1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình hình dân số thế giới thực trạng đáng lo ngại

25 771 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 554 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong xã hội hiện đại ngày nay, con người đang phải đối mặt với rất nhiều những vấn đề toàn cầu. Một trong những vấn đề toàn cầu được toàn nhân loại quan tâm nhất hiện nay chính là vấn đề: “Dân số”. Dân số đã và đang là một vấn đề làm các giới chức lãnh đạo các quốc gia cũng như những nhà nghiên cứu về xã hội trên thế giới thực sự “đau đầu”. Nhiều người đã gọi những vấn đề toàn cầu trong đó có dân số là một bài toán chưa có cách giải chi tiết và đáp số cụ thể. Khái niệm “con quái vật dân số” hay “quả bom dân số” đã trở lên không còn xa lạ gì với mỗi chúng ta. Gọi như vậy phần nào đã cho chúng ta một cái nhìn khái quát nhất về tính nguy hại và cấp thiết, cũng như những áp lực mà vấn đề dân số gây ra cho chúng ta. Việc dân số thế giới gia tăng đã làm ảnh hưởng tới nhiếu vấn đề kinh tế xã hội như: tăng trưởng kinh tế, giáo dục, văn hóa, môi trường…

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HUẾ

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài.

Trong xã hội hiện đại ngày nay, con người đang phải đối mặt với rất nhiềunhững vấn đề toàn cầu Một trong những vấn đề toàn cầu được toàn nhân loại quantâm nhất hiện nay chính là vấn đề: “Dân số” Dân số đã và đang là một vấn đề làmcác giới chức lãnh đạo các quốc gia cũng như những nhà nghiên cứu về xã hội trênthế giới thực sự “đau đầu” Nhiều người đã gọi những vấn đề toàn cầu trong đó códân số là một bài toán chưa có cách giải chi tiết và đáp số cụ thể Khái niệm “conquái vật dân số” hay “quả bom dân số” đã trở lên không còn xa lạ gì với mỗi chúng

ta Gọi như vậy phần nào đã cho chúng ta một cái nhìn khái quát nhất về tính nguyhại và cấp thiết, cũng như những áp lực mà vấn đề dân số gây ra cho chúng ta Việcdân số thế giới gia tăng đã làm ảnh hưởng tới nhiếu vấn đề kinh tế xã hội như: tăngtrưởng kinh tế, giáo dục, văn hóa, môi trường…

Để cho mỗi chúng ta có một cái nhìn chính xác, tổng thể và toàn diện về thựctình hình dân số thế giới hiện nay nhóm chúng em xin đưa vấn đề “Phân tích, đánhgiá tình hình dân số thế giới” vào bài tiểu luận của mình Trong khuôn khổ bài tiểuluận nhóm em không nghiên cứu được một các chi tiết mà chỉ đi nghiên cứu một sốkhía cạnh mang tính nổi cộm và cấp thiết hiện nay

Trang 3

THỰC TRẠNG DÂN SỐ HIỆN NAY TRÊN THẾ GỚI VÀ Ở VIỆT NAM

2 Tình hình phát triển dân số hiện nay.

2.1 Trên thế giới

2.1.1 Dân số thế giới tăng nhanh.

Dân số, tỉ suất tử và gia tăng tự nhiên (GTTN) của thế giới

Thời kỳ

Dân số tăng hàngnăm (triệu người)

Trang 4

Vào những năm công nguyên, dân số thế giới chỉ vào khoảng 250 triệu người Cách

đó 1.600 năm, dân số thế giới tăng trưởng rất chậm, đến năm 1650 dân số thế giớichỉ tăng gấp đôi con số trên

Dân số thế giới đã vượt qua ngưỡng 6 tỉ người vào cuối thập kỷ XX, đạt6,616 tỉ người vào năm 2007, với tỷ lệ tăng dân số hằng năm 1,2% (so với 2% củanhững năm thập kỷ 60 của thế kỷ XX) Chỉ trong vòng 12 năm, thế giới đã tăngthêm 1 tỉ dân (từ 1987 - 1999), là giai đoạn ngắn nhất trong lịch sử loài người để cóthêm 1 tỉ dân và 1 tỉ tiếp theo sẽ đạt được sau 13 năm.Và đến ngày 20 tháng 10 năm

2010, Liên Hiệp Quốc đã công bố Bản báo cáo Dân số Thế giới năm 2010 Theo sốliệu thống kê của Liên Hiệp Quốc, dân số thế giới hiện nay là 6.877.200.000 người

Dự đoán đến năm 2050, dân số thế giới có thể lên đến 9,51 tỷ người Như vậy cóthể thấy thời gian để dân số thế giới tăng thêm gấp đôi, cũng như thời gian để TráiĐất đón thêm 1 tỉ công dân mới ngày càng được rút ngắn một cách nhanh chóng.Người ta tính rằng cứ 6 tháng dân số thế giới lại tăng thêm bằng số dân của nướcPháp (50 triệu) và cứ sau 10 năm lại có một nước Trung Quốc ra đời ở những vùngnghèo nàn nhất trên Trái Đất Đó quả thật là những con số khủng khiếp

2.1.2 Sự gia tăng dân số không đồng đều giữa các nước.

Tỷ lệ gia tăng dân số chủa các nước có sự chênh lệch rất cao.

Trang 5

Tốc độ tăng dân số ở các khu vực khác nhau trên thế giới là không giốngnhau Có một nghịch lí là khu vực các nước nghèo và kém phát triển nhất lại lànhững khu vực có tốc độ tăng dân số nhanh nhất Theo điều tra của Cục Điều tradân số Mỹ, tốc độ tăng dân số nhanh nhất lại là ở các khu vực nghèo khổ nhất tạichâu Phi, Trung Đông và tiểu lục địa Ấn Độ, nơi trung bình một phụ nữ đẻ 7 con.Trong tương lai gần, tốc độ phát triển dân số nhanh nhất vẫn là khu vực châu Phi vàNam Á Trong vòng nửa đầu thế kỉ XXI, dân số châu Phi sẽ tăng khoảng 2,4- 3 lần,cao hơn tốc độ tăng dân số toàn cầu khoảng 1,7-1,8 lần Cũng như vậy tốc độ tăngdân số ở khu vực Nam Á cũng cao hơn tốc độ tăng dân số toàn cầu 10-15%.

Chỉ tính riêng trong giai đoạn 2000 - 2005, theo thống kê của Liên hợp quốc,hằng năm dân số thế giới tăng thêm khoảng 76 triệu người, trong đó 6 nước có sốdân tăng thêm chiếm 45% là Ấn Độ (số dân tăng thêm chiếm 22%), Trung Quốc(11%), Pa-ki-xtan, Ni-giê-ri-a, Mỹ, Băng-la-đét (mỗi nước 4%) Ngoài ra, 16 nướckhác có số dân tăng thêm chiếm 25%, trong đó In-đô-nê-xi-a (số dân tăng hằng năm2,7 triệu), Băng-la-đét (2,6 triệu), Bra-xin (2,5 triệu), Ê-ti-ô-pi-a (1,8 triệu), Cộnghòa Công-gô (1,5 triệu), Phi-líp-pin (1,5 triệu), Mê-hi-cô (1,4 triệu), Ai-cập (1,3triệu), Áp-ga-ni-xtan (1,2 triệu), Việt Nam (1,1 triệu), Thổ Nhĩ Kỳ (1 triệu), U-gan-

đa (0,9 triệu), I-rắc (0,7 triệu), Kê-ni-a (0,7 triệu), Cộng hòa Tan-da-ni-a (0,7 triệu),Cô-lôm-bi-a (0,7 triệu) và Xu-đăng (0,7 triệu) Trong khi dân số của nhiều nước,đặc biệt là ở châu Phi và châu Á tiếp tục gia tăng trong vài thập niên tới, thì ở một

số nước phát triển đạt dưới mức sinh thay thế lại có xu thế suy thoái dân số trongvòng 50 năm (2000 - 2050) như CHLB Nga (số dân giảm 35 triệu), U-crai-na (23triệu), Nhật (15 triệu), Ba-lan (7 triệu), Ru-ma-ni (5 triệu), CHLB Đức (4 triệu), Bê-la-rút và Bun-ga-ri (3 triệu) Như vậy, sức ép dân số đối với đa số các nước đangphát triển, trong đó có nước ta do số dân tăng thêm hằng năm còn rất lớn trước đờisống kinh tế, chính trị và xã hội, hạn chế đến khả năng cải thiện, phát triển và tiềm

ẩn nguy cơ tụt hậu.Dân số tăng nhanh nằm ở khu vực những nước đang phát triển,với hơn 95% sự gia tăng dân số nằm ở khu vực này:

Hiện nay, dân số thế giới đang gia tăng với tỷ lệ trung bình là 1,2%/năm Cụcđiều tra dân số Mỹ dự báo, tốc độ này sẽ giảm xuống còn 0,5% năm 2050 Khi đó,

Ấn Độ sẽ vượt Trung Quốc trở thành nước đông dân nhất thế giới

Trang 6

2.1.3 Dân số thế giới đang bị già hóa.

Tỷ lệ người già ở Nhật đang ở mức báo động (26,3%), đe dọa nền kinh tế nước này.

Dân số già hiện nay tồn tại ở các nước có nền kinh tế phát triển và là gánhnặng nước của các quốc gia này

Các nhà kinh tế Mỹ và thế giới cảnh báo, hiện trạng dân số già đi nhanh chóng đãtrở thành quả ""bom nổ chậm"" có thể tàn phá các nền kinh tế phát triển trên thếgiới

Theo số liệu của Liên hợp quốc, dân số trên tuổi 60 ở Nhật Bản vào năm

2050 sẽ tăng tới 41,7% tổng dân số, từ mức vốn đã cao hiện nay là 26,3% Số liệunày tương ứng ở Đức sẽ là 35%, từ 25,1% hiện nay

Vào giữa thế kỷ này, tỉ lệ người trên tuổi 60 ở Trung Quốc, Anh và Pháp cũng sẽchiếm từ 31 đến 33% tổng dân số

2.1.4 Chất lượng dân số thấp.

Ngày 11/7, thế giới kỷ niệm Ngày Dân số Thế giới, với chủ đề “Giới trẻ vàsức khỏe sinh sản” Riêng chủ đề này cũng nói lên được mục tiêu trọng tâm cũngnhư niềm kỳ vọng của thế giới dựa vào giới trẻ để cải thiện chất lượng dân số đangsuy giảm nghiêm trọng trên thế giới

Trang 7

Hơn một nửa dân số thế giới ở độ tuổi dưới 25 Khoảng 3 tỷ trẻ em và những ngườitrẻ tuổi đang hoặc sẽ ở trong độ tuổi sinh đẻ nhưng do thiếu kiến thức, hiểu biết nhất

là ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, thanh thiếu niên hầu nhưkhông được trang bị kỹ năng sống và biết cách tự bảo vệ mình Một nửa số canhiễm HIV mới rơi vào giới trẻ Mỗi ngày có 6.000 người nhiễm HIV ở lứa tuổinày và hàng triệu thành niên khác đang phải sống trong đói nghèo, bị bóc lột vàsống trong tuyệt vọng bị xâm hại cả về thể xác lẫn tinh thần nhất là trẻ em gái Dù

đã có nhiều biện pháp được tiến hành, song hiện vẫn có tới 218 triệu lao động trẻ

em trên thế giới

Báo cáo của các cơ quan LHQ và các cơ quan điều tra dân số các nước chothấy giới trẻ đang là nạn nhân chính của các xu hướng biến đổi tiêu cực của dân sốthế giới Theo các báo cáo này, dân số thế giới tăng với với tốc độ trung bình cao,nhưng lại không đồng đều và tương xứng với tăng trưởng Hiện mỗi năm, dân sốthế giới tăng thêm khỏang 78 triệu người, và cứ theo đà hiện nay, đến năm 2050, sẽ

có khỏang từ hơn 7 tỷ đến hơn 10 tỷ người trên trái đất Tuy nhiên, lại có đến 90%lượng dân số gia tăng lại ở các quốc gia đang phát triển; khiến thế giới ngày càngđối mặt với nghịch lý đáng buồn là: các nước phát triển đối mặt với tình trạng dân

số già; còn các nước nghèo lại càng nghèo hơn do các nguồn lực không đủ đáp ứngvới số dân ngày càng phìng to Bức tranh thế giới bị chia cắt thành 2 mảng đối lập:

3 nước thuộc hàng giàu có nhất thế giới là Nhật bản, Italy, Đức… lại dẫn đầu về sựgià hóa dân số, và bất chấp các biện pháp khuyến khích, phụ nữ ở các nước này vẫnkhông hào hứng trong việc sinh con

Cùng với nạn nhập cư trái phép, thiên tai, dịch bệnh, xung đột đã khiến chấtlượng dân số càng suy giảm nghiêm trọng Để nâng cao chất lượng dân số, khôngcòn cách nào khác là phải cân đối giữa tăng trưởng và phát triển dân số, nâng cao ýthức của người dân về việc thực hiện kế họach hóa gia đình hợp lý Cùng với việcgiảm khỏang cách phát triển, thì tăng cường đối thoại giữa các nền văn hóa, các tôngiáo cũng là một đòi hỏi nhằm hạn chế các tác động tiêu cực của xu hướng nhập cưhiện nay

Trang 8

2.1.5 Hiện trạng mất cân bằng giới tính khá cao.

Lớp học vắng bóng học sinh nữ (Trung Quốc)

Mới đây, các nhà nghiên cứu đã công bố kết quả nghiên cứu dân số mới nhấttại Trung Quốc trên tạp chí British Medical Journal Theo đó mỗi năm số trẻ namđược sinh ra nhiều hơn trẻ nữ tới hơn một triệu em.Trong những thập niên gần đây,tình trạng tỷ lệ bé trai sinh ra nhiều hơn số bé gái ở Trung Quốc ngày càng trở nênnghiêm trọng hơn Vào những năm 1960, 1970, tỉ lệ bé trai/bé gái vẫn ở mức106/100 Tuy nhiên, số lượng các bé trai đã tăng vọt từ sau thập niên 1980 Đó làcác tỉ lệ 108,5/100 năm 1982; 110,9/100 năm 1987 và 111,3/100 năm 1990

2.2 Tại Việt Nam

2.2.1 Quy mô dân số lớn

Việt nam là một quốc gia có quy mô dân số lớn, tốc độ phát triển dân sốngày càng nhanh Năm 2000 Việt Nam đặt 77,68 triệu người, đứng thứ 2 ở ĐôngNam Á, chỉ sau Indo-nêxia và xếp thứ13 trong tổng số hơn 200 nước trên thếgiới.Quy mô dân số lớn còn thể hiện ở mối quan hệ giữa dân số và đất đai Theo các nhàkhoa học tính toán mật độ dân số thích hợp chỉ nên dừng lại từ 35 đến 40 người/ 1

km 2, thì ởViệt Nam gấp 5 đến 6 lần “Mật độ chuẩn” và gần gấp 2 lần mật độ dân

số của Trung Quốc – nước đông dân nhất nhất thế giới

Cùng với điều đó tốc độ phát triển dân số ngày càng nhanh Đến năm 1921,dân sốViệt Nam là 15,58 triệu người, Năm 1960 dân số tăng gấp đôi : 30,17 triệungười, năm 1989 dân số đạt 60,47 triệu người Giai đoạn 1921-1995 dân số nước tatăng 4,7 lần , trong khi đó dân số thế giới chỉ tăng 3,1 lần Nếu 35 năm (1921- 1955)

Trang 9

dân số tăng lên 9,6 triệu người thì 40 năm tiếp theo ( 1955-1995) dân só bùng nổvới48,9 triệu người tăng thêm

Mặc dù tỷ lệ giảm sinh vừa qua đã giảm và còn tiếp tục giảm, nhưng kết qủagiảm sinh chưa thật sự vững chắc, còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ gia tang dân số nhanhtrở lại, tư tưởng trọng nam khinh nữ có chuyển biến nhưng vẫn còn 16 tỉnh có tỷ sốgiới tính khi sinh là 115 nam so với 100 nữ, vượt quá mức sinh sản tựnhiên (ởnhững v ùng nông thôn nghèo, vùng sâu, vùng xa…tỷ lệ này còn cao hơn) Nếukhông duy trì sự nỗ lực thì quy mô dân số nước ta vào giữa thế kỷ XXI có thể nêntới 125 triệu người hoặc cao hơn, và sẽ ảnh hưởng rất lớn đến phát triển kinh tế, xãhội của đất nước Do đó công 3 tắc dân số cần tiếp tục đẩy mạnh, làm chuyển đổihành vi một cách bền vững trong việc thực hiện chuẩn mực gia đình ít con

2.2.2 Cơ cấu dân số không hợp lý

Cơ cấu dân số ở nước ta trong thời gian qua là không hợp lí cả về giới tính,nhóm tuổi, giữa thành thị và nông thôn Thực tế cho thấy tình trạng mất bình đẳng

về giới ởnước ta vẫn xảy ra nhất là khả năng tiếp cận giáo dục, đào tạo về chăm sócsức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình đối với phụ nữ và trẻ em gái còn nhiều hạnchế

Cơ cấu giới tính :

Tỷ lệ nữ trên tổng số dân ở nước ta không ổn định và biến động thất thường,giao động từ50,3 % đến 50,7% (giai đoạn 1921-1939), 50,9% đến 51,4% (giai đoạn1943-1970), tăng lên 52,1% (năm 1975), giảm dần và đạt 50,6% (năm 1989) lên và

ổn định ởmức 51,2% (trong một năm 90, thếkỷXX), riêng năm 1989 là 51,49% vàgiảm xuống 50,85% (Năm 1999)

Năm 2007, một nghiên cứu khác của Viện nghiên cứu Phát triển xã hội được thựchiện trên cả nước cho thấy, tỉ lệ giới tính khi sinh đã có sự chênh lệch đáng kể Cótới 16 tỉnh, thành có tỉ lệ giới tính khi sinh từ 115 - 128 bé trai/100 bé gái; ở 20 tỉnh,thành khác là 111- 120 bé trai/100 bé gái Cụ thể, tại Kiên Giang, cứ 125 bé trai thì

có 100 bé gái; tại Sóc Trăng là 124 bé trai/100 bé gái; tại Bắc Ninh là 123 bé

Trang 10

trai/100 bé gái; tại Hà Tây là 112 bé trai/100 bé gái; tại Bình Định 107 bé trai/100

bé gái…

Cơ cấu dân số theo nhóm tuổi :

Trước miền Nam giải phóng, dân số theo nhóm 0-14 tuổi chiếm 48%, dưới 20 tuổichiếm 60% Ởmiền Bắc, theo số liệu điều tra năm 1960 nhóm tuổi 0-14 tuổi là42,8%, và tương ứng các năm 1979, 1989 và 1999 là 42,55% , 39,82% và 33,4%

Tỷ lệ người già từ 60 tuổi trở lên, tăng từ7,07% (năm 1979) ; 7,14% (năm 1989) tới8,04% (năm 1999) Dân số phụ thuộc đă giảm từ49,62% (năm 1979), 46,96% (năm1989) xuống 41,15% (năm 1999) Điều này chứng tỏ dân số phụ thuộc đang giảmtheo thời gian, xong tỷ lệ người già lại tăng lên

Cơ cấu dân số thành thị và nông thôn :

Đầu thế kỷ XX dân số thành thị mới chiếm 2% dân số toàn quốc, đến năn 1943chiếm 9,2% Tỷ lệ dân số thành thị miền Bắc năm 1931 là 4,6%, miền Trung 3,4%

và miền Nam là 4,6% Đến năm 1952 dân số thành thịlà 10%, năm 1960 là 15%,năm 1970 là 17% Năm 1980, cơ cấu dân số thành thị cả nước chiếm 19,1% Tổngđiều tra dân số 1989 cho thấy, dân số thành thị các tỉnh miền núi và Trung Du Bắc

Bộ là 19,92%, Tây Nguyên là 22,13% Tổng điều tra dân số năm 1999 tiếp tục chothấy dân số thành thịTây Nguyên giảm 5,43% và miền núi phía Bắc giảm 4,26% sovới năm 1989

2.2.3 Chất lượng dân số thấp.

Nhìn một cách tổng quát chất lượng dân sốViệt Nam còn thấp, chưa đáp ứngyêu cầu xây dựng nguồn nhân lưc chất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước Các yếu tố về thể lực của người Việt Nam nhất là chiều caocân nặng sức bền còn rất hạn chế Theo điều tra mức sống năm 1997-1998 tỷ lệ suydinh dưỡng ở người lớn là 65% với nam và 38% với nữ có tới 41,51% số trẻ emthuộc diện thấp, còi (thấp hơn so với lứa tuổi ) và 40,1% trẻ em có cân nặng thấphơn so với tuổi Ngoài ra có hàng triệu trẻ em bị tàn tật, mắc bệnh bẩm sinh, ảnhhưởng bởi chất độc màu ra cam, về trí lực, mặc dù tỷ lệ biết đọc, biết viết khá cao91,2% (năm 1999), nhưng 74% số người đã thôi học mới chỉ có trình độ phổ thông

Trang 11

cơ sở, số người đạt trình độ phổ trung học chỉ dao động trong khoảng từ 10% đến15% (kết quả suy rộng mẫu điều tra năm 1999), 91,84% dân số từ 15 tuổi trở lênkhông có trình độ chuyên môn kỹ thuật Theo số liệu năm 2002 của tổng cục dạynghề, chỉ có 17,7% trong tổng số gần 40 triệu lao động của Việt Nam được coi là có

kỹ năng chuyên môn Tội phạm, tiêu cực xã hội tăng, trong đó có cả trẻ em đang làlỗi bức bối của xã hội Chỉ số phát triển con người ởViệt Nam (HDI) năm 1999 là0,682 điểm, xếp hạng 101 trong số 162 quốc gia

3 Nguyên nhân

3.1 Nguyên nhân dẫn tới gia tăng dân số và gia tăng dân số không đồng đều.

- Quan điểm lạc hậu.

Một số nước, đặc biệt là ở những nước phương đông vẫn còn những quanđiểm lạc hậu trọng nam khinh nữ, trời sinh voi, trời sinh cỏ, sinh con quý tử, muốn

có con trai, muốn đông con

Ở các nước có nền nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nông nghiệp là chính vẫnyêu cầu nhiều lao động tay chân, cần nhiều lao động tham gia vào sản xuất lànguyên nhân dẫn tới gia tăng dân số ở các nước đang phát triển

Tại một số quốc gia châu Phi, trung Đông, các quốc gia ở bán đảo Ấn Độ tỷ

lệ trẻ em trên số bà mẹ xấp xỉ 6 trẻ em trên một bà mẹ Mỗi năm các quốc gia trên tăng dân số khá nhanh

- Hậu quả việc quan hệ tình dục sớm và bừa bãi.

Mỗi năm có khoảng 15 triệu phụ nữ trong độ tuổi 15 đến 17 tuổi sinh đẻchiếm khoảng 10% tổng số các trường hợp sinh con hằng năm trên thế giới

Một số nước có tỷ lệ nạo phá thai cao như : Úc là một trong những nướccông nghiệp có tỷ lệ phụ nữ nạo phá thai cao cứ 1000 thiếu nữ (tuổi từ 15 đến 19)

có khoảng 24 thiều nữ phá thai và 20 thiếu nữ sinh con

Việc thực hiện chính sách kế hoạch hóa gia đình và sử dụng các biện pháp tránhthai ở các nước đâng phát triển vẫn còn nhiều hạn chế

3.2 Nguyên nhân dẫn tới già hóa dân số.

Trong xu thế toàn cầu hóa, kinh tế thế giới ngày càng phát triển đồng đều,đời sống vật chất, tinh thần và an sinh xã hội của các quốc gia ngày càng được nâng

Trang 12

cao, quyền con người được tôn trọng đúng nghĩa, do đó tuổi thọ của con người ngàycàng được nâng cao Bên cạnh đó ở những nước phát triển xu hướng các cặp vợchồng sinh ít con (thậm chí là không muốn có con) để có điều kiện hưởng thụ cuộcsống ngày càng nhiều, mặc dù chính phủ các nước này có các chính sách khenthưởng, hỗ trợ nuôi con ăn học cho tới tuổi trưởng thành đối với những gia đìnhsinh nhiều con, nhưng tỷ lệ tăng dân số ở hầu hết các quốc gia phát triển vẫn ở mứcthấp (dưới 1%) Song song đó là trào lưu tôn thờ chủ nghĩa độc thân của giới trẻngày nay cũng có sức lan tỏa rộng rãi (nhất là ở Châu Âu và một số quốc gia pháttriển ở Châu Á như Nhật bản, Singapo, ) do nhu cầu học tập, nghiên cứu khoa học

và tác động của đời sống công nghiệp, đó là một số nguyên nhân cơ bản dẫn tớiviệc già hóa dân số thế giới

3.3 Nguyên nhân dẫn tới mất cân bằng giới tính.

Cán cân về giới tính luôn nghiêng về nam giới

Tư tưởng “trọng nam khinh nữ” theo kiểu “chồng chúa, vợ tôi”, “xuất giátòng phu”, “mười gái không bằng một trai” vẫn còn tồn tại trong ý nghĩ của một bộphận dân cư, nhất là ở các vùng ven biển, vùng nông thôn, vùng đồng bào dân tộcthiểu số Bởi lẽ, họ cho rằng con trai có trách nhiệm nhiều hơn con gái trong việcphụng dưỡng, chăm sóc cha mẹ khi về già và lo liệu ma chay, thờ cúng sau khi cha

mẹ mất, đồng thời tâm lý sinh con trai còn để dự phòng trong trường hợp rủi ro (tainạn, tệ nạn xã hội…) Phải chăng niềm vui có một đứa trẻ nối dõi từ bao đời nayvẫn tiếp tục ngự trị ở mỗi người đàn ông như thể đó là một phần trách nhiệm của họđối với dòng họ và chính bản thân gia đình mình

Ngày đăng: 20/05/2016, 11:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w