Những công trình nghiên cứu về biến đổi làng nghề, văn hoá làng nghề Làng nghề, phố nghề Thăng Long - Hà Nội của Trần Quốc Vượng và Đỗ Thị Hảo, nêu một số quan điểm phát triển làng ng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
********
BÙI THỊ DUNG
BIẾN ĐỔI VĂN HÓA LÀNG DỆT PHƯƠNG LA (HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH)
Chuyên ngành: Văn hóa học
Mã số: 62310640
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
HÀ NỘI, 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Bùi Xuân Đính
Phản biện 1: PGS.TS Đinh Thị Vân Chi
Trường Đại học Văn hóa Hà Nội
Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Châm
Viện nghiên cứu Văn hóa
Phản biện 3: PGS.TS Võ Quang Trọng
Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm
luận án tiến sỹ cấp Trường
Tại trường Đại học Văn hóa Hà Nội
Số 417, đường La Thành, Đống Đa, Hà Nội
Vào hồi: … giờ …, ngày … tháng … năm 2016
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện trường Đại học Văn hóa Hà Nội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Làng nghề có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị ở địa phương Văn hóa làng nghề có những nét đặc trưng khác các làng nông nghiệp Sự nghiệp Đổi mới đã tác động sâu sắc đến các làng nghề, trong đó có làng Phương La: cơ cấu dân
cư, sự phân tầng xã hội, phong tục tập quán, các quan hệ xã hội v.v
Nghiên cứu “Biến đổi văn hóa làng dệt Phương La (huyện Hưng Hà,
tỉnh Thái Bình) góp phần tìm hiểu thực trạng biến đổi văn hóa làng
nghề, xu hướng văn hóa làng nghề, từ đó đưa ra giải pháp bảo tồn, phát huy văn hóa làng nghề trong giai đoạn CNH - HĐH đất nước
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Những công trình nghiên cứu về làng nghề, văn hóa làng nghề của người Việt ở Bắc Bộ
Đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu về làng nghề, văn
hóa làng nghề của người Việt ở Bắc bộ: Tác phẩm Người nông dân
châu thổ Bắc kỳ của Nhà Địa lý học Pháp Pièrre Gourou, P Gourou
dành cả Chương 2 đưa ra vấn đề công nghiệp làng xã Văn hóa truyền
thống làng Đồng Kỵ, Ninh Hiệp truyền thống và phát triển khảo sát
những nét tiêu biểu về nghề, cấu trúc làng xóm, di tích thờ cúng…
2.2 Những công trình nghiên cứu về biến đổi làng nghề, văn hoá làng nghề
Làng nghề, phố nghề Thăng Long - Hà Nội của Trần Quốc
Vượng và Đỗ Thị Hảo, nêu một số quan điểm phát triển làng nghề
Làng nghề phố nghề Thăng Long - Hà Nội trên đường phát triển chỉ
ra hướng phát triển và các giải pháp để phát triển làng nghề Phát
Trang 4triển làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá phản ánh về các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển các làng
nghề, hướng bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống
Dưới góc độ Dân tộc học/Nhân học, trong vài năm qua, nhiều công trình bàn sâu về biến đổi của làng nghề truyền thống từ sau hòa bình lập lại đến nay, nhất là dưới tác động của quá trình CNH- HĐH:
Sự phát triển của làng nghề La Phù nghiên cứu trường hợp về sự
thay đổi của một làng nghề Làng nghề thủ công huyện Thanh Oai
(Hà Nội) - truyền thống và biến đổi nghiên cứu biến đổi của nghề,
làng nghề thủ công huyện Thanh Oai
2.3 Tổng quan các nghiên cứu về làng nghề Phương La
Làng Phương La được nhắc đến trong các công trình nghiên cứu về
vùng đất, con người Thái Bình: Nhận diện văn hóa làng ở Thái Bình, Lễ
hội truyền thống ở Thái Bình, Tên làng xã Thái Bình, Địa chí Thái Bình…; các công trình nghiên cứu về nghề thủ công ở Thái Bình: Đồng Khánh ngự lãm địa dư chí và Đại Nam nhất thống chí, Tiên Hưng phủ chí Ngoài ra, có một số đề tài nghiên cứu trực tiếp về
Phương La: Kỷ yếu Hoằng Nghị đại vương và việc bảo tồn, tôn tạo khu
di tích lịch sử - văn hóa Phương La; Một số giá trị văn hóa của các nghề thủ công truyền thống ở Thái Bình… Làng Phương La chỉ được
nhắc đến trong các công trình nghiên cứu về lịch sử - văn hóa, nghề thủ công ở Thái Bình, góc độ nghiên cứu chủ yếu là Sử học, Văn hóa
Dân gian; chưa nghiên cứu về văn hóa, biến đổi văn hóa làng nghề
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án
3.1 Mục đích nghiên cứu của Luận án
Thông qua khảo sát, phân tích thực trạng biến đổi văn hóa làng nghề dệt Phương La; Luận án dự báo xu hướng văn hóa làng Phương
Trang 5La thời gian tới, từ đó đưa ra giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa làng nghề dệt Phương La trong điều kiện CNH - HĐH, giúp làng Phương La và các làng nghề ở Thái Bình phát triển bền vững
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án
Hệ thống lý luận về biến đổi văn hóa, biến đổi văn hóa làng nghề và một số khái niệm cơ bản, làm cơ sở lý luận chung cho đề tài; Giới thiệu tổng quan về làng Phương La, nghề dệt và văn hóa làng Phương La trong xã hội truyền thống; Khảo sát, phân tích thực trạng biến đổi, dự báo xu hướng của văn hóa; đề xuất giải pháp bảo tồn, phát
huy văn hóa của làng nghề dệt Phương La trong điều kiện CNH - HĐH
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận án
4.1 Đối tượng nghiên cứu của Luận án
Đối tượng nghiên cứu của Luận án là các khía cạnh liên quan đến biến đổi văn hóa làng nghề dệt Phương La (thực trạng và xu hướng biến đổi, nguyên nhân biến đổi …)
4.2 Phạm vi nghiên cứu của Luận án
- Về không gian, là làng Phương La (xã Thái Phương, huyện
Hưng Hà, tỉnh Thái Bình); đồng thời, Luận án có nghiên cứu mở rộng sang xã nghề dệt đũi Nam Cao (huyện Kiến Xương) và dệt khăn
Minh Tân (huyện Hưng Hà) tỉnh Thái Bình
- Về thời gian, Luận án nghiên cứu biến đổi văn hóa làng
Phương La khi nghề dệt phát triển, nhất là giai đoạn CNH - HĐH đất
nước (từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, tháng 6/1996 đến nay)
5 Hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu của Luận án
5.1 Hướng tiếp cận
Tiếp cận Văn hóa học: là hướng tiếp cận chính yếu của Luận án
Luận án còn tiếp cận Nhân học/Dân tộc học, lịch sử, hệ thống
Trang 65.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp: Điền dã Dân tộc học, Điều
tra xã hội học; Nghiên cứu liên ngành; Thống kê; So sánh…
6 Kết quả và đóng góp của Luận án
Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống dưới góc độ Văn hóa học về biến đổi văn hoá làng nghề dệt Phương
La Luận án đưa ra luận cứ khoa học, đề ra giải pháp bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa của làng Phương La trong điều kiện CNH - HĐH, giúp Phương La và làng nghề ở Thái Bình phát triển bền vững Luận án góp phần nghiên cứu văn hoá truyền thống làng Việt nói chung và làng nghề nói riêng
7 Bố cục của Luận án
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận án
được chia làm 04 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung và tổng quan về làng
dệt Phương La
Chương 2: Nghề dệt và văn hóa vật chất của làng Phương La hiện nay Chương 3: Văn hóa xã hội và văn hóa tinh thần của làng dệt
Phương La hiện nay
Chương 4: Những vấn đề rút ra từ việc nghiên cứu biến đổi văn
hóa làng dệt Phương La
Trang 7Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ TỔNG QUAN
VỀ LÀNG DỆT PHƯƠNG LA
1.1 Những vấn đề lý luận chung
1.1.1 Một số khái niệm dùng trong Luận án
1.1.1.1 Làng nghề, làng nghề truyền thống, làng nghề thủ công hiện đại
Luận án đã phân tích các khái niệm về làng nghề, làng nghề truyền thống của một số học giả đi trước và Luận án cũng đưa ra quan điểm của
NCS về làng nghề: là làng có phần đông cư dân sống bằng một nghề
hoặc nhiều nghề thủ công, có khi chỉ là một công đoạn của nghề, tạo ra các sản phẩm mang tính cách riêng, thời gian làm nghề và thu nhập của nghề chiếm tỷ lệ lớn nhất so với các hoạt động kinh tế khác; hoạt động làm nghề có ảnh hưởng lớn đến các mặt khác của làng (kiến trúc làng xóm, nhà cửa, nhịp sống, thiết chế tổ chức và các quan hệ xã hội, tâm lý tính cách, phong tục tập quán )
1.1.1.2 Văn hóa làng nghề
Trên cơ sở phân tích, làm rõ định nghĩa về văn hóa làng nghề
của một số các nhà nghiên cứu đi trước, NCS xác định Văn hóa làng
nghề là một dạng đặc thù, là một phức thể các yếu tố văn hóa vật chất, văn hóa xã hội và văn hóa tinh thần ở các làng nghề, giữa nghề
và làng, giữa con người và các yếu tố ngoài con người, có quan hệ mật thiết với nhau, ràng buộc và phụ thuộc, tác động vào nhau, trong
đó nghề giữ vị trí trung tâm Ngoài các yếu tố chung của văn hóa làng Việt, văn hóa làng nghề có một số yếu tố đặc thù, như nhịp sống làng nghề, tâm lý và tính cách của người làng nghề…
Trang 8* Cơ cấu văn hóa làng nghề: Văn hóa làng nghề được cấu thành
bởi các thành tố: Văn hóa vật chất, Văn hóa xã hội, Văn hóa tinh
thần Có điểm khác là nghề phát triển, chi phối các mặt đời sống xã
hội của làng, vì vậy, khi nghiên cứu văn hóa làng nghề không thể thiếu yếu tố nghề
1.1.2 Cơ sở lý thuyết
1.1.2.1 Biến đổi văn hóa
- Luận điểm về biến đổi xã hội: Mọi sự vật, hiện tượng luôn vận
động và biến đổi không ngừng Sự biến đổi đó bao gồm cả biến đổi
do nội tại của bản thân sự vật, hiện tượng và sự vận động, biến đổi do các tác nhân bên ngoài Theo các nhà xã hội học, nói tới biến đổi là đồng nghĩa với sự biến đổi của xã hội, xã hội phát triển từ cơ cấu xã hội đơn giản đến phức tạp, đó là sự thay thế kế tiếp các hình thái kinh
tế xã hội mà thực chất là các phương thức sản xuất Một số nghiên cứu ở Việt Nam đưa ra nhận định chung là kinh tế thị trường phát triển tạo ra cơ may, vận hội cho các cá nhân, các nhóm xã hội; song
sự phân hóa giàu nghèo cũng như mức độ phân tầng xã hội càng diễn
ra mạnh mẽ Những cá nhân, nhóm xã hội „„mạnh‟‟ tạo nên sức mạnh kinh tế góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển, tạo ra động lực tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội Chúng tôi vận dụng những luận điểm này để nghiên cứu về sự biến đổi xã hội - yếu tố có liên quan mật
thiết với biến đổi văn hóa ở làng Phương La trong điều kiện hiện nay
- Luận điểm về biến đổi văn hóa:Nhìn chung, các học giả đều
có điểm chung thống nhất cho rằng không có nền văn hóa nào đứng yên một chỗ, cũng như không có nền văn hóa nào không có sự thay đổi gì so với thời kỳ khai nguyên của nó Biến đổi văn hóa mang tính tất yếu, là hiện tượng phổ biến Biến đổi văn hóa cũng tuân theo quy
Trang 9luật, biến đổi từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, không diễn
ra theo một đường thẳng đơn tuyến mà cũng có những giai đoạn chững lại, thậm chí là thụt lùi; biến đổi được bắt đầu từ quá trình thay đổi phương thức sản xuất, kỹ thuật sản xuất, dẫn đến thay đổi về quan niệm, lối sống,… Biến đổi văn hóa lại cũng chính là động lực thúc đẩy xã hội biến đổi Nhờ mối quan hệ biện chứng đó mà văn hóa
và xã hội ngày một phát triển Đây là cơ sở lý luận để NCS dựa vào trong suốt quá trình nghiên cứu
1.1.2.2 Biến đổi văn hóa làng nghề
Sự biến đổi văn hóa của các làng nghề về bản chất chính là lực lượng sản xuất rất phát triển, phương thức sản xuất được đổi mới, kinh tế hàng hóa thâm nhập sâu vào mọi mặt đời sống xã hội của người dân Sự biến đổi này bao hàm cả những biến đổi đã có chọn lọc và cả những biến đổi chỉ mang tính trào lưu chưa phù hợp
Nghiên cứu biến đổi văn hóa làng nghề chính là nghiên cứu sự biến đổi các thành tố cấu thành văn hóa làng nghề dưới tác động của các yếu tố chính trị, kinh tế và xã hội Nghiên cứu biến đổi văn hóa làng
nghề dệt Phương La là nghiên cứu biến đổi các thành tố Văn hóa vật
chất, Văn hóa xã hội và Văn hoá tinh thần của làng Với làng Phương
La, làm nghề chi phối mọi mặt đời sống Vì vậy, Luận án tập trung nghiên cứu về biến đổi nghề dệt truyền thống Do điều kiện thời gian nên Luận án chỉ trình bày khái quát các thành tố văn hóa làng nghề Phương La trong xã hội truyền thống và một số yếu tố văn hóa hiện nay nổi bật, hình thành và diễn biến dưới tác động của CNH - HĐH:
1/Nghề dệt và văn hóa vật chất (không gian, cảnh quan; di tích tín ngưỡng ); 2/Văn hóa xã hội (sự hình thành tầng lớp chủ doanh
nghiệp; việc tách họ, dựng nhà thờ mới và vấn đề an ninh - xã hội;
Trang 103/Văn hóa tinh thần (lối sống; phong tục cưới xin, tang ma )
1.2 Tổng quan về làng dệt Phương La
1.2.1 Điều kiện tự nhiên, dân cư và lịch sử hình thành làng
1.2.1.1 Điều kiện địa lý tự nhiên: Phương La (tên Nôm là làng Mẹo) thuộc xã Thái Phương, nằm ở phía Tây Nam huyện Hưng Hà,
tỉnh Thái Bình, có diện tích tự nhiên là 242,768 ha; hình thù làng
giống một cái vó bè, cả bốn góc đều có các đường dẫn vào làng
1.2.1.2 Dân cư: Phương La là vùng đất cổ, nơi hội tụ của dân di
cư từ nhiều nơi khác đến Làng có dân số đông, vào 1927, làng có
1528 dân Con người nơi đây bôn ba, bươn trải, di cư qua nhiều vùng
để mưu sinh nên rất chăm chỉ, cần cù, sáng tạo; nhanh thích ứng …
1.2.1.3 Vài nét về lịch sử hình thành làng: Theo lưu truyền dân
gian, Phương La hình thành từ cuối triều Lý trên vùng đất tự nhiên sông nước thuộc phủ Long Hưng, một trong 24 phủ thời Trần, gắn với công lao của Hoằng Nghị Đại Vương, là thân sinh của Thái sư Trần Thủ Độ Quá trình lập làng gắn với sự chung lưng đấu cật của
10 dòng họ (Trần, Nguyễn, Đào, Phạm, Lê, Vũ, Đặng, Đỗ, Đoàn, Đinh)
1.2.2 Nghề dệt làng Phương La trong xã hội truyền thống
1.2.2.1 Nguồn gốc nghề dệt: Nghề dệt ở Phương La có từ bao giờ
và tổ nghề dệt là ai, đến nay, vẫn còn là dấu hỏi Chỉ biết rằng, từ thời Trần, dân làng Phương La đã phát triển nghề dệt Các bậc cao niên trong làng giải thích, có một thời, tên làng là “Hương La”, nghĩa là lụa
thơm, lụa này nổi tiếng dùng để tiến vua, đối ngoại với các nước láng giềng
1.2.2.2 Nguyên liệu dệt: Nguyên liệu để dệt đơn giản là tơ tằm,
mua của người các làng xã lân cận
1.2.2.3 Công cụ dệt: Công cụ dệt của làng Mẹo đơn giản, thủ
công, bao nhiêu năm vẫn là khung con phượng - khung con cò Bộ
Trang 11công cụ của nghề dệt bao gồm khung cửi, dụng cụ đánh sa, đánh suốt
để tạo nên những con thoi; bàn mắc, bàn tráng, tạo nên những hoa cửi
1.2.2.4 Tổ chức sản xuất và phân công lao động: Việc tổ chức sản
xuất của làng Phương La đều theo quy mô hộ gia đình, tự sản, tự tiêu Trong gia đình, người phụ nữ đảm nhiệm công việc dệt là chính
1.2.2.5 Sản phẩm dệt: Sản phẩm của làng Mẹo xưa đơn giản chỉ
là lụa, vải vuông và các sản phẩm từ tơ tằm
1.2.2.6 Việc tiêu thụ và thu nhập: Hình thức tiêu thụ sản phẩm
của người làng Mẹo xưa rất đơn lẻ, tiêu thụ tại chợ làng Người dân dùng khớp cột đình để đo độ rộng hẹp của lụa
1.2.2.7 Truyền nghề và học nghề: Người làng Mẹo luôn tôn trọng
truyền thống giữ bí quyết nghề và truyền nghề theo kiểu “cha truyền con nối”, chỉ truyền nghề cho con trai; chủ yếu là để giữ nghề
1.2.3 Văn hóa làng Phương La trong xã hội truyền thống
1.2.3.1 Văn hóa vật chất
Không gian, cảnh quan làng: Làng Phương La xưa là một cộng
đồng bền chặt, tự trị, khép kín, được bao bọc bởi lũy tre làng Mỗi gia đình ở một khoảnh đất riêng rộng rãi, ở trung tâm làng Không gian của làng thoáng đãng với hệ thống đường làng, ngõ xóm ngoằn ngoèo;
vườn cây, ao chuôm rộng rãi; làng khép kín, “biệt lập” với bên ngoài
Các di tích tín ngưỡng, tôn giáo: Làng Phương La có đủ cả
đình, chùa, miếu, nhà thờ họ…; trong đó, còn nhiều cổ vật quý Nổi bật trong các di tích ấy là Đình Đông, chùa Ứng Mão
1.2.3.2 Văn hóa xã hội của làng Phương La
Cơ cấu tổ chức: Cơ cấu tổ chức của làng Phương La gồm một
hệ thống các thỉết chế dựa theo các hình thức tập hợp người: dòng họ;
xóm ngõ; giáp; kỳ mục và chức dịch, phường hội
Trang 12- Dòng họ: Làng có 10 dòng họ là Trần, Nguyễn, Đào, Phạm,
Lê, Vũ, Đặng, Đỗ, Đoàn, Đinh Họ Trần về lập ấp ở Phương La sớm nhất và là dòng họ có nhiều chi, số đinh đông nhất (33% dân số làng)
- Xóm, làng Phương La có bốn xóm, xóm Vượt là xóm có đình,
có chợ, ở trung tâm làng; xóm Đống; xóm Điếm và xóm Cầu Tiên
- Giáp: Theo các bậc cao niên, bốn thôn của làng có tám giáp, giáp của làng Phương La được tập hợp theo dòng họ
- Hội đồng kỳ mục: Một thời gian dài, làng Phương La là một
khối thống nhất Sau, do mâu thuẫn trong sinh hoạt, làng phân thành hai khu, lấy đình Đông làm trung tâm: phía Đông Đình và Tây Đình Mỗi khu là một “thôn”, có bộ máy điều hành như hội đồng kỳ mục
Đây là hiện tượng chia tách không phổ biến ở vùng châu thổ Bắc Bộ
- Bộ máy chức dịch: Trước Cách mạng tháng Tám 1945, làng
Phương La cũng là một xã, có một bộ máy chức dịch thực hiện nhiệm vụ giữ gìn an ninh, thu thuế, điều động binh dịch cho nhà nước phong kiến
- Phường hội: Xưa, Phương La cũng có các tổ chức phường hội,
như hội Tư văn, hội Tư võ, hội Lão nhiêu Ngoài ra, làng còn có các phường nghề, phường tiền để tương trợ, giúp đỡ nhau khi khó khăn
Hệ thống ngôi thứ trong đình: Xã Hương La xưa (Phương La
nay) cũng quy định các thứ hạng để hưởng bổng lộc và thực hiện chức trách Ngoài ngôi thứ dành cho những người có tiêu chuẩn về bằng cấp, phẩm hàm, chức tước và tuổi tác, Phương La còn có các
ngôi thứ dành cho những người bỏ tiền ra mua như lý trưởng, phó lý,
chùm, giám sự Những chức mua này, ra làng cũng được chia các phần
biếu: Trùm được chia đầu gà (hoặc má lợn); Lý trưởng được chia cẳng
giò, phẩm oản; Giám sự được chia miếng nây (miếng bụng) lợn
1.2.3.3 Văn hóa tinh thần của làng Phương La
Trang 13Việc cưới và việc tang
- Việc cưới: Ngày trước, con cái trong nhà đến tuổi lấy vợ, lấy
chồng đều do bố mẹ sắp đặt Việc cưới quy định lệ nộp cheo, con gái lấy chồng nộp tiền cheo, rượu, trầu caun và không được đi lấy chồng
làng khác Con rể chưa cưới phải sêu Tết bố mẹ vợ tương lai vào
mùng năm tháng Năm, gồm một con ngỗng cùng năm cân đỗ xanh; dạm ngõ phải có một gà trống và năm đấu gạo nếp
- Việc tang (việc hiếu): các phong tục tập quán của làng Phương
La được ghi chép trong bản “Tục lệ xã Phương La” lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm Văn bản được lập ngày 22 tháng Năm năm Tự Đức thứ 34 (1881), gồm 19 Điều, trong đó có 13 Điều liên quan đến việc tang, quy định từ việc báo tang, làm nhà tạm đến việc bắc rạp,
hộ tang của họ tộc, của giáp, lệ biếu giáp và mời đãi những người hộ tang
Các lễ tiết và hội làng
Các lễ tiết trong năm của làng Phương La, gồm: Tết Nguyên
Đán, Lễ tế, Lễ hợp kỵ, Lễ Thượng nguyên… Hội làng Phương La tổ
chức từ ngày 20 đến ngày 25 tháng mười, tái hiện nhiều diễn xướng
dân gian, trong đó có mô phỏng tục truyền nghề ươm tơ dệt lụa
họ Trần, còn các dòng họ Nguyễn, Đào, Phạm, Lê, Vũ, Đặng, Đỗ, Đoàn, Đinh cùng chung lưng đấu cật để gây dựng và phát triển làng Xưa, Phương La nổi tiếng là vùng đất trù mật, sản xuất nông nghiệp