1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích hoạt động chứng từ cần thiết trong ngành dệt may

76 1,1K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích hoạt động chứng từ cần thiết trong ngành dệt may

Trang 1

MỤC LỤC

I LỜI MỞ ĐẦU 2

II VAI TRÒ, VỊ TRÍ CỦA NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ CHÍNH SÁCH XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY CỦA VIỆT NAM 2

2.1 Vai trò của ngành dệt may trong nền kinh tế 2

2.2 Vị trí của ngành dệt may Việt Nam trong phát triển kinh tế 3

2.3 Chính sách xuất khẩu hàng dệt may của nước ta 4

2.4 Tổng quan xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam năm 2012 6

2.5 Tình hình Xuất khẩu dệt may từ tháng 1 đến tháng 10 năm 2013 14

2.6 Những điều cần biết khi xuất khẩu dệt may sang một số thị trường 15

2.7 Mở rộng thị trường các mặt hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam 23

III CÁC LOẠI CHỨNG TỪ CẦN THIẾT KHI XUẤT KHẨU HÀNG HÓA BẰNG ĐƯỜNG BIỂN: 29

3.1 Chứng từ hải quan 29

3.2 Chứng từ với cảng và tàu 31

3.3 Chứng từ khác 33

IV BỘ CHỨNG TỪ ĐỐI VỚI VIỆC XUÁT KHẨU HÀNG DỆT MAY 34

4.1 Hợp đồng ngoại thương: 35

4.2 C/O ( Certificate of Origin - Giấy chứng nhận xuất xứ ): 39

4.3 Tờ khai hải quan dành cho hàng xuất khẩu dệt may: 48

4.4 Hóa đơn thương mại: 54

4.5 Phiếu đóng gói ( Packing List ) 56

4.6 Vận đơn đường biển ( B/L - Bill of lading ) 57

4.7 Chứng từ bảo hiểm (insurance policy) 60

4.8 Chứng từ thanh toán: 62

4.9 Các loại chứng từ khác: 65

V GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHUẨN BỊ BỘ CHỨNG TỪ CẦN THIẾT CHO NGÀNH DỆT MAY 66

5.1 Giải pháp trong khâu chuẩn bị giao dịch đàm phán 66

5.2 Giải pháp trong khâu chuẩn bị hàng xuất 66

5.3 kiểm tra hàng hóa 66

5.4 Giải pháp trong khâu thuê tàu 67

5.5 Làm thủ tục hải quan 67

5.6 Giao hàng xuất khẩu 68

5.7 Giải pháp trong khâu thanh toán 68

VI KẾT LUẬN: 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 3

I LỜI MỞ ĐẦU

Kể từ khi chuyển đổi thành công từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thịtrường mở cửa, đất nước ta đã và đang gặt hái được nhiều thành tựu Trong đókhông thể không kể đến sự đóng góp lớn lao của ngành dệt may, một ngành mũinhọn trong quá trình tăng trưởng kinh tế về hướng xuất khẩu của nước ta

Ngành dệt may là một ngành công nghiệp nhẹ có vị trí quan trọng trong cơ cấu sảnxuất của nền kinh tế quốc dân nói chung và ngành công nghiệp nhẹ nói riêng.Thông qua hoạt động xuất khẩu, ngành đã tạo nguồn thu ngoại tệ đáng kể chongân sách Nhà nước Ngoài ra ngành dệt may còn đảm bảo hàng hoá tiêu dùngtrong nước, thu hút nhiều lao động đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu không lớn, ít rủi ro,phát huy hiệu quả nhanh, tạo điều kiện cho hoạt động mở rộng thương mại quốc tếnên phù hợp với bước đi ban đầu của các nước đang phát triển như nước ta hiệnnay

II VAI TRÒ, VỊ TRÍ CỦA NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ CHÍNH SÁCH XUẤT KHẨU HÀNG

DỆT MAY CỦA VIỆT NAM.

2.1 Vai trò của ngành dệt may trong nền kinh tế

Dệt may vốn là một ngành sản xuất thiết yếu đã xuất hiện từ lâu đời, đượchình thành và phát triển đầu tiên ở các nước Châu Âu Cùng với tiến trình các cuộccách mạng khoa học công nghệ, việc áp dụng các thành tựu kỹ thuật khiến chongành dệt may Châu Âu đạt tới những bước nhảy vọt cả về chất và số lượng, đemlại thu nhập cao cho người dân và cho nhiều quốc gia Tuy nhiên, chi phí để trảlương cho các công nhân cao dần đã thúc đẩy ngành dệt may chuyển dịch từ cácnước phát triển sang các nước đang phát triển là những nước có nguồn lao độngdồi dào với mức giá thuê nhân công rẻ Và đây là một lợi thế lớn cho các nướcđang phát triển trong đó có Việt Nam

Trang 4

Việt Nam là một nước đi lên từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, thu nhập quốcdân tính theo đầu người thấp, để thúc đẩy nền kinh tế như vậy phát triển, nước tacần thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Trong giai đoạnđầu của cuộc cải cách, nước ta đã lâý công nghiệp hoá làm mục tiêu Và chúng ta

đã thành công nhờ vào việc phát triển mạnh các ngành có khả năng tận dụngnhững lợi thế có sẵn như nguồn nhân lực dồi dào với giá thuê rẻ, ngành dệt may làmột ngành như vậy Ngành dệt may đã góp phần tích cực giải quyết công ăn việclàm cho hàng triệu người lao động, có vai trò quan trọng trong việc giảm tỷ lệ thấtnghiệp trong xã hội Như vậy đồng nghĩa với việc tạo thu nhập và ổn định đờisống người lao động Ngoài ra hàng năm còn đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn choquốc gia, bổ sung ngân sách Nhà nước, giúp Nhà nước bù đắp được phần nào bộichi ngân sách

2.2 Vị trí của ngành dệt may Việt Nam trong phát triển kinh tế

Ngành dệt may có vị trí quan trọng trong phát triển công nghiệp, kinh tế

-xã hội của đất nước, được coi là một trong những hoạt động có hiệu quả hội nhậpkinh tế quốc tế của Việt Nam Tính đến cuối năm 2011, toàn ngành dệt may cókhoảng 3700 doanh nghiệp (DN), thu hút trên 2 triệu lao động, chiếm 5% lựclượng lao động cả nước Năm 2011, kim ngạch xuất khẩu dệt may ước đạt gần 16

tỷ USD, là ngành có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất Việt Nam, chiếm 16% tổngkim ngạch xuất khẩu cả nước và nằm trong Top 10 các nước xuất khẩu hàng dệtmay lớn nhất thế giới

Từ khi gia nhập WTO, bên cạnh những thuận lợi về việc mở rộng thịtrường xuất khẩu, ngành dệt may phải đối mặt với nhiều thách thức do bị cạnhtranh mạnh từ các nước sản xuất dệt may khổng lồ như: Trung Quốc, Ấn Độ,Pakistan,… Hiện nay, khủng hoảng kinh tế thế giới cộng hưởng với các khó khănkinh tế trong nước đã đặt các DN dệt may Việt Nam đứng trước những khó khănrất lớn để duy trì và phát triển Thứ nhất, chi phí cho nguyên, phụ liệu, vậnchuyển, lương tối thiểu tăng cao dẫn đến giá thành sản phẩm tăng lên; Thứ hai,

Trang 5

bản thân các thị trường nhập khẩu hàng dệt may cũng đang bị ảnh hưởng trực tiếp

từ khủng hoảng kinh tế dẫn đến thu hẹp nhập khẩu; Thứ ba, các quy định ngặtnghèo và riêng biệt của từng quốc gia nhập khẩu cũng là một rào cản rất lớn cho

DN Việt Nam khi xuất khẩu;

Theo báo cáo điều tra của mạng nanbo cho thấy, sau khi gia nhập WTO,kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam trong 5 năm đã tăng lên đáng kể Cụ thể,kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng này đạt 5,9 tỷ USD trong năm 2006, đến năm

2011 đã tăng lên 15,8 tỷ USD.Thực tế cho thấy, sau khi gia nhập WTO và ký kếtcác FTA, cùng với các ngành kinh tế khác đã mở ra cơ hội rất lớn cho dệt mayViệt Nam Đông thời, dệt may Việt Nam cũng có điều kiện hội nhập sâu vào nềnkinh tế thế giới, đẩy mạnh xuất khẩu do các rào cản thương mại như hạn ngạch dệtmay vào Mỹ và các nước đã được dỡ bỏ, bình đẳng về thuế quan giữa các nướcthành viên, cơ hội tiếp cận công nghệ, thông tin, các dịch vụ, cũng như kinhnghiệm quản lí được tốt hơn

Theo các chuyên gia kinh tế, việc tham gia vào sân chơi WTO đã tạo ranhững tác động tích cực cho dệt may Việt Nam và rõ nét nhất là tăng tưởng xuấtkhẩu và tăng thị phần xuất khẩu, đưa Việt Nam trở thành 1 trong 10 quốc gia cókim ngạch xuất khẩu dệt may hàng đầu thế giới Xét về thị phần, tính đến nayhàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam đã có mặt tại 180 quốc gia và vùng lãnh thổtrên thế giới Trong đó thị truờng nhập khẩu Hoa Kỳ đứng đầu với kim ngạchkhoảng 6,872 tỷ USD trong năm 2011, tăng trưởng hơn 12% so với năm 2010,tiếp theo là EU đạt 2,5 tỷ USD, tăng 33%, đứng thứ 3 là thị trường Nhật Bản đạt1,68 tỷ USD, tăng 45%

2.3 Chính sách xuất khẩu hàng dệt may của nước ta.

a Thủ tục hải quan – xuất khẩu

Hàng xuất khẩu phải làm thủ tục hải quan khi xuất khẩu theo quy địnhchính thức về xuất khẩu hàng hoá và khi thep yêu cầu của nước nhập khẩu Việclàm thủ tục xuất khẩu cho hàng hoá liên quan đến các biện pháp quản lý như:

Trang 6

- Hạn chế số lượng (giấy phép xuất khẩu) nước ta vẫn chưa thực hiện mạnh

mẽ chính sách xuất khẩu hàng dệt may do đó về số lượng vẫn còn bị hạn chế

- Hạn chế ngoại tệ (giám sát ngoại hối)

- Hạn chế tài chính (kiểm tra hải quan, thuế quan)

- Nhu cầu thống kê thương mại (báo cáo thống kê)

- Kiểm tra số lượng, chất lượng, kiểm tra vệ sinh, y tế, hàng nguyhiểm,hàng cấm

- Kiểm tra áp dụng các biện pháp ưu đãi thuế quan (giấy chứng nhận xuấtxứ)

- Các chứng từ phục vụ cho việc kiểm tra hải quan xuất khẩu hàng hóa baogồm:

+ Giấy phép xuất khẩu

+ Bản khai hàng xuất khẩu

+ Bản trích sao hợp đồng bán hàng

+ Giấy chứng nhận xuất xứ (nếu hợp đồng mua bán yêu cầu)

+ Giấy chứng nhận kiểm định (theo hợp đồng mua bán)

+ Các giấy tờ khác theo quy định của hải quan như phiếu đóng gói (packinglist), giấy chứng nhận số lượng, khối lượng, hợp đồng thuê tàu

Ngoài ra khi làm thủ tục hải quan, thông thường phải kiểm tra tư cách phápnhân của người xuất khẩu cũng như kiểm tra các chứng từ có hợp pháp và đúngquy định không

Chỉ sau khi được cấp giấy chứng nhận hoàn thành thủ tục hải quan và lệnhgiao hàng thì người xuất khẩu mới được gửi hàng xuất đi

b Phân bổ hạn ngạch xuất khẩu vào thị trường Mỹ

Khi ra quyết định phân bổ hạn ngạch và thủ tục cấp thị thực, Bộ thươngmại đã có văn bản hướng dẫn xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường Mỹ Từ đóhạn ngạch xuất khẩu được phân bổ như sau:

Trang 7

Trước hết, phân bổ tập trung vào mặt hàng Doanh nghiệp(DN) có dưới 250máy may thì chỉ phân bổ theo một mặt hàng Mặt hàng ở đây cần hiểu là chủngloại sản phẩm Tức là, DN nào chuyên may quần thì chỉ được phân bổ hạn ngạchtheo sản phẩm quần, bất kể là quần ngắn hay quần dài Còn DN chuyên may áo thìsản phẩm có thể là áo dài tay, ngắn tay, cotton hay bất kỳ chất kiệu nào cũng đượcmiễn là chỉ may áo Việc phân bổ dựa theo cấp số nhân: nếu DN có 250-500 máy

sẽ được phân tối đa hai mặt hàng, 500-1000 máy ba mặt hàng, trên 1000 máy cótối đa bốn mặt hàng

Thứ hai là phân bổ theo trọng tâm thị trường Trước đây thị trường chínhcủa ngành dệt may là EU và các nước không áp dụng hạn ngạch ở Châu Á Nay thịtrường Mỹ đang tâm điểm của mọi đơn đặt hàng Những DN có số máy may ítdưới 250 máy chỉ chọn một thị trường để hoạt động xuât khẩu có hiệu quả

Thứ ba là số lần phân bổ hạn ngạch trong năm Nước ta chỉ phân bổ 2 lầntrong một năm Nguyên nhân là đơn hàng của Mỹ và cả Châu Âu đều theo mùa.Mùa đông nhà nhập khẩu đặt hàng vào tháng 2, mùa hè vào tháng 7 Phân bổ trongkhoảng tháng giêng và tháng 6 cho hai mùa

Thứ tư, trong quá trình phân bổ hạn ngạch, nhất thiết sẽ xem xét các yếu tốliên quan giá trị gia tăng của mặt hàng xuất, nhãn hiệu hàng xuất và các ảnh hưởngkhác có liên quan đến giá trị xuất khẩu Ưu tiên cho những DN có năng lực cungứng hàng cho các nhà phân phối thương hiệu tên tuổi, có giá trị xuất khẩu cao,những DN nhận hợp đồng theo giá FOB

2.4 Tổng quan xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam năm 2012

Tình hình chung của ngành dệt may năm 2012, hoạt động xuất khẩu của các

doanh nghiệp dệt may Việt Nam đã bị ảnh hưởng mạnh bởi tác động của khủng hoảng kinh tế, đặc biệt là đối với thị trường châu Âu- thị trường trọng điểm của ngành dệt may Lượng đơn đặt hàng của các thành viên trong hiệp hội quý

IV/2012 ước giảm 10% so với cùng kỳ năm 2011

Trang 8

Bên cạnh sự giảm sút về kim ngạch xuất khẩu, khủng hoảng khu vực EU khiến đồng euro biến động và mất giá liên tục, hàng dệt may của Việt Nam xuất đi

EU giao dịch bằng euro nhưng đa số doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu từ

Trung Quốc, Thái Lan, Đài Loan phải thanh toán bằng USD Chính sự chênh lệch từ phương thức thanh toán tỷ giá khiến không ít doanh nghiệp xuất khẩu dệt may sụt giảm lợi nhuận

Thị trường Hàn Quốc đang trở thành một thị trường tiềm năng của các doanh nghiệp dệt may, bởi sức tiêu thụ ở thị trường này là khá lớn Hiện thị trườngHàn Quốc đứng thứ 4 trong số các nước nhập khẩu hàng dệt may của Việt nam chỉsau Mỹ, Nhật và EU Kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này 11 tháng đầu năm

2012 đã tăng 20,9% so với cùng kỳ và đạt 994.159.014 USD

Tình trạng sụt giảm đơn hàng rơi nhiều vào khối doanh nghiệp vừa và nhỏ

và chủ yếu các doanh nghiệp nhận may gia công Đơn hàng phần lớn tập trung vàocác doanh nghiệp lớn nhưng số lượng cũng rất “nhỏ giọt” Đặc biệt, do khó khăn

về kinh tế, người dân châu Âu cắt giảm chi tiêu khiến sức mua giảm, kéo theo sốđơn đặt hàng dệt may giảm theo Trung bình mỗi tháng, số lượng đơn hàng giảm

10 - 20% so với cùng kì năm 2011 Những khó khăn về thị trường tiêu thụ khiếnnhiều lúc, các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam phải chấp nhận hòa vốn, thậmchí lỗ để giữ chân lao động, nhất là ở một số doanh nghiệp cần lao động có taynghề Ngưng sản xuất tức là đồng nghĩa với việc doanh nghiệp mất lao động Bêncạnh đó, các nước nhập khẩu còn tăng cường áp dụng chính sách rào cản thươngmại, hạn chế nhập khẩu thông qua việc gia tăng những đòi hỏi khắt khe về an toànchất lượng, áp dụng hệ thống kiểm soát hóa chất có trong các sản phẩm khi xuấtkhẩu Các doanh nghiệp quy mô nhỏ khó có thể đáp ứng những tiêu chuẩn về tráchnhiệm xã hội mà các nhà nhập khẩu đưa ra

Theo các doanh nghiệp dệt may tại Hà Nội, đơn hàng sản xuất, xuất khẩu đicác thị trường lớn như Mỹ, EU hiện nay đều giảm khoảng từ 20 - 25% so với cùng

kỳ năm 2011, doanh nghiệp rơi vào thế bị động trong kế hoạch sản xuất

Trang 9

Thống kê Hải quan 14/03/2013 3:00 PM

Là mặt hàng xuất khẩu dẫn đầu, năm 2012 kim ngạch hàng dệt may của Việt Nam đạt 15,1 tỷ USD, tăng 7,5 % so với năm 2011, chiếm trên 13% tổng kim

ngạch xuất khẩu của cả nước và cao hơn so với nhóm hàng xuất khẩu có kimngạch lớn thứ 2 (là điện thoại các loại & linh kiện) tới 2,38 tỷ USD

Bảng 1: Thứ hạng và tỷ trọng một số mặt hàng xuất khẩu chính của Việt

Nam năm 2012

hạng

Kim ngạch (Tỷ USD) Tỷ trọng* (%)

(Ghi chú:* Tỷ trọng là tỷ trọng xuất khẩu nhóm hàng trong tổng kim ngạch

xuất khẩu của cả nước).

Nguồn: Tổng cục Hải quan

Từ nhiều năm qua, hàng dệt may của Việt Nam xuất khẩu chủ yếu theo hình thức gia công cho nước ngoài (xuất gia công) và xuất hàng sản xuất từ nguyên liệu nhập khẩu (xuất sản xuất xuất khẩu) Năm 2012, tỷ trọng hai loại hình này

chiếm hơn 96% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của cả nước; trong

đó, xuất gia công chiếm 75,3%, xuất sản xuất xuất khẩu chiếm 21,2%

Trang 10

Biểu đồ 1: Tỷ trọng xuất khẩu theo các loại hình của hàng dệt may năm 2012

Nguồn: Tổng cục Hải quan

Số liệu thống kê hải quan nhiều năm qua cho thấy, mức kim ngạch bình quân

tháng của nhóm hàng dệt may xuất khẩu tăng liên tục qua các năm Cụ thể, năm

2005 mức kim ngạch bình quân tháng chỉ là 401 triệu USD/tháng, đến năm 2010con số này đạt hơn 900 triệu USD/tháng và đến thời điểm năm 2012 đạt 1,26 tỷUSD/tháng

Biểu đồ 2: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may bình quân tháng năm 2005 –

2012.

Trang 11

Nguồn: Tổng cục Hải quan

Cũng theo số liệu thống kê hải quan nhiều năm qua cho thấy, chu kỳ xuất

khẩu của hàng dệt may do tính chất mùa vụ nên thường bắt đầu tăng trưởng vào tháng 5 và đạt mức cao nhất vào tháng 8 hàng năm (năm 2012, tháng 8 xuất khẩu

đạt 1,52 tỷ USD- mức kim ngạch kỷ lục từ trước tới nay)

Biểu đồ 3: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may theo tháng giai đoạn

2008-2012

Nguồn: Tổng cục Hải quan Xuất khẩu hàng dệt may của khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đạt kim ngạch cao hơn hẳn doanh nghiệp trong nước Năm 2005 xuất khẩu

hàng dệt may của doanh nghiệp FDI chỉ đạt 2,14 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 44%trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may cả nước Kể từ năm 2007, xuất khẩu

Trang 12

nhóm hàng này của doanh nghiệp FDI liên tục tăng và chính thức vượt doanhnghiệp trong nước Năm 2012, kim ngạch xuất khẩu của doanh nghiệp FDI đạt9,02 tỷ USD, tăng 6% so với năm trước và chiếm tỷ trọng 59,8% Trong khi đó,con số xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước là 6,1 tỷ USD, thấp hơn 2,9 tỷ USD

so với doanh nghiệp FDI

Biểu đồ 4 : Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của doanh nghiệp FDI và

doanh nghiệp trong nước giai đoạn 2005-2012

Nguồn: Tổng cục Hải quan Trong năm 2012, Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản và Hàn Quốc là 4 đối tác lớn nhất nhập khẩu hàng dệt may của Việt Nam Tổng kim ngạch hàng dệt may xuất sang 4

thị trường này đạt 12,96 tỷ USD, chiếm tới 86% tổng kim ngạch xuất khẩu hàngdệt may của cả nước

Biểu đồ 5: Xuất khẩu hàng dệt may sang các thị trường chính năm 2011 và

năm 2012

Trang 13

Nguồn: Tổng cục Hải quan

Trong đó, Hoa Kỳ luôn là thị trường dẫn đầu về nhập khẩu hàng dệt may

của Việt Nam với kim ngạch đạt 7,46 tỷ USD, chiếm 49,4% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của cả nước Đồng thời trong số các nhóm hàng của Việt

Nam xuất sang thị trường Hoa Kỳ thì hàng dệt may dẫn đầu với tỷ trọng chiếm37,9% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ

Bảng 2: Số liệu xuất khẩu hàng dệt may sang Hoa Kỳ năm 2011-2012

2011

Năm 2012 Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang

Tỷ trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu

của cả nước sang Hoa Kỳ (%)

(E)=(A/D)*100

40,7 37,9

Nguồn: Tổng cục Hải quan

Trang 14

Theo số liệu thống kê mới nhất của Văn phòng Dệt may Mỹ (OTEXA), năm

2012 thị phần hàng dệt may Việt Nam tại Hoa Kỳ chiếm khoảng 7,6% Trong nămqua, Hoa Kỳ nhập khẩu hàng dệt may từ tất cả các nước trên thế giới giảm nhẹ(0,4%) nhưng nhập khẩu nhóm hàng này từ Việt Nam vẫn tăng hơn 8% so vớinăm trước

Trong 4 thị trường chính nhập khẩu hàng dệt may Việt Nam, EU là thịtrường duy nhất có mức suy giảm nhẹ trong năm 2012, đạt 2,5 tỷ USD, giảm 3,8%

so với năm 2011 Ba thị trường Hoa Kỳ (đạt 7,5 tỷ USD), Nhật Bản (đạt 2,0 tỷUSD) và Hàn Quốc (đạt 1,1 tỷ USD) đều có mức tăng cao hơn mức tăng chung(7,5%) của nhóm hàng này, lần lượt là 8,7%, 22,2% và 17,6%

Hàng dệt may của Việt Nam xuất ra thế giới chủ yếu là nhóm hàng bộ

com-lê, quần áo đồng bộ, áo jacket, áo khoác thể thao, váy dài, váy, chân váy, quần dài,quần yếm, quần ống chẽn và quần soóc dành cho phụ nữ và trẻ em gái (HS 6204

và HS 6104), bộ com- lê, quần áo đồng bộ, áo jacket, áo khoác thể thao, váy dài,váy, chân váy, quần dài, quần yếm, quần ống chẽn và quần soóc dành cho namgiới và trẻ em trai (HS6203); các loại áo bó, áo chui đầu, áo cài khuy, gi-lê(HS6110); áo phông, áo may ô và loại áo lót khác (HS6109)

Bảng 3 : Cơ cấu xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam năm 2012 theo mã HS

Stt Mã HS* Trị giá (Triệu USD) Tỷ trọng (%)

Trang 15

(Ghi chú:*Để biết thông tin về mã HS độc giả tham khảo thông tư số 156/2011/TT-BTC ngày 14/11/2011 của Bộ Tài Chính về ban hành danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam)

2.5 Tình hình Xuất khẩu dệt may từ tháng 1 đến tháng 10 năm 2013

Với kim ngạch 10 tháng tăng 18,7%, đơn đặt hàng tăng, dự kiến cả năm

2013, xuất khẩu dệt may đạt mục tiêu từ 18,8-19,3 tỷ USD

Theo Bộ Công Thương, từ đầu năm đến hết tháng 10, so với cùng kỳ, xuấtkhẩu hàng dệt và may mặc ước đạt 14,8 tỷ USD, tăng 18,7%; xơ, sợi dệt các loạiước đạt 1,7 tỷ USD, tăng 14,6%

Trước thực tế mức tăng kim ngạch như hiện tại và có tín hiệu khởi sắc vềđơn hàng, ngành dệt may Việt Nam dự kiến kim ngạch xuất khẩu cả năm có thểđạt 19 tỷ USD như mục tiêu đề ra từ đầu năm (đầu năm nay, ngành dệt may đã đặt

ra mục tiêu năm 2013 duy trì tốc độ tăng trưởng từ 10,4 đến gần 12%, kim ngạchxuất khẩu đạt khoảng 18,8 - 19,3 tỷ USD)

Đóng góp vào mức kim ngạch của ngành dệt may 10 tháng qua, xuất khẩuhàng dệt may của Việt Nam sang Trung Quốc ước đạt trên 270 triệu USD, các mặthàng xơ, sợi dệt các loại ước đạt gần 700 triệu USD Trong khi đó, Việt Nam cũngnhập khẩu bông từ Trung Quốc với giá trị ước khoảng gần 7,5 triệu USD; xơ sợidệt các loại ước trên 350 triệu USD; đặc biệt là mặt hàng vải các loại ước gần 3,0

tỷ USD

Xuất khẩu hàng may mặc của nước ta tới thị trường Mỹ, Hàn Quốc,ASEAN tăng mạnh Cụ thể, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu dệt may sang Mỹ tăng37% so với cùng kỳ năm ngoái; sang Hàn Quốc tăng 68% so với cùng kỳ nămngoái; sang Nhật Bản tăng tăng 35% so với cùng kỳ năm ngoái Xuất khẩu sangcác thị trường Canada, Hồng Kông, Mexico… đều đạt được các mức tăng trưởngkhá ấn tượng so với cùng kỳ năm ngoái

Bộ Công Thương cũng cho biết, hiện nay, một số doanh nghiệp dệt may đãxây dựng lộ trình cũng như phương án sản xuất theo hướng FOB, ODM và chuẩn

Trang 16

bị cho việc tham gia TPP thông qua việc từng bước đổi mới công nghệ hiện đại vànâng cao hiệu quả quản trị, đặc biệt trong các lĩnh vực như dệt, nhuộm, hoàn tất vàthiết kế.

Ngoài ra, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực dệt may (nhất là dệtnhuộm hàng cao cấp) hiện không chỉ tập trung ở các thành phố lớn mà đã hướngđến một số tỉnh có lợi thế về vận chuyển hàng hóa, về nguồn nhân lực, về ưu đãiđầu tư (ưu tiên đầu tư các ngành nhằm chuyển giao công nghệ) Tuy nhiên, quátrình đổi mới chưa tạo được sự đột phá rõ nét và chưa đảm bảo sự phát triển bềnvững

2.6 Những điều cần biết khi xuất khẩu dệt may sang một số thị trường

a Thị trường Nhật Bản

Năm 2010, là năm đầu tiên Việt Nam được hưởng ưu đãi thuế theo Hiệpđịnh đối tác kinh tế Việt Nam- Nhật Bản và kim ngạch xuất khẩu dệt may sang thịtrường này đã tăng trưởng 20% so với năm 2009

Sau 1 năm hợp tác theo Hiệp định, theo số liệu thống kê, năm 2011, kimngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam sang Nhật Bản đạt 1,69 tỷ USD, tăng 46,41%

so với năm 2010 Tính hết tháng 10 năm 2012, kim ngạch này đạt 1,62 tỷ USD,gần bằng cả năm 2011, tăng 17,4% so với cùng kỳ 10 tháng năm 2011

Hiện nay, Nhật Bản đã chiếm hơn 13% thị phần xuất khẩu dệt may của ViệtNam Không giống thị trường Mỹ, hay Châu Âu luôn có những đơn đặt hàng sốlượng lớn, Nhật Bản là một trong thị trường tiên tiến, luôn đòi hỏi sự tinh xảotrong hàng may mặc, nên các đơn hàng tuy số lượng nhỏ nhưng lại nhu cầu kiểudáng và màu sắc khác nhau tạo sự độc đáo, khác biệt trong từng sản phẩm

Ngoài ra, thì hàng dệt may khi xuất sang Nhật cần đảm bảo về các yêu cầuquy định, trong đó có quy định về nhãn mác mà doanh nghiệp Việt Nam nên lưu ý.Hàng dệt may cần phải có nhãn mác chứa đầy đủ các thông tin: thành phần sợi vải,cách thức giặt sản phẩm tại nhà và các biện pháp xử lý khác, loại da được sử dụng

Trang 17

cho sản phẩm Đối với sản phẩm dệt may có lớp bọc bên ngoài đặc biệt (trừ áomưa) phải dán nhãn ghi rõ không thấm nước.

Tìm được đúng đối tác tin cậy là một trong những thách thức lớn nhất vớihầu hết các nhà xuất khẩu muốn thâm nhập thị trường Nhật Bản, bất kể đoạn thịtrường nào Trong ngành thời trang, đại lý và các công ty phân phối thường có quy

mô nhỏ và thường giới hạn các thương hiệu họ làm đại diện Bạn cũng cần kiểmtra các thương hiệu họ đã làm đại diện để tránh tình trạng mâu thuẫn về lợi ích

Hầu hết các đại lý lấy hoa hồng từ 15 đến 20% và nhà bán lẻ sẽ có khoảnlãi cao hơn Thông thường, các sản phẩm nhập khẩu từ các nước khác được bánvới giá cao gấp 3,5 lần giá xuất xưởng Người mua hàng thường có sự so sánh vềgiá cả với các sản phẩm hoặc thương hiệu tương tự khác đã được bán trên thịtrường trước khi ra quyết định mua hàng

Các công ty của Nhật thường muốn nhận được các quyển giới thiệu sảnphẩm và hàng mẫu hơn là kiểm tra trang web hay xem CD để biết được thông tin

về sản phẩm Những công cụ marketing này thường đem lại hiệu quả nhanh hơn

và có thể dễ dàng chuyển giữa các bộ phận trong công ty

Quyển brochure giới thiệu công ty của bạn nên đưa ra các giá trị củathương hiệu công ty Sách giới thiệu sản phẩm cần có đầy đủ thông tin về cácchủng loại sản phẩm Thông tin về giá cả cần được cung cấp riêng biệt (có thể cóbáo giá riêng)

Nhà thiết kế, khi bán hàng trực tiếp cho các cửa hàng hay bán cho đại lý,đều phải có đầy đủ các thông tin sau đây trong sách giới thiệu công ty:

- Giá trị mà nhà bán lẻ sẽ nhận được khi mua hàng của bạn?

- Các mặt hàng của bạn phù hợp với các mặt hàng họ đang bán như thếnào? Ai là khách hàng tiềm năng?

- Bạn sẽ làm gì để xúc tiến sản phẩm?

- Bạn có sẵn sàng thay đổi sản phẩm cho phù hợp với thị trường haykhông?

Trang 18

- Sản phẩm có được chào bán độc quyền cho công ty mua hàng hay không?

- Bạn hơn các đối thủ cạnh tranh ở điểm nào?

- Chiến lược cạnh tranh của bạn là gì?

Các nhà thiết kế nên dành một khoản ngân sách để chỉ định đại lý thực hiệncác công việc PR ở thị trường Nhật Nhiều đại lý và công ty phân phối hàng thờitrang có khả năng thực hiện các công việc PR và tính phí độc lập Thu hút sự quantâm của giới báo chí là một cách quan trọng để xây dựng thương hiệu và tăngdoanh số trên thị trường Nhật Bản Có khoảng 30 tạp chí có liên quan đến thờitrang nữ giới, mỗi tạp chí có quan niệm khác nhau và có đối tượng khách hàngtiềm năng khác nhau

Các cửa hàng tuyển chọn là các cửa hàng bán nhiều thương hiệu với kháiniệm kinh doanh rất rõ ràng Tỷ lệ hàng nhập khẩu khoảng 60% 40% còn lại làcác nhãn hiệu tư nhân do cửa hàng tự phát triển Các cửa hàng tuyển chọn sẵnsàng hợp tác với các thương hiệu mới và thông thường mỗi năm họ sẽ thay từ 30%đến 50% là các thương hiệu mới Đối với các cửa hàng này cần đảm bảo về kiểmsoát chất lượng và thời gian giao hàng để duy trì quan hệ lâu dài Các cửa hàngnày sẽ tham gia các triển lãm thương mại trong nước ít nhất hai lần trong năm đểtrưng bày hàng mẫu cho các khách hàng của họ

5 cửa hàng tuyển chọn hàng đầu tại Nhật Bản bao gồm United Arrows,Beams, Ships, Tomorrowland và Bay Crews Số lượng các cửa hàng ngày càngtăng lên và phân đoạn rõ ràng hơn theo chủng loại hàng hóa (như theo giới tính,thương hiệu và yếu tố nhân khẩu học)

Các trung tâm thương mại thường không nhập khẩu trực tiếp từ nước ngoài

và thường làm việc trực tiếp với các nhà thiết kế đã có tên tuổi trên thị trườngNhật Bản Hình thức bán lẻ trực tuyến và bán theo catalogue chỉ nên áp dụng vớicác nhà thiết kế đã có tên tuổi trên thị trường Các mặt hàng thời trang từ trung đếncao cấp được định vị là các sản phẩm tương tự hàng xa xỉ Người tiêu dùng thuộc

Trang 19

đoạn thị trường này vẫn muốn nhìn và chạm vào sản phẩm trước khi quyết địnhmua hàng.

Người mua hàng Nhật Bản thường muốn hợp tác với các đại lý, nhà phânphối và nhà cung cấp quen biết Việc thu hút chú ý của khách hàng qua các cuộcđiện thoại hay email rất khó thực hiện

Các kênh phân phối khác ở Nhật gồm có:

- Các cửa hàng thông thường

- Các cửa hàng chuyên đồ thời trang

- SPA – nhà bán lẻ chuyên về thời trang của một nhãn hiệu tư nhân

- Các cửa hàng outlet…

b Thị trường Băng-la-đét

Dệt may hiện là ngành kinh tế mũi nhọn của Băng-la-đét khi mang về tới80% ngoại tệ xuất khẩu của quốc gia Nam Á có hơn 160 triệu dân này Quy môxuất khẩu của ngành tăng trưởng gấp 03 lần trong vòng 10 năm trở lại đây với kimngạch xuất khẩu năm 2011/2012 đạt gần 22,3 tỷ USD Tuy nhiên, sản xuất dệtmay của Băng-la-đét cũng gặp phải một thách thức không nhỏ đó là phải phụthuộc rất lớn vào nguyên phụ liệu dệt may nhập khẩu

Hiện nay, sản xuất vải dệt trong nước chỉ có thể đáp ứng được 40% nhu cầusản xuất của ngành may và mỗi năm nước này phải chi một lượng ngoại tệ khôngnhỏ để nhập khẩu nguyên, phụ liệu dệt may phuc vụ sản xuất Năm 2011, Băng-la-đét nhập khẩu một lượng hàng dệt may trị giá gần 7,5 tỷ USD trong đó có 2,28triệu USD hàng nguyên, phụ liệu hàng dệt và gần 100 nghìn USD hàng may mặc

từ Việt Nam

Một trong những trở ngại khiến cho kim ngạch xuất khẩu dệt may sangBăng-la-đét của nước ta vẫn còn khiếm tốn do thiếu thông tin thị trường, ngànhhàng trong đó có thông tin về chính sách thuế nhập khẩu đối hàng dệt may nhậpkhẩu vào Băng-la-đét Vụ Thị trường Châu Phi, Tây Á, Nam Á xin giới thiệu tóm

Trang 20

lược biểu thuế cũng như quy đinh về nhãn mác đối với hàng dệt may nhập khẩucủa Băng-la-đét

-Thuế VAT 15% ( Tính trên cơ sở giá CIF+thuế nhập khẩu)

-Thuế thu nhập ứng trước 2,5% (Tính trên cơ sở giá CIF+thuế nhập khẩu+VAT)

Trang 21

-Phí cho phép nhập khẩu (Import Permit Fee) đối với hàng nhập khẩu có trịgiá từ 1800 USD trở lên 2,5% (Tính trên cơ sở giá CIF+thuế nhập khẩu+ VAT+thuế thu nhập ứng trước)

- Phụ phí xây dựng cơ sở hạ tầng 2,5% ngoại trừ da nguyên liệu, bông vàsợi tổng hợp

+ Hàng quần áo thời trang

Việc thành lập một đại diện trực tiếp tại Úc đòi hỏi chi phí rất lớn Vì thế,

sẽ rất lý tưởng nếu bạn sử dụng đại lý hoặc nhà phân phối, đặc biệt khi doanhnghiệp của bạn có vốn đầu tư hạn chế Bạn có thể bắt đầu bằng việc bán hàng trựctiếp tại một số cửa hàng

Khi xác định kênh phân phối, bạn cũng cần lưu ý tới vấn đề địa lý Khoảngcách giữa các trung tâm lớn càng xa thì chi phí dịch vụ tại các khu vực này càngtốn kém hơn cho chính bạn và đại lý bạn sử dụng, ví dụ như chi phí vận chuyểnđối với các đơn đặt hàng nhỏ, hoặc chi phí đi lại tới địa điểm người mua hàngcũng cao hơn

Nếu xét về mặt dân số, các bang ở phía đông bờ biển của New SouthWales, Victoria và Queensland tạo nên phần lớn doanh số bán hàng may mặc.Sydney, Melbourne và Brisbane là những thành phố lớn, có nền kinh tế lâu đời vàrất nhiều cửa hàng thời trang cao cấp

Thành phố Sydney là trung tâm của các phương tiện truyền thông tại Úccũng như là trung tâm mua sắm chính và cửa hàng miễn thuế cho khách du lịch

Trang 22

Queensland lại là địa điểm lí tưởng cho các khu resort và khu nghỉ mát Perth ởTây Úc cũng là một thị trường phát triển đối với các mặt hàng dệt may thời trang.

Phong cách và màu sắc thời trang có sự khác biệt giữa các tiểu bang và điềunày chủ yếu là do yếu tố thời tiết Ví dụ, với những khu vực thời tiết tương đối ấmnhư Sydney và Brisbane, bạn không nên kinh doanh các mặt hàng làm bằng vảidệt kim hoặc vải dày; thay vào đó là những mặt hàng mỏng hoặc dày vừa phải, cómàu sắc nhẹ nhàng và tươi sáng

Đảm bảo bạn có đủ hàng mẫu để giới thiệu cho khách hàng – vì khách hàngthường thích mua những gì họ tận mắt thấy với đủ màu sắc thay vì chỉ thấy vàimẫu vải

Mùa mua sắm tại Úc bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 5 đối với các bộ sưu tậpXuân hè và tháng 9 đến tháng 10 đối với bộ sưu tập Thu Đông Người mua hàngtại Úc cũng có xu hướng đặt mua những mẫu mới để giữ cho cửa hàng của họphong phú và có “không khí” mới

Hãy chuyên nghiệp và tuân theo kỷ luật trong cách quản lý chất lượng, tiến

độ giao hàng; đồng thời xây dựng một kế hoạch quản lý nợ tốt và hiệu quả Giaohàng kém chất lượng hoặc chậm trễ so với cam kết sẽ dẫn tới kết quả hàng bị trảlại hoặc đơn hàng bị hủy

Một số đại lý/ nhà phân phối đồ thể thao tại Úc

Bán hàng thông qua đại lý/ nhà phân phối không phải là cách thâm nhập thịtrường được khuyến khích Tuy nhiên, vẫn có một danh sách đầy đủ các đại lý/nhà phân phối đồ thể thao tại Úc trong danh bạ hàng năm của SportsLINK Trong

Trang 23

khi một số đại lý/ nhà phân phối nhập khẩu hàng trực tiếp từ các nhà sản xuấtnước ngoài, thì số khác lại có giấy phép kinh doanh một số thương hiệu đồ thểthao – theo đó, họ được cấp quyền kinh doanh tại các vùng, bang và tiểu bang tại

Úc cũng như được quyền chuyển hoạt động sản xuất giày dép và quần áo ra nướcngoài với mức phí đã thỏa thuận với đơn vị cấp bản quyền

Bạn có thể sử dụng đại lý/ nhà phân phối nếu khách hàng mục tiêu của bạn

là một tổ chức mua hàng ví dụ như trường học, chính quyền địa phương, tổ chứcgiải trí, câu lạc bộ và hiệp hội Đây là những tổ chức luôn có truyền thống tìm cácnguồn hàng trực tiếp từ nhà bán buôn hoặc nhà nhập khẩu

Một số vấn đề mang tính dài hạn mà các nhà xuất khẩu nên cân nhắc

· Sự gia tăng về hoạt động bán lẻ trên mạng – mang tới thách thức và cơhội cho các doanh nghiệp dệt máy Việt Nam

· Toàn cầu hóa gia tăng với xu hướng chuyển hoạt động sản xuất ra nướcngoài nhằm nâng tính cạnh tranh Tuy nhiên, những tác động tiêu cực kéo theo làhiện tượng bóc lột lao động và ô nhiễm môi trường

· Liên tục đổi mới hoạt động sản xuất cũng như tăng cường nghiên cứu vàphát triển sản phẩm (điển hình là công nghệ nano) sẽ tạo ra các sản phẩm mới, từ

đó đưa thương hiệu lên một tầm cao

2.7 Mở rộng thị trường các mặt hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam

a Trong tình hình các thị trường truyền thống xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam có dấu hiệu chững lại, các doanh nghiệp Việt Nam cần nắm bắt

cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu cho hàng dệt may Việt Nam.

Theo số liệu thống kê mới nhất của Tổng cục Hải quan, kim ngạch xuấtkhẩu dệt may của Việt Nam trong ba tháng đầu năm 2013 đạt 3,7 tỉ USD, đạt mứctăng trưởng 18,3% Đặc biệt, trong quý I năm nay, xuất khẩu các mặt hàng maymặc của Việt Nam đạt mức tăng trưởng tốt tại các thị trường mới, không phải thịtrường truyền thống của Việt Nam

Trang 24

Cụ thể, số liệu thống kê cho thấy, trong quý I năm 2013, kim ngạch xuấtkhẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường ASEAN đạt 111,4 triệu USD,tăng 44,4% so với cùng kỳ năm trước Đặc biệt, tại khu vực ASEAN, Campuchia

là nước đứng đầu về kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may của Việt Nam, với kimngạch đạt 45,7 triệu USD, tăng 103% so với cùng kỳ năm ngoái Ngoài ra, xuấtkhẩu dệt may của Việt Nam tại một số thị trường khác cũng có mức tăng trưởngmạnh như Nigeria tăng 1.200%, sang Na Uy tăng 134,6%, sang New Zealand tăng120%, sang Úc tăng 37%

Theo dự báo của Quỹ Tiền tệ thế giới (IMF), nền kinh tế thế giới sẽ tiếp tụcgặp khó khăn trong năm 2013, làm thế nào để duy trì sản xuất đang là vấn đề đặt

ra đối với các doanh nghiệp dệt may Việt Nam

Tình hình xuất khẩu dệt may tại các thị trường lớn vẫn còn khó khăn, nhucầu từ các thị trường chính như Mỹ, Nhật, EU chỉ tăng tương đối chậm và có xuhướng giảm Với những dự báo về kinh tế thế giới đưa ra cho năm 2013, dệt mayViệt Nam hy vọng giữ được mức tăng trưởng ổn định như năm 2012

Với những khó khăn hiện tại, các doanh nghiệp Việt Nam cần củng cố lạihoạt động sản xuất, đầu tư, nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm đáp ứng yêu cầungày càng cao của các nhà nhập khẩu truyền thống , duy trì các bạn hàng lâu nămnhư EU, Mỹ, Nhật Bản, Nga, v.v

Bên cạnh đó, trong thời điểm hiện tại, khi nhu cầu tiêu dùng của các thịtrường truyền thống như Mỹ, EU bị giảm sút, thay vì đợi các thị trường xuất khẩutruyền thống, các doanh nghiệp Việt Nam cũng nên tích cực tìm kiếm cơ hội gặp

gỡ những đối tác mới, mở rộng thị trường xuất khẩu cho các mặt hàng dệt may củaViệt Nam

Theo số liệu thống kê của Tổng Cục hải quan, xuất khẩu nhóm hàng dệtmay trong 9 tháng qua đạt 13 tỷ USD, tăng 17% so với cùng kỳ năm 2012 Theoông Phạm Xuân Hồng, Phó Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam, trong số nhữngmặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng mạnh nhất, dệt may là một trong hai

Trang 25

ngành duy nhất đạt trên 10 tỷ USD “Tuy nhiên, hiện xuất khẩu của ngành nàyđang chững lại và tăng trưởng không đều Nguyên nhân là do cuối năm 2012, thịtrường các nước bị hụt hàng, nên đầu năm 2013 nhu cầu nhập tăng và đến nay thìchững lại Một nguyên nhân nữa là sự cạnh tranh về giá giữa các nước xuất khẩusản phẩm dệt may ngày càng diễn ra gay gắt Ví dụ, mức lương trả cho công nhântại Việt Nam ngày càng cao cũng ảnh hưởng tới tính cạnh tranh trong xuất khẩu.Lương công nhân ở Campuchia bình quân chỉ ở mức 50 USD/người/tháng,Bangladesh 60 - 70 USD/người/tháng, trong đó ở Việt Nam là 250USD/người/tháng”, ông Hồng cho biết.Bên cạnh đó, các doanh nghiệp dệt maytrong nước cũng đang gặp khó khăn trong việc tìm kiếm và nhập khẩu nguyên phụliệu Hiện có tình trạng doanh nghiệp Việt Nam tranh mua nguyên liệu với cácnước chuyên gia công hàng may mặc xuất khẩu khác như Campuchia, Ấn Độ,Bangladesh Mặt khác, các nhà cung cấp nguyên liệu cho ngành cũng đang lợidụng việc khan hiếm nguồn nguyên phụ liệu để cố tình trì hoãn việc giao hàng chocác doanh nghiệp Việt Nam nhằm đẩy giá tăng thêm từ 10 - 15% Điều này ảnhhưởng đến tiến độ thực hiện những đơn hàng xuất khẩu cuối năm đã ký kết trước

đó của các doanh nghiệp trong nước

b Nhiều tín hiệu tích cực

Với chính sách đẩy mạnh xuất khẩu của Chính phủ, những nỗ lực của cácdoanh nghiệp dệt may, mức tăng trưởng trung bình của ngành vẫn đạt khoảng15% Nhiều khả năng, xuất khẩu dệt may trong năm 2013 vẫn sẽ vượt khoảng 1 tỷUSD so với mục tiêu đề ra

Bên cạnh đó, một tín hiệu tốt khác của ngành dệt may là nếu như nhữngnăm trước, tỉ lệ nội địa hoá trong hàng xuất khẩu chỉ đạt 20 - 30%, thì năm naycon số này đã là 40 - 50% Điều này sẽ khiến việc nhập khẩu nguyên phụ liệu củangành giảm đi và ngành sẽ tận dụng được nhiều cơ hội nếu hiệp định thương mạinhư TPP được ký kết Không những thế, những năm gần đây, ngành dệt may đãchú trọng đầu tư phát triển thị trường nội địa; nhiều doanh nghiệp tập trung đầu tư

Trang 26

cho khâu thiết kế, sản xuất, chuyển giao công nghệ và thương hiệu để cho ranhững sản phẩm không thua kém hàng nhập khẩu, như Pierre Cardin (An Phước),San Sciaro (Việt Tiến), Mattana (Nhà Bè) Trong thực tế, những thương hiệu nàycòn tạo cơ hội cho người tiêu dùng Việt Nam được sử dụng hàng may mặc chấtlượng cao và trở thành những thương hiệu thế giới được Việt hóa.

Theo đánh giá của các chuyên gia trong ngành, từ những tín hiệu tích cựcnày, thời gian tới, ngành dệt may Việt Nam hoàn toàn có thể đạt được kế hoạch đã

đề ra và tiếp tục vẽ lên gam màu sáng trong “bức tranh” xuất siêu năm thứ 2 liêntiếp của Việt Nam

Tình hình sản xuất và xuất khẩu sản phẩm của ngành dệt may Việt Nam.Hiện nay ở nước ta ngành công nghiệp dệt may ngày càng có vai trò quantrọng trong nền kinh tế quốc dân Nó không chỉ phục vụ cho nhu cầu ngày càngcao và phong phú, đa dạng của con người mà còn là ngành giúp nước ta giải quyếtđược nhiều công ăn việc làm cho xã hội và đóng góp ngày càng nhiều cho ngânsách quốc gia, tạo điều kiện để phát triển nền kinh tế

Trong những năm gần đây ngành công nghịêp dệt may đã có những bướctiến vượt bậc Tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành khoảng 30%/năm, tronglĩnh vực xuất khẩu tốc độ tăng trưởng bình quân 24,8%/năm và chiếm 20% tổngkim ngạch xuất khẩu của cả nước Tính đến nay cả nước có khoảng 822 doanhnghiệp dệt may, trong đó doanh nghiệp quốc doanh là 231 doanh nghiệp, doanhnghiệp ngoài quốc doanh là 370 doanh nghiệp và doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài là 221 doanh nghiệp Ngành dệt may có năng lực như sau:

Về thiết bị: có 1.050.000 cọc kéo sợi, 14.000 máy dệt vải; 450 máy dệt kim

Trang 27

sợi-dệt-trong đó có 130 dự án đã đi vào hoạt động, tạo việc làm cho trên 50.000 lao độngtrực tiếp và hàng ngàn lao động gián tiếp.

Tổng nộp ngân sách thông qua các loại thuế ngày càng tăng, tốc độ tăngbình quân khoảng 15%/ năm

Về thì trường xuất khẩu: Doanh Nghiệp xuất khẩu nhiều sang các thịtrường Mỹ, EU, Canada và Nhật Bản trong đó các nước EU là thị trường xuấtkhẩu hàng dệt may lớn nhất của Việt Nam chiếm 34%-38% tổng kim ngạch xuấtkhẩu hàng năm của Việt Nam Còn sản phẩm dệt may xuất khẩu sang Nhật Bản đãđược hưởng thuế ưu đãi theo hệ thống GSP nên kim ngạch xuất khẩu hàng dệtmay vào thị trường này tăng khá nhanh trong những năm gần đây, thị phần hàngdệt thoi và dệt kim của nước ta trên thị trường hàng dệt may của Nhật Bản tươngứng là 3,6% và 2,3%, kim ngạch xuất khẩu chiếm khoảng 30% sản phẩm dệt may

c Vai trò của hoạt động xuất khẩu và mở rộng thị trường xuất khẩu sản phẩm dệt may.

Qua tình hình sản xuất-xuất khẩu của ngành dệt may đã nói ở phần trên ta

có thể thấy rõ được vai trò của hoạt động xuất khẩu và mở rộng thị trường xuấtkhẩu sản phẩm dệt may đối với nền kinh tế nước ta và đối với mỗi doanh nghiệpxuất khẩu sản phẩm dệt may:

Thứ nhất, xuất khẩu và mở rộng thị trường xuất khẩu sản phẩm dệt may sẽtạo nguồn thu nhập, tích luỹ cho Nhà nước một nguồn vốn ngoại tệ lớn cho việcnhập khẩu thiết bị sản xuất hiện đại, nguyên phụ liệu…để phát triển sản xuất phục

vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước Đồng thời cũng giúp chomỗi doanh nghiệp có cơ sở để tự hiện đại hoá sản xuất của mình Khi xuất khẩucác sản phẩm dệt may nước ta sẽ có một nguồn thu ngoại tệ lớn cho nền kinh tếquốc dân, đáp ứng cho việc nhập khẩu các mặt hàng mà chúng ta cần để đảm bảocho sự phát triển cân đối, ổn định của nền kinh tế; giúp chúng ta khai thác tối đatiềm năng của đất nước

Trang 28

Thứ hai, xuất khẩu và mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hoá nói chung vàsản phẩm dệt may nói riêng được xem là một yếu tố để thúc đẩy phát triển và tăngtrưởng kinh tế vì nó cho phép mở rộng quy mô sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh

tế trong nước, gây phản ứng dây truyền kéo theo một loạt các ngành khác có liênquan phát triển theo Khi ngành dệt may đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu và mởrộng thị trường xuất khẩu thì sẽ buộc phải mở rộng quy mô sản xuất và cần nhiềunguyên liệu hơn để phục vụ cho ngành dệt và may, điều đó sẽ dẫn theo sự pháttriển của ngành trồng bông và các ngành có liên quan đến việc trồng bông nhưphân bón, vận tải…

Thứ ba, việc ngành dệt may đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu và mở rộng thịtrường xuất khẩu sẽ giúp Nhà nước và chính bản thân các doanh nghiệp sử dụng

có hiệu quả nhất các nguồn lực có sẵn và các lợi thế vốn có của quốc gia cũng nhưcủa doanh nghiệp, đồng thời tiếp cận với sự phát triển của khoa học-công nghệtrên mọi lĩnh vực để nâng cao chất lượng, tăng sản lượng và hướng tới sự pháttriển bền vững cho đất nước và doanh nghiệp

Thứ tư, tiến hành các hoạt động xuất khẩu và mở rộng thị trường xuất khẩusản phẩm dệt may góp phần giúp Nhà nước giải quyết vấn đề công ăn việc làm,nâng cao mức sống người dân, đưa quốc gia thoát khỏi sự đói nghèo và lạc hậu.Việc ngành dệt mạnh hoạt động xuất khẩu và mở rộng thị trường xuất khẩu đồngnghĩa với việc mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, khi đóngành dệt may sẽ thu hút được nhiều hơn nữa lao động và giúp họ có được mộtmức thu nhập cao và ổn định, tay nghề của người lao động được nâng cao do họ sẽđược đưa vào đào tạo một cách bài bản và có kế hoạch cụ thể, đồng thời có cơ hộitiếp cận với những công nghệ sản xuất dệt may hiện đại

Thứ năm, để việc đẩy mạnh xuất khẩu và mở rộng thị trường xuất khẩu cóhiệu quả cao, các doanh nghiệp dệt may phải không ngừng đầu tư vào trang thiết

bị máy móc, công nghệ sản xuất để vừa nâng cao chất lượng sản phẩm vừa tăngnăng xuất thì mới tạo ra được những sản phẩm có tính cạnh tranh cao trên thị

Trang 29

trường quốc tế Như vậy xuất khẩu và mở rộng thị trường xuất khẩu còn có vai tròkích thích đổi mới công nghệ sản xuất cho nền kinh tế nói chung và cho ngành dệtmay nói riêng.

Thứ sáu, nhờ có hoạt động xuất khẩu và công tác mở rộng thị trường xuấtkhẩu mà sự hợp tác kinh tế giữa nước ta với các nước khác ngày càng phát triểnbền chặt và thân thiện Điều đó là do xuất khẩu chính là sự trao đổi giữa các quốcgia, là sự thể hiện mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia và là hìnhthức ban đầu của các hoạt động đối ngoại Không chỉ thế nó còn tạo điều kiện chocác doanh nghiệp tăng cường tiếp cận với thế giới bên ngoài, từ đó có một nguồnthông tin vô cùng phong phú và nhạy bén với cơ chế thị trường; thiết lập đượcnhiều mối quan hệ và tìm được nhiều bạn hàng trong kinh doanh hợp tác xuấtnhập khẩu

Như vậy đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu và mở rộng thị trường xuất khẩusản phẩm dệt may có vai trò rất quan trọng đối với không chỉ bản thân mỗi doanhnghiệp dệt may mà còn đối với cả nền kinh tế quốc dân Chính vì thế mà nó đượcxem như là một hướng phát triển có tính chiến lược để góp phần hiện đại hoá nềncông nghiệp nước ta

III CÁC LOẠI CHỨNG TỪ CẦN THIẾT KHI XUẤT KHẨU HÀNG HÓA BẰNG ĐƯỜNG BIỂN:

Khi xuất khẩu hàng hoá bằng đường biển, người giao nhận (NGN) được uỷthác của người gửi hàng lo liệu cho hàng hoá từ khi thông quan cho đến khi hàngđược xếp lên tầu Các chứng từ sử dụng trong quá trình này cụ thể như sau:

- Chứng từ hải quan

- Chứng từ với cảng và tầu

- Chứng từ khác

Trang 30

3.1 Chứng từ hải quan

- 01 bản chính văn bản cho phép xuất khẩu của bộ thương mại hoặc bộ quản lýchuyên ngành (đối với hàng xuất khẩu có điều kiện) để đối chiếu với bản sao phảinộp

- 02 bản chính tờ khai hải quan hàng xuất khẩu

- 01 bản sao hợp đồng mua bán ngoại thương hoặc giấy tờ có giá trị tương đươngnhư hợp đồng

- 01 bản giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và giấy chứng nhận đăng ký mã sốdoanh nghiệp (chỉ nộp một lần khi đăng ký làm thủ tục cho lô hàng đầu tiên tạimỗi điểm làm thủ tục hải quan)

- 02 bản chính bản kê chi tiết hàng hoá (đối với hàng không đồng nhất)

a Tờ khai hải quan

Tờ khai hải quan là một văn bản do chủ hàng, chủ phương tiện khai báoxuất trình cho cơ quan hải quan trước khi hàng hoặc phương tiện xuất hoặc nhậpqua lãnh thổ quốc gia

Thông lệ quốc tế cũng như pháp luật Việt nam quy định việc khai báo hải quan làviệc làm bắt buộc đối với phương tiện xuất hoặc nhập qua cửa khẩu quốc gia Mọihành vi vi phạm như không khai báo hoặc khai báo không trung thực đều bị cơquan hải quan xử lý theo luật pháp hiện hành

b Hợp đồng mua bán ngoại thương

Hợp đồng mua bán ngoại thương là sự thoả thuận giữa những đương sự cótrụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau, theo đó bên xuất khẩu có nghĩa vụchuyển vào quyền sở hữu của bên nhập khẩu một tài sản nhất định gọi là hàng hoá.Bên nhập khẩu có nghĩa vụ nhận hàng và trả tiền hàng

c Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và giấy chứng nhận đăng ký mã số doanh nghiệp

Trang 31

Trước đây doanh nghiệp XNK phải nộp giấy phép kinh doanh XNK loại 7chữ số do Bộ Thương mại cấp Hiện giờ tất cả các doanh gnhiệp hội đủ một sốđiều kiện (về pháp lý, về vốn….) là có quyền xuất nhập khẩu trực tiếp.

d Bản kê chi tiết hàng hoá (cargo list)

Bản kê chi tiết hàng hoá là chứng từ về chi tiết hàng hoá trong kiện hàng

Nó tạo điều kiện thuận tiện cho việc kiểm tra hàng hoá Ngoài ra nó có tác dụng

bổ sung cho hoá đơn khi lô hàng bao gồm nhiều loại hàng có tên gọi khác nhau vàphẩm cấp khác nhau

3.2 Chứng từ với cảng và tàu

Ðược sự uỷ thác của chủ hàng Người giao nhận liên hệ với cảng và tàu để

lo liệu cho hàng hóa được xếp lên tàu Các chứng từ được sử dụng trong giai đoạnnày gồm:

- Chỉ thị xếp hàng (shipping note)

- Biên lai thuyền phó (Mate’s receipt)

- Vận đơn đường biển (Ocean Bill of Lading)

- Bản lược khai hàng hoá (Cargo Manifest)

- Phiếu kiểm đếm (Dock sheet & Tally sheet)

- Sơ đồ xếp hàng (Ship’s stowage plan)

a Chỉ thị xếp hàng:

Ðây là chỉ thị của người gửi hàng cho công ty vận tải và cơ quan quản lýcảng, công ty xếp dỡ, cung cấp những chi tiết đầy đủ về hàng hoá được gửi đếncảng để xếp lên tàu và những chỉ dẫn cần thiết,

b Biên lai thuyền phó

Biên lai thuyền phó là chứng từ do thuyền phó phụ trách về gửi hàng cấpcho người gửi hàng hay chủ hàng xác nhận tàu đã nhận xong hàng Việc cấp biênlai thuyền phó là một sự thừa nhận rằng hàng đã được xếp xuống tàu, đã được xử

lý một cách thích hợp và cẩn thận Do đó trong quá trình nhận hàng người vận tải

Trang 32

nếu thấy tình trạng bao bì không chắc chắn thì phải ghi chú vào biên lai thuyềnphó.

Dựa trên cơ sở biên lai thuyền phó, thuyền trưởng sẽ ký phát vận đơnđường biển là tầu đã nhận hàng để chuyên chở

c Vận đơn đường biển

Vận đơn đường biển là một chứng từ vận tải hàng hoá bằng đường biển dongười chuyên chở hoặc đại diện của họ cấp cho người gửi hàng sau khi đã xếphàng lên tàu hoặc sau khi đã nhận hàng để xếp

Vận đơn đường biển là một chứng từ vận tải rất quan trọng, cơ bản về hoạtđộng nghiệp vụ giữa người gửi hàng vvới người vận tải, giữa người gửi hàng vớingười nhận hàng Nó có tác dụng như là một bằng chứng về giao dịch hàng hoá, làbằng chứng có hợp đồng chuyên chở

d Bản khai lược hàng hoá

Ðây là bản lược kê các loại hàng xếp trên tàu để vận chuyển đến các cảngkhác nhau do đại lý tại cảng xếp hàng căn cứ vào vận đơn lập nên

Bản lược khai phải chuẩn bị xong ngày sau khi xếp hàng, cũng có thể lậpkhi đang chuẩn bị ký vận đơn, dù sao cũng phải lập xong và ký trước khi làm thủtục cho tầu rời cảng

Bản lược khai cung cấp số liệu thông kê về xuất khẩu cũng như nhập khẩu

và là cơ sở để công ty vận tải (tàu) dùng để đối chiếu lúc dỡ hàng

Trang 33

Phiếu kiểm đếm là một chứng từ gốc về số lượng hàng hoá được xếp lêntàu Do đó bản sao của phiếu kiểm đếm phải giao cho thuyền phó phụ trách vềhàng hoá một bản để lưu giữ, nó còn cần thiết cho những khiếu nại tổn thất vềhàng hoá sau này.

f Sơ đồ xếp hàng

Ðây chính là bản vẽ vị trí sắp xếp hàng trên tàu Nó có thể dùng các màukhác nhau đánh dấu hàng của từng cảng khác nhau để dễ theo dõi, kiểm tra khi dỡhàng lên xuống các cảng

Khi nhận được bản đăng ký hàng chuyên chở do chủ hàng gửi tới, thuyềntrưởng cùng nhân viên điều độ sẽ lập sơ đồ xếp hàng mục đích nhằm sử dụng mộtcách hợp lý các khoang, hầm chứa hàng trên tàu cân bằng trong quá trình vậnchuyển

- Giấy chứng nhận xuất xứ (Certificate of origin)

- Hoá đơn thương mại (Commercial invoice)

- Phiếu đóng gói (Packing list)

- Giấy chứng nhận số lương/trọng lượng (Certificate of quantity/weight)

- Chứng từ bảo hiểm

a Giấy chứng nhận xuất xứ

Giấy chứng nhận xuất xứ là một chứng từ ghi nơi sản xuất hàng do người xuấtkhẩu kê khai, ký và được người của cơ quan có thẩm quyền của nước người xuấtkhẩu xác nhận.Chứng từ này cần thiết cho cơ quan hải quan để tuỳ theo chính sáchcủa Nhà nước vận dụng các chế độ ưu đãi khi tính thuế Nó cũng cần thiết choviệc theo dõi thực hiện chế độ hạn ngạch Ðồng thời trong chừng mực nhất định,

Trang 34

nó nói lên phẩm chất của hàng hoá bởi vì đặc điểm địa phương và điều kiện sảnxuất có ảnh hưởng tới chất lượng hàng hoá.

b Hoá đơn thương mại

Sau khi giao hàng xuất khẩu, người xuất khẩu phải chuẩn bị một hoá đơn thươngmại Ðó là yêu cầu của người bán đòi hỏi người mua phải trả số tiền hàng đã đượcghi trên hoá đơn

c Phiếu đóng gói

Phiếu đóng gói là bảng kê khai tất cả các hàng hoá đựng trong một kiện hàng.Phiếu đóng gói được sử dụng để mô tả cách đóng gói hàng hoá ví dụ như kiệnhàng được chia ra làm bao nhiêu gói, loại bao gói được sử dụng, trọng lượng củabao gói, kích cỡ bao gói, các dấu hiệu có thể có trên bao gói… Phiếu đóng góiđược đặt trong bao bì sao cho người mua có thể dễ dàng tìm thấy, cũng có khi đểtrong một túi gắn bên ngoài bao bì

d Giấy chứng nhận số lượng/trọng lượng

Ðây là một chứng thư mà người xuất khẩu lập ra, cấp cho người nhập khẩu nhằm

xác định số trọng lượng hàng hoá đã giao Tuy nhiên để đảm bảo tính trung lập

trong giao hàng, người nhập khẩu có thể yêu cầu người xuất khẩu cấp giấy chứngnhận số/trọng lượng do người thứ ba thiết lập như Công ty giám định, Hải quanhay người sản xuất

e Chứng từ bảo hiểm

Người giao nhận theo yêu cầu của người xuất khẩu có thể mua bảo hiểmcho hàng hoá Chứng từ bảo hiểm là những chứng từ do cơ quan bảo hiểm cấp chocác đơn vị xuất nhập khẩu để xác nhận về việc hàng hoá đã được bảo hiểm và làbằng chứng của hợp đồng bảo hiểm

Chứng từ bảo hiểm thường được dùng là đơn bảo hiểm (Insurance Policy)hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm (Insurance Certificate)

IV BỘ CHỨNG TỪ ĐỐI VỚI VIỆC XUÁT KHẨU HÀNG DỆT MAY

Trang 35

Đối với hàng dệt may Việt Nam sang các thị trường chính như Mỹ, EU,Nhật Bản… thì bộ chứng từ bao gồm những chứng từ chính sau:

+ Hợp đồng ngoại thương ( Contract )

+ C/O ( giấy chứng nhận xuất xứ )

+ Tờ khai hải quan

+ Hóa đơn thương mại ( Invoice )

+ Phiếu đóng gói ( Packing List )

b Đặc điểm:

Theo điều 1 công ước Lahayye 1964 và điều 1 công ước viên 1980 về hợpđồng mua bán hàng hóa quốc tế(CISG), một hợp đồng ngoại thương có nhưng đặcđiểm như sau:

Chủ thể ký kết hợp đồng là các bên có trụ sở thương mại ở các nước khácnhau;(nếu các bên không có trụ sở thương mại thì sẽ dựa nào nơi cư trú của họ,còn quốc tịch của các bên không có ý nghĩa trong việc xác định yếu tố nước ngoàitrong hợp đồng mua bán ngoại thương)

Đối tượng của hợp đồng là hàng hóa được chuyển hoặc sẽ được chuyển từnước này sang nước khác;

Trang 36

Chào hàng và chấp nhận chào hàng có thể được lập ở những nước khácnhau.

Ở Việt Nam, điều 80 luật thương mại được Quốc Hội khóa IX,kỳ họp thứ

11 thông qua ngày 10/05/1997 quy định về hợp đồng ngoại thương như sau: “Hợpđồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài là hợp đồng mua bán hànghóa được ký kết giữa một bên là thương nhân Việt Nam và một bên là thươngnhân nước ngoài Trong các văn bản quy chế khác của Bộ Thương Mại Việt Namthì hợp đồng ngoại thương thường có ba đặc điểm sau:

Đặc điểm 1: Hàng hóa:Hàng hóa là đối tượng mua bán của hợp

đồng,được chuyển ra khỏi đất nước người bán trong quá trình thực hiện hợp đồng

Đặc điểm 2: Đồng tiền thanh toán: Đồng tiền thanh toán có thể là ngoại tệ

đối với một trong hai bên hoặc đối với cả hai bên

Đặc điểm 3: Chủ thể của hợp đồng(đặc điểm quan trọng nhất của hợp

đồng XNK)

Chủ thể của hợp đồng ngoại thương là người mua và người bán phải có cơ

sở kinh doanh đăng ký tại hai quốc gia khác nhau

Lưu ý: Quốc tịch không phải là một yếu tố để phân biệt:dù người mua vàngười bán có quốc tịch khác nhau,nhưng nếu việc mua bán được thực hiện trênlãnh thổ của cùng một quốc gia thì hợp đồng mua bán cũng không tính chất quốctế.Ngược lại,một doanh nghiệp Việt Nam buôn bán với một doanh nghiệp nướcngoài có quốc tịch Việt Nam thì hợp đồng đó vẫn được xem là hợp đồng ngoạithương

c Yêu cầu đối với hợp đồng ngoại thương:

Hợp đồng ngoại thương muốn có giá trị pháp lý thực hiện trong thực tế vàtrở thành cơ sở để giải quyết tranh chấp(nếu có) xảy ra giữa các bên trong quá

Trang 37

trình thực hiện hợp đồng,thì hợp đồng ngoại thương phải đồng thời thỏa mãn đượccác yêu cầu sau đây:

Hợp đồng phải được xây dựng trên cơ sở pháp lý vững chắc,cụ thể làngười xây dựng hợp đồng ngoại thương phải nắm vững:

Luật của nước người mua, nước người bán

Các luật và các tập quán có liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóaquốc te như:Incoterms,Công ước viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóaquốc tế, UCP-DC…

Luật thương mại của Việt Nam năm 2005-Nghị định 12/2006 NĐ-CP banhành ngày 23/01/2006

Chủ thể của hợp đồng ngoài thương phải được xây dựng trên cơ sở pháp

lý vững chắc

Yêu cầu này được thể hiện trên 2 khía cạnh:

+ Nếu là thương nhân không có vốn đầu tư nước ngoài,trừ các mặt hàngcấm hoặc tạm cấm,thì thương nhân được xuất khẩu,nhập khẩu hàng hóa khôngphụ thuộc vào ngành nghề đăng ký kinh doanh

+ Thương nhân có vốn đầu tư nước ngoài được kinh doanh xuất nhậpkhẩu dưới sự điều chỉnh của Luật thương mại,Nghị định 12/2003/CP và các quyđịnh khác có liên quan đến các hiệp định thương mại song phương và đa phương

mà Chính phủ Việt Nam đã ký kết

Những người tham gia ký kết hợp đồng phải là nhưng người đại diện hợppháp cho mỗi bên:Tổng giám đốc hoặc phó tổng giám đốc phụ trách về kinhdoanh,người khác ký phải có giấy ủy quyền hợp lệ bằng văn bản của người đạidiện hợp pháp

Hình thức của hợp đồng ngoại thương phải hợp pháp

Theo tập quán thương mại quốc tế,có hai dạng hình thức của hợp đồng: + Hình thức thỏa thuận miệng

+ Hình thức ký kết bằng văn bản

Trang 38

Về hình thức của hợp đồng ngoại thương được qui định trong điều 11 vàđiều 6 Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.

Ở Việt Nam,về hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đượcqui định trong Điều 27 của Luật thương mại Việt Nam có hiệu lực từ 01/01/2006như sau: “Mua bán hàng hóa quốc tế phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồngbằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương”

Nội dung của hợp đồng phải hợp pháp

Tính hợp pháp của nội dung được thể hiện hai vấn đề:

Nội dung chủ yếu của hợp đồng phải đầy đủ

Trong hợp đồng không chứa đựng bất cứ nội dung nào trái với pháp luậthiện hành của nước người bán,nước người mua và trái với tập quán buôn bánquốc tế

Cụ thể hai vấn đề trên được thể hiện như sau:

Vấn đề thứ nhất:Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải có tối thiểunhững nội dung chủ yếu như sau:

1 Tên hàng

2 Số lượng

3 Quy cách chất lượng

4 Giá cả

5 Phương thức thanh toán

6 Địa điểm và thời hạn giao nhận hàng

Vấn đề thứ hai:Hợp đồng ngoại thương không chứa đựng những điềukhoản trái với pháp luật của nước người bán,nước người mua.Ví dụ không ký kếthợp đồng mua bán hàng bị cấm xuất khẩu,cấm nhập khẩu

Hợp đồng phải được ký kết trên cơ sở tự nguyện của các bên tham gia mới

có hiệu lực

d Phân loại HĐNT:

Ngày đăng: 20/05/2016, 10:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Số liệu xuất khẩu hàng dệt may sang Hoa Kỳ năm 2011-2012 - Phân tích hoạt động chứng từ cần thiết trong ngành dệt may
Bảng 2 Số liệu xuất khẩu hàng dệt may sang Hoa Kỳ năm 2011-2012 (Trang 12)
Bảng 3 : Cơ cấu xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam năm 2012 theo mã HS - Phân tích hoạt động chứng từ cần thiết trong ngành dệt may
Bảng 3 Cơ cấu xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam năm 2012 theo mã HS (Trang 13)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w