Phương pháp này được nghiên cứu thực nghiệm trong đề tài: “Xây dựng và sử dụng câu hỏi khách quan nhiều lựa chọn trong dạy học chương III Sinh trưởng và phát triển và chương IV Sinh sản,
Trang 11.2 Xuất phát từ tiềm năng ưu việt của câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn có thể được áp dụng có hiệu quả vào các khâu của quá trình dạy học Sinh học
Dạy học kiến thức mới sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan có độ tin cậycao hơn, khả năng đoán mò hay may rủi ít hơn so với các loại câu hỏi trắc nghiệmkhách quan khác Đặc biệt là khi số phương án trả lời tăng lên, học sinh buộc phảixét đoán, nắm vững kiến thức, phân biệt rõ ràng trước khi trả lời câu hỏi Qua đó,học sinh sẽ phải nắm được rõ bản chất của kiến thức
Sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong dạy học kiến thức mới bảođảm thông tin hai chiều giữa người dạy và người học, làm cơ sở cho việc uốn nắn,chỉnh sửa những sai lệch trong nhận thức của học sinh, là công cụ để kiểm tra, đánhgiá khả năng lĩnh hội kiến thức của học sinh
1.3 Xuất phát từ đặc trưng của chương trình Sinh học phổ thông, kiến thức có thể được hình thành qua lý thuyết và thực nghiệm
Trang 2Ở nhà trường trung học phổ thông hiện nay, Sinh học đề cập đến các hiệntượng, quy luật, khái niệm mới rất phức tạp ở các cấp tổ chức khác nhau Đây lànhững kiến thức khó, vì vậy để học sinh thu nhận được kiến thức một cách chủđộng, tích cực thì phương pháp dạy học cần được đổi mởi một cách toàn diện.
Với những lí do trên đây, chúng tôi xin đề ra phương pháp: Sử dụng câu hỏitrắc nghiệm khách quan là phương tiện tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh
Phương pháp này được nghiên cứu thực nghiệm trong đề tài: “Xây dựng và sử dụng câu hỏi khách quan nhiều lựa chọn trong dạy học chương III Sinh trưởng và phát triển và chương IV Sinh sản, Sinh học 11, trung học phổ thông”.
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Xây dựng và sử dụng bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn đạtchuẩn để dạy kiến thức mới ở cấp độ cơ thể chương Sinh trưởng và phát triển vàchương Sinh sản, Sinh học 11, nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học Sinhhọc ở trường trung học phổ thông
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học chương Sinh trưởng và phát triển vàchương Sinh sản, Sinh học 11 trên đối tượng học sinh trường THPT Hoàng Văn Thụ
- Hoàng Mai, Hà Nội
- Đối tượng nghiên cứu: Quy trình xây dựng và sử dụng câu hỏi trắc nghiệm kháchquan nhiều lựa chọn vào dạy học kiến thức mới ở cấp độ cơ thể chương Sinh trưởng vàphát triển và chương Sinh sản, Sinh học 11, trung học phổ thông
4 Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài chỉ nghiên cứu việc xây dựng và sử dụng câu hỏi trắc nghiệm kháchquan nhiều lựa chọn trong dạy học kiến thức mới ở cấp độ cơ thể chương Sinhtrưởng và phát triển và chương Sinh sản, Sinh học 11, trung học phổ thông
5 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Góp phần hoàn thiện thêm cơ sở lí luận của việc xây dựng và sử dụng câu hỏi trắcnghiệm khách quan nhiều lựa chọn trong dạy học kiến thức mới chương Sinh trưởng
và phát triển và chương Sinh sản, Sinh học 11, trung học phổ thông
- Xác định thực trạng của việc xây dựng và sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quantrong dạy học ở trường trung học phổ thông
Trang 3- Xây dựng nguyên tắc, qui trình xây dựng và qui trình sử dựng câu hỏi trắc nghiệmkhách quan nhiều lựa chọn trong dạy học kiến thức mới chương Sinh trưởng và pháttriển và chương Sinh sản, Sinh học 11, trung học phổ thông
- Phân tích nội dung chương Sinh trưởng và phát triển và chương Sinh sản, Sinh học
11, trung học phổ thông làm cơ sở xây dựng bảng trọng số để xây dựng hệ thống câuhỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn vào dạy học các chương nói trên
- Đề xuất quy trình sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn vào dạyhọc nội dung chương Sinh trưởng và phát triển và chương Sinh sản, Sinh học 11,trung học phổ thông
- Thực nghiệm sư phạm để khẳng định hiệu quả của việc sử dụng câu hỏi trắcnghiệm khách quan nhiều lựa chọn trong dạy học kiến thức mới để nâng cao chấtlượng dạy học
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu những tài liệu liên quan làm cơ sở lí luận cho đề tài: tài liệu triết học,lôgic học, giáo dục học, các tài liệu phát triển giáo dục, phương pháp giáo dục, cácluận văn, luận án có cùng hướng nghiên cứu
- Lý thuyết thực tiễn về câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong dạy học
- Nghiên cứu chương trình, SGK Sinh học lớp 11, các tài liệu tham khảo khác đểlàm rõ hơn kiến thức liên quan tới cơ thể sống
6.2 Điều tra cơ bản
Phỏng vấn và sử dụng phiếu điều tra các giáo viên dạy môn Sinh học ở cáctrường trung học phổ thông về tình hình xây dựng và sử dụng câu hỏi trắc nghiệmkhách quan nhiều lựa chọn
6.3 Thực nghiệm sư phạm
Để kiểm định tính khả thi của giả thuyết đã nêu ra.
6.4 Phương pháp thống kê toán học
6.4.1 Phân tích định tính
6.4.2 Phân tích định lượng
7 Giả thuyết nghiên cứu
Trang 4Nếu xây dựng được hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọnđáp ứng chuẩn mực và lựa chọn được quy trình sử dụng phù hợp thì sẽ góp phần nângcao được chất lượng dạy học kiến thức cấp độ cơ thể chương Sinh trưởng và phát triển
và chương Sinh sản, Sinh học 11, trung học phổ thông
8 Những đóng góp mới của luận văn
- Góp phần hoàn thiện thêm cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng và sử dụngcâu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn trong dạy học kiến thức mới chươngSinh trưởng và phát triển và chương Sinh sản, Sinh học 11, trung học phổ thông
- Xây dựng nguyên tắc, vai trò và qui trình xây dựng và sử dụng câu hỏi trắc nghiệmkhách quan nhiều lựa chọn vào dạy học chương Sinh trưởng và phát triển và chươngSinh sản, Sinh học 11, trung học phổ thông
- Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan để đưa vào dạy học kiến thứcmới chương Sinh trưởng và phát triển và chương Sinh sản, Sinh học 11, trung họcphổ thông
- Xây dựng các giáo án thực nghiệm và đề xuất quy trình sử dụng câu hỏi TNKQnhiều lựa chọn để tổ chức dạy học chương Sinh trưởng và phát triển và chương Sinhsản, Sinh học 11, trung học phổ thông để bước đầu khẳng định tính đúng đắn của giảthuyết nêu ra
10 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nộidung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Xây dựng và sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựachọn trong dạy học kiến thức mới ở cấp độ cơ thể chương Sinh trưởng và phát triển
và chương Sinh sản, Sinh học 11, trung học phổ thông
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Lược sử tình hình nghiên cứu, sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn vào dạy học trên thế giới và Việt Nam
Trang 51.1.1 Trên thế giới
Vào thế kỉ 17- 18 khoa học trắc nghiệm đầu tiên được áp dụng ở khoa vật lítâm lí và sau đó đến động vật học Sang đầu thế kỉ XIX, ở Đức và nhiều nước Châu
Âu khác đã bắt đầu sử dụng trắc nghiệm trong phòng thí nghiệm sinh học
Ngày nay phương pháp trắc nghiệm khách quan đã trải qua hàng loạt các thínghiệm trong nhiều lĩnh vực thuộc các đối tượng khác nhau đã khẳng định tính khoahọc và vị thế của nó Có thể nói việc kiểm tra trong thi cử ở hầu hết các trường hợpcác châu lục phần lớn áp dụng phương pháp TNKQ Sau này, với sự phát triển mạnhcủa công nghệ thông tin, nhiều quốc gia tiên tiến trên thế giới đã cải tiến việc thựchiện phương pháp TNKQ ở các khâu như: Cài đặt các chương trình chấm điểm, xử lí
và phân tích kết quả bằng máy tính khiến cho phương pháp trắc nghiệm thực sự trởthành công cụ hữu ích, nhất là đối với chương trình tự học, tự đào tạo
1.1.2 Ở Việt Nam
Từ những năm 50 của thế kỉ XX, ở miền Nam phương pháp trắc nghiệmkhách quan được sử dụng sớm hơn so với miền Bắc và đã áp dụng rộng rãi trong cáctrường học Lần đầu tiên sử dụng trắc nghiệm khách quan thông qua các cuộc khảosát khả năng ngoại ngữ do các tổ chức quốc tế tài trợ, sau đó phương pháp này được
sử dụng phổ biến trong kiểm tra và thi ở bậc trung học, trong dó sinh học là mônđược áp dụng đầu tiên
Hiện nay, định hướng đổi mới phương pháp kiểm tra – đánh giá của SGK nóichung và SGK Sinh học 11 nói riêng là: “Cải tiến các hình thức kiểm tra truyềnthống, phát triển các loại hình TNKQ, kể cả các trắc nghiệm bằng sơ đồ, hình vẽ,nhằm giúp học sinh tự kiểm tra trình độ nắm kiến thức toàn chương trình, tăng nhịp
độ thu nhận thông tin phản hồi để kịp thời điều chỉnh hành động dạy và học…”Thực tiễn đã dần khẳng định việc nghiên cứu, xây dựng và áp dụng TNKQ một cáchợp lý trong dạy và học là cần thiết, đáp ứng đòi hỏi của công cuộc đổi mới giáo dục
và đào tạo theo chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam
1.2 Cơ sở lí luận
1.2.1 Các khái niệm, phân loại câu hỏi
1.2.1.1 Khái niệm về câu hỏi
Tuy có nhiều khái niệm khác nhau nhưng về bản chất của các câu hỏi đều được
Trang 6các tác giả nêu ra đó là: Xuất hiện điều chưa rõ cần được giải quyết từ điều đã biết.Trong thực tế đời sống cũng như trong nghiên cứu khoa học, con người chỉ nêu ra thắcmắc, tranh luận khi đã biết nhưng chưa đầy đủ, cần biết thêm Sự tương quan giữa cái
đã biết và cái chưa biết thúc đẩy việc mở rộng hiểu biết của con người
1.2.1.2 Phân loại câu hỏi
Tuỳ theo bản chất, mục đích, cách sử dụng mà người ta chia câu hỏi thànhnhiều loại khác nhau:
* Dựa vào mức độ nhận thức của học sinh:
- Câu hỏi yêu cầu tái hiện sự kiện, hiện tượng, quá trình…
- Câu hỏi yêu cầu mức hiểu khái niệm
- Câu hỏi yêu cầu mức vận dụng khái niệm
- Câu hỏi yêu cầu mức sáng tạo
* Dựa vào các khâu của quá trình dạy học:
- Câu hỏi sử dụng trong khâu nghiên cứu tài liệu mới
- Câu hỏi sử dụng trong khâu ôn tập, củng cố, hoàn thiện, nâng cao
- Câu hỏi sử dụng trong kiểm tra đánh giá
* Dựa vào mức độ tích cực:
- Câu hỏi tái hiện thông báo
- Câu hỏi tìm tòi bộ phận
- Câu hỏi kích thích tư duy, tích cực
* Dựa vào hình thức câu hỏi:
- Câu hỏi trắc nghiệm tự luận
- Câu hỏi trắc nghiệm khách quan
1.2.1.3 Khái niệm về câu hỏi trắc nghiệm khách quan
Theo Vũ Đình Luận và nhiều tác giả khác, TNKQ là phương pháp đánh giá kết quả của học sinh trong đó, các câu hỏi đã kèm theo câu trả lời sẵn hoặc các phương án tiến hành đòi hỏi học sinh phải chọn một câu trả lời hay một phương án
hoặc phải điền những thông tin nhất định vào câu trả lời
1.2.1.4 Ưu điểm của câu hỏi TNKQ
- TNKQ có những ưu điểm sau:
Trang 7+ Thí sinh dành nhiều thời gian để đọc và suy nghĩ, lựa chọn câu trả lời đúngnhất trong số những câu trả lời gợi ý.
+ Số lượng câu hỏi nhiều, bao quát được kiến thức của chương trình Học viêntrả lời ngắn gọn
+ Người soạn có điều kiện tự do bộc lộ kiến thức và các giá trị của mình thôngqua việc đặt câu hỏi
+ Người chấm ít tốn công và kết quả chấm là khách quan vì không bị ảnhhưởng tâm lý khi chấm
- TNKQ cũng tồn tại một số nhược điểm:
+ Chất lượng của bài trắc nghiệm được xác định phần lớn dựa vào kỹ năng củangười soạn thảo
+ Người ra đề tốn nhiều công sức và thời gian
+ Cho phép và đôi khi khuyến khích sự phỏng đoán của học viên
1.2.1.5 Các loại câu hỏi TNKQ
+ Loại trắc nghiệm ghép đôi
+ Loại trắc nghiệm điền khuyết
+ Loại trắc nghiệm đúng/sai
+ Loại trắc nghiệm nhiều lựa chọn
1.2.2 Quan hệ giữa câu hỏi tự luận và câu hỏi trăc nghiệm khách quan
1 câu hỏi tự luận = n (câu trả lời ngắn) = m (câu hỏi MCQ)
Trong nghiên cứu của mình, chúng tôi sử dụng câu hỏi TNKQ hay còn gọi làcâu hỏi đóng dạng MCQ trong mọi khâu của quá trình dạy học: hình thành kháiniệm, hoàn thiện khái niệm mới (củng cố, ôn tập) và kiểm tra đánh giá
1.2.3 Vai trò của câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn trong dạy học
MCQ được dùng như là chìa khóa mở ra quá trình tìm tòi, khám phá để giảiquyết vấn đề
MCQ là công cụ nhận thông tin phản hồi, kích thích, tổ chức định hướng hoạtđộng của HS trong quá trình dạy học
Trong quá trình tự học thì MCQ rất có hiệu quả
1.2.4 Tiêu chuẩn của câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn để dạy học
Trang 81.2.4.1 Các tiêu chuẩn của câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn để dạy học
* Tiêu chuẩn định lượng:
+ Phải chọn các câu hỏi khó: Độ khó trong khoảng 25% đến 75%, độ khótrung bình với bốn phương án chọn là 62,5%, độ phân biệt từ 0,2 trở lên
+ Mỗi câu hỏi phải có độ nhiễu thích hợp để đảm bảo độ khó và độ phân biệt.Tiêu chuẩn cho các câu hỏi nhiễu tối thiểu có 3% đến 5% tổng số thí sinh phải chọnmột trong các câu nhiễu của câu trắc nghiệm, mà đối với họ tỏ ra là có vẻ là hợp lí,
số lượng này càng sớm càng tốt
* Tiêu chuẩn định tính:
- Tiêu chuẩn chung:
+ Phần câu dẫn phải thể hiện được: Tính hoàn chỉnh, tính tập trung, tính ngắngọn, súc tích của câu hỏi
+ Phần phương án chọn phải thể hiện được: Tính chính xác, tính hấp dẫn củacác câu nhiễu, tính phù hợp, tính tương tự trong cấu trúc câu trả lời
+ Không được có những từ đầu mối, gợi ý dẫn đến trả lời như: "luôn luôn", "không bao giờ", " chỉ có", " tất cả"
- Tiêu chuẩn riêng đối với câu hỏi MCQ để dạy học hình thành khái niệm
+ Nội dung của câu hỏi được dùng trong bài giảng mang đầy đủ thông tin củabài học, cấu trúc nội dung trong câu hỏi phù hợp với cấu trúc bài học để dễ phântích, hiểu, nhớ, vận dụng kiến thức của bài học
+ Câu hỏi MCQ để dạy học hình thành khái niệm không chỉ mang nhữngthông tin liên quan đến nội dung bài học mà còn chứa đựng kiến thức liên quan đếncác phần đã học và gợi mở những kiến thức sắp học ở các bài sau
+ Câu hỏi MCQ phải huy động được tích cực học tập của nhiều học sinh
+ Câu hỏi MCQ phải phù hợp với thời gian lên lớp, các hoạt động học tập trongmỗi bài học
1.2.4.2 Tiêu chuẩn của một bài trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn dùng để kiểm tra kết quả học tập của học sinh sau khi sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan dạy học
* Tiêu chuẩn về nội dung khoa học :
- Tính giá trị
Trang 9- Tính linh hoạt, mềm dẻo
Trong một đề trắc nghiệm, để đánh giá kết quả học tập của học sinh sau mộtthời gian học tập theo phương pháp thực nghiệm của đề tài nghiên cứu, thì số cáccâu hỏi trong đề và các loại tri thức như sau: khoảng 60-70% là kiến thức cơ bản;khoảng 20-30% là kiến thức tổng hợp ở mức trung bình, khoảng 10% kiến thức ởmức độ nâng cao để phân loại học sinh khá giỏi
1.3 Cơ sở thực tiễn
1.3.1 Thực trạng dạy học môn Sinh học ở trung học phổ thông
1.3.1.1 Thực trạng về sử dụng phương pháp dạy học môn Sinh học của giáo viên ở trung học phổ thông
Để tìm hiểu thực trạng về sử dụng phương pháp dạy môn Sinh học của GV ởTHPT hiện nay, chúng tôi đã tiến hành dự giờ, trao đổi với GV, tham khảo các giáo
án của GV, sử dụng phiếu điều tra đối với 20 GV của các trường: THPT Hoàng VănThụ (Hoàng Mai – Hà Nội), THPT Trần Nhân Tông (Hà Nội), THPT Thượng Cát(Hà Nội), THPT Trương Định (Hà Nội) trong năm học 2012 – 2013
Bảng 1.1 Kết quả điều tra thực trạng việc sử dụng các phương pháp dạy học
Sinh học của GV THPT
Sử dụng thường xuyển
Trang 10Qua bảng 1.1 cho thấy:
Nhìn chung nhận thức của GV về đổi mới PPDH đã có chuyển biến rõ rệtsong khi vận dụng chúng vào thực tế dạy học còn nhiều hạn chế Số GV sử dụngphương pháp thuyết trình thường xuyên giảm hẳn, nhưng các phương pháp hỏi đáp -thông báo, tái hiện không được coi là phương pháp có giá trị sư phạm cao lại được đa số
GV sử dùng thường xuyên Rất ít giờ GV dạy hoàn toàn bằng phương pháp dạy họctích cực, đặc biệt là phương pháp dùng MCQ để dạy học kiến thức mới
1.3.1.2 Thực trạng về việc sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn vào dạy học sinh học của giáo viên
Chúng tôi tiến hành điều tra khảo sát đối với 20 GV của các trường: THPTHoàng Văn Thụ (Hoàng Mai – Hà Nội), THPT Trần Nhân Tông (Hà Nội), THPTThượng Cát (Hà Nội), THPT Trương Định (Hà Nội) trong năm học 2012 – 2013 vềthực trạng sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn vào dạy học sinhhọc của giáo viên
Kết quả thể hiện ở bảng tổng hợp sau:
Bảng 1.2 Mức độ sử dụng MCQ trong dạy học Sinh học ở trường THPT
Trang 11Thường xuyên 12 60
Bảng 1.3 Mức độ GV THPT sử dụng MCQ ở các khâu của quá trình dạy học
Thường xuyển Ít sử dụng Không sử dụng
Quang bảng 1.2 và bảng 1.3 cho thấy: Việc sử dụng câu hỏi MCQtrong dạy học Sinh học là tương đối phổ biến 60% số GV được hỏi sử dụng MCQthường xuyên Tuy nhiên, đa số GV được điều tra đều sử dụng câu hỏi tự luận trongcác khâu của quá trình dạy học, đặc biệt là khâu dạy học kiến thức, khái niệm mới.Câu hỏi TNKQ dạng MCQ chủ yếu được sử dụng và dừng lại ở khâu củng cố, ôn tập
và kiểm tra đánh giá
1.3.2 Điều tra thực trạng về việc học môn Sinh học của học sinh ở trường trung học phổ thông
Để tìm hiểu thực trạng việc học môn Sinh học của HS ở trường THPT, chúngtôi tiến hành trao đổi với GV, dự giờ, sử dụng phiếu điều tra đối với 200 HS lớp 11 vàlớp 12 của các trường THPT Hoàng Văn Thụ quận Hoàng Mai, THPT Thượng Cát,THPT Trần Nhân Tông, THPT Trương Định trong năm học 2012 - 2013
Bảng 1.4 Kết quả điều tra tình hình học tập môn Sinh học của HS
(HS)
Tỉ lệ (%)
Tính hứng thú với
môn sinh học
-Tùy GV, tùy bài và cách dạy của GV 61 30.5
Mức độ
sử dụng Các khâu
trong quá
trình dạy
Trang 12Qua bảng 1.4 cho thấy: Số HS yêu thích môn Sinh học chiếm 21%, 30,5% số
HS cho rằng cảm thấy hứng thú bình thường với môn học, 48,5% số còn lại khôngyêu thích hoặc còn tùy thuộc vào nội dung bài cũng như cách giảng dạy của GV.Điều này phù hợp với kết quả học tập khá giỏi chỉ chiếm 39,5%, số còn lại là trungbình và yếu kém Qua đó có thể nhận thấy cách dạy của GV chưa thúc đẩy được sựhứng thú học tập của HS Phần lớn HS chưa tích cực, chủ động sáng tạo trong hoạtđộng học tập của mình Kết quả là khả năng tiếp thu kiến thức của HS hạn chế Vìvậy việc tổ chức các hoạt động học tập tích cực giúp HS khám phá những vấn đề cầnthiết là cơ sở để phát huy tính tích cực chủ động của HS, là việc mà mỗi GV cầnquan tâm hàng đầu để nâng cao chất lượng dạy và học trong giai đoạn hiện nay Mộttrong những phương tiện giúp HS tự khám phá đó là sử dụng MCQ vào dạy học kiếnthức mới, đặc biệt trong việc hình thành các khái niệm cho học sinh
CHƯƠNG II XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN NHIỀU LỰA CHỌN TRONG DẠY HỌC KIẾN THỨC CẤP ĐỘ CƠ THỂ CHƯƠNG SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN VÀ CHƯƠNG SINH SẢN,
SINH HỌC 11, TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 2.1 Quy trình xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn trong dạy học
2.1.1 Các yêu cầu cơ bản khi xây dựng MCQ
+ Bám sát mục tiêu dạy học
+ Đảm bảo phát huy tính tích cực của HS
+ Đảm bảo tính chính xác, khoa học của nội dung
+ Đảm bảo nguyên tắc hệ thống
+ Đảm bảo tính thực tiễn
+ Đảm bảo thời lượng của một bài lên lớp
+ MCQ phải kết hợp logic với câu hỏi gợi mở mang tính định hướng trong từng hoạt
Trang 13động học tập
2.1.2 Các chú ý khi xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn
* Quy tắc lập câu dẫn:
- Không nên đặt vấn đề không xảy ra trong thực tế trong nội dung các câu hỏi
- Các câu hỏi nhằm đo sự hiểu biết, suy luận hay khả năng áp dụng các nguyên lívào những trường hợp mới nên trình bày dưới dạng mới
- Khi lập câu dẫn cũng cần phải tránh những từ có tính chất gợi ý hoặc tạo đầu mốidẫn đến câu trả lời như: “Những câu nào sau đây” trong khi một trong các phương
án chọn là tổ hợp của hai hoặc nhiều câu chọn
- Nên ít hay tránh dùng thể phủ định trong các câu hỏi Người ta thường nên nhấn mạnhkhía cạnh xác định hơn khía cạnh phủ định trong kiến thức
* Quy tắc lập phương án chọn
- Các câu chọn nên làm độc lập nhau, phù hợp về logic và ngữ pháp với câu dẫn và ngônngữ sử dụng phải rõ ràng và đơn giản Đặc biệt người kiểm tra cần tránh các gợi ý có câutrả lời đúng và các gợi ý mà HS dễ dàng loại bỏ ngay các câu nhiễu nhờ có biết chút ít vềtài liệu học tập Cụ thể khi xây dựng bài trắc nghiệm nên tránh dùng:
+ Các cụm từ nguyên văn hoặc quá nổi bật, vì nó vô tình trực tiếp chỉ cho HScâu trả lời đúng
+ Độ dài của phương án chọn phải gần bằng nhau Không nên để các câu trảlời đúng có khuynh hướng ngắn hơn hoặc dài hơn các câu nhiễu
+ Các phương án chọn phải đồng nhất với nhau Tính đồng nhất có thể dựatrên căn bản ý nghĩa, độ dài hoặc cùng là động từ, tính từ, danh từ
+ Cẩn thận khi dùng hai phương án chọn có hình thức hay ý nghĩa trái nhau,nếu một trong hai câu là câu trả lời đúng nhất
+ Cẩn thận khi dùng các từ “ không câu nào trên đây đúng” hoặc “ tất cả cáccâu trên đây đều đúng” như một trong những phương án lựa chọn, vì về phương diệnvăn phạm, các mệnh đề này thường không ăn khớp với các câu hỏi Khi không nghĩ
ra đủ các phương án chọn Nếu HS biết chắc hai trong các phương án trả lời đã cho làđúng, HS ấy sẽ chọn “tất cả các câu trên đây đều đúng” để trả lời Do đó, nếu đượcdùng, các mệnh đề trên phải được sử dụng nhiều lần trong một câu hỏi khác nhau, trong
ý nghĩa đúng cũng như ý nghĩa sai