Như chỉ số khối lượng sản phẩm là chỉ tiêu có tính chất tổng hợp, biểuhiện biến động của một tổng thể sản phẩm công nghiệp bao gồm nhiều loại khác nhau.Còn chỉ số năng suất lao động lại
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
PHẦN I TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP CHỈ SỐ TRONG THỐNG KÊ 2
I Khái niệm, ý nghĩa, phân loại chỉ số 2
1.Khái niệm: 2
2 Đặc điểm của phương pháp chỉ số: 2
3 Tác dụng của chỉ số: 3
4 Các loại chỉ số: 4
II Phương pháp tính chỉ số: 5
1.Chỉ số đơn: 5
2 Chỉ số tổng hợp: 5
3.Chỉ số không gian: 14
III Hệ thống chỉ số: 14
1.Khái niệm và cấu thành của hệ thống chỉ số: 14
2.Phương pháp xây dựng hệ thống chỉ số: 15
3.Vận dụng phương pháp chỉ số để phân tích biến động của chỉ tiêu bình quân và tổng lượng biến tiêu thức 17
PHẦN II VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP CHỈ SỐ TRONG PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI BIẾN ĐỘNG HIỆU QUẢ KINH TẾ NỀN SẢN XUẤT XÃ HỘI 20
I.Bản chất hiệu quả kinh tế nền sản xuất xã hội 20
II Chọn chỉ tiêu kết quả kinh tế để xác định hiệu quả kinh tế nguồn lực của nền sản xuất xã hội 21
III.Năng suất lao động bình quân một lao động 21
IV.Hiệu suất sử dụng tài sản cố định 22
V.Phương pháp phân tích thống kê hiệu quả kinh tế nền sản xuất xã hội 23
VI Vận dụng cụ thể: 23
KẾT LUẬN 31
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
Các hiện tượng kinh tế xã hội tồn tại trong những điều kiện thời gian và địa điểmnhất định Mỗi đặc điểm cơ bản của hiện tượng có thể được biểu hiện bằng các mức độkhác nhau Nghiên cứu các mức độ của hiện tượng kinh tế – xã hội là một trong nhữngvấn đề quan trọng của phân tích thống kê, nhằm biểu hiện mặt lượng trong mối quan
hệ mật thiết với mặt chất của hiện tượng nghiên cứu trong điều kiện thời gian và địađiểm cụ thể Thống kê dùng các phương pháp của mình để biểu hiện các mức độ đó Mức độ đầu tiên được biểu hiện trong thống kê là số tuyện đối, số tuyệt đối thuđược trực tiếp sau điều tra và tổng hợp tài liệu, trên cơ sở các số tuyệt đối có thể tính
số tương đối Số tương đối trong thống kê biểu hiện quan hệ so sánh giữa hai mức độcủa hiện tượng nghiên cứu, nó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Trong khi các số tuyệtđối chỉ khái quát được về quy mô khối lượng của hiện tượng thì số tương đối cho phépphân tích đặc điểm của hiện tượng, nghiên cứu các hiện tượng trong mối quan hệ sosánh với nhau
Và chỉ số trong thống kê là phương pháp biểu hiện quan hệ so sánh giữa hai mực
độ của một hiện tượng kinh tế một cách đầy đủ nhất Để hiểu rõ hơn về phương pháp
chỉ số và sự vận dụng của nó trong thực tế nhóm 12 sẽ thảo luận về đề tài : “Phương pháp chỉ số trong thống kê, vận dụng phương pháp chỉ số trong phân tích các nhân
tố ảnh hưởng tới biến động kinh tế xã hội” cụ thể là hiện tượng hiệu quả kinh tế nền sản xuất xã hội Đề tài này đi sâu nghiên cứu về phương pháp chỉ số và phân tích
biến động của các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế nền sản xuất xã hội thông qua các hệ thốngchỉ số có thể
Trang 3NỘI DUNG
PHẦN I TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP CHỈ SỐ TRONG THỐNG KÊ
I Khái niệm, ý nghĩa, phân loại chỉ số
1.Khái niệm:
Trong thống kê chỉ số là một số tương đối biểu hiện mối quan hệ so sánh giữa hai
mức độ của một hiện tượng kinh tế
Chỉ số được tính bằng cách so sánh hai mức độ của hiện tượng ở hai thời gian khácnhau nhằm nêu lên biến động của hiện tượng theo thời gian Chỉ số nay được biểu hiệnbằng số tương đối giống như số tương đối động thái Trong những mục đích so sánhkhác, các chỉ số tính được cũng là số tương đối, có thể là số tương đối kế hoạch, sốtương đối so sánh
Như vậy, trong thống kê khái niệm chỉ số tương đối rộng rãi, nó là phương phápbiểu hiện các quan hệ so sánh khác nhau Trong thực tế, đối tượng chủ yếu của phươngpháp chỉ số thường là các hiện tượng kinh tế phức tạp, bao gồm nhiều đơn vị, nhiềuphần tử có tính chất khác nhau (khác nhau về tên gọi, về giá trị sử dụng, về đơn vịtính…) Muốn so sánh các mức độ của hiện tượng kinh tế phức tạp này, ta thường phảitìm cách trước hết biến đổi các đơn vị hoặc phần tử có tính chất khác nhau trở thànhmột dạng đồng nhất
2 Đặc điểm của phương pháp chỉ số:
Xuất phát từ yêu cầu so sánh các mức độ của hiện tượng kinh tế phức tạp, phươngpháp chỉ số có đặc điểm là khi muốn so sánh các mức độ của hiện tượng kinh tế phứctạp, trước hết phải chuyển các đơn vị hoặc phần tử có tính chất khác nhau thành dạnggiống nhau để có thể trực tiếp cộng chúng lại với nhau Như khối lượng các sản phẩmtrong một xí nghiệp thường phức tạp, do có các đơn vị không thể trực tiếp cộng đượcvới nhau Chúng có thể được chuyển về dạng giống nhau, ví dụ về dạng giá trị Nhưvậy, sau khi chuyển các sản phẩm khác nhau sang giá trị, ta dễ dàng so sánh hai chỉtiêu giá trị để tính ra chỉ số giá trị tổng sản lượng công nghiệp
Mặt khác, phương pháp chỉ số có đặc điểm nữa là: Khi có nhiều nhân tố cùng thamgia vào việc tính toán số, phải giả định chỉ có một nhân tố thay đổi, còn các nhân tốkhác không thay đổi Như khi tính chỉ số tổng sản lượng công nghiệp, có hai nhân tốtham gia vào quá trình tính toán, đó là: sản lượng và giá cả Lúc này, ta phải giả định
Trang 4giá cả không thay đổi, có nghĩa là sản lượng của hai kỳ so sánh đều tính theo một giánào đó (giá kỳ gốc, giá kỳ nghiên cứu, giá cố định…) Việc giả định như vậy tạo khảnăng loại trừ ảnh hưởng biến động của nhân tố không nghiên cứu đối với kết quả sosánh.
Biểu hiện biến động của hiện tượng qua những điều kiện không gian khác nhau:giữa hai xí nghiệp, giữa hai địa phương…Các chỉ số loại này thường được gọi là chỉ sốkhông gian hoặc chỉ số địa phương
Biểu hiện các nhiệm vụ kế hoạch hoặc tình hình hoàn thành kế hoạch về các chỉ tiêukinh tế Các chỉ số này thường được gọi là chỉ số kế hoạch
Phân tích vai trò và ảnh hưởng biến động của từng nhân tố đối với biến động củatoàn bộ hiện tượng kinh tế phức tạp Thực chất đây cũng là việc phân tích mối liên hệ,nhằm nêu lên các nguyên nhân quyết định sự biến động của hiện tượng phức tạp, tínhtoán cụ thể ảnh hưởng của mỗi nguyên nhân này
Qua các tác dụng nói trên ta thấy chỉ số là một phương pháp không những có khảnăng nêu lên biến động tổng hợp của hiện tượng phức tạp, mà còn có thể phân tích sựbiến động này Như chỉ số khối lượng sản phẩm là chỉ tiêu có tính chất tổng hợp, biểuhiện biến động của một tổng thể sản phẩm công nghiệp bao gồm nhiều loại khác nhau.Còn chỉ số năng suất lao động lại là chỉ tiêu có tính chất phân tích sự biến động củamột trong các nhân tố quyết định biến động sản phẩm Có chỉ số lại bao gồm được cảhai tính chất tổng hợp và phân tích: như chỉ số giá cả của toàn bộ hay từng nhóm hàng
là chỉ tiêu có tính chất tổng hợp( khác với chỉ số giá cả của từng mặt hàng riêng biệt),chỉ số này còn có ý nghĩa phân tích vì nó phản ánh biến động của riêng nhân tố giá cảtrong mức tiêu thụ hàng hoá chung
Trang 54 Các loại chỉ số:
Các chỉ số trong thống kê được chia thành nhiều loại, tuỳ theo mục đích ngiên cứu:
Căn cứ theo phạm vi tính toán thường phân biệt hai loại chỉ số:
Chỉ số đơn: nói lên biến động của từng phần tử, từng đơn vị cá biệt của hiện tượng
phức tạp Ví dụ: chỉ số giá cả tưng mặt hàng, chỉ số khối lượng của từng sản phẩm.Chỉ số đơn có tác dụng quan trọng đối với việc nghiên cứu sự phát triển của những sảnphẩm chủ yếu trong nền kinh tế quốc dân Chỉ số này còn có thể được dùng làm cơ sở
để tính các chỉ số chung
Chỉ số tổng hợp: nói lên biến động của tất cả các đơn vị, các phần tử của hiện tượng
phức tạp Ví dụ: chỉ số giá cả của toàn bộ các mặt hàng bản lẻ tại một thị trường, chỉ
số khối lượng toàn bộ các sản phẩm của một xí nghiệp Chỉ số chung được dùng nhiềunhất trong phân tích thống kê Người ta còn có thể dùng khái niệm chỉ số chung để nêulên biến động của từng tổ, nhóm đơn vị của hiện tượng phức tạp
Căn cứ vào tính chất của chỉ tiêu nghiên cứu, thường phân biệt hai loại chỉ số: Chỉ số chỉ tiêu chất lượng: được thiết lập đối với chỉ tiêu chất lượng là chỉ tiêu biểu
hiện quan hệ so sánh, mức độ phổ biến, mối liên hệ của hiện tượng nghiên cứu như:giá cả, giá thành, năng suất lao động, năng suất thu hoạch, tiền lương…
Chỉ số chỉ tiêu số lượng: được thiết lập đối với chỉ tiêu số lượng là chỉ tiêu biểu hiện
quy mô, số lượng của hiện tượng nghiên cứu như : sản lượng, lượng hàng hoá tiêu thụ,diện tích gieo trồng, số lượng công nhân viên…
Việc phân biệt hai loại chỉ số chỉ tiêu chất lượng và chỉ số chỉ tiêu khối lượng giúp
cho việc xác định công thức chỉ số của những nhóm chỉ tiêu gần giống nhau về tínhchất Nhưng chú ý rằng việc phân biệt hai loại chỉ số này cũng chỉ có tính chất quyước, bao gồm một số chỉ tiêu kinh tế thường dùng nhất
Căn cứ vào phương pháp tính toán chia thành:
Chỉ số tổng hợp: được vận dụng để tính chỉ số chung trên cơ sở xác định tổng các
mức độ của từng đơn vị phần tử trong tổng thể như: chỉ số khối lượng sản phẩm côngnghiệp, chỉ số giá tiêu dùng…
Chỉ số bình quân: được vận dụng để tính chỉ số chung từ các chỉ số đơn theo công
thức số bình quân
Trang 6Căn cứ vào việc thiết lập quan hệ so sánh theo thời gian hay không gian chia thành:
Chỉ số phát triển: là chỉ số biểu hiện quan hệ so sánh theo thời gian như: chỉ số giá
tiêu dùng qua hai năm…
Chỉ số không gian: là chỉ số biểu hiện quan hệ so sánh theo không gian như: chỉ số
giá vàng thị trường Việt Nam so với thị trường thế giới…
II Phương pháp tính chỉ số:
1.Chỉ số đơn:
- Chỉ số đơn về giá: biểu hiện quan hệ so sánh giữa mức giá của từng mặt hàng ở hai
thời gian khác nhau
ip = Trong đó : ip- Chỉ số đơn về giá
p1- giá bán lẻ từng mặt hàng kỳ nghiên cứu
p0 - giá bán lẻ từng mặt hàng kỳ gốc
Phản ánh biến động giá từng mặt hàng trên thị trường
-Chỉ số đơn về lượng hàng hoá tiêu thụ: biểu hiện quan hệ so sánh giữa khối lượng
tiêu thụ của từng mặt hàng ở hai thời gian
iq = Trong đó: iq- chỉ số cá thể về lượng hàng hoá
q1- lượng hàng hoá tiêu thụ kỳ nghiên cứu
q0 - lượng hàng hoá tiêu thụ kỳ gốc
2 Chỉ số tổng hợp:
Chỉ số tổng hợp về giá cả : ở đây trước hết phải giải quyết vấn đề tổng hợp giá cả các
mặt hàng ở hai kỳ.Ta không thể tổng hợp đơn thuần, nghĩa là cộng giá đơn vị mỗi mặthàng ở kỳ nghiên cứu và kỳ gốc Cách tính này bỏ qua tình hình tiêu thụ thực tế vềlượng hàng của mỗi loại có tầm quan trọng khác nhau Cách tổng hợp đúng nhất làphải nhân giá cả mỗi mặt hàng với lượng tiêu thụ tương ứng, sau đó mới đem so sánhgiữa hai kỳ
Do đó có công thức:
Ip =
Trang 7Trong đó: Ip – chỉ số chung về giá cả
p1 và p0 – giá cả mỗi mặt hàng kỳ nghiên cứu và kỳ gốc
q – lượng tiêu thụ mỗi mặt hàng
Trong công thức trên, lượng tiêu thụ mỗi mặt hàng (q) đã tham gia vào công thức tínhchỉ số giá cả, nói lên tầm quan trọng của từng mặt hàng trong sự biến động chung củagiá cả Lượng hàng hoá tiêu thụ (q) có vai trò là quyền số của chỉ số giá cả Mặt khác,muốn nghiên cứu biến động chỉ của nhân tố giá cả, thì giá cả của cả hai kỳ cùng đượctính với cùng một lượng hàng hoá tiêu thụ, nghĩa là cố định ở một kỳ nào đó, trong cả
tử và mẫu của công thức
Tuỳ theo mục đích nghiên cứu mà quyền số của chỉ số giá cả có thể chọn kỳ gốc (q0),hoặc kỳ nghiên cứu (q1), mỗi loại quyền số mang lại cho chỉ số một ý nghĩa khác nhautính chỉ số chung về giá cả, cụ thể là:
* Chỉ số tổng hợp giá cả Laspeyres:
Theo Laspeyres, khi tính chỉ số tổng hợp giá cả, trọng số được chọn là lượng
hàng hoá tiêu thụ ở kỳ gốc Ta có công thức chỉ số tổng hợp giá cả của Laspeyres:
IpL = Trong đó: ∑p1q0- tổng hợp giá của kỳ nghiên cứu nhưng theo giả định khối lượng tiêuthụ của kỳ gốc
∑p0q0- tổng giá bán mặt hàng tiêu thụ thực tế kỳ gốc
Trước đây hay dùng công thức Laspeyres để tính chỉ số tổng hợp giá vì nó khôngđòi hỏi phải tính ngay ∑p1q1 và thường q0 lóc nào cũng có sẵn, đồng thời loại trừ hoàntoàn ảnh hưởng biến động của khối lượng tiêu thụ Tuy nhiên, phương pháp Laspeyres
có nhược điểm là không phản ánh cập nhật được những sự thay đổi về khuynh hướngthãi quen của người tiêu dùng Một số mặt hàng nào đó nhiều năm trước đây đượcngười tiêu dùng ưa chuông và tiêu dùng với số lượng lớn, nhưng ngày nay có thểkhông còn quan trọng đối với họ Điều này làm cho chỉ số giá tính theo Laspeyreskhông còn thích hợp
* Chỉ số tổng hợp giá cả Paasche:
Theo Paasche, khi tính chỉ số tổng hợp giá cả trọng số được chọn là lượng hànghoá tiêu thụ ở kỳ nghiên cứu
Trang 8Ta có công thức chỉ số tổng hợp giá cả của Paasche:
IpP = Trong đó:
∑p1q1 – phản ánh ý nghĩa thực tế, mức tiêu thụ (tổng giá bán) thực tế các mặt hàng kỳnghiên cứu
∑p0q1 – phản ánh ý nghĩa giả định, tổng hợp giá bán kỳ nghiên cứu với kỳ gốc
Chỉ số tổng hợp giá cả Paasche đòi hỏi dữ liệu cập nhật, tuy nhiên cách tính chỉ sốgiá Paasche đã khắc phục được nhược điểm của phương pháp Laspeyres
Hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, việc thu thập và tổnghợp quyền số q1 dễ dàng hơn, nên người ta ưa dùng chỉ số Paasche
Trong thực tế chỉ số giá của Paasche có thể biến đổi như sau:
Ip = = = Chỉ số trên được gọi là chỉ số trung bình điều hoà vì có dạng giống số trung bìnhđiều hoà
Nếu đặt:
d1 =
Từ công thức trên ta viết lại được:
Ip = Trong đó: Ip là các chỉ số cá thể về giá của các mặt hàng
Chỉ số giá của Laspeyres cũng có thể biến đổi như sau:
*Chỉ số tổng hợp giá cả theo công thức bình quân với trọng số:
Trang 9Được áp dụng trong điều kiện dữ liệu không cập nhật trực tiếp về doanh thu cácmặt hàng trong đó yếu tố trọng số được sử dụng thể hiện sự khác biệt về tầm quantrọng của từng mặt hàng, nhóm mặt hàng.
Ip = Trong đó: m là trọng số tương ứng với từng mặt hàng Trọng số càng lớn, vai tròcủa mặt hàng đó càng quan trọng, sự biến động về giá của mặt hàng đó sẽ đóng gópnhiều vào đánh giá sự biến động chung về giá các mặt hàng
Chỉ số tổng hợp về lượng hàng hoá tiêu thụ:
Chỉ số này nêu lên biến động của toàn bộ lượng hàng hoá tiêu thụ giữa hai kỳ.Muốn tính nó trước hết cũng phải giải quyết vấn đề tổng hợp các lượng hàng hoá.Không thể tổng hợp đơn thuần bằng cách cộng lượng hàng hoá tiêu thụ mỗi loại, vìcác hàng hoá này khác nhau về giá trị sử dụng và đơn vị đo lường Để tổng hợp cácphần tử khác nhau này, thông thường người ta sử dụng một nhân tố thông ước chung,
có tác dụng chuyển các phần tử vốn không cộng trực tiếp được với nhau Các hàng hoávốn rất khác nhau có thể được chuyển sang dạng giá trị để có thể cộng chúng với nhau.Muốn vậy, có thể dùng nhân tố giá cả làm nhân tố thông ước chung Để tính chỉ sốchung về lượng hàng hoá tiêu thụ, có thể dùng công thức sau:
Ip = Trong đó: Iq là chỉ số chung về lượng hàng hoá tiêu thụ
q1 và q0 là lượng hàng hoá tiêu thụ mỗi loại hàng kỳ nghiên cứu, kỳ gốc
p là giá bán lẻ mỗi mặt hàng
Trong công thức trên, nhân tố giá cả (p) còng tham gia vào quá trình tính toán, với
tư cách là nhân tố thông ước chung, đồng thời cũng có vai trò là quyền số Quyền sốgiá cả cũng cần được cố định trong cả tử và mẫu số của công thức, nghĩa là tính theomột giá thống nhất (giá kỳ gốc, giá kỳ nghiên cứu hoặc giá cố định…) để không làmảnh hưởng đến biến động của bản thân lượng hàng hoá tiêu thụ
Tính chỉ số lượng hàng hoá tiêu thụ nếu chọn quyền số là giá cả kỳ gốc ta có chỉ sốtổng hợp khối lượng theo phương pháp Laspeyres:
Iq = Trong công thức trên, tử số ∑q1p0 là tổng giá trị hàng hoá tiêu thụ kỳ nghiêncứu với giả định là giá bán vẫn như kỳ gốc, mẫu số là tổng giá trị hàng hoá tiêu thụ
Trang 10thực tế kỳ gốc Sự chênh lệch giữa tử và mẫu số của công thức sẽ nêu lên biến độngcủa bản thân lượng hàng hoá tiêu thụ.
Chỉ số tổng hợp khối lượng theo phương pháp Paasche:
Iq = Chỉ số tổng hợp khối lượng Fisher:
Iq = Ngoài việc tính các số tương đối, còn có thể tính các lượng tăng giảm tuyệt đối nêulên ảnh hưởng biến động của nhân tố nghiên cứu đối với biến động của hiện tượnggồm nhiều nhân tố Nó thể hiện rất rõ sự biến động của nhân tố nghiên cứu
Khi tính toán chỉ số tổng hợp cần chú ý những vấn đề sau:
- Khi tính các chỉ số chung trước hết phải chuyển các phần tử khác nhau củahiện tượng phức tạp thành dạng đồng nhất để có thể cộng chúng được với nhau và sosánh Vấn đề này thường được giải quyết trên cơ sở xác định mối quan hệ giữa cácnhân tố cấu thành hiện tượng, để khi nghiên cứu biến động của một nhân tố có thể sửdụng các nhân tố khác còn lại làm công cụ chuyển
- Khi tính các chỉ số chung để nghiên cứu biến động của một nhân tố nào đótrong các nhân tố tham gia tính toán, phải cố định các nhân tố còn lại Đây là phươngpháp trừu tượng khoa học thường dùng trong phân tích các hiện tượng bao gồm nhiềunhân tố Sau khi xác định được nhân tố có quan hệ với nhau tham gia tính toán, ta cóthể lần lượt cố định nhân tố này hay nhân tố khác để nghiên cứu biến động của riêngmột nhân tố còn lại
*Vấn đề chọn quyền số cho chỉ số tổng hợp
Quyền số của chỉ số là những đại lượng được dùng trong công thức chỉ số tổnghợp và được cố định giống nhau ở tử và mẫu số Quyền số của chỉ số có hai tác dụng: Biểu hiện vai trò quan trọng của mỗi phần tử hay bộ phận trong toàn bộ tổng thể,nghĩa là duy trì tỷ trọng của phần tử hay bộ phận đó tương xứng vị trí của nó trong quátrình tính toán
Làm cho các phần tử vốn không thể trực tiếp cộng được với nhau được chuyển vềdạng đồng nhất và có thể cộng được
Trong từng chỉ số cụ thể, quyền số có thể thực hiện được một hoặc cả hai chứcnăng nói trên Ví dụ quyền số của chỉ số tổng hợp về giá cả là lượng hàng hoá tiêu thụ,
Trang 11đó là công cụ giúp cho việc so sánh giá cả giữa hai kỳ của các loại hàng có tầm quantrọng khác nhau Quyền số của chỉ số tổng hợp về lượng hàng hoá tiêu thụ là giá cả, cótác dụng như một nhân tố thông ước để chuyển các lượng hàng hoá vốn không trựctiếp cộng được với nhau thành dạng đồng nhất (dạng giá trị) và do đó có thể cộng đượcvới nhau Mặt khác mỗi hàng hoá có giá cả khác nhau cũng nhờ có quyền số này màchiếm vị trí tương xứng trong tổng mức tiêu thụ hàng hoá.
Vấn đề chọn quyền số có ý nghĩa quan trọng đối với việc tính chỉ số tổng hợp, vì
nó quyết định ý nghĩa của mỗi chỉ số Có thể nói đây là vấn đề chủ chốt trong phươngpháp tính chỉ số tổng hợp Muốn chọn quyền số cho mỗi chỉ số phải xét mối liên hệgiữa các nhân tố, đồng thời phải căn cứ vào mục đích nghiên cứu Thông thườngngười ta căn cứ vào mối liên hệ giữa các nhân tố này có thể lợi dụng các nhân tố kháccòn lại là quyền số Nhưng mỗi nhân tố được nghiên cứu không chỉ có liên hệ với một
mà có thể với nhiều nhân tố khác nhau Như khối lượng sản phẩm công nghiệp khôngnhững có liên hệ với giá cả mà còn liên hệ với giá thành với lượng lao động hao phí,với lượng nguyên vật liệu sử dụng…Mỗi nhân tố có liên hệ đều có thể được chọn làmquyền số của chỉ số khối lượng sản phẩm, nêu ý nghĩa và kết quả tính toán của mỗi chỉ
số khác nhau Nói chung là phải tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu để chọn quyền sốcho thích hợp
Giả sử nghiên cứu biến động của khối lượng sản phẩm trong xí nghiệp công nghiệp
và ảnh hưởng của biến động này đối với biến động của giá trị tổng sản lượng
Ở đây nhân tố khối lượng sản phẩm (q) có liên hệ với giá cả (p) do đó có công thức chỉsố:
Ip = Trong công thức nhân tố giá cả (p) được chọn làm quyền số của chỉ số tổng hợp.Nếu nghiên cứu biến động của khối lượng sản phẩm và ảnh hưởng của biến động nàyđối với biến động của tổng chi phí sản xuất, thì ở đây có mối liên hệ giữa khối lượngsản phẩm (q) với giá thành đơn vị (z)
Công thức chỉ số khối lượng sản phẩm:
Iq = Trong công thức nhân tố giá thành đơn vị (z) được chọn làm quyền số của chỉ
số tổng hợp Cũng với khối lượng sản phẩm trên, có thể nghiên cứu biến động của
Trang 12chúng và ảnh hưởng biến động này đối với biến động của tổng số thời gian lao động.
Ở đây xuất hiện mối liên hệ giữa khối lượng sản phẩm (q) với thời gian hao phí để sảnxuất một đơn vị sản phẩm (t) Công thức chỉ số:
Iq = Quyền số trong công thức là thời gian lao động hao phí để sản xuất một đơn vị sảnphẩm (t)
Sau khi chọn nhân tố làm quyền số cho mỗi chỉ số còn phải chọn thời gian hoặckhông gian của quyền số Thời gian hoặc không gian của quyền số khác nhau thì ýnghĩa của chỉ số cũng khác nhau Quyền số được cố định ở tử và mẫu của chỉ số nhằmloại trừ ảnh hưởng biến động của nó đối với chỉ số nghiên cứu Nhưng loại trừ đượchoàn toàn hay không tuỳ thuộc vào việc chọn thời gian hoặc không gian của quyền số.Bởi vậy phải căn cứ vào mục đích nghiên cứu và điều kiện tài liệu để chọn thời gianhoặc không gian của chỉ số Cụ thể, khi dùng chỉ số tổng hợp để nghiên cứu biến độngcủa chỉ tiêu chất lượng, thì quyền số thường là chỉ tiêu khối lượng có liên quan và cốđịnh ở kỳ nghiên cứu Còn để nghiên cứu biến động của chỉ tiêu khối lượng thì quyền
số thường là chỉ tiêu chất lượng có liên quan và cố định ở kỳ gốc
- Các chỉ số tổng hợp chỉ tiêu chất lượng:
+ Chỉ số tổng hợp giá cả:
Ip = và I’p= Trong công thức Ip, quyền số là lượng hàng hoá tiêu thụ kỳ gốc (q0) Chỉ số này nêulên biến động riêng biệt của nhân tố giá cả loại trừ hoàn toàn ảnh hưởng của khốilượng hàng hoá đến biến động của giá cả Chênh lệch tuyệt đối giữa tử và mẫu là sốtiền người mua hàng phải trả thêm nếu giá cả tăng hoặc giảm bớt được nếu giá cả giảm
để mua cùng khối lượng hàng hoá như kỳ gốc
Trong công thức I’p, quyền số là lượng hàng hoá tiêu thụ kỳ nghiên cứu (q1) Chỉ sốnày nêu lên biến động của nhân tố giá cả, chưa loại trừ được hoàn toàn ảnh hưởng củakhối lượng hàng hoá tới biến động của giá cả Chênh lệch tuyệt đối giữa tử và mẫu là
số tiền người mua hàng phải trả thêm nếu giá cả tăng hoặc giảm bới được nếu giá cảgiảm thực tế ở kỳ nghiên cứu
Thông thường khi nghiên cứu biến động của giá cả người ta muốn quan sát ảnhhưởng của nó đến số tiền thực tế mà người mua hàng phải trả thêm hoặc giảm bới
Trang 13được, nên chọn quyền số là khối lượng hàng hoá tiêu thụ ở kỳ nghiên cứu nếu điềukiện tài liệu cho phép.
Giá cả là một trong những chỉ tiêu chất lượng, việc chọn quyền số cho chỉ số giá cảđược vận dụng cho quyền số của các chỉ số chỉ tiêu chất lượng khác Nếu chọn quyền
số ở kỳ nghiên cứu, ta có công thức tính chỉ số chỉ tiêu chất lượng như sau:
+ Chỉ số giá thành:
Iz= Trong đó :
Iz- chỉ số chung về giá thành
z1 và z0 – giá thành đơn vị từng loại sản phẩm kỳ nghiên cứu và kỳ gốc
q1- sản lượng sản phẩm kỳ nghiên cứu
+ Chỉ số năng suất lao động:
Iw = Trong đó:
Iw- chỉ số chung về năng suất lao động
w1 và w0- năng suất lao động mỗi công nhân kỳ nghiên cứu và kỳ gốc
T1- số công nhân kỳ nghiên cứu
- Các chỉ số tổng hợp chỉ tiêu khối lượng:
+ Chỉ số tổng hợp khối lượng sản phẩm tiêu thụ:
Iq = và I’q= Công thức Iq có quyền số là giá cả kỳ nghiên cứu (p1) nêu lên biến động của khốilượng hàng hoá tiêu thụ, chưa loại trừ được hoàn toàn ảnh hưởng của giá cả tới biếnđộng của lượng hàng hoá tiêu thụ Trong công thức I’p quyền số của chỉ số là giá cả kỳgốc Chỉ số này nêu lên biến động của hàng hoá tiêu thụ, nhưng loại trừ được hoàntoàn ảnh hưởng của biến động giá cả với biến động của khối lượng hàng hoá tiêu thụ,
có nghĩa là nêu lên biến động riêng biệt của khối lượng hàng hóa tiêu thụ Thôngthường khi nghiên cứu biến động của khối lượng hàng hoá tiêu thụ, người ta muốn biếtbiến động riêng của nó, nên chọn quyền số là giá cả kỳ gốc (p0) hoặc giá cả cố định(pc)
+ Chỉ số khối lượng sản phẩm sản xuất:
Iq =
Trang 14+ Chỉ số diện tích gieo trồng:
ID = Trong đó: ID- chỉ số chung về diện tích gieo trồng
D1 và D0- diện tích gieo trồng kỳ nghiên cứu và kỳ gốc
N0- năng suất thu hoạch kỳ gốc
+Chỉ số tổng hợp số công nhân:
IT = Nhìn chung, khi dùng chỉ số tổng hợp để nghiên cứu biến động của chỉ tiêu chấtlượng, thì quyền số là chỉ tiêu khối lượng có liên quan, để nghiên cứu biến động củachỉ tiêu khối lượng, thì quyền số là chỉ tiêu chất lượng có liên quan, thời gian hoặckhông gian của quyền số tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu và tài liệu cho phép
3.Chỉ số không gian:
Các chỉ số không gian so sánh mức độ của hiện tượng kinh tế qua điều kiện khônggian khác nhau (so sánh một chỉ tiêu kinh tế giữa hai xí nghiệp, giữa hai địaphương…) Các chỉ số này cũng được tính theo lý luận tính chỉ số tổng hợp, trong đóđặc biệt quan trọng là vấn đề chọn quyền số Giả sử so sánh giá thành sản phẩm giữahai xí nghiệp, thì khối lượng sản phẩm của mỗi xí nghiệp đều có khả năng được chọnlàm quyền số chỉ số Cũng vì vậy kết quả tính toán chỉ số theo hai quyền số này rấtkhác nhau
Khi tính các chỉ số không gian về chỉ tiêu khối lượng, vấn đề chọn quyền số đượcgiải quyết tương đối dễ dàng Đối với các chỉ số khối lượng sản phẩm, quyền sốthường là giá cố định Giả sử so sánh khối lượng sản phẩm của hai xí nghiệp A và B,
ta có công thức:
Trong đó: qA và qB- sản lượng từng loại của xí nghiệp A và B
pn – giá cố định
Khi tính chỉ số không gian của chỉ tiêu chất lượng thì quyền số được chọn là chỉ tiêu
số là chỉ tiêu số lượng có liên quan Công thức tính:
Trang 15III Hệ thống chỉ số:
1.Khái niệm và cấu thành của hệ thống chỉ số:
- Khái niệm: Hệ thống chỉ số là một dãy các chỉ số có liên hệ với nhau hợp thành
mét phương trình cân bằng
Xét các chỉ tiêu có mối liên hệ với nhau thường dùa trên một chỉ tiêu tổng hợp và
trên cơ sở đó tính chỉ số như:
Giá thành đơn vịsản phẩm
- Cấu thành:
Chỉ số nhân tố: mỗi chỉ số nêu lên biến động của một nhân tố cấu thành hiện tượng
là ảnh hưởng của biến động này đối với biến động của hiện tượng bao gồm nhiều nhân
tố, như chỉ số giá cả, chỉ số lượng hàng hoá tiêu thụ, chỉ số giá thành…
Chỉ số toàn bộ: nêu lên biến động của toàn bộ hiện tượng gồm nhiều nhân tố, nhưchỉ số mức tiêu thụ hàng hoá, chỉ số chi phí sản xuất…
- Tác dụng của hệ thống chỉ số:
Xác định được vai trò và ảnh hưởng biến động của mỗi nhân tố đối với biến độngcủa hiện tượng gồm nhiều nhân tố, qua đó đánh giá được nhân tố nào có tác dụng chủyếu đối với biến động chung, nhằm phân tích mối liên hệ giữa các hiện tượng trongquá trình biến động, giải thích được một cách đúng đắn các nguyên nhân làm cho hiệntượng phát triển
Trang 16Lợi dụng hệ thống chỉ số, trong nhiều trường hợp ta có thể tính ra một chỉ số chưabiết, nếu biết các chỉ số còn lại trong hệ thống chỉ số đó.
2.Phương pháp xây dựng hệ thống chỉ số:
* Phương pháp liên hoàn:
- Đặc điểm của phương pháp:
+ Một chỉ tiêu tổng hợp của hiện tượng phức tạp có bao nhiêu nhân tố cấu thànhthì hệ thống chỉ số có bấy nhiêu chỉ số nhân tố
+ Trong hệ thống chỉ số, chỉ số toàn bộ bằng tích các chỉ số nhân tố và mẫu sốcủa chỉ số nhân tố đứng trước tương ứng là tử số của chỉ số nhân tố đứng sau
+ Chênh lệch tuyệt đối giữa tử số và mẫu số của chỉ số toàn bộ bằng tổng cácchênh lệch tuyệt đối giữa tử số và mẫu số của các chỉ số nhân tố
+ Phân tích sự biến động của mối liên hệ giữa các chỉ tiêu
- Các bước xây dựng hệ thống chỉ số:
+ Phân tích chỉ tiêu tổng hợp ra các nhân tố cấu thành
+ Sắp xếp các nhân tố theo thứ tự tính chất lượng giảm dần và tính số lượng tăngdần Nhân tố đầu tiên là nhân tố có tính chất lượng cao nhất và nhân tố cuối cùng lànhân tố có tính số lượng cao nhất
+ Viết hệ thống chỉ số trong đó các chỉ số nhân tố được thiết lập theo nguyên tắc:Đối với nhân tố chất lượng sử dụng quyền số là nhân tố số lượng kỳ nghiên cứu Đốivới nhân tố số lượng sử dụng quyền số là nhân tố chất lượng ở kỳ gốc
- Hệ thống chỉ số phân tích biến động của tổng doanh thu:
I∑pq=Ip x IqBiến động tương đối: =x
Biến động tuyệt đối: ∆pq=∑p1q1-∑p0q0=∑(p1-p0)q1+∑(q1-q0)p0