hiện, thêm vào đó là những đánh giá, bình chú khá sâu sắc

Các vấn đề triết học ở Platon khá đa dạng: Bản thể luận (Cơ sở của bản thể luận Platon học thuyết ý niệm các vấn đề gắn với học thuyết Ý niệm ý niệm Lợi ích Học thuyết linh hồn (nhị nguyên luận linh hồn - thân xác; Ba phần của linh hồn bốn luận chứng về sự bất tử của linh hồn số phận linh hồn con người) Học thuyết nhận thức Ph p biện chứng Học thuyết về con người Học thuyết đạo đức, chính trị - pháp quyền uan điểm thẩm mỹ Như vậy tư tưởng chính trị của Platon chiếm vị trí đáng kể trong toàn bộ hệ thống, thống nhất với thế giới quan duy tâm của Platon Tư tưởng chính trị của Platon không trình bày một cách biệt lập, mà đan xen với các chủ đề khác,

mặc dù tên gọi của tác phẩm khá r ràng về nội dung, mục đích ( c

hòa, h h tr v.v )

Dưới đây là danh mục các tác phẩm của Platon qua các thời kỳ:

Crito, Eutiphron, Laches, Lysis, Charmides, Protagorasras quyển thứ nhất

của Nhà ước, hay c hòa (Republic), Gorgias; Meno, Euthydemus,

Cratylus (Cratylos), Hippias hỏ, …

Thời chín muồi: Phedon (Phaedo), Phaedrus, quyển II - X của Nhà

ước (học thuyết Ý niệm), Theaetetus, Parmenides, Sophist, Politikos, hay

Trang 39

Statesman, Philebus, Timaeus, Critias Những năm cuối đời Platon hoàn

thành hai tác phẩm có giá trị nữa là t h (Laws) và H l t

Về tư tưởng chính trị, có ba tác phẩm quan trọng là hà ước hay

c h (La Republique, The Republic), h h tr (Politikos, Le Politique, Statesman) và t h (Les Lois, The Laws) Nói như vậy không có nghĩa

tư tưởng chính trị chỉ tập trung ở ba quyển đó Các tác phẩm như Theaetetus,

Timaeus, Protagorasras, Gorgias, Phaedo…đều đề cập đến vấn đề chính trị

ở những mức độ khác nhau Trong những tác phẩm kể trên đạo đức học của Platon có thiên hướng khắc kỷ, xem sự thư thái tinh thần là lợi ích tối cao Phẩm chất nhà cai trị được Platon mô tả không chỉ như bậc thông thái, mà còn như người sống tiết độ Những vấn đề về hình thức nhà nước, sự phân công lao động xã hội và phân tầng giai cấp (đẳng cấp) cũng đã được đề cập

Ba tác phẩm chính c h , h h tr , t h dù không xem

chính trị là nội dung duy nhất, song chính trị là chủ đề nổi bật, cơ bản, bao gồm đời sống chính trị, các quan hệ quyền lực, thái độ của Platon đối với các hình thức nhà nước, quá khứ và hiện tại, mô hình nhà nước công bằng, hay

nhà nước lý tưởng Hai tác phẩm c hòa và h h tr về cơ bản là thống nhất trong quan điểm chính trị của Platon Đặc biệt trong h h tr

Platon dường như dựa vào ý tưởng về sự bất tử của linh hồn, từng được nêu

ra trong Phé don, để nói về một vùng đất ước lệ, với đời sống cực lạc, nơi con

người quan hệ bình đẳng với các thần linh Platon gọi đó là thời đại hoàng kim, khi mà toàn thể nhân loại, dưới sự cai quản của thần Cronos đã được sống an lành, trật tự do thần linh sắp đặt chưa bị xáo trộn, nhân loại chưa biết đến cái xấu và chết chóc Tuy nhiên trong miền đất lý tưởng đó đã bắt đầu hình thành một cơ chế phán quyết đối với hành vi con người, phân loại con người ra nhiều đẳng cấp khác nhau, đó là đẳng cấp của những người sống theo các chuẩn mực đạo đức, mà cao nhất là các triết gia Họ không chỉ có phẩm hạnh tốt mà còn đại diện cho trí tuệ của xã hội Nhóm đẳng cấp thứ hai

Trang 40

là những người chưa hoàn thiện, cần được giáo dục thường xuyên và đáng bị trừng phạt sau khi rời c i nhân gian đến với vương quốc của thần chết (Had s) Nhóm thứ ba (phức tạp), lại phân thành ba đẳng cấp, những kẻ vừa tốt vừa xấu, những kẻ xấu nhưng có thể giáo hóa được, và những kẻ mất hết nhân tính không thể giáo hóa

Tác phẩm t h là phản ánh mở rộng thứ hai của việc cải biến nhà

nước Tác phẩm được viết dưới hình thức đối thoại, khoảng năm 354 TCN,

gồm 2 quyển Theo Diogenes Laertius, t pháp được xuất bản sau khi

Platon mất Ba người đàn ông đứng tuổi tham gia đối thoại là: một người Athenes khuyết danh, leinias xứ Crete và Megillos của Sparte Cuộc đối thoại diễn ra tại đảo Crete, trên đường từ thành phố nossos đến đền thờ thần Zeus Có bảy nội dung được nêu ra là: những vấn đề sơ khởi, dẫn nhập luật pháp, tổ chức nhà nước lý tưởng nghĩa vụ, giáo dục và lối sống của công dân, tội ác và trừng phạt, tôn giáo và những tội ác chống lại nó, quan hệ công dân, vấn đề bảo vệ luật pháp

Trong uyển Platon không chỉ thể hiện quan điểm chống chiến tranh, yêu hòa bình, mà còn vạch ra những đức tính cần có của con người, vai trò của giáo dục trong đời sống xã hội Platon nói đến khát vọng vươn đến thần linh trong quá trình giáo dục con người, rằng chúng ta mô phỏng thần linh, trở thành con rối của thần linh, nhưng nhờ đó chúng ta phân biệt được tốt và xấu, lương thiện và bất nhân uyển 2 tiếp tục đề cao tinh thần lành mạnh của con người trong xã hội mới, loại bỏ những thói hư tật xấu, mà cụ thể là uống rượu thiếu kiểm soát uyển 3 bàn về nguồn gốc chính quyền, bắt đầu từ sự

tổ chức liên kết các gia đình đến sự hình thành cụm dân cư và một chính quyền hợp pháp uyển 4 làm r thêm thái độ bất bình của Platon đối với nền bạo chính, đồng thời ca ngợi đức hạnh của con người uyển 5 đào sâu sự giáo dục đạo đức cho con người Platon cho rằng: “Trong tất cả những thứ con người có, linh hồn vốn có khuynh hướng xa tránh sự dữ và tìm kiếm điều

Ngày đăng: 20/05/2016, 16:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w