Tuy nhiên, để có hiểu biết có hệ thống và đầy đủ hơn về tư duy và lối sống truyền thống của con người Việt Nam và những vấn đề đặt ra trước yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế thì chúng
Trang 1BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CHƯƠNG TRÌNH KH & CN TRỌNG ĐIỂM CẤP NHÀ NƯỚC
KX.03/06-10
“Xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt Nam
trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế”
-
Báo cáo tổng hợp
Đề tài khoa học cấp nhà nước
ĐẶC ĐIỂM TƯ DUY VÀ LỐI SỐNG CỦA CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRƯỚC YÊU CẦU ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Mã số: KX.03.07/06-10 Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hà
Cơ quan chủ trì: VIỆN TRIẾT HỌC
8241
HÀ NỘI – 2010
Trang 21 PGS.TS Nguyễn Ngọc Hà, Viện Triết học – Chủ nhiệm đề tài
2 PGS.TS Phạm Văn Đức, Viện Triết học - Phó chủ nhiệm đề tài
3 GS.TS Tô Duy Hợp, Viện Xã hội học
4 PGS.TS Lâm Bá Nam, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học xã
hội và Nhân văn Hà Nội
5 GS.TS Nguyễn Tài Thư, Viện Triết học
6 PGS.TS Nguyễn Văn Phúc, Viện Triết học
7 Ths Vũ Mạnh Toàn, Viện Triết học, thư ký đề tài
CÁC CỘNG TÁC VIÊN THAM GIA THỰC HIỆN CỦA ĐỀ TÀI
1 GS.TS Trần văn Đoàn, Đại học Đài Loan
2 GS.TS Nguyễn Thái Hợp, Đại học Italia
3 PGS.TS Nguyễn Văn Hòa, Giám đốc Trung tâm đào tạo từ xa, Đại
học Huế
4 PGS TS Đỗ Minh Hợp, Viện Triết học
5 PGS.TS Nguyễn Quang Hưng, Trường Đại học Khoa học xã hội và
nhân văn Hà Nội
6 PGS.TS Đặng Hữu Toàn, Viện Triết học
7 PGS.TS Trần Thành, Viện trưởng Viện Triết học thuộc Học viện
Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
8 PGS TS Nguyễn Anh Tuấn, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân
văn Hà Nội
9 PGS TS Nguyễn Đình Tường, Viện Triết học
10 PGS.TS Lương Hồng Quang - Viện Văn hóa thông tin
11 PGS.TS Vũ Văn Viên, Viện Triết học
12 PGS.TS Trần Nguyên Việt , Viện Triết học
13 PGS.TS Ngô Đình Xây, Hội Chữ thập đỏ Việt Nam
14 TS Nguyễn Hữu Đễ, Viện Triết học
Trang 316 TS Nguyễn Đình Hoà, Viện Triết học
17 TS Đỗ Lan Hiền, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí
Minh
18 TS Lê Thị Lan, Viện Triết học
19 TS Hoàng Văn Luân, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn
Hà Nội
20 TS Lê Thanh Thập, Trường Đại học Luật Hà Nội
21 TS Hoàng Thị Thơ, Viện Triết học
22 TS Nguyễn Gia Thơ, Viện Triết học
23 TS Chu Văn Tuấn, Viện Khoa học xã hội Việt Nam
24 GV Trương Hải Cường, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn
Hà Nội
25 CN Vũ Mạnh Dũng, Viện Triết học
26 Ths Phạm Văn Dương – Viện Triết học
27 Ths Phạm Ngọc Hà – Viện Triết học
28 NCS Hà Dũng Hải, Ban Tuyên giáo Trung ương
29 Ths Cao Thu Hằng, Viện Triết học
30 CN Đỗ Thị Kim Hoa, Viện Triết học
31 Ths Trần Thị Huyền, Viện Triết học
32 Ths Lê Thị Hường, Viện Triết học
33 Ths Hoàng Thúc Lân, Đại học Sư phạm I Hà Nội
34 Tạ Long, Viện Dân tộc học
35 Ths Nguyễn Thu Nghĩa, Viện Triết học
36 Ths Nguyễn Lan Phương, Học viện Ngân hàng
37 Ths Trần Thị Minh Tâm, Viện Triết học
38 Ths Trần Anh Thư, Đại học Sư phạm I Hà Nội
39 Ths Trần Thuận Vũ, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí
Minh
Trang 4MỞ ĐẦU……… tr 1
PHẦN 1: NHỮNG VẤN ĐÈ LÝ LUẠN CHUNG VỀ TƯ DUY VÀ LỐI SỐNG 27
1 Tư duy ……… 27
2 Lối sống ……… 42
3 Quan hệ giữa tư duy và lối sống ……… 57
PHẦN 2: ĐẶC ĐIỂM TƯ DUY VÀ LỐI SỐNG TRUYỀN THỐNG CỦA CON NGƯỜI VIỆT NAM ……… 91
1 Sự hình thành tư duy và lối sống truyền thống của con người Việt Nam trong lịch sử ……… 91
2 Cái riêng và cái chung trong tư duy và lối sống truyền thống của con người Việt Nam ……… 99
3 Nội dung và đặc trưng chung, cơ bản trong tư duy và lối sống truyền thống của con người Việt Nam ……… 104
PHẦN 3: SỰ BIẾN ĐỔI CỦA TƯ DUY VÀ LỐI SỐNG CỦA CON NGƯỜI VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI ……… 141
1 Các phương thức đổi mới tư duy và lối sống ……… 141
2 Các đặc trưng cơ bản của tư duy mới ……… 161
3 Các thành tố của lối sống mới ……… 183
4 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự biên đổi của tư duy và lối sống trong thời kỳ đổi mới ……… 197
PHẦN 4: CÁC VẤN ĐỀ ĐẶT RA VỀ TƯ DUY VÀ LỐI SỐNG CỦA CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY TRƯỚC YÊU CẦU ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ ……… 206
1 Sự bất cập của tư duy và lối sống truyền thống ……… 207
2 Sự bất cập của tư duy và lối sống bao cấp ……… 217
3 Sự bất cập của tư duy và lối sống hiện nay ……… 229
Trang 5CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY TRƯỚC YÊU CẦU CỦA ĐỔI MỚI VÀ
1 Các phương hướng chung và giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục đổi mới
tư duy của con người Việt Nam trước yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc
2 Các phương hướng chung và giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục xây dựng
lối sống của con người Việt Nam trước yêu cầu đổi mới và hội nhập
CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA NHỮNG NGƯỜI THAM GIA
THỰCHIỆN ĐỀ TÀI TỪ SỰ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI ……… 305
Trang 6tố trong đó có yếu tố về tư duy và lối sống Mỗi dân tộc đều có những đặc điểm xác định về tư duy và lối sống Mỗi người cần hiểu được chính mình Tương tự như vậy, mỗi dân tộc cần phải hiểu được chính dân tộc mình Dân tộc Việt Nam
có lịch sử hàng ngàn năm, có những đặc điểm tư duy và lối sống của mình Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu trực tiếp hay gián tiếp về tư duy và lối sống truyền thống của con người Việt Nam Tuy nhiên, để có hiểu biết có hệ thống và đầy đủ hơn về tư duy và lối sống truyền thống của con người Việt Nam và những vấn đề đặt ra trước yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế thì chúng ta không thể chỉ dừng lại ở các công trình nghiên cứu đã có
Nhân loại đã đạt những bước tiến nhảy vọt về thành tựu khoa học, công nghệ Năng lực sản xuất của con người ngày một nâng cao, hàng hóa sản xuất ngày một nhiều, đa dạng và phong phú hơn, mức sống dần được cải thiện, giao lưu giữa các quốc gia ngày một mở rộng Tất cả những thay đổi đó chính là cơ
sở dẫn tới sự thay đổi về tư duy và lối sống của con người Việt Nam cũng
Trang 7không nằm ngoài sự biến đổi chung đó Dấu mốc cơ bản của sự biến đổi đó là công cuộc đổi mới năm 1986 Trong chặng đường đã đi qua hơn 20 năm đổi mới vừa qua, đất nước ta có sự phát triển vượt bậc Từ chỗ lâm vào sự khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, bị bao vây cấm vận, nước ta đã hội nhập sâu rộng vào đại gia đình các dân tộc trên thế giới, có nền kinh tế không ngừng phát triển với tốc độ cao, đời sống vật chât svà tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện Điều đó cũng tạo ra những thay đổi to lớn theo chiều hướng tiến
bộ trong tư duy và lối sống cho con người Việt Nam Tuy nhiên, trong tư duy
và lối sống của một bộ phận người Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc
tế cũng có không ít những biểu hiện tiêu cực do còn rơi rớt từ quá khứ hoặc do tiếp thu thiếu chọn lọc tư duy và lối sống từ bên ngoài Những biểu hiện tiêu cực ấy đang là một cản trở đáng kể trước yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế
Nghiên cứu để có sự hiểu biết đầy đủ hơn các đặc điểm tư duy và lối sống truyền thống của chính người Việt Nam, sự biến đổi của các đặc điểm ấy trong giai đoạn hiện nay, sự bất cập của các đặc điểm ấy so với yêu cầu đổi mới
và hội nhập quốc tế không chỉ có ý nghĩa góp phần nâng cao nhận thức của con người Việt Nam về con người Việt Nam, mà còn có ý nghĩa góp phần cung cấp căn cứ lý luận và thực tiễn cho việc hoạch định các chính sách phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài
Chủ đề “Đặc điểm tư duy và lối sống của con người Việt Nam hiện nay
và những vấn đề đặt ra trước yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế” đã được quan tâm nghiên cứu với những mức độ khác nhau Dưới đây là tóm tắt nội dung cơ bản của một số công trình tiêu biểu về chủ đề này
1 Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận – thực tiễn qua 20 năm Đổi mới
1986 - 2006 (của Ban chỉ đạo tổng kết lý luận của BCHTW Đảng Cộng sản
Trang 8Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005) Báo cáo có một số nhận
định những thành tựu và hạn chế trong 20 năm đổi mới nhận thức về văn hoá và
con người như sau: “Văn hoá vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển kinh tế – xã hội, là nguồn lực nội sinh quan trọng của phát triển, là nền tảng tinh thần của xã hội; khẳng định tính chất tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc của nền văn hoá Việt Nam Tiên tiến là yêu nước và tiến bộ mà nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH theo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm mục tiêu tất cả vì con người… Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí, tự cường dân tộc, lòng nhân ái, khoan dung, sự tinh tế trong ứng xử, giản dị trong lối sống… Tính tiên tiến cả về nội dung và hình thức biểu hiện, phương tiện truyền tải”
“Nền văn hoá Việt Nam thống nhất trong đa dạng, các giá trị và sắc thái văn hoá của các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam bổ sung cho nhau, làm phong phú nền văn hoá Việt Nam; củng cố sự thống nhất trong đa dạng của văn hoá, là cơ sở để giữ vững bình đẳng và phát huy tính đa dạng của văn hoá”
“Con người là vốn quý nhất, phát triển con người với tư cách vừa là động lực vừa là mục tiêu của cách mạng, của sự nghiệp đổi mới đất nước; gắn vấn đề nhân tố con người với tinh thần nhân văn nhằm tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện, sống trong một xã hội công bằng và nhân ái, với những quan hệ xã hội lành mạnh Con người và sự phát triển con người được đặt vào
vị trí trung tâm của chiến lược kinh tế – xã hội, mở rộng cơ hội, nâng cao điều kiện cho con người phát triển”
“Về văn hoá, việc triển khai thực hiện nhiệm vụ do Nghị quyết hội nghị
TW 5 khoá VIII đề ra đã góp phần củng cố sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội đối với đường lối đổi mới toàn diện đất nước Tính chủ động,
Trang 9sáng tạo, tính tích cực xã hội của nhân dân bước đầu được phát huy Những giá trị và đặc sắc văn hoá của 54 dân tộc được kế thừa và phát triển, góp phần làm phong phú thêm nền văn hoá Việt Nam thống nhất trong đa dạng Giao lưu, hợp tác văn hoá với nước ngoài được mở rộng Một số nét mới trong chuẩn mực văn hoá của con người Việt Nam từng bước hình thành Các tài năng văn hoá - nghệ thuật được khuyến khích Nhiều di sản văn hoá - cả vật thể và phi vật thể - được giữ gìn, tôn tạo Việc phân phối các sản phẩm văn hoá đã nhanh và đều khắp hơn Hệ thống các sản phẩm văn hoá góp phần trực tiếp vào sự phát triển tăng trưởng của ngành du lịch, của nền kinh tế quốc dân Hoạt động giao lưu hợp tác quốc tế về văn hoá thực sự khởi sắc, góp phần làm cho vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao, văn hoá, con người và cuộc sống Việt Nam được bạn bè hiểu rõ hơn”
“So với đổi mới tư duy kinh tế, việc đổi mới tư duy về các vấn đề văn hoá và xã hội, về cơ chế quản lý văn hoá, xã hội và về hội nhập văn hoá, xã hội còn chậm; vẫn nặng tư tưởng coi việc giải quyết các vấn đề xã hội là trách nhiệm của nhà nước, chưa thu hút được tất cả các thành phần kinh tế, các nguồn lực cho phát triển”
“Nhận thức về văn hoá và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, vấn đề thị trường trong văn hoá - giáo dục, chăm sóc sức khỏe… cũng còn nhiều ý kiến khác nhau” “Việc kết hợp phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội còn nhiều hạn chế Khoảng cách giữa đổi mới chính sách kinh tế và đổi mới chính sách văn hoá, xã hội bộc lộ rõ nét, nhiều vấn đề xã hội nổi lên Trong chỉ đạo, thường chú ý nhiều đến các chỉ tiêu vật chất mà ít chú ý các chỉ tiêu về phát triển xã hội và bảo vệ môi trường; đã có nhiều quyết định về thực hiện các chính sách xã hội, văn hoá, giáo dục, khoa học, song kết quả chưa được như ý muốn Nhiều vấn đề xã hội bức xúc chưa được giải quyết tốt Tốc độ giảm nghèo có xu hướng chậm lại, tình trạng tái nghèo còn nhiều Khoảng cách
Trang 10chênh lệch giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, giữa thành thị và nông thôn, miền xuôi và miền núi có xu hướng ngày càng doãng ra”
“Hiện tượng làm giàu phi pháp do buôn lậu và tham nhũng vẫn chưa được ngăn chặn và đẩy lùi có hiệu quả Điều đáng chú ý là trong xã hội đã xuất hiện một số người làm giàu phi pháp, bất chính, làm giàu bằng buôn gian bán lận, đầu cơ, lừa đảo, tham nhũng, đục khoét tài sản của nhà nước và nhân dân Nếu không kiên quyết ngăn chặn các hiện tượng này thì nhiều hoạt động quan trọng của nền kinh tế sẽ bị thao túng, định hướng XHCN có nguy cơ sẽ không giữ được”
“Đảng phải tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, làm tốt công tác tư tưởng chính trị, nâng cao trình độ trí tuệ và năng lực lãnh đạo, chính trị, năng lực cầm quyền, đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng; phát huy dân chủ, giữ vững kỷ luật, tăng cường đoàn kết thống nhất; làm trong sạch và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên; khắc phục có hiệu quả các hiện tượng tiêu cực, đặc biệt là tệ quan liêu, tham nhũng, khôi phục và nâng cao lòng tin của nhân dân đối với Đảng; chấn chỉnh tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ, làm cho Đảng
có đủ bản lĩnh chính trị, có kiến thức, năng lực và sức chiến đấu cao trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập, môi trường quốc quốc tế rất phức tạp, có nhiều nguy cơ và thách thức mới”
2 Những vấn đề lý luận đặt ra từ các văn kiện Đại hội IX của Đảng (do
GS.TS Nguyễn Trọng Chuẩn và PGS.TS Đặng Hữu Toàn đồng chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002) Trong cuốn sách này một số tác giả đã bàn đến chủ đề đặc điểm tư duy và lối sống của con người Việt Nam GS.TS Phạm
Ngọc Quang (trong bài viết “Đổi mới tư duy về chủ nghĩa xã hội ở nước ta –
lược khảo lịch sử” và “Tiếp tục đổi mới công tác lý luận trong tình hình hiện nay – vấn đề và giải pháp”) đã xem xét một số vấn đề quan trọng như: 1/ Tính
tất yếu của đổi mới tư duy về CNXH ở nước ta; 2/ Đổi mới tư duy về CNXH –
Trang 11những tìm tòi, thử nghiệm ở thời kỳ trước năm 1986; 3/ Đại hội VI của Đảng – bước ngoặt trong đổi mới tư duy về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta; 4/ Một số bài học kinh nghiệm sau 15 năm đổi mới tư duy về CNXH ở nước ta; 5/ Tiếp tục đổi mới tư duy về CNXH qua Báo cáo chính trị trình Đại hội IX Tác giả đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết số 01-NQ/TƯ của Bộ Chính trị (28/3/1992) về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay, nhấn mạnh sự đổi mới liên tục hệ quan điểm lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH qua các kỳ đại hội Đảng lần thứ VI, VII VIII và IX Đề xuất một số giải pháp nhằm đổi mới cơ chế, tổ chức, chính sách, v.v đối với cán bộ làm công tác lý luận
PGS.TS Lê Văn Quang (trong bài“Đạo đức và văn minh – hành trang của
Đảng ta bước vào thế kỷ XXI”) nhấn mạnh những thuộc tính cơ bản nhất của
một Đảng tiên phong, đó là đạo đức và văn minh, cách mạng và khoa học Tác giả cho rằng, muốn Đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh thì “từng cán bộ, đảng viên, đặc biệt là những người có chức, có quyền phải trau dồi đạo đức của người cộng sản” và “toàn Đảng nỗ lực phấn đấu nâng cao năng lực trí tuệ để
hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của một Đảng văn minh”
3 Nửa thế kỷ nghiên cứu và giảng dạy triết học ở Việt Nam (do Nguyễn
Trọng Chuẩn chủ biên Hà Nội, 2001) Trong cuốn sách này một số tác giả đã bàn đến đặc điểm tư duy và lối sống của con người Việt Nam TS Đinh Ngọc
Thanh, (trong bài“Muốn phát triển hoàn thiện tư duy lý luận cần đánh giá đúng
tinh hoa tinh thần của các thời đại trước”) nhấn mạnh ý nghĩa lịch sử và cả ý
nghĩa thời sự của tư tưởng Ph Ăngghen cho rằng tư duy lý luận chỉ là một đặc tính bẩm sinh dưới dạng năng lực của người ta mà có Năng lực ấy cần phải được phát triển hoàn thiện và muốn hoàn thiện nó thì cho đến nay, không có một cách nào khác hơn là nghiên cứu toàn bộ triết học thời trước Tác giả cũng nhấn mạnh rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm gương trong việc học tập, kế thừa di sản tư tưởng nhân loại, khi đã biết lẩy ra các giá trị nhân loại mà dân tộc
Trang 12Việt Nam cần quý trọng, phát huy; chẳng hạn như: 1/ Chúa Ghê-su dạy: đạo đức là bác ái; 2/ Phật Thích ca dạy: Đạo đức là từ bi; 3/ Khổng Tử dạy: Đạo đức
là nhân nghĩa Phạm Văn Dương (trong bài“Một số vấn đề về tư duy và đổi mới
tư duy”) đã tổng quan các hướng nghiên cứu về tư duy, bao gồm nghiên cứu cơ
bản về các mặt nhận thức luận, phương pháp luận, lôgích học và nghiên cứu ứng dụng, tập trung vào chủ đề thực trạng, nguyên nhân, giải pháp khắc phục tình trạng lạc hậu của tư duy lý luận ở nước ta, tình trạng chính trị hóa tư duy lý luận Theo tác giả, “lôgích học là khoa học về tư duy, do vậy, nó cần phải được giảng dạy trong tất cả các trường đại học Có như vậy mới mới góp phần nâng cao trình độ tư duy khoa học của đội ngũ cán bộ trong tương lai”
4 Bốn mươi năm Viện Triết học – một số kết quả nghiên cứu (do GS.TS
Nguyễn Trọng Chuẩn chủ biên Viện Triết học, Hà Nội, 2002) Trong cuốn sách
này, GS.TS.Nguyễn Tài Thư (với bài “Nhân 55 năm thành lập nước, lại bàn về
lịch sử tư tưởng Việt Nam và triển vọng của chuyên ngành này”) đã tổng quan
các hướng tiếp cận và quan điểm khác nhau về bản chất, nội dung và phương pháp tư tưởng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam Theo tác giả, có quan điểm cho rằng lịch sử tư tưởng Việt Nam chủ yếu lịch sử của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, quan điểm này đã thu hẹp phạm vi của lịch sử tư tưởng dân tộc, vì ngoài chủ nghĩa yêu nước còn có các tư tưởng về thế giới, về xã hội và nhân sinh Có người cho rằng lịch sử tư tưởng Việt Nam thực chất là lịch sử triết học Trần Văn Giàu đã phản bác lại quan điểm này và cho rằng “triết học thuộc tư tưởng, nhưng còn có nhiều tư tưởng không phải là tư tưởng triết học” Lại có người quan niệm rằng lịch sử tư tưởng Việt Nam là lịch sử du nhập của ba đạo Nho, Phật, Lão Theo tác giả Nguyễn Tài Thư thì “lịch sử tư tưởng Việt Nam chỉ có thể là lịch sử các quan niệm của người Việt Nam về thế giới, xã hội và nhân sinh” Về đặc trưng của phương pháp tư duy truyền thống cũng có nhiều quan niệm khác nhau Có người cho đó là sáng tạo, có người cho đó là giáo điều, vay
Trang 13mượn, có người cho đó là mềm dẻo, linh hoạt, có người cho đó là ứng dụng, thực dụng, v.v Vậy đặc trưng của phương pháp tư duy dân tộc là gì? Tác giả Nguyễn Tài Thư cho rằng: “Lịch sử dân tộc ta không sản sinh ra được các trào lưu triết học lớn và các nhà triết học lớn Đó là một thực tế, mọi người đều thừa nhận Nhưng nêu lên nguyên nhân của tình trạng trên thì có nhiều quan điểm khác nhau Có người cho đó là do đất nước liên tục có các cuộc chiến tranh, có người cho là do đất nước nghèo, có người cho là do tâm lý hài lòng với vốn tri thức chấp nhận được, do chế độ khoa cử, do không có tầng lớp trí thức tự do, v.v Vậy, nguyên nhân nào là chủ yếu Có nêu được đúng nguyên nhân mới có điều kiện khắc phục những hạn chế trên của lịch sử” Lê Ngọc Anh (trong bài
“Vấn đề giáo dục đạo đức và nếp sống văn hóa gia đình truyền thống trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay”) cho rằng: trong thời kỳ đổi mới, cùng
với xu thế tăng trưởng kinh tế thị trường và mở cửa, hội nhập quốc tế, có sự gia tăng lối sống hưởng thụ và tâm lý tiêu dùng, xuất hiện lối sống ích kỷ ngay ở các vùng nông thôn vốn có truyền thống tình làng nghĩa xóm, tối lửa tắt đèn có nhau; do đó, cần tăng cường giáo dục đạo đức và nếp sống văn hóa gia đình, sao cho mỗi thành viên vừa kế thừa truyền thống tốt đẹp vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, vừa chống suy đồi đạo đức, vừa xây dựng thành công đạo đức mới; cần liên kết giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong giáo dục đạo đức và nếp sống văn hóa gia đình, cũng như trong giáo dục đạo đức và nếp sống văn hóa xã hội
5 Nghiên cứu văn hóa, con người, nguồn nhân lực đầu thế kỷ XXI (Kỷ
yếu Hội thảo quốc tế, Hà Nội, 27-28/11/2003) Trong cuốn sách này, Hoàng
Ngọc Hiến (với bài“Về quan hệ giữa tình và nghĩa, giữa tình và lý trong triết lý
nhân sinh người Việt”) cho rằng: trong triết lý nhân sinh người Việt, tình và
nghĩa, tình và lý tạo thành các song đề cơ bản; truyền thống nặng về tình, thiên
về tình cảm, nhạy cảm với tình cảm, là một nét đậm đà bản sắc văn hóa và lối
Trang 14sống người Việt trong lịch sử cũng như hiện tại; tuy nhiên cũng có cả truyền thống hướng đích vẹn cả đôi đường như “tình sâu nghĩa nặng”, “trọn nghĩa vẹn tình”, “có lý có tình”, “thấu tình đạt lý”, v.v Trọng tình hay trọng nghĩa, trọng tình hay trọng lý vẫn là nan đề (vấn đề nan giải) trong lối sống của con người
Việt Nam ngày nay Nguyễn Huy Tú (với bài“Về hiện trạng việc tuyển chọn và
đào tạo tài năng trí tuệ ở các nhà trường nước ta hiện nay”) đã xác định rõ
khái niệm “tài năng trí tuệ” và một số quan điểm lý thuyết về đánh giá, lựa chọn, bồi dưỡng tài năng trí tuệ Tác giả đưa ra một số nhận xét về hiện trạng đào tạo học sinh tài năng ở nước ta và đề xuất một số giải pháp quan trọng như lập một cơ quan chuyên trách trong Bộ Giáo dục và Đào tạo nhằm quản lý công tác đào tạo tài năng trí tuệ, hình thành hệ thống tổ chức từ cấp trung học đến cấp đại học chuyên đào tạo tài năng trí tuệ Trần Kiều và nhóm tác giả cũng phân tích khái niệm “trí tuệ” và các chỉ số đo trí tuệ như chỉ số thông minh (IQ), chỉ
số trí tuệ cảm xúc (EQ), chỉ số sáng tạo (CQ), chỉ số trí tuệ xã hội (SQ), các phương pháp đo lường các chỉ số IQ, EQ, CQ; giới thiệu mẫu nghiên cứu, phương pháp xử lý số liệu và kết quả thử nghiệm Theo các tác giả, đã có một
số phát hiện quan trọng, chẳng hạn, không có sự khác biệt đáng kể về chỉ số IQ giữa học sinh lớp 9 và lớp 10, song có sự tăng vọt giữa học sinh lớp 10 và lớp 11; về chỉ số CQ, hầu hết học sinh, sinh viên chỉ đạt trung bình hoặc thấp kém,
không có mức khá Nguyễn Công Khanh (với bài“Phương pháp luận nghiên
cứu trí tuệ cảm xúc”) phân tích khái niệm trí tuệ cảm xúc (EI), phương pháp đo
lường EI và kết quả Việt hóa các trắc nghiệm đo EI, phát hiện sự khác biệt rõ nét giữa các độ tuổi, giới tính nam hoặc nữ, giữa học sinh và sinh viên đại học
6.“Một số vấn đề về tác phong, tư duy công nghiệp của công nhân khu
vực thị xã Thái Bình”(Đề tài khoa học cấp Nhà nước KX 05-08 do PGS.TS
Nguyễn Văn Thân thực hiện) Đề tài giới thiệu khái quát về đánh giá chỉ số trình độ công nghệ của con người Thái Bình công nghiệp, bao gồm các chỉ số
Trang 15chung T (Techno ware), H (Human ware), I (Info ware), O (Orga ware) và các chỉ số đặc thù Z%, S1, P2, S3, S4; giới thiệu về kết quả điều tra tại Xí nghiệp cơ khí Phương Đông và Xí nghiệp cơ khí Đoàn Kết Theo tác giả, thực trạng công nghiệp của 2 cơ sở trên có trình độ công nghiệp trung bình và phần lớn còn ở trình độ công nghệ thấp, thiết bị chưa hiện đại, hiệu suất thấp; điều này đã ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng và khả năng tạo ra các sản phẩm mới
đủ sức cạnh tranh với các xí nghiệp khác trong và ngoài nước
7.“Xây dựng lối sống sinh viên đậm đà bản sắc dân tộc và hội nhập quốc tế”(Đề tài do Nguyễn Ánh Hồng thực hiện) Các tác giả của đề tài đã định nghĩa
lối sống nói chung, cụ thể hóa khái niệm “lối sống sinh viên”; đã khảo sát, điều tra chọn mẫu tại các trường đại học ở TP Hồ Chí Minh vào các năm 2000, 2002 theo các chỉ báo: 1/ quan niệm của sinh viên về các yếu tố quan trọng trong cuộc sống (đó là, sức khỏe, gia đình, học vấn, nghề nghiệp); 2/ những biểu hiện của lối sống sinh viên qua hoạt động học tập (động cơ học tập là có cơ hội dễ kiếm việc làm, nâng cao kiến thức và phát triển nhân cách, phục vụ yêu cầu phát triển đất nước, có nghề chuyên môn cao, không muốn thua kém bạn bè; phương thức học tập là nghe giảng trên lớp, seminar, thảo luận nhóm, thực hành
và thực tập, tự học, vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học vào thực tế); 3/ hoạt động trong thời gian rỗi của sinh viên (đọc sách báo, giao lưu với bạn bè, xem tivi, giao tiếp với người thân, đến hiệu sách, tham gia phong trào xã hội, tham gia các lễ hội truyền thống, tham gia các câu lạc bộ sinh viên, chơi thể thao); 4/ quan niệm của sinh viên về tình bạn, tình yêu, tình dục trước hôn nhân; 5/ các kiểu sống đặc trưng của sinh viên: 30,05% số sinh viên được khảo sát, điều tra say mê học tập, đồng thời tích cực tham gia các sinh hoạt tập thể, chính trị – xã hội, văn hóa tinh thần, thể hiện một lối sống năng động, tích cực hướng tới sự phát triển nhân cách toàn diện, phong phú, đa dạng; 59,4% số sinh viên được khảo sát, điều tra sống thiếu năng động, chỉ quan hệ trong phạm vi hẹp gia đình,
Trang 16nhóm bạn bè thân thiết; 10,05% số sinh viên được khảo sát, điều tra chạy theo lối sống tiêu dùng hiện đại, sành điệu, đam mê vui chơi giải trí, xao lãng hoạt động học tập, một số rơi vào tệ nạn xã hội Các tác giả cũng đề xuất các kiến nghị giáo dục, đào tạo phù hợp với các kiểu loại lối sống sinh viên sao cho phù hợp với chủ trương của Đảng và nhà nước ta: xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, tăng cường hội nhập quốc tế
8.“Vấn đề tái tạo tín ngưỡng thành hoàng ở Việt Nam hiện nay”(Đề tài
do Đinh Khắc Thuận thực hiện) Đề tài khẳng định xu thế tái tạo các hoạt động
tín ngưỡng thành hoàng làng là hợp lý và hợp tình xét theo quan điểm đổi mới văn hóa và phát triển văn hóa dân tộc; tuy nhiên, đã là một tín ngưỡng thì các hoạt động phải tuân theo các nguyên lý cơ bản vốn có của nó, đồng thời cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật hiện hành của nhà nước Đề tài chưa đi sâu phân tích tình trạng lẫn lộn giữa tín ngưỡng và mê tín dị đoan, giữa kế thừa, phát huy di sản văn hóa làng với tình trạng thương mại hóa lễ hội làng; chưa bàn luận về phương thức hóa giải vấn đề nổi cộm này
9.“Truyền thống văn hóa trong xã hội Việt Nam hiện đại” (Đề tài do Nguyễn Tri Nguyên thực hiện) Đề tài phân biệt một số khái niệm quan trọng
như truyền thống văn hóa và di sản văn hóa, truyền thống văn hóa và ký ức văn hóa, truyền thống văn hóa và tâm thức văn hóa; thừa nhận quan điểm của Phan Ngọc về tâm thức Việt Nam truyền thống, bao gồm 4 thành tố (gọi tắt là 4F): 1/ Fatherland = Tổ quốc, 2/ Family = Gia đình, 3/ Fate = Thân phận, và 4/ Face = Thể diện hay diện mạo Điều quan trọng hơn, theo đề tài, là cần phải biết đổi mới tâm thức ấy cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế; trong đổi mới cái khó là phải biết kết hợp thành công các yếu tố truyền thống và hiện đại, bản địa và du nhập, phương Đông và phương Tây; quá trình Đông Nam Á hóa là cánh cửa để văn hóa Việt Nam hội nhập vào nền văn hóa hiện đại
Trang 1710.“Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” (của Trần Ngọc Thêm, Nxb TP
Hồ Chí Minh, 1996) Với cách nhìn hệ thống loại hình văn hóa, tác giả đã coi văn hóa nhận thức (trong đó có thành phần văn hóa tư duy) là một tiểu hệ thống hợp thành hệ thống văn hóa tổng thể và tiểu hệ thống văn hóa nhận thức lại bao gồm 2 vi hệ, đó là nhận thức về vũ trụ và nhận thức về con người Tác giả phân tích các khuôn mẫu văn hóa nhận thức dựa trên triết lý âm – dương, ngũ hành, tam tài, tứ tượng, bát quái, lịch pháp, hệ can chi Tuy không có phần lối sống được tách riêng, nhưng trong các chương 3 (Văn hóa tổ chức cộng đồng: đời sống tập thể), chương 4 (Văn hóa tổ chức cộng đồng: đời sống cá nhân), chương 5 (Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên) và chương 6 (Văn hóa ứng
xử với môi trường xã hội) ta có thể nhận thấy rõ đặc điểm lối sống người Việt trong lịch sử và phần nào trong thời kỳ đổi mới hiện nay Trong phần “Thay lời kết luận”, mục 27 “Văn hóa Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại”, có một kết luận gây tranh cãi lớn, đòi hỏi sự nghiên cứu tiếp tục vấn đề nan giải đang đặt ra: “Tuy con đường đi lên không đơn giản, dễ dàng, những khó khăn luôn đón đợi, níu kéo, nhưng một điều rõ ràng là, một khi đã hội đủ những điều kiện cần
thiết, Việt Nam có thể tự điều chỉnh để chuyển từ truyền thống hài hòa thiên về
âm tính sang sự hài hòa thiên về dương tính Việc thiên về dương tính sẽ hướng
đất nước sang con đường phát triển (chứ không phải ổn định như trước); còn tính hài hòa sẽ đảm bảo cho sự phát triển diễn ra vững chắc - đó là phát triển
trong dung hợp và tích hợp văn hóa phương Đông với phương Tây, văn hóa dân
tộc với văn hóa thế giới Đây chính là sợi chỉ đỏ của việc giải bài toán tối ưu về mối tương quan giữa cái hay và cái dở, cái được và cái mất trong việc du nhập kinh tế thị trường – bài toán tối ưu giữa hai nhiệm vụ nâng cao đời sống và phát
triển kinh tế đi đôi với bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc”
11.Cơ sở văn hóa Việt Nam (do Trần Quốc Vượng chủ biên, Nxb Giáo
dục, Hà Nội, 1997) Tác giả phân tích các thành tố văn hóa bao gồm: 1/ ngôn
Trang 18ngữ, 2/ tín ngưỡng, 3/ phong tục tập quán, 4/ lễ hội, 5/ nghệ thuật âm thanh, 6/ nghệ thuật trình diễn, 7/ nghệ thuật tạo hình, 8/ sân khấu, tuồng, chèo, kịch, 9/ văn chương, 10/ nhiếp ảnh, 11/ kiến trúc, 12/ nghề thủ công, 13/ thông tin tín
hiệu, 14/ mass media, 15/ lối sống Trong cuốn sách này, lối sống được coi là
một thành tố của văn hóa, nhưng tác giả không làm rõ vị trí, vai trò của văn hóa nhận thức nói chung, văn hóa tư duy nói riêng Trong phân tích chức năng văn
hóa thì tác giả đã coi chức năng nhận thức là chức năng hàng đầu, nhằm thực
hiện chức năng bao trùm của văn hóa là chức năng giáo dục’ tiếp đến là chức năng thẩm mỹ, chức năng giải trí Thiết chế văn hóa theo tác giả bao gồm: 1/ văn hóa sản xuất, 2/ văn hóa vũ trang, 3/ văn hóa sinh hoạt ta thấy rõ văn hóa tư duy và văn hóa lối sống không phải là thiết chế văn hóa, mà chỉ là chức năng và thành tố văn hóa Tác giả đã làm rõ một số đặc tính hằng xuyên lịch sử của văn hóa Việt Nam (cũng có nghĩa là của văn hóa tư duy, và của văn hóa lối sống của con người Việt Nam), đó là: 1/ “Cởi mở trong việc tiếp nhận văn hóa nước ngoài, tiếp thu tinh hoa của mọi nền văn hóa làm giàu cho văn hóa của mình”; 2/ “Văn hóa cổ truyền Việt Nam vừa là sự hòa điệu, vừa là sự đấu tranh với thiên nhiên”; 3/ “Nhìn ở phương diện xã hội, nông dân, nông nghiệp lúa nước
và xóm làng là ba nhân tố cơ bản” của văn hóa Việt Nam truyền thống và 4/
“Không gian văn hóa Việt Nam vừa đa dạng vừa thống nhất” Không gian văn hóa Việt Nam được xem xét theo quan điểm vùng văn hóa Các vùng văn hóa quan trọng của văn hóa Việt Nam bao gồm: 1/ Vùng Tây Bắc, 2/ vùng Việt Bắc, 3/ vùng châu thổ Bắc bộ, 4/ vùng Trung bộ, 5/ vùng Tây Nguyên và 6/ vùng Nam bộ Tác giả khẳng định quan điểm đúng đắn trong nghị quyết đại hội lần thứ IV của BCHTW khoa VII: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, thể hiện tầm cao và chiều sâu về trình độ phát triển của một dân tộc, là sự kết tinh những giá trị tốt đẹp nhất trong quan hệ giữa người và người, với xã hội và với thiên nhiên; nó vừa là một động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, vừa là
Trang 19một mục tiêu của đất nước đang đổi mới Tác giả đưa ra một số luận điểm, nhất
là luận điểm sau đây gây tranh cãi lớn, cần được nghiên cứu sâu hơn để sáng tỏ:
“Hằng số văn hóa cổ truyền Việt Nam về mặt chủ thể là người nông dân Việt Nam với tất cả những tính chất mạnh, yếu của nó Trên nền cơ bản là nông dân, song người nông dân đó lại tùy thuộc vào từng vùng (xứ, miền) văn hóa khác nhau mà có những đặc tính riêng Nổi trội lên tất cả là tính chất duy tình, duy cảm, duy nghĩa của con người Việt Nam trong mối quan hệ với con người, con người với tự nhiên, con người với xã hội và con người với thần linh Nổi trội hơn tất cả là khái niệm phúc đức” Văn hóa Việt Nam có đặc trưng là thống nhất trong đa dạng Vấn đề đặt ra là thực chất của tính thống nhất văn hóa ở
đâu? Duy tình hay trọng tình? Và biểu hiện của tính đa dạng văn hóa là ở chỗ nào? Liệu có tính duy lý hay không? Hay chỉ có trọng lý đối lập với trọng tình?
Đây có lẽ là điểm then chốt trong việc xem xét bản chất của văn hóa Việt Nam nói chung, của văn hóa tư duy và văn hóa lối sống con người Việt Nam nói riêng
12 Thông báo văn hóa dân gian 2001 (Trung tâm KHXH&NVQG, Viện
Nghiên cứu Văn hóa dân gian, Nxb ĐHQG Hà Nội, 2002) Trong công trình
này, Tô Duy Hợp (với bài “Giá trị của triết lý dân gian”) cho rằng, giá trị của
triết lý dân gian là lâu bền không chỉ theo ý nghĩa là một hằng số lịch sử mà còn theo ý nghĩa hướng tới tương lai; sở dĩ như thế là vì triết lý dân gian không ưa chuộng các lập trường cực đoan, duy vị (không duy vật cũng không duy tâm, không duy cảm cũng không duy lý, không vị kỷ cũng không vị tha,v v ) mà ưa chuộng lập trường khinh – trọng, nghĩa là có phân biệt hoặc/và không phân biệt, điều chỉnh hoặc/và không điều chỉnh, thay đổi hoặc/và không thay đổi khinh trọng các giá trị, chuẩn mực văn hóa; chẳng hạn, trọng tình hơn trọng lý, song cũng có thể ngược lại, trọng lý hơn trọng tình, tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể
mà lựa chọn hợp lý, hợp tình Tác giả Đức Uy (với bài “Đi tìm triết lý kinh
Trang 20doanh truyền thống trong ca dao tục ngữ Việt Nam”) cho rằng kiểu kinh doanh
Việt Nam hiện nay là biến thể của kiểu “kinh doanh hàng xén chợ quê”; qua
sưu tầm ca dao, tục ngữ Việt Nam có thể thấy rõ triết lý kinh doanh truyền thống Việt Nam thực chất là triết lý tiểu thương, tiểu chủ tương ứng với triết lý tiểu nông là những nét hằng xuyên của văn hóa tư duy kinh tế Việt Nam trong lịch sử phản ánh tình trạng tự cung tự cấp là chủ yếu và thị trường rất kém phát
triển, đặc biệt là ở nông thôn Tác giả Ngô Đức Thịnh (với bài “Tín ngưỡng Bà
Chúa kho và sự biến đổi của xã hội Việt Nam”) cho rằng Bà Chúa kho không
phải là một biểu tượng đơn nghĩa, mà là một phức thể đa biểu tượng, đa lớp
văn hóa Qua phân tích cấu trúc biểu tượng Bà Chúa kho, tác giả làm rõ tính
hỗn dung văn hóa và trầm tích các lớp văn hóa qua trường kỳ lịch sử biến đổi
xã hội cho tận tới thời kỳ đổi mới ngày nay Theo tác giả, có ít nhất 3 lớp giá trị khác nhau tiềm ẩn trong hiện tượng thờ Bà Chúa kho: Bà Chúa kho – Mẹ Lúa,
Bà Chúa kho – Chúa kho lương và Bà Chúa kho – Bà Chúa kho tiền; ba lớp giá trị đó phản ánh nền tảng và những xu hướng biến đổi xã hội khác nhau của Việt Nam từ thời xa xưa tới nay là xã hội nông nghiệp, lịch sử chống ngoại xâm và
xu hướng thương mại hóa (cơ chế thị trường)” Tác giả cũng đưa ra một kết luận mang tính chất phương pháp luận nghiên cứu khoa học xã hội – nhân văn khá quan trọng: “Tính hệ thống của một hiện tượng văn hóa dân gian luôn đòi hỏi chúng ta có cách tiếp cận phù hợp, mà ở đây là phương pháp tiếp cận sự kiện xã hội tổng thể” Thực ra ở đây cần hóa giải tiếp tục song đề lý thuyết giữa quan điểm toàn thể phương pháp luận (methodological Holism) và quan điểm
cá thể phương pháp luận (methodological individualism) Nguyễn Văn Mạnh
(với bài“Giá trị của lễ hội truyền thống trong xã hội hiện đại”) đã tổng kết hệ
giá trị của lễ hội truyền thống trong xã hội hiện đại, đó là: 1/ giá trị cộng đồng, 2/ giá trị giáo dục, 3/ giá trị phản ánh hiện thực cuộc sống và bảo tàng văn hóa truyền thống, 4/ giá trị văn hóa tâm linh, 5/ giá trị kinh tế Tác giả khẳng định
Trang 21qua giá trị của lễ hội truyền thống ta thấy bộc lộ bản sắc của văn hóa tư duy và văn hóa lối sống của con người Việt Nam trong các việc làng, việc nước Tuy nhiên, tác giả chưa bàn luận về quá trình tổng – tích hợp các giá trị truyền thống với các giá trị hiện đại trong lễ hội ngày nay
13 Đổi mới phong cách tư duy (của Phạm Như Cương, Nxb Khoa học
xã hội, Hà Nội, 1999) Theo tác giả, cần kiên trì quan điểm cho rằng trong đổi mới phải phát huy và phát triển phong cách tư duy biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin và của tư tưởng Hồ Chí Minh; trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã có
sự tổng – tích hợp tinh hoa tư tưởng trong văn hóa nhân loại (khi người nhận định: “Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân Tôn giáo Giê su có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả Chủ nghĩa Mác có ưu điểm
là phương pháp làm việc biện chứng Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó thích hợp với điều kiện nước ta Khổng Tử, Giê su, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng phải đã có những điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội.Tôi cố gắng là người học trò nhỏ của các vị ấy”); cần kế thừa truyền thống có đổi mới và phát triển (đó là nét đặc trưng trong phong cách tư duy và lối sống Hồ Chí Minh); ngay từ đầu những năm 1946, trong cuộc vận động xây dựng Đời sống mới, Hồ Chủ tịch đã vận dụng sáng tạo các nguyên tắc đạo đức truyền thống, như cần, kiệm, liêm, chính
để giáo dục công dân; cuộc vận động đi vào lòng nhân vì Hồ Chủ tịch đã diễn ngôn dưới dạng bài thơ: “Cần kiệm liêm chính Giữ nước vẹn mười Tức là những người sống đời sống mới” Tác giả nhận xét: “Theo tôi, đây là một phương thức làm cách mạng văn hóa rất hay, trong đó có sự kết hợp giữa các quan điểm chỉ đạo lớn với sự chỉ dẫn cụ thể, thiết thực về nội dung của đời sống mới trong sinh hoạt ăn, mặc, ở, đi lại hằng này của từng người, từng nhà, từng làng, từng cơ quan, từng đơn vị bộ đội, xưởng máy” Công trình này của Phạm
Trang 22Như Cương thiên về tổng kết lịch sử tư tưởng, thiếu hẳn phần đánh giá thành tựu đổi mới và dự báo triển vọng tương lai
14 Ngoài các công trình trên đây, vấn đề lối sống còn được nghiên cứu trong nhiều công trình khác Một số tác phẩm tiêu biểu về lối sống của các nhà
nghiên cứu Liên Xô đã được dịch ra tiếng Việt như: Bàn về khái niệm lối sống
(của N.I.Be-lô-va, Viện Xã hội học - Uỷ ban Khoa học xã hội xuất bản - Hà
Nội, 1977); Lối sống Xã hội chủ nghĩa (Nxb Sự thật, Hà Nội, 1982); Lối sống
Xô Viết hôm nay và ngày mai (của V.I.Đô-bru-ni-na, Nxb Tiến Bộ - Matxcova,
1984) Các nhà nghiên cứu Việt Nam cũng có nhiều công trình nghiên cứu về
lối sống Đó là: “Lối sống trong đô thị hiện nay” (do Lê Như Hoa chủ biên, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1993); “Bản sắc dân tộc trong lối sống hiện
đại” (Nxb Văn hóa - Thông tin và Viện Văn hóa, 2003); “Vấn đề xây dựng lối sống dân tộc, hiện đại ở nước ta hiện nay” (của Đỗ Huy, Tạp chí Triết học, số
6-1999); “Nhận diện một số tác nhân làm chuyển biến lối sống người Hà Nội
trong nửa thế kỉ qua” (của Đỗ Huy, Tạp chí Xã hội học, số 1 – 2005); “Lối sống dân tộc – hiện đại, mấy vấn đề lý luận và thực tiễn” (của Đỗ Huy, Nxb
Văn hóa - Thông tin & Viện Văn hóa, Hà Nội, 2008); “Vấn đề lối sống và xây
dựng lối sống đô thị ở Việt Nam” (của Đặng Quang Thành, Chế Anh, Nxb Trẻ,
2000);“Lối sống người Việt Nam dưới tác động của toàn cầu hóa hiện nay” (Nguyễn Văn Huyên, Tạp chí Triết học, số 12, 2003); “Xây dựng lối sống ở
Việt Nam hiện nay (từ góc độ văn hóa truyền thống dân tộc)” (của Võ Văn
Thắng, Nxb Văn hóa – Thông tin & Viện Văn hóa, Hà Nội, 2006); Nguyễn
Văn Dân: “Con người và văn hóa Việt Nam trong thời kì đổi mới và hội nhập” (Nxb Khoa học xã hội, 2009); Đặng Quang Thành: “Xây dựng lối sống có văn
hóa của thanh niên thành phố Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới theo định hướng XHCN” (luận án tiến sĩ, 2005); Người Việt: phẩm chất & thói hư – tật
xấu (Nhiều tác giả, Nxb Thanh niên – Báo Tiền phong, Hà Nội, 2008) V.v
Trang 23Trong xã hội học, lối sống được hiểu là cách thức mà con người sống Chẳng hạn như, các khuôn mẫu về các quan hệ xã hội, tiêu dùng, giải trí và ăn mặc Lối sống phản ánh thái độ, sở thích, thói quen, các giá trị và các quan điểm của các cá nhân và các nhóm xã hội Mỗi một lối sống cho phép xác định bản sắc riêng của cá nhân và của nhóm Nó tạo ra những biểu trưng văn hoá đặc thù thể hiện mỗi cá nhân thuộc nhóm nào Trong Từ điển bách khoa Văn hóa học, lối sống được định nghĩa là tính chất tổng thể của hoạt động sinh sống của cá nhân, nhóm xã hội, hoặc xã hội nói chung vào một thời điểm nhất định nào đó trong sự phát triển của lịch sử, trong một hoàn cảnh xã hội nhất định Nghiên cứu lối sống tức là nghiên cứu mối quan hệ qua lại, những lĩnh vực chính trong hoạt động sinh sống của con người: lao động, tập quán, văn hóa, sinh hoạt cộng đồng, cung cách ứng xử Lối sống xã hội chủ nghĩa được định nghĩa là toàn bộ hình thức hoạt động sống của con người trong đời sống và trong điều kiện cuả chủ nghĩa xã hội Đó là làm chủ xã hội của người lao động Lối sống này do các quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa quy định, và phụ thuộc vào trình độ sản xuất vật chất và tinh thần mà xã hội đã đạt được Những nét tiêu biểu nhất trong lối sống xã hội chủ nghĩa là lòng yêu lao động, coi lao động là nghĩa vụ và vinh dự của mỗi người; thái độ quan tâm đến lợi ích xã hội, không vì lợi ích cá nhân mà
vi phạm lợi ích cộng đồng, sự tôn trọng phẩm giá của con người, bảo vệ tính người trong quan hệ xã hội Trong định nghĩa này, lối sống xã hội chủ nghĩa được nhấn mạnh đặc biệt bởi quan hệ lao động trong xã hội xã hội chủ nghĩa, sự làm chủ và sự tham gia tích cực của người lao động vào quá trình lao động, sản xuất
Những nghiên cứu về lối sống đô thị trong thời gian gần đây có giá trị cả
lý luận và thực tiễn Bởi ngoài việc chỉ ra những điểm nổi bật của lối sống đô thị thì đồng thời, chúng cũng đem lại sự hiểu biết về một bức tranh đa dạng về lối sống Tiêu biểu là các tác giả I.X.Turrov (nhà xã hội học người Nga), Trịnh
Trang 24Duy Luân, Trần Ngọc Thêm, Tô Duy Hợp, Lương Hồng Quang Nghiên cứu về lối sống, I.X.Turrov, cho rằng lối sống phụ thuộc nhiều vào khung cảnh xã hội (đó là đặc trưng sinh thái xã hội của môi trường nông thôn/đô thị và đặc trưng kinh tế xã hội của nông thôn/đô thị) Theo I.X.Turrov, lối sống bị quy định bởi các quan hệ xã hội, bản chất của lối sống chính là đặc trưng hoạt động sống của khách thể mang lối sống đó Đặc trưng của hoạt động sống lại phụ thuộc vào các mối quan hệ liên kết Trong khi phân tích về lối sống đô thị với những đặc trưng sinh thái xã hội và kinh tế xã hội của môi trường đô thị đem lại, I.X.Turrov cũng đã chỉ ra những hạn chế của lối sống đô thị trong so sánh với lối sống nông thôn và ngược lại Điểm thú vị là tác giả đã phê phán cách đặt vấn
đề cứng nhắc trước đây là lựa chọn lối sống nào hay hơn lối sống nào (lối sống nông thôn hay lối sống thành thị) I.X.Turrov cho rằng mỗi lối sống có giá trị nhất định và sự mâu thuẫn của đời sống xã hội ở mỗi khu vực nông thôn hay đô thị có thể được khắc phục bởi sự hình thành các hệ thống liên kết giữa hai khu vực Nông thôn và lối sống nông thôn cùng song song tồn tại với đô thị và lối sống đô thị như một môi trường sinh hoạt đủ đáp ứng yêu cầu của cả hai khu vực Nghiên cứu về lối sống đô thị, Trịnh Duy Luân nhấn mạnh đến kiểu lối sống quá độ, hay lối sống chuyển thể Tác giả Trịnh Duy Luân cũng nhấn mạnh rằng khó có thể đề cập đến một lối sống cho toàn bộ dân cư đô thị nói chung bởi
xã hội đô thị bao gồm rất nhiều nhóm xã hội khác nhau Hơn nữa, các khuôn mẫu hành vi, các ứng xử còn chưa ổn định, còn đang được sàng lọc Tác giả Trịnh Duy Luân còn tập trung xem xét những yếu tố ảnh hưởng tới sự hình thành lối sống đô thị, như sự thay đổi của cơ cấu dân cư, sự phân hóa giàu – nghèo trong xã hội đô thị và sự chuyển đổi của các định hướng giá trị của các nhóm xã hội khác nhau, những yếu tố này đã tạo nên một diện mạo luôn biến động của lối sống đô thị
Trang 25Nếu như các nghiên cứu về lối sống đô thị đem lại một bức tranh đa đạng
về đời sống đô thị thì các nghiên cứu về lối sống nông thôn cũng tập trung vào xem xét những thay đổi trong đời sống xã hội nông thôn qua từng thời kỳ lịch
sử Nó thể hiện qua tất cả các hoạt động văn hóa - kinh tế - xã hội của xã hội nông thôn như lễ hội, tang ma, cưới xin, giỗ chạp, tín ngưỡng,… Việc nhận diện lối sống nông thôn trong bối cảnh xã hội hiện nay cũng đã được đặc biệt chú ý Nghiên cứu lĩnh vực này ở Việt Nam trong những năm gần đây có các tác giả Trần Ngọc Thêm, Tô Duy Hợp, Lương Hồng Quang Trong các nghiên cứu của mình, các tác giả đã phần nào đề cập đến các khía cạnh của đời sống văn hoá, lối sống ở nông thôn, đồng thời cũng chỉ ra những thay đổi trong
hệ thống giá trị và chuẩn mực lối sống thể hiện qua sự kiện văn hoá lớn như hôn nhân, tang chế, phong tục tập quán ở khu vực nông thôn Ngoài ra một số tác giả khác đã ít nhiều bàn luận đến vấn đề lối sống ở xã hội Việt Nam trong mỗi thời kỳ Các nghiên cứu đã tập trung mô tả và lý giải các động thái biến đổi của lối sống ở nông thôn, cũng như đô thị Đặc biệt là lối sống đô thị đã được nhiều công trình nghiên cứu quan tâm, bởi chính những chuyển biến trong lối sống của xã hội đô thị như là bằng chứng cụ thể của sự thay đổi lối sống của một khu vực xã hội đặc thù, khu vực đô thị Một số nghiên cứu cố gắng so sánh những thay đổi của lối sống đô thị ngày nay với lối sống truyền thống, lối sống vốn gắn nhiều hơn với đời sống cộng đồng làng – xã, và so sánh với lối sống đô thị của những thập niên của thế kỷ trước Trong các nghiên cứu này người ta đã cố gắng chỉ ra những thay đổi, những chuyển biến của lối sống đô thị trong một bối cảnh của một xã hội đang chuyển đổi
Nếu như trước thời kỳ đổi mới các nghiên cứu tập trung vào thảo luận vấn đề lối sống xã hội chủ nghĩa thì hiện nay vấn đề lối sống được nhìn trong lát cắt của một xã hội đang chuyển đổi, đang diễn ra những bước quá độ Các nghiên cứu tập trung nhiều hơn đến các khuôn mẫu ứng xử, mô hình ứng xử,
Trang 26phong cách tiêu dùng, phong cách giải trí, phong cách hưởng thụ, những quan
hệ xã hội mới xuất hiện như là kết quả tất yếu của quá trình chuyển đổi Những thay đổi này xuất hiện ở cả nông thôn và đô thị Những thay đổi của lối sống có
lẽ trở nên rõ ràng hơn khi chúng ta chú ý tới các khu công nghiệp và khu đô thị mới, nơi vừa hình thành các cơ sở sản xuất mới với các quan hệ kinh tế mới, vừa hình thành các quan hệ xã hội mới và đương nhiên là lối sống mới Một thứ lối sống được xem xét trong một bối cảnh của sự di cư ở những con người đến
từ nông thôn ra nhập vào các khu công nghiệp và của đời sống xã hội tại các khu công nghiệp-đô thị
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đây đã góp phần đem lại những hiểu biết nhất định về sự thay đổi của lối sống con người Việt Nam ở mỗi khu vực xã hội như nông thôn, đô thị Tuy nhiên, các nghiên cứu này chưa làm rõ sự khác biệt về lối sống của mỗi nhóm xã hội, chưa chỉ rõ được những nguyên nhân tạo ra những chuyển biến về mặt lối sống, chưa chỉ rõ những chuyển biến về lối sống truyền thống của con người Việt Nam trong điều kiện ngày nay, chưa chú ý thích đáng đến những yêu cầu đặt ra về lối sống con
người Việt Nam do quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế đòi hỏi Chủ đề“đặc
điểm của tư duy và lối sống của con người Việt Nam hiện nay và những vấn đề đặt ra trước yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế” mới chỉ có những nghiên cứu
tản mạn, không tập trung, thiếu tính hệ thống hoàn chỉnh, thiếu cơ sở lý thuyết
và phương pháp luận chung, thiếu kết quả khảo sát, điều tra mẫu đại diện; do
đó, chưa thể có hệ thống giải pháp đồng bộ để nâng cao năng lực tư duy và xây
dựng lối sống lành mạnh định hướng xã hội chủ nghĩa một cách bền vững
3 Mục tiêu nghiên cứu
Thứ nhất, làm rõ các đặc điểm của tư duy và lối sống truyền thống của
con người Việt Nam, sự biến đổi của tư duy và lối sống trong thời kỳ đổi mới (bao gồm cả đặc điểm tích cực và đặc điểm tiêu cực), những điều kiện kinh tế-
Trang 27xã hội tác động đến tư duy và lối sống con người Việt Nam, những vấn đề đặt
ra về tư duy và lối sống trước yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế
Thứ hai, đề xuất và phân tích các căn cứ lý lụân và thực tiễn của các
phương hướng lớn và các giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục xây dựng tư duy và lối sống mới của con người Việt Nam hiện nay theo yêu cầu của đổi mới và hội nhập quốc tế
4 Nội dung nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu trên Đề tài tập trung nghiên cứu 5 nội dung sau:
1 Những vấn đề lý luận chung về tư duy và lối sống
2 Đặc điểm của tư duy và lối sống truyền thống của con người Việt Nam
3 Sự biến đổi của duy và lối sống của con người Việt Nam trong thời
5 Cách tiếp cận
1 Cách tiếp cận hệ thống - liên ngành: Đề tài xem xét tư duy và lối
sống như một hệ thống bao gồm các yếu tố, các mối quan hệ và tác động qua lại Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tư duy và lối sống, các chuẩn mực, các yêu cầu hiện nay, biểu hiện của từng đặc điểm tư duy và lối sống ở các nhóm dân cư khác nhau, ở các vùng lãnh thổ khác nhau, mối quan hệ giữa các điều kiện kinh tế- xã hội của đất nước với các đặc điểm tư duy và lối sống Đề tài sử dụng các cách tiếp cận của các chuyên ngành khác nhau: triết học, kinh tế học, tâm lý học, sử học, nhân học, xã hội học…
Trang 282 Cách tiếp cận lôgíc - lịch sử: Đề tài xem xét tư duy và lối sống trong
những thời gian cụ thể, từ đó khái quát hoá để thấy được tính lôgíc trong sự biến đổi và phát triển của tư duy và lối sống
3 Cách tiếp cận kinh tế - chính trị: Đề tài phân tích tư duy và lối sống
của con người Việt Nam gắn với điều kiện về địa lý, kinh tế, chính trị, những điều kiện làm nảy sinh và nuôi dưỡng tư duy và lối sống của con người Việt Nam
4 Cách tiếp cận văn hoá - xã hội: Đề tài khảo cứu sự biểu hiện của tư
duy và lối sống của con người Việt Nam qua các tài liệu văn học, cả văn học bác học lẫn văn học dân gian
6 Phương pháp nghiên cứu
1 Tổng hợp và phân tích các tài liệu đã có Phương pháp này nhằm
khai thác những kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài
2 Phỏng vấn bằng bảng hỏi Phương pháp này nhằm thu thập thông tin
định lượng với khoảng 3000 phiếu điều tra trên 6 tỉnh khảo sát Mỗi tỉnh sẽ tiến hành khảo sát 500 phiếu
3 Phỏng vấn sâu Phương pháp này nhằm thu thập những thông tin định
tính, bổ khuyết cho phương pháp bảng hỏi, thu thập thông tin định tính của mỗi nhóm xã hội có những đặc trưng lối sống khác nhau Mỗi tỉnh sẽ tiến hành phỏng vấn 40 cuộc phỏng vấn sâu Như vậy, tổng số sẽ có 240 cuộc phỏng vấn sâu
4 Thảo luận nhóm Phương pháp này nhằm thu thập ý kiến, những quan
điểm, thái độ của các nhóm đối tượng về cùng một vấn đề (chẳng hạn như lối hưởng thụ, tiêu dùng văn hoá, phong cách lao động, sản xuất, cách thức định hướng cho con cái trong các nhóm xã hội khác nhau, v.v…) Mỗi tỉnh sẽ tiến hành 10 cuộc thảo luận nhóm Như vậy tổng số có 60 cuộc thảo luận nhóm
Trang 295 Thống kê kinh tế - xã hội Phương pháp này có tác dụng thu thập
những số liệu thống kê kinh tế, xã hội tại địa bàn nghiên cứu góp phần xây dựng lên bức tranh chung của địa bàn khảo sát
6 Thống kê văn hoá Phương pháp này cũng được sử dụng như một
công cụ quan trọng nhằm thu thập toàn bộ các thông tin phản ánh thực trạng lối sống của các nhóm dân cư tại các địa bàn khảo sát
7 Phương pháp chuyên gia Thảo luận với các chuyên gia trong những lĩnh vực liên quan nhằm thu được các thông tin chuyên sâu về các vấn đề
nghiên cứu của đề tài
7 Sản phẩm của đề tài
Sản phẩm của đề tài gồm có; các báo cáo chuyên đề (60 báo cáo), các báo cáo khoa học tại các cuộc hội thảo (5 tập), báo cáo kết quả khảo sát thực tế,
01 báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu, 01 báo cáo tóm tắt kết quả nghiên cứu,
01 báo cáo kiến nghị, 01 cuốn sách, 12 bài tạp chí
8 Lợi ích của đề tài và phương thức chuyên giao kết quả nghiên cứu
1 Lợi ích của đề tài
a) Nâng cao nhận thức đúng đắn cho cán bộ và nhân dân ta về tư duy và lối sống của con người Việt Nam, những đặc điểm tích cực cần phát huy hơn và những đặc điểm tiêu cực cần khắc phục Cung cấp căn cứ lý luận và thực tiễn cho việc hoạch định các chính sách xã hội phù hợp với đặc điểm truyền thống
về tư duy và lối sống của con người Việt Nam, với yêu cầu của đổi mới và hội nhập quốc tế
b) Thông qua việc thực hiện đề tài, những thành viên đề tài và các cộng tác viên, các cơ quan chủ trì và tham gia nghiên cứu có thêm kinh nghiệm trong việc nghiên cứu các đề tài có quy mô lớn, có ý nghĩa sâu sắc về lý luận và thực
Trang 30tiễn Đề tài đã thu hút một số học viên cao học và nghiên cứu sinh tham gia nghiên cứu Từ đó, một số luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ liên quan đến đề tài
đã và đang thực hiện Đó là: Ảnh hưởng của tư duy kinh nghiệm đối với công
cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay (của Trần Thị Thuận Vũ, Luận văn thạc sĩ triết
học, Viện Triết học, Hà Nội, 2008); Một số đặc điểm trong lối sống của thanh
niên Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế (của Nguyễn Thị
Oanh, Luận văn thạc sĩ triết học, Viện Triết học, đang thực hiện); Sự biến đổi
của tư duy và lối sống của con người Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế (của Mã Thanh Xuân, Luận văn thạc sĩ triết học, Viện Triết học,
đang thực hiện); Ảnh hưởng của tư duy sản xuất nhỏ của người Việt Nam đối
với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay (của Nguyễn Lan
Phương, Luận án tiến sĩ triết học, Viện Triết học, đang thực hiện); Vấn đề giữ
gìn bản sắc dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay (của Phạm Thanh Hà,
Luận án tiến sĩ triết học, Viện Triết học, 2009); Phát triển tư duy biện chứng ở
sinh viện đại học sư phạm nước ta hiện nay (của Hoàng Thúc Lân, Luận án tiến
sĩ triết học, Viện Triết học, đang thực hiện); Tác động của cách mạng khoa học
và công nghệ đến lối sống của con người Việt Nam hiện nay (của Lê thị Thắm,
Luận án tiến sĩ triết học, Viện Triết học, đang thực hiện) Việc một học viên cao học và nghiên cứu sinh của Viện Triết học tham gia nghiên cứu đề tài và làm luận văn thạc sỹ và luận án tiến sỹ triết học về các chủ đề liên quan đến đề tài
đã góp phần nâng cao năng lực đào tạo sau đại học của Viện
2 Phương thức chuyển giao kết quả nghiên cứu
Các sản phẩm chính của đề tài (Tập các báo cáo chuyên đề, Tập báo cáo kết quả khảo sát thực tế, Tập các báo cáo tại hội thảo khoa học, Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài, Báo cáo tóm tắt kết quả nghiên cứu đề tài, Báo cáo kiến nghị) sẽ là tài liệu tham khảo cho những nhà khoa học, những người làm công tác thực tiễn, những người làm công tác giảng dạy ở các trường đại
Trang 31học, những sinh viên và những người muốn tìm hiểu về tư duy và lối sống của con người Việt Nam Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ được công bố dưới dạng các bài báo, sách, trên trang website của Viện Triết học để cung cấp tài liệu cho cán
bộ và nhân dân
Trang 32PHẦN 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
VỀ TƯ DUY VÀ LỐI SỐNG
Để làm rõ được đặc điểm tư duy và lối sống của con người Việt Nam hiện nay, trước hết cần làm rõ nội dung cơ bản của hai khái niệm tư duy, lối sống và quan hệ giữa chúng Khi xem xét hai khái niệm này, chúng tôi chú ý đến hai khía cạnh cơ bản là định nghĩa và phân chia khái niệm
1 Tư duy
1.1 Định nghĩa khái niệm “tư duy”
Theo lôgic học, định nghĩa một khái niệm nào đó là thao tác logic nhằm vạch rõ nội hàm của khái niệm ấy Nội hàm của một khái niệm bao gồm những đặc trưng cơ bản phân biệt của đối tượng mà khái niệm đó phản ánh Như vậy, vận dụng vào trường hợp định nghĩa khái niệm “tư duy”, thì có nghĩa là phải vạch rõ những đặc trưng cơ bản phân biệt tư duy với tất cả những đối tượng khác không phải tư duy
Hiện có rất nhiều định nghĩa về tư duy Sở dĩ có tình trạng như thế là vì số lượng các đặc trưng cơ bản phân biệt đối tượng được người ta tính đến ít nhiều khác nhau khi định nghĩa khái niệm Sau đây là một số thí dụ:
Trang 33- “Tư duy là hình thái cao của sự phản ánh thực tế khách quan một cách tích cực, đó là sự nhật thức gián tiếp hoá, khái quát hoá và có mục đích do chủ thể đặt ra nhằm nắm được những mối liên hệ, quan hệ cơ bản của các sự vật và hiện tượng, tạo ra các ý niệm mới và đi sâu vào bản chất của các sự kiện và quá trình Tư duy xuất hiện và thực hiện trong quá trình người ta đặt ra và giải quyết các vấn đề thực tiễn và lý luận”1
- “Tư duy là quá trình tích cực qua đó, thế giới khách quan được phản ánh trong các khái niệm, phán đoán, lý thuyết,…và nó gắn với việc giải quyết các vấn đề; là sản phẩm cao nhất của dạng vật chất được tổ chức một cách đặc biệt,
- “Tư duy là tổng thể các quá trình tâm trí, trong đó các sự vật, hiện tượng
và ý niệm được nhào nặn dưới những hình thức biểu tượng”4
- “Tư duy là sự phản ứng mang tính biểu tượng kín đáo khi có kích thích bên trong hoặc từ bên ngoài Tư duy là khâu trung gian giữa hoạt động bên trong và kích thích bên ngoài”5
Như vậy, khi trả lời câu hỏi “Tư duy là gì:”, người ta có thể nhấn mạnh
những đặc trưng cơ bản, thậm chí được coi là cơ bản nhất của nó Các học giả xôviết đều nhất trí với nhau ở lập trường duy vật khi khẳng định đặc trưng cơ
1
Xem “A.G.Spinkin”, 1983; tr.391
2 Xem Từ điển triết học, Nxb Tiến bộ, Moskva, 1984; tr.422
3 Xem “V.A.Lektorski”, 2001; tr.626
4 Xem “Ludy T.Bejamin, Jr; J.Ray Hopkins; Jack R.Nation”, 1994; tr.294
5 Xem “The New Encyclopedia Britannica Vol 11”, 15 th Edition, 1998, tr.732
Trang 34bản của tư duy là năng lực phản ánh mang tính nhận thức của con người Đặc trưng của năng lực phản ánh ở trình độ tư duy là phản ánh gián tiếp hoá, trừu
tượng hoá, khái quát hoá, nói chung là nhận thức lý tính, nhờ đó con người tư
duy nắm bắt được những thuộc tính và quan hệ cơ bản của sự vật, hiện tượng được phản án; tư duy là quá trình phản ánh tích cực
Các chuyên ngành khoa học khác nhau có thể định nghĩa tư duy theo cách
tiếp cận riêng Chẳng hạn, tâm lý học coi tư duy như hiện tượng và quá trình tâm lý người với tư cách là động vật cao cấp nhất trong thế giới động vật Logic
học coi tư duy là quá trình con người lập luận (luận lý) nhằm xác nhận chân lý
và bác bỏ sai lầm trong khi nhận thức thực tế khách quan Các nhà hành vi luận
coi tư duy như một năng lực phản ứng khi bị kích thích (theo công thức S
(stimulus) - R (response)) Trong khi đó, các nhà điều khiển học thì coi tư duy như một năng lực điều khiển bằng tín hiệu biểu tượng, còn các nhà sáng tạo
luận coi tư duy như một năng lực kiếu tạo đặc biệt, kiến tạo bằng sức tưởng
tượng, bằng giả thuyết…
Các định nghĩa trên ít nhiều đều có hạt nhân hợp lý Do đó, cần phải tổng - tích hợp các hạt nhân hợp lý đó để có được một định nghĩa toàn diện hơn, đầy
đủ hơn vừa xác định được thực chất của tư duy, vừa phân biệt được tư duy với tất cả các đối tượng không phải là tư duy
Theo chúng tôi, nội hàm của khái niệm tư duy bao gồm tổng thể những đặc trưng cơ bản phân biệt sau đây:
- Tư duy thuộc phạm trù tâm lý, hay là chức năng tâm lý của cơ thể con người
- Tư duy thuộc cấp độ ý thức, hữu thức của hoạt động tâm lý (đó là tâm trí, trí năng, lý trí, trí tuệ)
Trang 35- Tư duy là năng lực nhận thức lý tính với các hình thức cơ bản của nó là: khái niệm, phán đoán/nhận định, lập luận (luận kết như suy luận, quy nạp, loại sang; luận chứng như chứng minh/bác bỏ)
- Tư duy là quá trình phản ánh tinh thần, phản ánh lý tính
- Tư duy là hoạt động tinh thần, hoạt động trí óc bao gồm các quá trình sản xuất, trao đổi, phân phối, sử dụng tri thức/ và tư tưởng
Tóm lại, tư duy là quá trình hoạt động tâm lý người ở cấp độ ý thức, nhận
thức lý tính, phản ánh tinh thần, hoạt động trí óc chuyên sản xuất, trao đổi, phân phối và sử dụng tri thức và tư tưởng
Vận dụng vào đề tài này, chúng tôi quan niệm rằng, tư duy của con người
Việt Nam là quá trình hoạt động tâm lý người Việt Nam ở cấp độ ý thức, nhận thức lý tính, phản ánh tinh thần, hoạt động trí óc chuyên sản xuất, trao đổi, phân phối và sử dụng tri thức và tư tưởng
1.2 Các kiểu tư duy
Có một kiểu phân loại phổ biến, phổ dụng được áp dụng vào việc phân loại
tư duy; đó là kiểu phân đôi Chẳng hạn, trong “Bách khoa toàn thư triết học mới” (Nxb Tư tưởng, Moskva, 2001) ta thấy có sự phân tách tư duy thành hai loại hình: 1, Tư duy nghiên cứu, đó là loại hình tư duy định hướng nhận thức đối tượng, thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, kể từ nhận thức thông thường đến nhận thức triết học, khoa học (lý thuyết và thực nghiệm); 2, Tư duy thiết kế - thi công, đó là loại hình tư duy định hướng giải quyết các vấn đề thực tiễn thông qua thiết kế - thi công đề án hoặc kế hoạch hành động Hai loại hình
tư duy này không loại trừ nhau, trái lại có thể bổ sung sang cho nhau
Trang 36Có thể bắt gặp một cách phân đôi khác trong “Bách khoa toàn thư mới” (The New Encyclopedia Vol 11, 5th Edition Printed in USA Under International Copyright Union, 1988) Theo đó thì tuỳ thuộc vào mức độ tác động của các nhân tố bên trong hoặc bên ngoài, tư duy có thể được phân tách ra
thành hai loại hình: 1, Tư duy diễn cảm (Expressive thinking) và 2, Tư duy
Logic (Logical thinking) Tư duy diễn cảm là tư duy dựa trên sức tưởng tượng
và viễn tưởng Còn tư duy logic là tư duy tuân theo các quy luật, quy tắc rõ
ràng Theo một cách diễn đạt khác, người ta cũng thấy có hai loại hình: 1, Tư
duy tự kỷ (Autistic thinking) là tư duy mang tính chủ quan dựa trên xúc cảm cá
nhân và 2, Tư duy thực tế (Realistic thinking) là tư duy mang tính khách quan,
hướng ngoại
Sự phân đôi thường tạo thành cặp đôi mâu thuẫn Do đó cần phải vận dụng
nguyên lý tương đối nói chung và tương đối văn hoá nói riêng để xem xét tương
quan và tương tác giữa hai loại trong mỗi cặp đôi loại hình tư duy Những cặp đôi loại hình tư duy được nhiều người quan tâm và gây tranh cãi về mặt lý luận
và khoa học, đó là: tư duy lý luận (lý thuyết) - tư duy kinh nghiệm (thực nghiệm); tư duy khách quan - tư duy chủ quan; tư duy hiện đại - tư duy truyền thống; tư duy phương Tây - tư duy phương Đông
Theo tinh thần của nguyên lý tương đối văn hoá thì các cặp đôi loại hình tư duy này không chỉ có đặc trưng mâu thuẫn loại trừ nhau (phân cực) mà còn có
cả đặc trưng thống nhất (hợp nhất) theo nghĩa có thể kết nối với nhau, xâm nhập vào nhau, hỗn hợp với nhau
Cũng theo quan điểm thống nhất và mâu thuẫn như thế, trong thời kỳ đổi mới tư duy ở nước ta ngày nay, các cặp đôi loại hình tư duy tranh đấu, đối đầu trong thời kỳ bao cấp đã chuyển sang đối thoại, có cạnh tranh song có hợp tác vì mục tiêu phát triển, tiến bộ văn hoá - văn minh Đó chính là các cặp đôi loại
Trang 37hình tư duy như: tư duy cũ - tư duy mới; tư duy bao cấp (kế hoạch hoá tập trung) - tư duy thị trường (tự do cạnh tranh); tư duy tập thể (xã hội) - tư duy cá thể (cá nhân); tư duy xã hội chủ nghĩa - tư duy tư bản chủ nghĩa
Ngoài sự phân đôi thành các cặp đôi thống nhất, mâu thuẫn, người ta còn phân loại tư duy theo những kiểu cách phức tạp hơn Tuỳ thuộc vào cơ sở phân loại khác nhau người ta có thể xác định các loại hình tư duy khác nhau như sau:
1 Phân loại tư duy theo thành phần hay giai tầng xã hội như: tư duy nông dân, tư duy công nhân, tư duy thị dân, tư duy địa chủ, tư duy tư sản, tư duy tiểu
tư sản…
2 Phân loại tư duy theo thành phần dân tộc như: tư duy Kinh, tư duy Thái,
tư duy Mường, tư duy Tày, tư duy Êđê, tư duy Bana…
3 Phân loại tư duy theo thành phần quốc gia dân tộc như: tư duy Việt Nam, tư duy Trung Hoa, tư duy Ấn Độ, tư duy Nga, tư duy Pháp…
4 Phân loại tư duy theo hình thức ý thức xã hội như: tư duy triết học, tư duy khoa học, tư duy nghệ thuật, tư duy đạo đức, tư duy pháp luật, tư duy tôn giáo…
5 Phân loại tư duy theo lĩnh vực hoạt động như: tư duy chính trị, tư duy kinh tế, tư duy văn hoá, tư duy quân sự, tư duy ngoại giao…
6 Phân loại tư duy theo chức năng hoạt động như: tư duy lãnh đạo, tư duy quản lý, tư duy chỉ huy, tư duy điểu khiển, tư duy chấp hành…
7 Phân loại tư duy theo giai đoạn lịch sử như: tư duy cổ đại, tư duy trung đại, tư duy cận đại, tư duy hiện đại…
Trang 388 Phân loại tư duy theo các hình thái kinh tế - xã hội như: tư duy cộng sản nguyên thủy, tư duy chiếm hữu nô lệ, tư duy phong kiến, tư duy tư bản chủ nghĩa, tư duy xã hội chủ nghĩa…
1.3 Vai trò của tư duy đối với hoạt động của con người
Trong suốt lịch sử phát triển tư tưởng triết học của nhân loại, vấn đề tư duy luôn giữ vị trí đặc biệt quan trọng Các nhà triết học luôn cố tìm kiếm lời giải đáp cho những vấn đề quan trọng như: Tư duy là gì? Nó đóng vai trò gì trong hoạt động, cuộc sống của con người, của nhân loại? Nó có giá trị gì?
Khái niệm tư duy là một trong những khái niệm trung tâm của triết học Các nhà triết học trong suốt quá trình phát triển lịch sử triết học đã rất quan tâm nghiên cứu, xây dựng khái niệm này Vì tư duy là khái niệm cơ bản mang tính chất nền tảng của một hệ thống triết học nhất định, nên cũng như tính đa dạng phong phú của các hệ thống triết học, quan hiệm về tư duy, sự lý giải về tư duy cũng lắm hình, nhiều vẻ cả về mặt thế giới quan, cả về phương diện phương pháp luận Nếu trừu tượng hoá đi sự khác nhau về mặt thế giới quan và phương pháp luận,thì tư duy hiện nay về đại thể được hiểu theo ba nghĩa: 1, theo nghĩa rộng nhất, người ta coi tư duy là cái đối lập với tồn tại Theo nghĩa này về cơ bản tư duy đồng nhất với ý thức; 2, Tư duy được hiểu là quan niệm, cách nhìn nhận của chủ thể về một cái gì đó, những quan niệm này đã được định hình, được lựa chọn và có vai trò chi phối lối sống, và hoạt động của một chủ thể nhất định; 3, Tư duy với tư cách là hoạt động nhận thức của con người nhằm thu nhận được những tri thức mới, sản xuất ra những tri thức mới Làm rõ vai trò của tư duy đối với hoạt động của con người (hoạt động sống, hoạt động nhận thức, hoạt động thực tiễn) được phân tích theo những nghĩa khác nhau đó
Trang 39Nhận thức theo quan điểm duy vật biện chứng đó là sự phản ánh thực tại khách quan, phản ánh sự vật, hiện tượng trong thực tại khách quan bởi con người Đó không phải là sự phản ánh một cách giản đơn, cơ giới, thụ động mà ngược lại là sự phản ánh một cách chủ động, tích cực, sáng tạo Khái quát con
đường biện chứng của sự nhận thức thực tại khách quan, V.I.Lênin viết: “Từ
trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn”6 Hay nói cách khác, nhận thức của con người trải qua hai giai đoạn, nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính Nhận thức cảm tính là kết quả sự cảm nhận của các giác quan con người về đối tượng Nó cung cấp những hiểu biết ban đầu
về đối tượng nhận thức, nó mới là những “biểu hiện hỗn độn” về đối tượng
“biểu hiện hỗn độn về cái toàn bộ” (C.Mác) Kết quả của nhận thức cảm tính (cảm giác, tri giác, biểu tượng) là những dữ kiện cần thiết cho nhận thức lý tính, cho tư duy, nhưng rõ ràng những tri thức cảm tính đó còn rất hạn chế Nhận thức của con người sẽ rất hạn chế nếu chỉ dừng lại ở nhận thức cảm tính, ở những gì “mắt thấy, tai nghe” Quá trình nhận thức của con người tất yếu phát triển lên một giai đoạn, một trình độ nhận thức cao hơn Đó là nhận thức lý tính Kết quả của nhận thức lý tính chính là sự phản ánh hiện thực khách quan, ở trình độ cao thông qua các hình thức khái niệm, phạm trù, quy luật Hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật phản ánh các mối liện hệ và quan hệ bản chất của đối tượng Quá trình đó diễn ra trong chiều sâu trí tuệ với sức mạnh của sự trừu tượng hoá, khái quát hoá của tư duy Tư duy ở đây được hiểu theo nghĩa là
hệ thống các tri thức hoạt động sản sinh ra tri thức Từ những tri thức đã có những tri thức cảm tính thu nhận được từ “trực quan sinh động” những tri thức khoa học đã có hoạt động để sản sinh ra những tri thức mới Kết quả của hoạt động này là sự sáng tạo trong phản ánh, nhưng cũng tiềm ẩn những sai lầm chủ quan Ở đây ngoài năng lực tư duy của chủ thể, việc vận dụng một cách đúng
6 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M.1981, tập 29, tr.179
Trang 40đắn, nhuần nhuyễn, những nguyên tắc, quy luật của sự suy luận và các phương pháp tư duy, phương pháp nhận thức khoa học có một vai trò hết sức quan trọng
Mục tiêu nhận thức khoa học là bản chất, quy luật của sự vật, của thực tại khách quan, tức là phải tái tạo được trong tư duy sự vật dưới dạng tinh thần, dưới dạng cái cụ thể trong tư duy Để đạt được mục tiêu đó nhận thức theo quan điểm duy vật biện chứng, phải đi từ cụ thể (cụ thể khách quan, cụ thể cảm tính) đến trừu tượng, rồi từ trừu tượng đến cụ thể (cụ thể trong tư duy) Đây có thể coi là hai quá trình nhận thức trái ngược nhau, nhưng có quan hệ biện chứng với nhau
Nhận thức đi từ cụ thể (cụ thể khách quan - tức bản thân đối tượng là điểm xuất phát của nhận thức, cụ thể cảm tính - là những biểu tượng về đối tượng, kết quả của nhận thức cảm tính) đến trừu tượng là quá trình trừu tượng hoá Không
có quá trình đó thì không thể phát hiện được bản chất, không thể thâm nhập vào
sự vật Nói về vai trò của sự trừu tượng hoá, đặc biệt trong nhận thức lịch sử -
xã hội, C.Mác viết: “Việc phân tích những hình thức kinh tế không thể dùng kính hiển vi hay những thuốc thử của hoá học được Chỉ có sự trừu tượng hoá là lực lượng duy nhất có thể dùng làm công cụ cho sự phân tích đó thôi”7 Trừu tượng hoá là phản ánh một cách gián tiếp đối tượng thông quan những quy luật riêng có của tư duy như phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá… Kết quả của sự trừu tượng hoá là những cái trừu tượng Đó là những khái niệm, phạm trù, quy luật Những cái trừu tượng này phản ánh một mặt, một thuộc tính, một quan hệ nào đó trong tổng thể phong phú của sự vật dưới dạng
“thuần khiết” So với cái cụ thể, cái trừu tượng phiến diện hơn, nghèo nàn hơn,
7 Dẫn theo Từ điển triết học, Nxb Sự thật, H, 1976, tr.966