CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ Q UẢN LÝ TÀI SẢN TẠI DOANHNGHIỆP NGÀNH XÂY DỰNG 1.1 Khái quát về tài sản tại doanh nghiệp ngành xây dựng 1.1.1 Khái niệm, vai trò và đặc điểm doanh nghiệp ngàn
Trang 1MỤC LỤC
1
Trang 2CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ Q UẢN LÝ TÀI SẢN TẠI DOANH
NGHIỆP NGÀNH XÂY DỰNG 1.1 Khái quát về tài sản tại doanh nghiệp ngành xây dựng
1.1.1 Khái niệm, vai trò và đặc điểm doanh nghiệp ngành xây dựng
1.1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp ngành xây dựng
Doanh nghiệp ngành xây dựng là tổ chức kinh tế, hoạt động trong ngành xâydựng với những mục đích nhất định, thỏa mãn điều kiện của doanh nghiệp (căn cứ vàoluật pháp từng quốc gia như có tên riêng, tài sản, trụ sở giao dịch ổn định, được đăng
ký kinh doanh theo quy định của pháp luật…) Cho đến nay, doanh nghiệp xây dựng
đã phát triển rất đa dạng về hình thức sở hữu (Nhà nước, tư nhân), mô hình tổ chứcquản lý (cá nhân làm chủ, trách nhiệm hữu hạn, hợp danh và cổ phần hoặc công ty đơn
lẻ, tập đoàn), quy mô (lớn, nhỏ, vừa), mục đích hoạt động (lợi nhuận,phi lợi nhuận)…Cùng với sự gia tăng về số lượng và năng lực hoạt động, tầm quan trọng của doanhnghiệp xây dựng trong nền kinh tế quốc dân càng được củng cố
1.1.1.2 Vai trò của doanh nghiệp ngành xây dựng trong nền kinh tế quốc dân
Thứ nhất, doanh nghiệp ngành xây dựng đóng vai trò quyết định tạo nên cơ sở
hạ tầng cho quốc gia, làm nền tảng phát triển cả nền kinh tế Từ những công trình dânsinh đơn giản đến các đường hầm xuyên đại dương đều có sự tham gia trực tiếp củadoanh nghiệp xây dựng Đặc biệt, hơn một thế kỷ trở lại đây, những bước tiến đột phácủa trong ngành khoa học công nghệ ứng dụng đã tạo nên nhiều vật liệu mới, kết cấuxây dựng hiện đại, máy móc tối tân… tạo cơ sở vững chắc, nâng cao năng lực hoạtđộng của các doanh nghiệp xây dựng Hàng loạt giới hạn khẩu độ, độ cao, độ sâu củacông trình bị phá vỡ, cho phép xây dựng ở bất cứ đâu (giữa biển khơi, trong vùng độngđất hoặc trên nền đất yếu
Thứ hai, doanh nghiệp ngành xây dựng đóng góp đáng kể vào tổng thu nhậpquốc nội của mỗi quốc gia Đặc biệt, ngày nay, thị trường xây dựng quốc tế phát triểnrộng lớn đã xóa nhòa ranh giới giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ.Ở Việt Nam, hàng
2
Trang 3năm, số thuế và các khoản khác do doanh nghiệp ngành xây dựng nộp vào ngân sáchNhà nước khoảng 3,64% tổng mức đóng góp của tất cả các doanh nghiệp trong nước.
Bảng 1.1 Thuế và các khoản nộp ngân sách Nhà nước của doanh nghiệp ngànhxây dựng ở Việt Nam
Đơn vị tính: tỷ VNDNăm Thuế và các khoản nộp ngân
sách Nhà nước của doanhnghiệp ngành xây dựng
Tổng thuế và các khoảnnộp ngân sách của doanhnghiệp cả nước
Bảng 1.2 Số lao động làm việc trong các doanh nghiệp ngành xây dựng ở Việt Nam
Đơn vị tính: ngườiNăm Số lao động làm việc trong
doanh nghiệp ngành xây
3
Trang 41.1.1.3 Đặc điểm của doanh nghiệp ngành xây dựng
Khác với doanh nghiệp sản xuất hàng hóa thông thường, doanh nghiệp ngành xâydựng có một số đặc điểm riêng biệt, ảnh hưởng tới hoạt động quản lý tài sản Cụ thể:
* Đặc điểm về sản phẩm
Sản phẩm của doanh nghiệp xây dựng thường có kích thước và trọng lượng lớn,kết cấu phức tạp với yêu cầu khắt khe về kỹ thuật và thẩm mỹ Vì vậy, để tham gia vàotừng hạng mục, doanh nghiệp xây dựng phải có đầy đủ năng lực thi công, quản lý,tránh tính trạng phá bỏ, sửa chữa tình thế, gây tổn thất kinh tế và giảm công năng sửdụng của sản phẩm sau này
Khác với các hàng hóa thông thường có thể sản xuất hàng loạt, sản phẩm xâydựng mang tính đơn chiếc, làm theo đơn đặt hàng và gần như không có sản phẩm
nào giống nhau hoàn toàn Do đó, khi thi công một công trình mới đòi hỏi thựchiện đầy đủ tất cả các công đoạn khảo sát, thiết kế, lựa chọn phương án thi công, tínhtoán giá thành… thay vì sử dụng rập khuôn một phương thức sản xuất nên mất nhiềuthời gian và chi phí
1.1.2 Tài sản tại doanh nghiệp ngành xây dựng
4
Trang 5Để lựa chọn cách tiếp cận phù hợp về tài sản tại doanh nghiệp ngành xây dựng,trước tiên phải tìm hiểu khái niệm và phân loại tài sản tại doanh nghiệp nói chung.
* Tài sản tại doanh nghiệp ngành xây dựng
Cũng như các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế, để tiến hành hoạt động sảnxuất – kinh doanh, doanh nghiệp ngành xây dựng cần có những tài sản nhất định (cókhái niệm và phân loại như đã trình bày ở trên) Trong phạm vi nghiên cứu của luận
án, các tài sản được tập trung quản lý dựa trên hình thái tồn tại
của tài sản, bao gồm Tiền, Phải thu, Hàng tồn kho và TSCĐ HH hữu hình Mỗiloại tài sản trên có những đặc điểm riêng biệt, đòi hỏi nội dung quản lý khác nhau (sẽđược trình bày chi tiết tại phần sau)
Thứ nhất, Tiền, bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng không kỳ hạn,vàng, bạc, kim khí, đá quý và tiền đang chuyển Ngoài ra, các khoản đầu tư ngắn hạn
có thời hạn thu hồi (đáo hạn) không quá 3 tháng, có khả năng chuyển đổi thành tiền dễdàng (như kỳ phiếu ngân hàng, tín phiếu kho bạc) được xem xét tương đương với tiền
Thứ hai, khoản phải thu Khoản mục nay ghi nhận số tiền còn phải thu củakhách hàng và các đối tượng khác có liên quan hoặc tiền ứng trước cho người bánnhưng chưa nhận sản phẩm Trong lĩnh vực xây dựng, khoản phải thu thường xuyênphát sinh do sự chênh lệch giữa doanh thu được ghi nhận theo khối lượng công việcthực tế hoàn thành với số tiền được chủ đầu tư thanh toán trong cùng thời kỳ Điều nàydẫn tới sự thiếu hụt tiền để chi trả Khi khoản phải thu được thu hồi, ngân quỹ củadoanh nghiệp được bổ sung
Thứ ba, hàng tồn kho Mặc dù tên gọi là “Hàng tồn kho” song khoản mục nàybao gồm toàn bộ giá trị của các loại hiện vật dự trữ cho quá trình sản xuất, kinh doanhcủa doanh nghiệp, gồm Hàng mua đi đường, Nguyên liệu, vật liệu, Công cụ, dụng cụ,Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang, Thành phẩm, Hàng hoá, Hàng gửi đi bán, Hànghoá kho bảo thuế (hàng hoá được lưu giữ trong kho chưa phải tính và nộp thuế nhậpkhẩu và các loại thuế liên quan, thường áp dụng cho các doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài) Riêng đối với doanh nghiệp ngành xây dựng, công trình xây dựng khi
5
Trang 6chưa được nghiệm thu, bàn giao cho chủ đầu tư sẽ được ghi nhận dưới hình thức “Chiphí sản xuất, kinh doanh dở dang” hoặc “Thành phẩm” thuộc mục Hàng tồn kho củadoanh nghiệp
Thứ tư, TSCĐ HH hữu hình Đối với các doanh nghiệp ngành xây dựng, đây là
tư liệu lao động chủ yếu, thường bao gồm một số loại sau:
Nhà cửa, vật kiến trúc: là TSCĐ HH của doanh nghiệp được hình thành sauquá trình thi công xây dựng như trụ sở làm việc, nhà kho, hàng rào, tháp nước, sân bãi,các công trình trang trí cho nhà cửa, đường xá, cầu cống…
Máy móc, thiếtbị: là toàn bộ các loại máy móc, thiết bị dùng trong hoạt độngxây lắp của doanh nghiệp như máy móc chuyên dùng, thiết bị công tác, dây chuyềncông nghệ…
Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn: là các loại phương tiện vận tải đường
bộ, đường sắt, đường ống và các thiết bị truyền dẫn như hệ thống thông tin, điện,nước, băng tải…
Thiết bị, dụng cụ quản lý: là những thiết bị, dụng cụ dùng trong công tácquản lý của doanh nghiệp như máy tính, dụng cụ đo lường, kiểm tra chất lượng…
Đồng thời, TSCĐ HH thường xuyên được vận chuyển, tập hợp và sử dụng tạinhiều địa điểm thi công khác nhau Vì vậy, công việc quản lý cần tiến hành chặt chẽ,khoa học, đảm bảo hiệu quả kinh tế của tài sản
1.2 Nội dung quản lý tài sản tại doanh nghiệp ngành xây dựng
Do các loại tài sản có đặc điểm khác nhau nên việc quản lý tài sản cũngđược phân chia thành Quản lý tiền, Quản lý khoản phải thu, Quản lý hàng tồn kho vàQuản lý TSCĐ HH
1.2.1 Quản lý tiền tại doanh nghiệp ngành xây dựng
Sự vận động của dòng tiền được ví như “huyết mạch”, gắn liền với các hoạtđộng của doanh nghiệp Đồng thời, lưu chuyển tiền tệ quyết định sự tồn tại của doanhnghiệp thông qua khả năng đáp ứng các nhu cầu thanh toán Đối với doanh nghiệpngành xây dựng, như đã phân tích ở phần trên, do đặc thù thi công theo từng hạngmục, các dòng tiền không chu chuyển ổn định, phụ thuộc vào tiến độ thi công, điều
6
Trang 7kiện tự nhiên, khả năng xảy ra các sự cố trong quá trình sản xuất Vì những lý do trên,việc quản lý tiền có ý nghĩa vô cùng quan trọng Trên phương diện khoa học, quản lýtiền có thể hiểu rộng hơn là quản lý ngân quỹ (quỹ tiền) của doanh nghiệp, bao gồmcác công việc cụ thể Dự báo dòng tiền, Xác định ngân quỹ tối ưu, Theo dõi và duy trìngân quỹ tối ưu và Đánh giá hiệu quả quản lý ngân quỹ.
1.2.1.1 Dự báo dòng tiền
Lưu chuyển tiền tệ trong một thời kỳ của doanh nghiệp được tạo nên bởi sựvận động và hợp thành của hai dòng tiền vào và ra Trong đó, dòng tiền vào có tácdụng bổ sung ngân quỹ, xuất phát từ các khoản thu từ khách hàng, người đi thuê, nhàđầu tư, đối tác kinh doanh của doanh nghiệp… Dòng tiền ra làm giảm ngân quỹ nhằmđáp ứng nhu cầu thanh toán trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp
Dòng tiền vào ngân quỹ thường được chia làm 3 bộ phận:
- Dòng tiền vào từ hoạt động sản kinh doanh: liên quan trực tiếp tới hoạt độngthi công – xây lắp của doanh nghiệp, phần lớn là tiền thu từ bên A trước, trong và saukhi nghiệm thu công trình, tiền thu nợ của đối tác…
- Dòng tiền vào từ hoạt động đầu tư: gắn liền với việc hình thành các tài sản dàihạn của doanh nghiệp như tiền thu từ hoạt động thanh lý, nhượng bán, cho thuê máymóc, tiền thu lãi cho vay vốn, góp vốn liên doanh liên kết với doanh nghiệp khác, tiềnthu lãi cổ tức, trái tức khi mua chứng khoán của doanh nghiệp khác…
- Dòng tiền vào từ hoạt động tài chính: xuất phát từ các hình thức tài trợ vốncho doanh nghiệp như tiền thu từ vay nợ tổ chức tín dụng và doanh nghiệp khác, từphát hành cổ phiếu, nhận góp vốn theo hợp đồng hợp tác đầu tư hoặc do Nhà nướccấp…
1.2.1.2 Xác định ngân quỹ tối ưu
Trong ngành xây dựng, hoạt động đầu cơ chủ yếu diễn ra dưới hình thức dự trữnguyên vật liệu khi thị trường giảm giá hoặc tỷ giá biến động thuận lợi (đối với nhữngchủng loại phải nhập khẩu), giúp doanh nghiệp gia tăng lợi nhuận, đồng thời tránh tìnhtrạng chi tiêu vượt dự toán hay tổng giá trị đấu thầu Các khoản dự phòng tuy chiếm tỷ
lệ nhỏ hơn nhưng cần thiết để đáp ứng nhu cầu thanh toán trong những tình huống
7
Trang 8không lường trước như xảy ra tai nạn lao động, gặp sự cố sụt/lún/nứt/vỡ công trình, bịcộng đồng dân cư phản đối, khai quật được hiện vật văn hóa
Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, mặc dù nắm giữ tiền có nhiều tác dụng,doanh nghiệp mất đi một lượng vốn để đầu tư vào sản xuất – kinh doanh Chính vì
vậy, để dung hòa giữa nhu cầu thanh toán với sinh lời, nhà quản lý phải xácđịnh mức tồn quỹ phù hợp
1.2.1.3 Theo dõi, duy trì ngân quỹ tối ưu
Để đảm bảo cân bằng giữa khả năng thanh toán và khả năng sinh lời, mức tồnquỹ tối ưu cần được thiết lập Mặc dù các thông số như lãi suất, chi phí giao dịch,phương sai thu chi ngân quỹ đã được dự báo cho dài hạn và ít biến động song vẫn cóthể chịu ảnh hưởng bởi một số sự kiện khó lường trước như ngân hàng Nhà nước thayđổi lãi suất cơ bản, Bộ Tài chính quy định khung phí giao dịch chứng khoán, thiêntai/dịch bệnh ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp
Tuy nhiên, nếu kết quả dự báo dòng tiền không chính xác hoặc xảy ra sự cốbất ngờ buộc doanh nghiệp rút tiền trước hạn, tỷ lệ sinh lời của khoản đầu tư chỉ bằnglãi suất không kỳ hạn (dù thời gian gửi tiền sắp kết thúc) Như thế, quyết định đầu tưkhông còn ý nghĩa, thậm chí gây lãng phí nguồn lực Vì vậy, dù có độ an toàn ổn định,gửi tiết kiệm tại ngân hàng là biện pháp kém chủ động hơn so với hai hình thức nêu trên
.Cho vay: trong các hình thức đầu tư thặng dư ngân quỹ, cho cá nhân, tổ chứckhác vay là hình thức kém linh hoạt nhất Trong quá trình cho vay, doanh nghiệpkhông được thu hồi vốn trước hạn, đồng thời, có thể xảy ra tình trạng con nợ chậm trễthanh toán lãi và gốc vay nên khi phát sinh nhu cầu đột xuất về tiền, khả năng thanhtoán của doanh nghiệp dễ dàng bị ảnh hưởng xấu
Như vậy, tổng kết lại, có nhiều cách khác nhau giúp doanh nghiệp ngànhxây dựng duy trì mức tồn quỹ tối ưu nhằm tối đa hóa hiệu quả kinh tế của tài sản song
mỗi phương án đều cả ưu và nhược điểm Nhà quản lý cần cân nhắc kĩ lưỡng
và dự báo những hệ quả phát sinh từ quyết định xử lý ngân quỹ
8
Trang 91.2.2 Quản lý khoản phải thu tại doanh nghiệp ngành xây dựng
Theo chế độ kế toán hiện hành, doanh thu của hợp đồng xây dựng được ghinhận theo 2 cách tùy thuộc thỏa thuận thanh toán giữa hai bên:
* Nếu doanh nghiệp ngành xây dựng được thanh toán theo tiến độ kế hoạch thicông, doanh thu của hợp đồng xây dựng được ghi nhận tương ứng với phần công việc
đã hoàn thành do doanh nghiệp tự xác định (thỏa mãn các yêu cầu về độ tin cậy) vàongày lập báo cáo tài chính mà không phụ thuộc vào việc lập hóa đơn thanh toán theotiến độ kế hoạch và số tiền ghi trên hóa đơn
* Trường hợp được thanh toán theo giá trị khối lượng thực hiện, khi kết quảthực hiện hợp đồng xây dựng được xác định một cách đáng tin cậy và được chủ đầu tưxác nhận, doanh thu của hợp đồng được ghi nhận tương ứng với phần công việc đãhoàn thành và phản ánh trên hóa đơn đã lập
Như thế, thời điểm để doanh nghiệp ngành xây dựng ghi nhận doanh thu là thờiđiểm hoàn thành hạng mục công trình hoặc bên A lập hóa đơn, không phụ thuộc vàoviệc thanh toán đã diễn ra hay chưa Nên khi hạch toán kế toán, đối ứng với giá trị tăngthêm của khoản mục doanh thu là phát sinh tăng tài khoản “Tiền” hoặc “Phải thukhách hàng” Ngoài ra, trong thực thế, chủ đầu tư có thể chậm trễ trả tiền so với thỏathuận ban đầu nên đối với doanh nghiệp xây dựng, các khoản “Phải thu” thường xuyênphát sinh thay cho dòng tiền nhập quỹ
Vì vậy, để doanh nghiệp được thanh toán đầy đủ, đúng hạn, phù hợp với tiến độthi công, giảm bớt áp lực căng thẳng về vốn, quản lý các khoản phải thu kết hợp vớiquản lý tiền (đã trình bày ở trên) có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
Nội dung chính của hoạt động này bao gồm: Lựa chọn chủ đầu tư, thỏa thuậnhình thức thanh toán; Theo dõi/thu hồi công nợ và Đánh giá hiệu quả quản lý khoảnphải thu
1.2.3 Quản lý hàng tồn kho tại doanh nghiệp ngành xây dựng
9
Trang 10Mặc dù có tên gọi là “Hàng tồn kho” nhưng khoản mục này bao gồm nhiều loạiHàng mua đi đường, Nguyên liệu, vật liệu, Công cụ, dụng cụ, Chi phí sản xuất, kinhdoanh dở dang, Thành phẩm, Hàng hoá, Hàng gửi đi bán, Hàng hoá kho bảo thuế…
Về bản chất, đây là toàn bộ những vật phẩm được lưu giữ trong kho để sử dụng vàothời điểm thích hợp trong tương lai, nên còn được gọi chung là “Dự trữ” (inventories).Đối với doanh nghiệp ngành xây dựng, thành phẩm là công trình nên hàng tồn khothực chất là nguyên nhiên vật liệu và công cụ, dụng cụ phục vụ việc xây lắp (gọichung là nguyên vật liệu) và giá trị công trình xây dựng dở dang
1.2.4 Quản lý tài sản cố định hữu hình tại doanh nghiệp ngành xây dựng
Nhiều nhà quản lý cho rằng TSCĐ HH chỉ được quản lý khi đã xuất hiện songnếu đưa ra quyết đầu tư TSCĐ HH sai lầm, mọi công việc quản lý sau này không còn
ý nghĩa, đặc biệt đối với những đơn vị sử dụng nhiều máy móc, thiết bị như doanhnghiệp xây dựng TSCĐ HH được quản lý chặt chẽ sẽ đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhữngyêu cầu trong sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời, thu hồi (hay bảotoàn) được giá trị TSCĐ HH tạo cơ sở đổi mới công nghệ
Chính vì vậy, về lý thuyết, quản lý TSCĐ HH của doanh nghiệp xây dựng làmột quá trình phức tạp, bao gồm nhiều công việc cụ thể:
- Quyết định đầu tư TSCĐ HH: Xác định tài sản cần đầu tư; Lựa chọncách thức hình thành tài sản; Đánh giá hiệu quả tài chính của quyết định đầu tư
- Giám sát sử dụng TSCĐ HH: Tiếp nhận, lắp đặt, vận hành TSCĐ HH;Lập sổ theo dõi, kiểm kê tài sản; Bảo quản, sửa chữa TSCĐ HH
- Đánh giá hiệu quả sử dụng TSCĐ HH; Định giá, khấu hao TSCĐ HH
10
Trang 11Đồng thời, mặc dù doanh nghiệp xây dựng có nhiều loại TSCĐ HH khác nhaunhư nhà cửa, kho bãi, máy móc, phương tiện vận tải, lợi thế thương mại… song đốitượng chính được xem xét trong luận án là các máy móc, thiết bị sử dụng để xây dựng,lắp đặt công trình.
1.3 Chỉ tiêu đánh giá kết quả quản lý tài sản tại doanh nghiệp ngành xây dựng
Quản lý tài sản là một công việc phức tạp, được thực hiện bởi nhiều bộ phậnquản lý Do đó, đánh giá mức độ thành công của hoạt động này cũng không dễ dàng.Mỗi loại tài sản được quản lý chặt chẽ, khoa học sẽ trực tiếp làm thay đổi một số chỉtiêu tài chính và từ đó, thay đổi kết quả kinh doanh cũng như nguy cơ phá sản củadoanh nghiệp Chính vì vậy, dựa vào sự thay đổi tích cực các chỉ tiêu này, nhà quản lýđánh giá kết quả của hoạt động quản lý tài sản
1.3.1 Chỉ tiêu đánh giá kết quả quản lý tiền
Như đã phân tích ở trên, trọng tâm của hoạt động quản lý tiền là đảm bảo số dưngân quỹ tối ưu Nếu M* được xác định chính xác và duy trì liên tục thông qua cácnghiệp vụ phù hợp, cơ cấu và quy mô của tài sản ngắn hạn, nợ ngắn hạn được điềuchỉnh hợp lý, làm gia tăng khả năng thanh toán và vòng quay tiền Đồng thời, kết quảkinh doanh (doanh thu, lợi nhuận) được thay đổi tích cực nên hệ số sinh lời
tài sản ngắn hạn tăng lên
Tài sản ngắn hạn
Khả năng thanh toán ngắn hạn = - (2.25) Nợ ngắn hạn
Vòng quay tiền cho biết số lần tiền được đưa vào sử dụng để tạo nên doanh thucho doanh nghiệp Tuy nhiên, trong thực tế, dòng tiền vào/ra xuất hiện liên tục vàkhông ổn định nên chỉ tiêu này chỉ phản ánh giá trị bình quân Vòng quay tiền càngcao chứng tỏ tiền được dùng càng nhiều lần trong một kỳ hay doanh nghiệp tối
đa hóa hiệu quả sử dụng của tiền
Doanh thu trong kỳ
Vòng quay tiền trong kỳ = - (2.26) Tiền bình quân trong kỳ
1.3.2 Chỉ tiêu đánh giá kết quả quản lý khoản phải thu
11
Trang 12Không giống doanh nghiệp sản xuất – kinh doanh thông thường, sử dụng chínhsách bán chịu như một công cụ để gia tăng năng lực tiêu thụ sản phẩm nên phải sửdụng chỉ tiêu NPV để so sánh giữa doanh thu tăng thêm với các chi phí phát sinh khibán chịu Các doanh nghiệp ngành xây dựng trúng thầu (bán được sản phẩm) dựa vàophương án xây lắp và giá bỏ thầu Nếu thắng thầu, doanh nghiệp tự ứng trước mộtphần kinh phí để thực hiện dự án, khi bàn giao công trình mới thu hồi từ chủ đầu tư.Chính vì vậy, đối với doanh nghiệp ngành xây dựng, các chỉ tiêu phản ánh quy mô vàthời gian thu hồi công nợ càng thấp càng tốt.
Khoản phải thu bình quân trong kỳ
Kỳ thu tiền bình quân = - (2.27)
Doanh thu bán chịu bình quân 1 ngày
Khi ứng trước tiền để trang trải các chi phí thực hiện dự án, nhà quản lý doanhnghiệp ngành xây dựng phải tính toán xác suất xảy ra biến cố chủ đầu tư không thanhtoán (chủ yếu do chủ đầu tư phá sản, bỏ trốn, mất tích… hoặc có những sự kiện đặcbiệt như chiến tranh, thay đổi hoàn toàn quy hoạch xây dựng…)
Tuy tỷ lệ này rất nhỏ nhưng do giá trị công trình lớn nên nhà quản lý cần theodõi thường xuyên, chặt chẽ tình hình tài chính của chủ đầu tư để giảm tỷ lệ nợ khôngthu hồi được trên tổng doanh thu bán chịu xuống mức thấp nhất
1.3.3 Chỉ tiêu đánh giá kết quả quản lý hàng tồn kho
Khi nhà quản lý xác định mức đặt hàng hiệu quả Q*, từ đó duy trì lượng hàngtồn kho hợp lý, bộ phận quản lý hàng tồn kho sẽ đáp ứng được đầy đủ, kịp thời nhucầu xây lắp của doanh nghiệp với mức chi phí thỏa đáng Hệ quả là hàng
tồn kho quay vòng nhanh hơn, số ngày tồn kho, chu kỳ luân chuyển tiền rút ngắn
12
Trang 14Chỉ tiêu này phản ánh khả năng quay vòng hàng tồn kho, tương đương với sốchu kỳ sản xuất trong năm của doanh nghiệp Thông qua giá trị này có thể thấy mức
độ khai thác (tận dụng) nguyên vật liệu/hàng hóa để tạo nên sản phẩm, thông qua tiêuthụ sản phẩm có được doanh thu và lợi nhuận
Chỉ tiêu này phản ánh kết quả của một loạt công việc trong quá trình quản lýhàng tồn kho Nguyên vật liệu dự trữ không đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu sử dụngtrong thực tế (thừa hoặc thiếu) có thể do một số nguyên nhân như không dự báo đúngnhu cầu sử dụng nguyên vật liệu; Tính toán sai lượng đặt hàng tối ưu nên quyết địnhnhập hàng (nhiều hoặc ít hơn nhu cầu thực); Hàng hóa không được bảo quản tốt vàtheo dõi chặt chẽ, dẫn tới mất mát, hao hụt, hết hạn sử dụng, tiến hành đặt hàng khôngđúng lúc… khiến hoạt động sản xuất – kinh doanh bị gián đoạn, giảm tính chủ độngtrong đầu tư và khả năng trúng thầu Trên thực tế, rất khó để duy trì tỷ lệ này bằng 0song cần nỗ lực để đạt mức thấp nhấp
1.3.4 Chỉ tiêu đánh giá kết quả quản lý TSLĐ
Như đã trình bày trong phần phân loại tài sản tại doanh nghiệp (mục 2.1.2),TSLĐ bao gồm 3 loại chính là Tiền, Phải thu và Hàng tồn kho Mỗi loại tài sản đóđược quản lý chặt chẽ, khoa học sẽ góp phần nâng cao kết quả quản lý TSLĐ nói
chung tại doanh nghiệp
Trang 15Chỉ tiêu này thể hiện từ 1 đồng TSLĐ (bao gồm Tiền, Phải thu và Hàng tồn khovới tỷ trọng khác nhau), sau 1 kỳ sử dụng đem lại cho doanh nghiệp bao nhiêu đồngdoanh thu (hoặc doanh thu thuần) Tùy thuộc đặc thù về cơ cấu tài sản, đặc điểm hoạtđộng sản xuất – kinh doanh, điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp, có thể quản lýtừng loại TSLĐ đạt kết quả khác nhau nhưng hướng tới mục tiêu kết quả quản lýTSLĐ nói chung cao nhất.
1.3.5 Chỉ tiêu đánh giá kết quả quản lý TSCĐ HH
Nếu TSCĐ HH được lựa chọn phù hợp với nhu cầu sử dụng, hình thành bằngcách thức đạt hiệu quả kinh tế cao, vận hành đúng kỹ thuật, định giá và khấu haochính xác, thay thế/thanh lý đúng lúc… có thể khẳng định TSCĐ HH đã được quản lýđạt mục tiêu Từ đó, hiệu suất công suất càng gần 1, hiệu suất sử dụng và hệ số
sinh lời TSCĐ HH đều tăng cao
Hiệu suất công suất
của TSCĐ HH
Công suất thực tế của TSCĐ HH (1.37)
Công suất thiết kế của TSCĐ HH
Trang 16phương diện kỹ thuật, để đánh giá mức độ khai thác TSCĐ HH, nhà quản lý thường dùngchỉ tiêu hiệu suất công suất của TSCĐ HH, cho biết công suất thực tế của TSCĐ HH bằng baonhiêu phần trăm công suất thiết kế Chỉ tiêu này càng gần 1 chứng tỏ doanh nghiệp đã khai tháchiệu quả tính năng kỹ thuật của tài sản.
Tuy nhiên, đối với ngành đặc thù như xây dựng, hoạt động sản xuất – kinh doanh phụthuộc vào điều kiện tự nhiên, yêu cầu kỹ thuật của từng hạng mục công trình nên khai thác 100%công suất sử dụng máy móc là điều khó thực hiện Nhà
quản lý có thể khắc phục bằng cách cho những đơn vị khác trong ngành thuê lại
1.3.6 Chỉ tiêu đánh giá kết quả quản lý tổng tài sản
Ngoài các chỉ tiêu đánh giá riêng lẻ quản lý tài sản từng loại tài sản, có thể sửdụng 2 chỉ tiêu để đánh giá quản lý tổng tài sản tại doanh nghiệp ngành xây dựng
Hệ số sinh lời tổng tài sản
trong một kỳ (ROA)
Lợi nhuận sau thuế cộng lãi vay (1.41)
= Tổng tài sản sử dụng bình quân trong một kỳ
Trang 17Chỉ tiêu này phản ánh lãi của chủ nợ và chủ sở hữu thông qua việc đầu tưvàkhai thác tổng tài sản của doanh nghiệp.
Với cách tính này, ROA thể hiện mối tương quan giữa số lợi nhuận của chủ sởhữu đạt được với tổng tài sản đã được đưa vào sản xuất – kinh doanh trong kỳ.KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Như vậy, qua chương 1, có thể khẳng định quản lý tài sản tại doanh nghiệp ngànhxây dựng là công việc phức tạp, được tiến hành ngay từ lúc có nhu cầu về tài sản đếnkhi tài sản đó bị loại khỏi quá trình sản xuất – kinh doanh, hướng đến mục tiêu cuốicùng là tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu doanh nghiệp Có 4 loại tài sản chínhcần quản lý trong doanh nghiệp ngành xây dựng là Tiền, Phải thu, Hàng tồn kho vàTSCĐ HH Dựa trên nội dung quản lý tài sản đã trình bày chi tiết trong chương 2, nhàquản lý doanh nghiệp ngành xây dựng có thể điều chỉnh phù hợp với đặc điểm riêngcủa đơn vị để áp dụng vào thực tiễn
Đánh giá việc quản lý tài sản tại doanh nghiệp ngành xây dựng thường dựa trênviệc xem xét một cách riêng biệt giá trị của các tỷ số tài chính như khả năng thanhtoán ngắn hạn, kỳ thu tiền bình quân, vòng quay hàng tồn kho, hiệu suất sử dụngTSCĐ HH hoặc hiệu suất sử dụng tổng tài sản, hệ số sinh lời tổng tài sản
Trang 18CHƯƠNG 2 :THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI SẢN TẠI CÁC CÔNG TY CỔ
PHẦN SÔNG ĐÀ THĂNG LONG 2.1 giới thiệu sơ lược CÔNG TY CỔ PHẦN SÔNG ĐÀ THĂNG LONG (HAX : STL)
- Tên tiếng Việt: CÔNG TY CỔ PHẦN SÔNG ĐÀ - THĂNG LONG
- Tên giao dịch quốc tế: SONG DA - THANG LONG JOINT STOCKSCOMPANY
- Tên viết tắt: Song Da - Thang Long., JSC
- Vốn điều lệ: 150.000.000.000 VNĐ
(Một trăm năm mươi tỷ đồng VN)
- Mã số thuế : 0102093571
- Địa chỉ: Khu đô thị mới Văn Khê - Phường La Khê - Hà Đông - Hà Nội
- Điện thoại: 04 2 247 0783 Fax: 04 3 355 2978
Kể từ thời điểm thành lập tháng 12/2006, Công ty CP Sông Đà Thăng Long(SĐTL) đã nhanh chóng ghi dấu trên thị trường bất động sản và thi công, xây lắp tạiViệt Nam với Dự án KĐT Văn Khê, đặc biệt là tổ hợp chung cư đẳng cấp Usilk City
Đến nay, các dự án bất động sản của SĐTL đã rất đa dạng, bao gồm các khu đôthị, khu nhà ở; khách sạn; khu thương mại văn phòng và khu công nghiệp tại hầu khắpcác thành phố lớn của Việt Nam như Hà Nội, Hòa Bình, Huế, Nha Trang, Đà Lạt, TP
Hồ Chí Minh…
Sở hữu hệ thống máy móc, thiết bị thi công hiện đại bậc nhất của Việt Nam cóxuất xứ từ Đức, Bỉ, Italia, Nhật, Hàn Quốc; cùng đội ngũ tư vấn, giám sát, kỹ sư vàcông nhân thi công xây lắp chuyên nghiệp tạo nên năng lực vượt trội của SĐTL Công
ty đã được lựa chọn là nhà thầu thi công nhiều công trình dân dụng, công nghiệp vàgiao thông quan trọng như: Trụ sở mới bộ ngoại giao, Tòa nhà Phong Phú Plaza-Huế,
Dự án đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai; Cầu Trần Thị Lý - Nguyễn Văn Trỗi - ĐàNẵng; Nhà máy Xi măng tại Tỉnh Thừa Thiên Huế…
Cùng với các công trình xây dựng, nhà máy thép, nhà máy sản xuất cửa nhựa,nhà máy sản xuất đồ nội thất…hay các công ty quản lý dịch vụ mang thương hiệu củaSông Đà Thăng Long cũng đã xuất hiện như một minh chứng cho sự phát triển cả về