Cho trẻ khám phá khoa học sẽ cung cấp cho trẻ vốn hiểu biết những gì xung quanh mình, từ môi trường tựnhiêncỏ cây, hoa lá đến môi trường xã hội công việc của mỗi người trong xã hội,mối q
Trang 1ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Họ và tên : Lưu Thị Hồng Vân
Đơn vị công tác: :Trường mầm non Phương Trung II
Thanh Oai – Hà Nội
Trình độ chuyên môn: Đại học
MỤC LỤC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - hạnh phúc
Trang 2TT NỘI DUNG TRANG
2 Nhiệm vụ, đối tượng, phương pháp nghiên cứu 4
3 Phạm vi và kế hoạch thực hiện đề tài 5
Trang 3Đề tài sáng kiến kinh nghiệm không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong của Hộiđồng khoa học đóng góp ý để đề tài có giá trị và ứng dụng thực tế đạt hiệu quả Tôi xin chân trọng cảm ơn!
I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài:
Trẻ em là hạnh phúc của mọi gia đình, là tương lai của cả dân tộc, việc bảo
vệ chăm sóc giáo dục trẻ không phải chỉ là trách nhiệm mỗi gia đình mà còn làtrách nhiệm của toàn xã hội
Giai đoạn trẻ 3 tuổi là thời điểm mấu chốt và quan trọng nhất, tất cả mọi việcđều bắt đầu: Bắt đầu ăn, bắt đầu nói, bắt đầu nghe, nhìn và vận động bằng đôi chân,
Trang 4đôi tay của mình Tất cả những cử chỉ đó đều làm nên những thói quen, kể cả thóixấu Như vậy ngay từ tuổi ấu thơ trẻ Mầm non đặc biệt là trẻ 3-4 tuổi đang ở nhữngbước phát triển mạnh về nhận thức, tư duy, ngôn ngữ, tình cảm Thế giới kháchquan xung quanh thật bao la rộng lớn, có biết bao điều mới lạ hấp dẫn, và còn cóbao lạ lẫm khó hiểu, trẻ tò mò muốn biết, muốn được khám phá, cho nên giáo dụcmầm non đã góp phần không nhỏ vào việc giáo dục thế hệ trẻ Trách nhiệm nặng
nề và cao cả ấy tất cả thuộc về cô giáo Mầm non tạo nên nền tảng vững chắc, là
chặng đường khôn lớn của trẻ Chính vì vậy sự nhạy cảm và có trách nhiệm cao làyêu cầu không thể thiếu trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ, cô giáo phải rất linhhoạt nhạy bén, kịp thời, có năng lực và có tính chủ động sáng tạo trong mọi hoạtđộng
Vậy giáo dục có tầm quan trọng rất lớn đối với đời sống con người nhất là ởtuổi Mầm non Ca dao xưa có câu “ dạy con từ thủa còn thơ” câu ca dao ấy đã đivào lòng người và không thể nào quên Mỗi chúng ta đều được lớn lên từ nhữngtiếng ru dịu ngọt của bà của mẹ cất lên “Cháu ơi cháu ở với bà” hoặc “ con ơi conngủ cho ngon” Đã hoà vào hồn ta và ru ta khôn lớn, vì vậy cho trẻ khám phá khoahọc mang lại nguồn biểu tượng vô cùng phong phú, đa dạng, sinh động, đầy hấpdẫn với trẻ thơ, thế giới xung quanh sinh động là vậy, thích thú là vậy, vì thế trẻluôn có niềm khao khát khám phá, tìm hiểu về chúng Cho trẻ khám phá khoa học
sẽ cung cấp cho trẻ vốn hiểu biết những gì xung quanh mình, từ môi trường tựnhiên(cỏ cây, hoa lá) đến môi trường xã hội (công việc của mỗi người trong xã hội,mối quan hệ của con người với nhau) Và trẻ hiểu biết về chính bản thân mình.Trên thực tế hiện nay các tiết học khám phá khoa học tại trường Mầm nonPTII cho trẻ 3-4 tuổi” còn rất tẻ nhạt, giáo viên ngại dạy, trẻ chưa có húng thú họctập vì vậy việc sử dụng những biện pháp gây hứng thú hay những phương pháp chotrẻ khám phá nhằm nâng cao chất lượng cho trẻ là rất cần thiết, chính vì vậy mà tôi
đã chọn đề tài “ Một số biện pháp nâng cao chất lượng cho trẻ 3-4 tuổi trong hoạt
động khám phá khoa học” làm đề tài nghiên cứu và thực nghiệm trong năm học
2015- 2016
1 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Khám phá khoa học là một trong 2 lĩnh vực của phát triển nhận thức Khámphá khoa học có tác dụng giáo dục về mọi mặt đối với trẻ như là: Ngôn ngữ, đạođức, trí tuệ, thẩm mỹ, thể lực Khám phá khoa học là phương tiện để giao tiếp vàlàm quen với môi trường xung quanh để giao lưu và bày tỏ nguyện vọng của mình
và đồng thời là công cụ của tư duy
Trang 5Trong phạm vi đề tài tôi nghiên cứu thực trạng, tìm ra giải pháp nâng cao chấtlượng cho trẻ khám phá khoa học lớp 3- 4 tuổi trường Mầm non Phương trung II.
3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Từ những thực trạng để đã tìm ra một số biện pháp năng cao chất lượng chotrẻ khám phá khoa học, góp phần to lớn vào việc hình thành và phát triển nhâncách cho trẻ 3 - 4 tuổi trường Mầm non Phương Trung II
4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu là trẻ lớp mẫu giáo 3 – 4 tuổi trường Mầm non PhươngTrung II
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Qua thực tế giảng dạy và làm đề tài bản thân đã sủ dụng một số phương phápsau:
- Phương pháp quan sát và đàm thoại:
- Phương pháp cho trẻ thực hành
- Phương pháp ghi chép, tổng hợp
- Phương pháp trao đổi với đồng nghiệp
- Phương pháp động viên khen trẻ kịp thời
Trong khi nghiên cứu đề tài tôi luông sử dụng lồng ghép và linh hoạt các biệnpháp để có được kết quả tốt
* Khảo sát thực tế:
- Thuận lợi:
+ Ban giám hiệu luôn quan tâm đầu tư về cơ sở vật chất và chuyên môn, bồi dưỡngphương pháp, đổi mới hình thức tổ chức hoạt động giáo dục mầm non, tạo mọi điềukiện giúp tôi thực hiện tốt chương trình giáo dục mầm non mới
+ Một số phụ huynh nhiệt tình chia sẻ với giáo viên về tình hình của con ở nhà,thường xuyên trao dành thời gian trao đổi với cô giáo để cùng chăm sóc và giáodục các con
Trang 6+ Bản thân thường xuyên tìm tòi, nghiên cứu tài liệu, tạp chí, thông tin trên mạng
có liên quan đến việc chăm sóc và giáo dục trẻ để áp dụng vào việc chăm sóc giáodục trẻ hằng ngày
- Khó khăn:
Giáo viên trong lớp còn nhiều hạn chế về phương pháp và chưa có kinh
nghiệm trong việc nâng cao chất lượng cho trẻ 3-4 tuổi trong hoạt động khám phá
Góc thiên nhiên còn nghèo, số cây ít, loại cây chưa phong phú, chưa đượcchăm sóc nhiều nên chưa tươi tốt
Một số trẻ chưa có được sự quan tâm nhiều của phụ huynh
Vốn hiểu biết về môi trường tự nhiên và xã hội của trẻ còn hạn chế
3 Số liệu điều tra:
Năm học 2015 – 2016 tôi được phân công phụ trách lớp 3 tuổi C4
Lớp có 35 trẻ: 16 nam, 19 nữ trong số đó có nhiều trẻ chưa qua lớp nhà trẻ
* Số liệu khảo sát đầu năm học 2015 – 2016:
STT Kỹ năng quan sát, tìm ra đặc điểm của
4 Phạm vi và kế hoạch thực hiện đề tài:
Năm học 2015 – 2016( từ tháng 9/2015 đến tháng 4 năm 2016) và tiếp tụcthực hiện các năm tiếp theo
II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
1 Cở sở lý luận
Dạy trẻ làm quen với bộ môn khám phá khoa học có một tầm quan trọng trongquá trình giáo dục trẻ mầm non Đặc biệt là trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi Vì thông quaviệc dạy trẻ khám phá khoa học đã rèn khả năng quan sát, so sánh, phân loại, khả
Trang 7năng chú ý tư duy tưởng tượng Khám phá khoa học nhằm củng cố hoá kiến thức.
Mở rộng vốn hiểu biết từ thế giới xung quanh và qua đó làm giàu vốn từ cho trẻ.Trẻ nhận biết phân biệt âm đúng chuẩn, đồng thời phát triển ngôn ngữ, diễn đạt rõràng mạch lạc
2 Cơ sở thực tiễn
Trước khi thực hiện đề tài tôi đã có những tiết cho trẻ khám phá khoa học , tôi thấyvốn biểu tượng về thế giới xung quanh của trẻ còn ít, đặc biệt trẻ rất dễ nhầm lẫn,khi gọi tên các con vật Mặt khác khả năng quan sát, phân loại của trẻ gặp rất nhiềukhó khăn
3 Các biện phap:
* Biện pháp 1: Tạo môi trường cho trẻ hoạt động:
Quá trình khám phá khoa học có đạt đạt hiệu quả hay không phụ thuộc vàonhiều yếu tố, trong đó môi trường xung quanh trẻ giữ một vị trí quan trọng Nóchứa đựng các phương tiện cần thiết để tổ chức cho trẻ khám phá Trẻ mầm nonphần lớn sống trong gia đình và trường lớp mẫu giáo vì vậy việc taọ môi trườngcho trẻ thực hiện các hoạt động khám phá là vô cùng quan trọng và cần thiết
Đồ dùng, trực quan, đồ chơi phục vụ hoạt động khám phá khoa học như:Bàn, ghế, bảng, tranh, mô hình, các từ gắn với mỗi hình ảnh, vật mẫu Cần phảiđầy đủ cho cô và trẻ cùng hoạt động
Đồ dùng của trẻ cũng phải đẹp, hấp dẫn, phong phú sinh động nhằm kích thíchhứng thú, tò mò lòng ham hiểu biết của trẻ, tôi thường sử dụng đồ thật, vật thậthoặc hình ảnh động cho tiết học sinh động và có sự sáng tạo và đảm bảo an toàncho trẻ
Đặc biệt tôi bố trí giá sách chủ yếu là sách vẽ con vật, cây cối, hoa lá, quả hạt
… Tranh ảnh vừa tầm với của trẻ để trẻ có thể xem và đọc sách (có que chỉ choviệc đọc sách) Đọc sách theo từng chữ, từng dòng, tôi sắp xếp các hộp đựng vỏcây khô hoa lá ép khô, các loại hột hạt… Có ngắn nhãn mác và hình ảnh rõ ràng đểtrẻ rễ nhận thấy, trẻ được chơi và làm được những sản phẩm từ những đồ chơi ấy.Ngoài ra tôi cũng dùng vỏ hến, ốc, trai, sò, vỏ trứng được vệ sinh sạch sẽ vừa làm
đồ dùng, đồ chơi phong phú vừa rẻ tiền vừa dễ kiếm
Các tranh, lô tô đều được phân loại để ở giá vừa dễ lấy, dễ tìm
Ví dụ : Tôi phân loại lô tô :
Trang 8- Lô tô con vật xếp vào một ô
- Lô tô các loại quả xếp vào một ô
Dựa vào yêu cầu thực tế dạy trẻ, tôi đề nghị với BGH nhà trường trang bị thêmthiết bị, đồ dùng dạy học như: Bảng quay tranh ảnh, lôtô, và với mỗi tiết cần có đồdùng để phục vụ thật đầy đủ
Với các bậc phụ huynh vận động họ mua thêm đồ dùng, tranh, truyện, đặcbiệt là tranh, sách, ảnh về các con vật, cây cối, hoa lá, quả Sưu tầm những câu cadao, tục ngữ, đồng dao để làm phong phú vốn hiểu biết về môi trường xung quanhcủa trẻ, đóng góp nguyên vật liệu như cây hoa cây cảnh, sản phẩm của địa phương
mà gia đình có, động vật nhỏ như cá, tôm cua… và cho mượn một số động vật như
gà, vịt mà gia đình các phụ huynh có
Với chính bản thân mình tôi tận dụng những nguyên vật liệu có sẵn ở địaphương như: vải vụn làm dối, cọng rơm khô làm mái nhà, sưu tầm lá khô với nhiềumàu sắc, hoa ép khô, vỏ cây khô để làm tranh ảnh cho tiết dạy Sưu tầm các loạihạt, các loại vỏ trai ốc, hến sò để bổ xung gian đồ chơi của trẻ
Từ những nguyên vật liệu phế thải và thiên nhiên trẻ tạo ra được bát, cốc, bànghế, ấm chén từ vỏ sữa su su Với các chủ điểm thế giới động vật trẻ làm con cua
từ vỏ chai chai, con cá từ vỏ con ngao, con gà trống từ vỏ can dầu rửa bát, con lợn
từ vỏ váng sữa chua, con thỏ, con gấu từ vỏ sữa su su Với chủ điểm thế giới thựcvật trẻ xé dán hoa lá từ lá cây mít khô, lá cây cảnh có màu đỏ, vàng và hột hạt đểlàm tranh tổng hợp và hạt đỗ đen, hạt na làm mắt các con vật
Trẻ rất hứng thú khi đến hoạt động làm đồ chơi và trẻ phấn khởi khoe với bạn
bè và bố mẹ mình đã tạo ra được sản phẩm
* Biện pháp 2: Qua tiết học khám phá khoa học:
Tiết học khám phá khoa học thể hiện tối ưu đồng bộ các nhiệm vụ cho trẻkhám phá khoa học Tạo điều kiện để trẻ được tích cực hoạt động Nội dung khámphá khoa học vô cùng đa dạng và phong phú như môi trường thiên nhiên, xã hội vàcon người
Ví dụ: Tôi cho trẻ khám phá về “ Con mèo” với thức ăn
Tôi hỏi trẻ: Theo con mèo thích ăn gì nhất? ?hoặc tôi hỏi mèo có thể ăn thức
ăn gì? Để biết được điều đó hôm nay cô chuẩn bị một số thức ăn Chúng mình
Trang 9cùng làm thí nghiệm: ? Ai có thể giúp cô cho mèo ăn? Từ đó đưa ra kết luận: Mèothích ăn cá nhất và có thể ăn nhiều loại thức ăn khác.
+ Mối quan hệ với nắng: Mèo thích phơi nắng Mùa đông thích sưởi ấm haynằm bếp ro,
+ Mối quan hệ với con người: Nó thích được người âu yếm, vuốt ve Khi nócáu giận nó kêu, cào, cấu
+ Mèo đẻ con và nuôi con bằng sữa mẹ Tôi cho trẻ xem tranh ảnh, băng hình
Ví dụ: Khi dạy về con cá Cho trẻ quan sát con cá ở chậu Tại sao cá có mồm
mà không thưa? Vậy mồm cá biết làm gì? Bạn nào lên đây cho cá ăn? Chúng mìnhcùng xem cá ăn như thế nào? Chúng mình mời cá ăn đi Ồ thì ra cá có mồm nhưngchỉ biết ăn, không biết nói đúng không nào
Phát triển kỹ năng xã hội nhằm phát triển kinh nghiệm giao tiếp, giúp trẻ biếthợp tác thoả thuận chia sẻ kinh nghiệm để đạt được mục đích giao tiếp Đặc biệtchú trọng rèn luyện kỹ năng làm việc theo nhóm
Giáo dục trẻ có thái độ hình thành tình cảm đạo đức, ứng xử, hành vi, thóiquen Ví dụ: Cho trẻ làm quen với “ Cây xanh” Giáo dục trẻ có ý thức chăm sóc vàbảo vệ cây xanh
Khi xác định đúng mục đích yêu cầu đến các hoạt động tôi xác định rõ từngloại tiết để có phương pháp giáo dục phù hợp như:
Loại tiết về đồ vật, động vật, thực vật:
+ Gây hứng thú cho trẻ ngay từ đầu tiết học Dùng nhiều biện pháp cho trẻđược trải nghiệm, hành động và tìm kiếm Tôi đặt câu hỏi kích thích trẻ quan sátvào đối tượng, hành động về đối tượng
Ví dụ: Chúng mình đã biết rất nhiều về con mèo, hãy đặt câu đố hay vẽ lại conmèo Tại sao lại khó thế nhỉ bởi chúng ta chưa thấy nó bao giờ? Để đặt câu đố, vẽ
dễ hơn chúng mình cùng quan sát về con mèo nhé
Sử dụng câu đố, bài hát, thơ ca gây hứng thú cho trẻ khám phá khoa học
Cho trẻ làm quen với con cá, tôi dùng câu đố :
“Con gì có vẩy có vây
Trang 10Không đi trên cạn mà đi dưới hồ ”
Ngoài ra tôi còn dùng cách khác để vào bài cung cấp biểu tượng thế giới xungquanh cho trẻ, qua hình ảnh mô hình, con vật thật, làm giàu biểu tượng cho trẻ bằngcách làm các thí nghiệm …
Ví dụ : Làm quen với con cua, trẻ đã tìm được đặc điểm của con cua có haicàng to, tám chân… Sau đó đặt câu hỏi gợi mở “các con có biết con cua nó đi nhưthế nào không?” Trẻ trả lời được là con cua bò ngang, tôi dùng que chỉ rõ, cua cómai cua, yếm cua cứng để bảo vệ cơ thể chúng
Như vậy không những trẻ biết được cua có những đặc điểm gì mà trẻ cònbiết môi trường sống của chúng, cách vận động, (Đi như thế nào ?) các bộ phận cơthể ra sao Nắm rõ đặc điểm trẻ quan sát rễ hơn, từ đó so sánh rất rõ ràng và phânloại cũng rất tốt
Trong hoạt động khám phá tôi lồng ghép tích hợp các môn khác như: Toán,
âm nhạc, tạo hình, văn học… để trẻ thêm hứng thú, ghi nhớ tốt hơn, hiểu vấn đềsâu và rộng hơn
Ví dụ : Trong tiết dạy làm quen với động vật sống dưới nước
Tôi cho trẻ thi “ đố vui ” hai đội ra câu đố cho nhau và giải câu đố đội bạn
“ Nhà hình soắn lằm ở dước ao
Chỉ có một cửa ra vào mà thôi
Mang nhà đi khắp mọi nơi
Không đi đóng cửa nghỉ ngơi một mình ”
( con ốc )
Trang 11Con gì đầu bẹp Hai ngạnh hai bênRâu ngắn vểnh lênMình trơn bóng nhỡn
* 3 biện pháp 3: Sử dụng các trò chơi thực nghiệm :
Trong khám phá khoa học việc sử dụng trò chơi, thí nghiệm đơn giản luôn tạo cho trẻ sự hứng thú, kích thích trẻ tích cực hoạt động, phát triển ở trẻ tính tò
mò, ham hiểu biết, thích khám phá, tìm tòi, phát triển óc quan sát, phán đoán và cácnăng lực hoạt động trí tuệ, chính vì vậy mà phương pháp sử dụng các trò chơithực nghiệm luôn đạt kết quả cao trong hoạt động khám phá khoa học
Ví dụ 1: Thí nghiệm về sự nảy mầm của hạt
- Vì trẻ mẫu giáo lớn nên tôi cho trẻ tự làm và nêu kết quả thực nghiệm của bảnthân
* Giải thích và kết luận:
Cây nảy mầm được nhờ được gieo xuống đất, có ánh sáng và tưới nước đầy đủsáng có thức ăn trong hạt và nước uống trong đất và ngược lại cây mà không đượcchăm sóc đầy đủ sẽ không nảy mầm được
Trang 12Ví dụ 2: Trò chơi với nước, không khí và ánh sáng : “Bóng cây thay đổi”
* Mục tiêu:
Cho trẻ biết vào mỗi thời điểm khác nhau trong một ngày: sáng, trưa, tối thìcác vật trên mặt đất được chiếu vào sẽ tạo ra bóng một cách khác nhau
* Chuẩn bị::
- Phấn, thước đo, một số cây trên sân.
- Đố trẻ bóng người, nhà ở, bóng cây dưới ánh sáng mặt trời trong ngày có thay đổikhông? Theo trẻ thay đổi như thế nào?
- Cùng trẻ đo bóng cây, một người, nhà ở hoặc của một cây dưới ánh sáng mặt trời
ở 3 thời điểm trong ngày (sáng- trưa- tối)
- Cho trẻ nhận xét vị trí của bóng cây thay đổi như thế nào? tìm hiểu vì sao bóngcây thay đổi theo các thời điểm trong ngày như vậy so sánh khi nào bóng ngắn, dàinhất
Cho trẻ trực tiếp tham gia quan sát và đo bóng cây sau đó tự nêu ra các yêu cầu củabài thí nghiệm
* Giải thích và kết luận:
- Ánh sáng mặt trời chiếu vào phần vướng cây xanh nên không đi qua được nên tạo
ra bóng trên mặt đất Ngoài ra vào các thời điểm khác nhau thì sẽ có các bóng xuấthiện trên mặt đất là khác nhau do bóng mặt trời di chuyển
Ví dụ 4: Thí nghiệm về vật nổi vật chìm dưới nước
* Chuẩn bị:
+ Đồ dùng: Các mẩu gỗ, bi sắt đường kính 3-4cm, thìa inox, cục nam châm, một
miếng xốp, giấy, chậu đựng nước sạch
+Đồ chơi: Thuyền giấy, lá mít trẻ đã gấp, bóng nhựa, đồ chơi nhựa.
- Tiến hành: Cho trẻ tự lấy đồ chơi đã chuẩn bị sẵn thả vào chậu nước, và yêu cầu
trẻ nhận xét vật nào chìm? vật nào nổi tại sao ?
Kết quả: Qua thí nghiệm này giúp trẻ hiểu những đồ vật làm từ những nguyên liệu
nặng sắt, thép, nhôm… như bi sắt , bát, thìa inox, … những đồ vật làm từ nguyênliệu nhẹ: gỗ, xốp, giấy, nhựa,….thì nổi trên nước
Qua việc tạo các điều kiện cho trẻ tiếp xúc các sự vật hiện tượng và môi trườngxung quanh bằng các thí nghiệm, thử nghiệm tôi thấy nhận thức của trẻ được mởrộng, khả năng quan sát, tri giác của trẻ phát triển tốt đa số trẻ thể hiện được tínhtích cực chủ động khi quan sát đối tượng trong quá trình quan sát trẻ tỏ ra nhanhnhẹn linh hoạt và phát triển nhiều vốn kinh nghiệm, vốn từ của trẻ trở nên phongphú hơn khả năng diễn đạt tổt hơn
* Biện pháp 4: Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan:
Sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học chiếm một vị trí rất quan trọng trongviệc giúp trẻ tiếp thu những kiến thức Bởi lẽ trực quan trong dạy học huy độngđược tất cả các giác quan tham gia vào quá trình nhận thức của trẻ