1.2.1 Mục tiêu chungNghiên cứu vấn đề giới trong tiếp cận khuyến nông, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao sự tham gia của giới trong các hoạt động khuyến nông.1.2.2 Mục tiêu cụ thể: (1) Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề giới trong khuyến nông(2) Đánh giá thực trạng của giới trong khuyến nông tại huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ(3) Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường sự tham gia của giới trong khuyến nông tại huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ
Trang 1PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được thành tựu nổi bật về cảithiện điều kiện sống của người dân và giảm chênh lệch giới Việt Nam xếphạng 80 trong số 136 quốc gia về chỉ số phát triển giới (GDI - GenderDevelopment Index) và là quốc gia đạt được sự thay đổi nhanh về xóa bỏkhoảng cách giới ở khu vực Châu Á (Nhóm công tác của NHTG, 2006)
Khi đất nước bước vào kỷ nguyên hội nhập với thế giới, trong côngcuộc xây dựng đất nước trên con đường công nghiệp hóa - hiện đại hóa hiệnnay, phụ nữ Việt Nam tiếp tục đóng vai trò quan trọng, là động lực thúc đẩy
sự phát triển chung của xã hội Vai trò này đang được khẳng định một cách rõnét hơn bao giờ hết Trước hết chúng ta phải thừa nhận vị trí hết sức quantrọng của người phụ nữ trong gia đình Họ có ảnh hưởng to lớn tới hạnh phúc
và sự ổn định của gia đình Trong thời đại mới, bên cạnh vai trò quan trọngtrong gia đình, người phụ nữ còn tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội
Tuy nhiên, thành tựu này chưa mang tính đồng bộ, bởi không phải lúcnào nữ giới cũng có cơ hội cạnh tranh trên một sân chơi ngang bằng với nam
giới, nhất là phụ nữ nông thôn Ở các vùng nông thôn thời gian lao động tạo
thu nhập của phụ nữ và nam giới là xấp xỉ như nhau Nhưng phụ nữ dành thờigian nhiều gần gấp đôi nam giới cho các công việc nhà không được trả công
Vì vậy, phụ nữ nông thôn ở tất cả các lứa tuổi đều có tổng thời gian làm việcnhiều hơn nam giới Điều đó đã ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ và gia đình của
họ, thiếu thời gian nghỉ ngơi, giải trí và tham gia các hoạt động xã hội trongcộng đồng cũng như các cơ hội tham gia đảm nhận các vị trí quản lý và lãnhđạo, có rất ít thời gian để tham gia vào các khoá đào tạo, bồi dưỡng để nângcao trình độ, kỹ năng và sự tự tin Do vậy, phụ nữ đang bị mất đi tiềm năng đểtiếp cận với các công nghệ tiên tiến và để đóng góp vào các mục tiêu phát
Trang 2triển Mặc dù phụ nữ chiếm gần ¾ lực lượng lao động ngành chăn nuôi, songchỉ có 20% các lớp tập huấn khuyến nông về chăn nuôi có phụ nữ tham gia.Tương tự, mặc dù có 80% phụ nữ nông thôn làm trong lĩnh vực trồng trọtnhưng chỉ có 10% số người được tập huấn khuyến nông về trồng trọt là nữ.
Đa số các cán bộ cung cấp dịch vụ khuyến nông ở cấp cơ sở là nam giới và họcũng thường coi các nông dân nam ( chủ hộ gia đình) là đối tượng mục tiêu
của các hoạt động khuyến nông (Theo tài liệu tổng kết dự án về giới trong
lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn,2009) Mặt khác, nam giới
thường được ưu tiên hơn so với phụ nữ trong việc tham gia vào các vị trí lãnhđạo Có thể thấy, đã có sự bất bình đẳng về giới trong khuyến nông, phụ nữchưa được tiếp cận bình đẳng tới các dịch vụ khuyến nông, các dịch vụkhuyến nông cũng chưa thật sự đáp ứng được nhu cầu của phụ nữ nông thôn
Vì vậy cần phải quan tâm hơn nữa đến vấn đề giới trong khuyến nông để phụ
nữ được tiếp cận nhiều hơn nữa với các hoạt động khuyến nông
Huyện Phù Ninh là một huyện miền núi, người dân sống chủ yếu dựa vàonghề nông Hệ thống khuyến nông huyện được sự quan tâm của Nhà nước vàcũng đã có nhiều chương trình khuyến nông để phát triển sản xuất nôngnghiệp của huyện Nhưng các hoạt động khuyến nông của huyện vẫn chưaquan tâm nhiều đến vấn đề giới Vì vậy, chưa có sự cân bằng giữa nam giới
và phụ nữ trong việc tiếp cận với các hoạt động khuyến nông Xuất phát từ
thực tiễn trên chúng tôi tiến hành tìm hiểu đề tài: “Nghiên cứu vấn đề giới
trong khuyến nông tại huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu vấn đề giới trong tiếp cận khuyến nông, từ đó đề xuất một
số giải pháp nhằm nâng cao sự tham gia của giới trong các hoạt động khuyếnnông
Trang 31.3 Đối tượng nghiên cứu
Sự tham gia của nam và nữ trong khuyến nông ở huyện Phù Ninh, tỉnhPhú Thọ
Trang 4PHẦN 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
GIỚI TRONG KHUYẾN NÔNG
2.1 Một số vấn đề lý luận về giới trong khuyến nông
2.1.1 Khuyến nông và giới trong khuyến nông
2.1.1.1 Khuyến nông
a Khái niệm khuyến nông
* Khuyến nông: Là một thuật ngữ có ý nghĩa rất rộng và khó có thểđịnh nghĩa được một cách chính xác, vì khuyến nông được tổ chức bằng nhiềucách khác nhau, để phục vụ cho nhiều mục đích rộng rãi Mỗi quốc gia, vùng,
tổ chức khác nhau lại có những quan niệm về khuyến nông khác nhau, do đó
có rất nhiều định nghĩa cũng như quan niệm về khuyến nông Và từ nhữnghiểu biết khác nhau đó, chúng ta cũng có thể thống nhất được những điểmchung của khuyến nông nhằm đưa ra một định nghĩa phù hợp trong điều kiệncủa nước ta Dưới đây là một số cách hiểu về khuyến nông, qua đó sẽ giúpchúng ta có cái nhìn sâu hơn về vấn đề đó
* Theo nghĩa hẹp: Khuyến nông là sử dụng các cơ quan nông lâm ngư nghiệp, các trung tâm khoa học nông lâm nghiệp để phổ biến, mở rộngkết quả nghiên cứu tới nông dân bằng các phương pháp thích hợp để họ ápdụng nhằm thu được nhiều nông sản hơn Hiểu theo nghĩa này thì khuyếnnông chỉ là công việc chuyển giao KTTB trong nông nghiệp mà thôi
-* Theo nghĩa rộng: Khuyến nông ngoài việc hướng dẫn cho nông dân biếtKTTB còn phải giúp họ liên kết với nhau để phòng chống thiên tai, để có vật tư kỹthuật, để sản xuất, để tiêu thụ sản phẩm, để thi hành chính sách của Chính phủ vàluật lệ của Nhà nước, giúp cho nông dân phát triển khả năng tự quản lý, tổ chứccuộc sống một cách tốt nhất
Trên thế giới, từ “Extension” được sử dụng đầu tiên ở nước Anh năm
Trang 51866 có nghĩa là “mở rộng, triển khai” Từ “Extension” ghép với từ
“Agriculture” thành “Agriculture Extension” thì được dịch là “Khuyến nông”
Ở Việt Nam, khuyến nông được hiểu là một hệ thống các biện pháp giáodục không chính thức cho nông dân nhằm đẩy mạnh phát triển sản xuất nôngnghiệp, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân, xây dựng và pháttriển nông thôn mới
Còn theo định nghĩa của TTKNKL Quốc gia thì: Khuyến nông là mộtquá trình, một dịch vụ thông tin nhằm truyền bá những chủ trương, chính sách
về nông nghiệp, những kiến thức về kỹ thuật, kinh nghiệm tổ chức và quản lýsản xuất, những thông tin về thị trường giá cả và rèn luyện tay nghề cho nôngdân, để họ có đủ khả năng tự giải quyết vấn đề của sản xuất, đời sống, của bảnthân họ và cộng đồng, nhằm phát triển sản xuất, nâng cao dân trí, cải thiện đờisống và phát triển nông nghiệp nông thôn
Nguồn: GS.TS Đỗ Kim Chung, Giáo trình khuyến nông, Nhà xuất bản nông nghiệp, Hà Nội, 2008.
Như vậy khuyến nông là cách giáo dục không chính thức ngoài họcđường cho nông dân, là cách đào tạo người lớn tuổi Khuyến nông là quá trìnhvận động quảng bá, khuyến cáo cho nông dân theo các nguyên tắc riêng Đây
là một quá trình tiếp thu dần dần và tự giác của nông dân Nói cách khác,khuyến nông là những tác động vào quá trình sản xuất kinh doanh của ngườinông dân nhằm giúp họ sản xuất đạt hiệu quả cao nhất Nội dung của hoạtđộng khuyến nông phải khoa học, kịp thời và thích ứng với điều kiện sản xuấtcủa người nông dân
b Nội dung của hoạt động khuyến nông
Theo Nghị định 56/2005/NĐ-CP của Chính phủ ra ngày 26/4/2005 vềcông tác khuyến nông, khuyến ngư cũng nêu rõ: Nội dung hoạt động khuyếnnông, khuyến ngư bao gồm:
Trang 6* Thông tin, tuyên truyền :
- Tuyên truyền chủ trương đường lối, chính sách của Đảng và Nhànước, tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ, thông tin tuyên truyền, giá cả,phổ biến điển hình tiên tiến trong sản xuất, quản lý, kinh doanh, phát triểnnông nghiệp và thuỷ sản
- Xuất bản, hướng dẫn và cung cấp thông tin đến người sản xuất bằngcác phương tiện thông tin đại chúng, hội nghị hội thảo, hội thi, hội chợ, triểnlãm và các hình thức thông tin tuyên truyền khác
* Bồi dưỡng, tập huấn và đào tạo:
- Bồi dưỡng, tập huấn và truyền nghề cho người sản xuất để nâng caokiến thức, kỹ năng sản xuất, quản lý kinh tế trong nông nghiệp, thuỷ sản
- Đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho người hoạtđộng khuyến nông, khuyến ngư
- Tổ chức tham quan, khảo sát, học tập trong và ngoài nước
* Xây dựng mô hình và chuyển giao KHCN:
- Xây dựng mô hình trình diễn về các tiến bộ khoa học công nghệ phùhợp với từng địa phương, nhu cầu của người sản xuất
- Xây dựng các mô hình công nghệ cao trong lĩnh vực nông nghiệp vàthuỷ sản
- Chuyển giao kết quả khoa học và công nghệ từ các mô hình trình diễn radiện rộng
* Khuyến nông thực hiện việc tư vấn và dịch vụ:
Tư vấn hỗ trợ chính sách pháp luật Tư vấn hỗ trợ việc khởi sự doanhnghiệp (lập dự án đầu tư phát triển nông nghiệp, ngành nghề nông thôn…)
Tư vấn hỗ trợ, phát triển ứng dụng công nghệ sau thu hoạch, chế biến nônglâm, thuỷ sản Tư vấn hỗ trợ quản lý, sử dụng nước sạch nông thôn và vệ sinhmôi trường nông thôn Tư vấn hỗ trợ đổi mới tổ chức, cải tiến quản lý, hợp
Trang 7tác sản xuất, hạ giá thành sản phẩm của doanh nghiệp, của các tổ chức kinh tếtập thể trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn
* Khuyến nông thực hiện hợp tác quốc tế:
Tham gia các hoạt động về khuyến nông, khuyến ngư trong các chươngtrình hợp tác quốc tế Trao đổi kinh nghiệm khuyến nông, khuyến ngư với các
tổ chức, cá nhân nước ngoài (Nghị định 56/2005/NĐ-CP)
Như vậy nội dung khuyến nông là rất phong phú đa dạng bao gồm cảnội dung kinh tế, kỹ thuật, xã hội nhân văn và môi trường Trong đó chuyểngiao KTTB cho nông dân là một nội dung quan trọng Trong thực tế, không ítKTTB được phát minh nhưng nông dân lại không hề biết đến, KTTB ấykhông được đưa vào sản xuất Cho nên để sản xuất áp dụng được KTTB thì
kỹ thuật phải được khẳng định là phù hợp và khả thi về sinh thái, kinh tế và
xã hội trên đồng ruộng của nông dân, góp phần nâng cao hơn hiệu quả sửdụng nguồn lực trong nông nghiệp, tạo điều kiện phát triển bền vững về kinh
tế, xã hội và môi trường cho nông nghiệp và nông thôn Phương tiện truyền
tải KTTB tới nông dân chính là khuyến nông.(Đỗ Kim Chung, 2005)
Tóm lại: nội dung hoạt động của công tác khuyến nông rất phong phú
đa dạng bao gồm về nhiều mặt kinh tế-xã hội… với mục đích cuối cùng giúpcho nông dân phát triển tốt hơn trên mọi lĩnh vực của sản xuất và đời sống.Tuy nhiên tuỳ theo điều kiện từng vùng khác nhau mà nội dung khuyến nôngkhác nhau sao cho phù hợp với khả năng và điều kiện kinh tế-xã hội của từngvùng, như tiến bộ khoa học kỹ thuật mới phải phù hợp với sản xuất của ngườidân Có như vậy người nông dân mới tự nguyện chấp nhận đổi mới
Tuy nhiên tuỳ theo điều kiện từng vùng khác nhau mà nội dungkhuyến nông khác nhau sao cho phù hợp với khả năng và điều kiện kinh tế
xã hội của từng vùng, như tiến bộ KHKT mới phải phù hợp với sản xuất củangười nông dân
Trang 82.1.1.2 Giới trong khuyến nông
Giới trong khuyến nông là sự tham gia của nam giới và phụ nữ vào hệthống khuyến nông, tham gia vào việc lập kế hoạch khuyến nông đưa ra các ýkiến trao đổi, bàn bạc đi đến quyết định lập kế hoạch khuyến nông phù hợp cóthể đáp ứng được đầy đủ nhu cầu và lợi ích của bà con nông dân Mặt khác, nócòn là sự tham gia của nam giới và phụ nữ vào các hoạt động khuyến nông để có
cơ hội và điều kiện tiếp xúc với các phương pháp, kỹ thuật tiến bộ, nhằm nângcao kiến thức và sự hiểu biết, giúp họ có thể áp dụng vào sản xuất nông nghiệp,nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi và nâng cao thu nhập cho gia đình
2.1.2 Nội dung của giới trong khuyến nông
2.1.2.1 Sự tham gia của giới vào cơ quan tổ chức khuyến nông
Việc tham gia vào cơ quan tổ chức khuyến nông là rất quan trọng Khitham gia vào tổ chức khuyến nông chúng ta sẽ được tham gia vào việc lập kếhoạch, tổ chức triển khai các hoạt động khuyến nông Có nhiều cơ hội học hỏinâng cao trình độ và sự hiểu biết cho bản thân Giúp đỡ cho bà con nông dântiếp cận được với những kỹ thuật tiến bộ, nâng cao năng xuất và thu nhập.Nhưng sự tham gia này cần phải có sự cân bằng giữa nam giới và nữ giới thìcác hoạt động khuyến nông mới thành công và đạt hiệu quả tốt nhất Nếu một
hệ thống khuyến nông mà có sự tham gia của cả nam giới và phụ nữ thì việcđưa ra ý kiến trao đổi, bàn bạc sẽ được bình đẳng hơn Khi lập kế hoạchkhuyến nông sẽ phản ánh được đúng nhu cầu và lợi ích của nam và nữ
2.1.2.2 Sự tham gia của giới vào lãnh đạo hệ thống khuyến nông
Việc tham gia vào vị trí lãnh đạo hệ thống khuyến nông sẽ giúp chúng
ta khẳng định được vai trò của mình trong xã hội và cảm thấy tự tin, quyếtđoán hơn trong công việc Tuy nhiên, làm lãnh đạo cũng gặp phải những khókhăn và áp lực nhất định từ công việc, từ những người xung quanh và phảichịu trách nhiệm về những quyết định đưa ra Vì vậy, người ta thường chorằng công việc đó phù hợp với nam giới hơn, nam giới làm sẽ tốt hơn nữ giới
Trang 9Dẫn đến việc nam giới thường vẫn được ưu tiên hơn nữ giới trong vai trò lãnhđạo Mặc dù người phụ nữ có trình độ ngang bằng nam giới nhưng họ vẫnkhông được xã hội tin tưởng vào khả năng lãnh đạo của mình Trong suy nghĩcủa mọi người thì phụ nữ là phái yếu, không có khả năng quyết đoán trongcông việc nên không thích hợp để làm lãnh đạo, mà chỉ thích hợp làm nhữngcông việc nhẹ nhàng Phụ nữ có được đảm nhiệm vai trò là người lãnh đạo thìcũng sẽ không được tin tưởng và tôn trọng như nam giới Do đó, phụ nữ chưaphát huy được hết khả năng của mình trong xã hội Nếu phụ nữ cũng được đối
sử bình đẳng như nam giới thì họ cũng sẽ làm tốt được vai trò của mình trongcông việc không kém gì nam giới
Khi có sự tham gia của cả nam giới và phụ nữ trong lãnh đạo hệ thốngkhuyến nông thì sẽ có sự công bằng hơn trong việc đưa ra ý kiến, đưa ra quyếtđịnh và việc lập kế hoạch khuyến nông sẽ đáp ứng được nhu cầu của phụ nữ
và nam giới Vì vậy, cần phải khuyến khích phụ nữ tham gia vào các vị trílãnh đạo của hệ thống khuyến nông
2.1.2.3 Sự tham gia của giới vào lập kế hoạch khuyến nông
Từ trước đến nay trong qua trình hoạt động khuyến nông có hai hìnhthức lập kế hoạch thường được sử dụng đó là lập kế hoạch từ trên xuống vàlập kế hoạch từ dưới lên có sự tham gia của người dân Để một chương trìnhkhuyến nông thành công nhất thì phải kết hợp cả hai hình thức lập kế hoạchtrên Vì vậy khi xây dựng các chương trình khuyến nông ở địa phương cầnphối hợp hài hòa giữa nhu cầu xã hội và nhu cầu địa phương, đồng thời tậndụng những nguồn lực bên trong và bên ngoài cộng đồng Người cán bộkhuyến nông một mặt phải quan tâm đến mục tiêu quốc gia, địa phương, mặtkhác phải làm việc với người dân để chương trình trở thành của người dân,phản ánh đúng nhu cầu của họ và những gì họ mong muốn xảy ra tại địaphương Sự tham gia của người dân trong lập kế hoạch khuyến nông là mộtphần quan trọng trong tiến trình thực hiện khuyến nông, bởi vì nó giúp cho
Trang 10người dân và cán bộ khuyến nông phân tích một cách xác thực hơn tình hìnhcủa địa phương, đồng thời tạo ra động cơ và lòng tin của người dân trong việc
sử dụng những tiềm năng nguồn lực sẵn có để giải quyết vấn đề của địaphương Tuy nhiên, nếu trong lập kế hoạch khuyến nông có sự tham gia của
cả nam giới và phụ nữ thì việc lập kế hoạch sẽ phản ánh được đúng hơn nhucầu và lợi ích của cả nam giới và phụ nữ Hiện nay, hầu hết các chương trìnhkhuyến nông đều có đối tượng chính là nam giới vì nam giới là chủ hộ Vìvậy, để có được sự bình đẳng giới trong các hoạt động khuyến nông, khi lập
kế hoạch khuyến nông cần phải quan tâm đến vấn đề giới
2.1.2.4 Sự tham gia của giới trong các hoạt động khuyến nông
* Trong hoạt động tập huấn kỹ thuật
Tập huấn kỹ thuật là một hoạt động khuyến nông nhằm chuyển giaonhững kỹ thuật tiến bộ tới bà con nông dân Đa số bà con nông dân đều mongmuốn được tham gia vào các lớp tập huấn kỹ thuật để nâng cao kiến thức và
sự hiểu biết về kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản để áp dụng vào sảnxuất gia đình Tuy nhiên, sự tham gia của nam giới và nữ giới vào hoạt độngnày có sự khác nhau Nam giới thường được tham gia nhiều hơn nữ giới vìnam giới là chủ hộ Tuy phụ nữ là người trực tiếp tham gia vào sản xuất nôngnghiệp nhưng ít được tham gia vào các lớp tập huấn kỹ thuật Do phụ nữ phảibận rộn với công việc chăm sóc gia đình và việc đồng áng nên họ không cóthời gian để tham gia vào các hoạt động tập huấn kỹ thuật Khiến cho phụ nữ
ít có cơ hội tiếp cận với các kỹ thuật tiến bộ và làn cho họ không phát huyđược hết khả năng của mình trong sản xuất
* Trong xây dựng mô hình trình diễn
Xây dựng MHTD là một hoạt động khuyến nông có hiệu quả nhất,người dân có thể tận mắt trông thấy và tự tay làm Khi tham gia vào MHTDngười dân sẽ được hỗ trợ về kinh phí, vật tư nông nghiệp, giống và sẽ đượchưởng lợi từ mô hình Các hộ đều muốn được tham gia vào các mô hình để có
Trang 11cơ hội nâng cao được kiến thức về kỹ thuật, nâng cao thu nhập cho gia đình
và góp phần cải thiện cuộc sống Nhưng không phải hộ nào cũng được thamgia vào mô hình, mà chủ yếu các hộ khá, hộ trung bình và hộ có chủ hộ lànam giới sẽ được chọn tham gia để đảm bảo sự thành công của mô hình.Những hộ có chủ hộ là nữ ít được tham gia vào mô hình vì hộ nữ thường lànhững hộ có điều kiện kinh tế khó khăn
Khi tham gia vào mô hình, nam giới chủ yếu là người đưa ra quyết địnhtrong các khâu công việc, nhưng phụ nữ lại là người thực hiện chủ yếu cáccông việc đó Phụ nữ được tham gia mô hình nhưng không có quyền đưa raquyết định vì không phải là chủ hộ
Vậy, cần phải quan tâm và tạo điều kiện cho những hộ có chủ hộ là nữđược tham gia nhiều hơn vào mô hình Phải có sự chia sẻ trong việc đưa raquyết định và thực hiện mô hình, để mô hình được thành công hơn
* Trong tham quan, hội thảo
Tham quan, hội thảo giúp bà con nông dân có thể mắt thấy , tai nghenhững kỹ thuật mới để họ thấy được những ưu điểm và hạn chế của kỹ thuật
đó và đem áp dụng những ưu điểm vào thực tế sản xuất gia đình, khắc phụcnhững hạn chế để không mắc phải sai lầm Để tổ chức được một buổi đi thamquan, hội thảo mất rất nhiều thời gian và kinh phí, nên các địa phương vẫnchưa có nhiều những buổi đi tham quan, hội thảo cho bà con Thành phầntham gia vào các buổi tham quan hội thảo chủ yếu là các lãnh đạo và một sốnông dân điển hình tham gia mô hình Các buổi tham quan, hội thảo chủ yếu
là ở địa phương khác nên khó khăn cho việc đi lại và mất nhiều thời gian, do
đó nam giới tham gia nhiều hơn nữ giới Mặt khác, phụ nữ thường e ngại, rụt
rè trước đám đông nên họ thường không thích tham gia và để cho chồng đi
Vậy, để phụ nữ tham gia nhiều hơn vào các buổi tham quan cần phảiđộng viên, khuyến khích họ tham gia Các cán bộ nên có thái độ hòa nhã, gầngũi để họ cảm thấy tự tin và mạnh dạn hơn
Trang 122.1.3 Vai trò của nghiên cứu giới trong tiếp cận khuyến nông
Khuyến nông là hoạt động phổ biến trong nông nghiệp nông thôn Cáchoạt động khuyến nông chỉ thành công khi có sự tham gia đầy đủ và có hiệuquả của người dân vào các hoạt động khuyến nông (tập huấn, xây dựng môhình trình diễn, hội nghị đầu bờ, ) Nhưng sự tham gia đó phải có cả namgiới và nữ giới thì mới phản ánh được đầy đủ nhu cầu và lợi ích của họ và cáchoạt động khuyến nông mới thật sự được thành công Khi nghiên cứu vấn đềgiới trong khuyến nông sẽ giúp cho các cấp lãnh đạo, cán bộ khuyến nông,khuyến nông viên cơ sở và người dân có nhận thức đúng đắn hơn về giới,thấy được vai trò của nam giới và phụ nữ trong việc ra quyết định cũng nhưviệc tham gia vào các hoạt động khuyến nông Từ đó, có thể đưa ra đượcnhững giải pháp phù hợp cho từng giới trong việc tham gia vào khuyến nông
Do đó, nếu gải quyết vấn đề giới, đảm bảo tốt lợi ích và nhu cầu về giớitrong từng hoạt động khuyến nông, đảm bảo sự tham gia đầy đủ cả nam và nữtrong nông thôn thì các hoạt động khuyến nông mới thành công và bền vững
2.1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến giới trong tiếp cận khuyến nông
2.1.4.1 Phong tục tập quán
Phong tục tập quán đóng vai trò quan trọng trong xác định quan hệ giớitrong bất kỳ xã hội nào cho dù là phương Đông hay phương Tây Trong xãhội phụ hệ, các phong tục tập quán thường có xu hướng đề cao vị trí củangười đàn ông hơn so với phụ nữ Người ta cho rằng phụ nữ thì chỉ được ởnhà chăm sóc con cái, gia đình chứ không được tham gia vào các hoạt độngcộng đồng Những công việc ngoài xã hội là của đàn ông và do đàn ông quýêtđịnh Chính vì những quan niệm đó mà đã hạn chế sự tham gia của phụ nữvào cac hoạt đồng cộng đồng trong đó có các hoạt động khuyến nông
2.1.4.2 Trình độ của người dân
Trình độ của người dân ảnh hưởng rất nhiều đến việc tiếp thu và ápdụng các kỹ thuật tiến bộ của khuyến nông Theo thông báo của Liên Hiệp
Trang 13Quốc thì hiện nay trên thế giới còn khoảng 840 triệu người mù chữ, trong đó
nữ chiếm 2/3; trong số 180 triệu trẻ em không được đi học thì có 70% là trẻ
em gái Còn ở Việt Nam, theo thống kê cho thấy tỷ lệ lao động nữ không quađào tạo rất cao (chiếm gần 90% tổng số lao động không qua đào tạo trong cảnước); chỉ có 0,63% công nhân kỹ thuật có bằng là nữ, trong khi chỉ tiêu nàycủa nam là 3,46% Tỷ lệ lao động nữ có trình độ trên đại học chỉ 0,016%, tỷ lệnày của nam là 0,077% Điều đó cho thấy trình độ học vấn và chuyên mônnghề nghiệp của nữ là rất thấp Do đó, số phụ nữ làm công ăn lương cũngthấp hơn nam giới Lương trung bình của phụ nữ chỉ bằng 72% mức lươngcủa nam giới Phụ nữ bị hạn chế về kỹ thuật, chuyên môn sự hiểu biết nên gặpnhiều khó khăn trong việc nắm bắt các thông tin về chính sách, pháp luật… vànhiều khó khăn trong việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất.Hiệu quả công việc và năng suất lao động của phụ nữ thấp
Vì vậy do nam giới có trình độ học vấn cao hơn nên họ sẽ là người raquyết định, cũng như tham gia vào các hoạt động khuyến nông Người phụ nữchỉ có thể là người thực hiện những quyết đinh đó của nam giới
2.1.4.3 Khả năng tiếp nhận thông tin của phụ nữ
Thiếu thông tin không chỉ làm cho phụ nữ gặp nhiều khó khăn trongviệc sản xuất kinh doanh mà làm cho phụ nữ bị hạn chế cả về tầm nhận thức
và hiểu biết xã hội Phụ nữ phải đảm nhận một khối lượng công việc lớn trongmỗi ngày và chiếm gần hết thời gian của họ Do vậy, cơ hội để phụ nữ giaotiếp rộng rãi, thời gian hội họp để nắm bắt thông tin cũng rất hiếm Theo báocáo của chính phủ 80% lượng báo chí phát hành được tập trung ở thành thị, cónghĩa là 80% dân số nông thôn nước ta chỉ được tiếp cận với 20% lượng báochí phát hành Đây cũng là một con số lý thuyết, trên thực tế có nhiều vùngnông thôn xa xôi hẻo lánh người dân còn chưa hề được tiếp xúc với báo chí
và các hình thức truyền tải thông tin khác
Trang 142.1.4.4 Nội dung của các hoạt động khuyến nông
Nội dung của các hoạt động khuyến nông ảnh hưởng nhiều đến việctham gia của giới vào các hoạt động khuyến nông Hiện nay, các hoạt độngkhuyến nông thường tập trung vào sản xuất mang tính chất hàng hoá hơn làcác cây trồng, vật nuôi phục vụ cho nhu cầu thiết yếu trong nông hộ, mà đóthường là các cây trồng mà phụ nữ quan tâm Chính vì vậy mà phụ nữ khôngmuốn tham gia vào các hoạt động khuyến nông vì các hoạt động đó khôngđáp ứng nhu cầu của họ
2.1.5 Những vấn đề đặt ra cho nghiên cứu giới trong khuyến nông
- Sự tham gia của nam giới và nữ giới trong hệ thống tổ chức khuyến nông
- Sự tham gia của nam giới và phụ nữ trong lãnh đạo hệ thống khuyến nông
- Sự tham gia của nam giới và phụ nữ trong lập kế hoạch khuyến nông
- Sự tham gia của nam giới và nữ giới trong các hoạt động khuyến nông(hoạt động tập huấn kỹ thuật, xây dựng MHTD, tham quan, hội thảo đầu bờ)
- Sự tham gia của nam giới và nữ giới trong hưởng lợi từ các hoạt độngkhuyến nông
2.2 Một số vấn đề thực tiễn về giới trong khuyến nông
2.2.1 Trên thế giới
2.2.1.1 Giới và phát triển giới trên thế giới
Trên thế giới, vấn đề giới được nhiều nước phát triển đặt ra một cáchchính thống từ những năm 60 của thế kỷ 20 Các nước phát triển như Anh,
Mỹ, Pháp, Hà Lan đã thực hiện các chương trình phát triển về giới ở các cấp
độ và phương pháp tiếp cận khác nhau Các vấn đề giới và phát triển giới đãđược liên đoàn phụ nữ Quốc tế và các tổ chức chuyên môn của Liên HợpQuốc đưa vào nội dung hoạt động của các chương trình phát triển, lồng ghéptrong tất cả các hoạt động hỗ trợ các nước thành viên, nhất là trong các nướcđang phát triển
Trang 15Điểm tập trung quan trọng nhất về giới và phát triển giới được các nướctrên thế giới thể hiện trong “Cương lĩnh và tuyên bố Bắc Kinh” về sự pháttriển về giới năm 1995 Cương lĩnh gồm 6 chương, xác định rõ 12 lĩnh vựcbức xúc cần quan tâm thể hiện những trở ngại chính đối với sự tiến bộ củaphụ nữ Cương lĩnh cũng xác định rõ mục tiêu chiến lược và đề ra các biệnpháp thực hiện mà các chính phủ và các cá nhân cần phải tiến hành thực hiện
để phá bỏ các trở ngại hiện nay Bản cương lĩnh còn nhấn mạnh trong tuyên
bố Bắc Kinh khẳng định lại một lần nữa cam kết của các chính phủ nhằm xoá
bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ và mọi trở ngại để đi đến bình đẳng Cácchính phủ cũng thừa nhận nhu cầu bảo đảm đưa quan điểm giới vào các chínhsách và chương trình của mình
Cương lĩnh hành động, một chương trình nghị sự nhằm trao quyềnnăng cho phụ nữ, cố gắng xoá bỏ sự phân biệt đối xử, giảm bớt những ảnhhưởng tiêu cực tới phụ nữ Cương lĩnh cố gắng khẳng định và bảo đảm để phụ
nữ được hưởng thụ đầy đủ mọi nhân quyền và sự tự do cơ bản trong suát cuọcđời của mình Cương lĩnh kêu goi thiết lập những nguyên tắc chia sẻ quyềnlực, trách nhiệm giữa phụ nữ và nam giới trong gia đình, tại nơi làm việc,trong cộng đồng quốc gia và quốc tế
Kể từ hội nghị thế giới đầu tiên về phụ nữ do Liên Hợp Quốc tổ chứctại thành phố Mêxicô 1975, đến hội nghị Bắc Kinh 1995 và cho đến nay thếgiới đã có nhiều thay đổi lớn lao, đã đạt được nhiều tiến bộ quan trọng vềbình đẳng nam nữ Phong trào dân chủ hoá trên toàn thế giới đã mở ra mộtquá trình chính trị ở nhiều quốc gia Sự phát triển ngày càng lớn mạnh của các
tổ chức phụ nữ và các nhóm phụ nữ đã trở thành động lực thúc đẩy sự thayđổi Cơ hội tiếp cận của phụ nữ với giáo dục và chăm sóc sức khoẻ và sựtham gia của họ trong lĩnh vực lao động được trả công đã tăng lên, các vănbản pháp luật đảm bảo cơ hội bình đẳng và tôn trọng nhân quyền cho phụ nữcũng được thông qua nhiều nước Chính vì vậy có những thay đổi quan trọng
Trang 16trong mối quan hệ giữa phụ nữ và nam giới.
Trong mỗi quốc gia đã có sự tiến bộ vượt bậc trong cải thiện địa vị phụ
nữ cũng như trong sự bình đẳng giới, được thể hiện trong một số mặt: trình độhọc vấn của phụ nữ được cải thiện đáng kể, điều đó đã thu hẹp khoảng cáchlớn về giới trong vấn đề giáo dục, tuổi thọ bình quân của phụ nữ đã tăng thêm
từ 15-20 năm nhờ sự cải thiện mức độ tiếp cận dịch vụ y tế, chăm sóc sứckhoẻ, có sự đầu tư nhiều hơn cho phụ nữ và bé gái, phụ nữ tham gia nhiềuhơn vào lực lượng lao động làm cho khoảng cách giới trong tiền lương cũnggiảm dần (WB, 2007), nhu cầu phát triển cho phụ nữ được cải thiện đáng kể,nhất là ở các nước phát triển
Nguồn: Giáo trình giới trong phát triển nông thôn, Đỗ Kim Chung, Nguyễn Thị Minh Hiền, Nguyễn Phượng Lê, 2009
2.2.1.2 Giới trong hoạt động khuyến nông ở một số nước trên thế giới
Tại Kenia, Nigieria, Zămbia, các tổ chức khuyến nông thường ghéthăm các gia đình nông dân do nam giới làm chủ hộ nhiều hơn các gia đìnhnông dân do nữ giới làm chủ hộ Nữ nông dân thường khó tiếp cận hơn vớicác nguồn lực cần cho sản xuất nông nghiệp, các thông tin sản xuất, việc đàotạo và công nghệ từ hoạt động khuyến nông
Với đội ngũ nhân viên chủ yếu là nam, đội ngũ khuyến nông thường tậptrung vào nam giới, vì người ta cho rằng nam giới là người quyết định chínhtrong công việc và họ sẽ chia sẻ thông tin khuyến nông cho vợ mình Quanniệm trên là sai lầm, cũng như các nguồn lực khác, thông tin khuyến nôngthường không được các thành viên trong gia đình chia sẻ cho nhau 40% nữnông dân ở Trinitrat nói rằng họ nhận được những lời khuyên về nông nghiệp
từ chồng mình, còn phụ nữ ở Ấn Độ, Thái Lan, Malaysia lại thường lấy thôngtin về công nghệ sản xuất hiện đại từ bạn bè, hàng xóm và họ hàng
Nếu như những dịch vụ có xét đến sự khác biệt giới trong việc lựa chọncây trồng, phân biệt giới trong ràng buộc về nguồn lực và những cấm đoán về
Trang 17văn hoá vốn đang hạn chế sự trao đổi qua lại mang tính cá nhân và tập thểgiữa nam và nữ thì khả năng nữ nông dân thu lợi từ hoạt động khuyến nông sẽđược cải thiện đáng kể Cũng như các dịch vụ khác, lợi ích từ việc lồng ghépgiới sẽ lớn nhất nếu coi nữ nông dân như một đối tượng tách biệt trong cácchính sách khuyến nông và hướng dẫn nghiệp vụ, trong việc tuyển dụng nữcán bộ khuyến nông (đặc biệt những nơi mà sự tương tác qua lại giữa nam và
nữ bị cản trở), và trong đào tạo cán bộ khuyến nông, cả nam lẫn nữ về nhữngkhó khăn khác nhau trong cuộc sống mà nam và nữ nông dân gặp phải
Nguồn: Giáo trình giới trong phát triển nông thôn, Đỗ Kim Chung, Nguyễn Thị Minh Hiền, Nguyễn Phượng Lê, 2009
2.2.2 Ở Việt Nam
2.2.2.1 Giới và phát triển giới ở Việt Nam
Vấn đề giới ở nước ta được quan tâm và thảo luận rất sớm Mặc dù là mộtnước nghèo trên thế giới, song Việt Nam lại có chỉ số phát triển liên quan tớibình đẳng giới tương đối tiến bộ Đến năm 2007, Việt Nam đã được xếp hạngthứ 42 trong số 128 quốc gia Diễn đán kinh tế thế giới đã đánh giá mức độ bìnhđẳng giới ở sự tham gia các hoạt động kinh tế, tiếp cận cơ hội kinh tế, trao quyền
về chính trị, cơ hội học tập, sức khoẻ và an sinh Việt Nam được xếp hạng thứ 11
về cơ hội và sự tham gia các hoạt động kinh tế, hạng thứ 103 về cơ hội học tập,hạng 91 về sức khoẻ và an sinh (Word Economic Forum, 2008)
Từ khi thực hiện “ Chiến lược vì sự tiến bộ của phụ nữ”, Việt Nam đã đạtđược những thành tựu đáng kể, thực hiện sự tiến bộ và bình đẳng của phụ nữ
Nguồn: Giáo trình giới trong phát triển nông thôn, Đỗ Kim Chung, 2009 2.2.2.2 Một số vấn đề giới trong hoạt động khuyến nông Việt Nam
Những vấn đề cần quan tâm:
- Phụ nữ chiếm phần lớn trong các hoạt động sản xuất nông nghiệp, chiếm
¾ lực lượng lao động nghành chăn nuôi, chiếm 80% trong lĩnh vực trồng trọt,nhưng chưa có cơ hội bình đẳng trong việc tiếp cận với tập huấn khuyến nông
Trang 18Phụ nữ chỉ chiếm 20% số người tham gia tập huấn về chăn nuôi và 10% trong tậphuấn về trồng trọt.
- Ở Việt Nam, theo cách làm từ trước đến nay, các chương trình khuyếnnông thường chú trọng đến nam giới Trên thực tế cán bộ khuyến nông thườngliên hệ với nam giới hơn so với phụ nữ vì họ cho rằng nam giới là người chịutrách nhiệm ra quyết định về các vấn đề sản xuất và các vấn đề khác của gia đình
- Phụ nữ chưa có cơ hội bình đẳng về sở hữu đất và sở hữu tài sản Mặc
dù được đảm bảo quyền bình đẳng trước pháp luật nhưng trên thực tế định kiếngiới và quan điểm gia trưởng trong gia đình về việc ai làm chủ hộ và có quyềnđịnh đoạt về đất đai đã hạn chế sự tham gia của phụ nữ trong các vấn đề này
- Phụ nữ gặp khó khăn hơn nam giới trong việc tiếp cận nguồn tín dụngngân hàng nên phải vay tiền bên ngoài với lãi suất cao và số vốn hạn chế
- Tỷ lệ nữ tham gia các vị trí lãnh đạo ít hơn so với nam giới, chưa gâyđược nhiều ảnh hưởng đối với việc ra quyết định đối với các vấn đề then chốt.Định kiến giới truyền thống về vai trò và khả năng của người phụ nữ vẫn tiếptục tác động tới cả phụ nữ và nam giới, làm cho các chính sách, chương trình,
dự án thiếu nhạy cảm giới và hạn chế hiệu quả của chúng
- Phụ nữ phải chịu gánh nặng công việc hơn, thiếu thời gian ngủ, nghỉngơi, giải trí hơn so với nam giới Công việc nội trợ, chăm sóc con cái chiếmrất nhiều thời gian của phụ nữ Thiếu sự quan tâm, chia sẻ và cùng gánh váccủa nam giới
Tập huấn khuyến nông đặc biệt quan trọng đối với các chủ hộ là nữ - họ ítnhận được thông tin từ các nguồn khác và nhìn chung, họ ít được tiếp cận đượcvới các nguồn tài nguyên, nhân lực và tài chính hơn với các hộ gia đình do namgiới làm chủ hộ Mặc dù các chương trình khuyến nông đa dạng và tuỳ theohoàn cảnh cụ thể của từng địa phương, một số kết quả nghiên cứu cho thấynhững rào cản văn hoá xã hội đã hạn chế sự tham gia của nữ chủ hộ vào cácchương trình này
Trang 19PHẦN 3: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm của huyện Phù ninh
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Phù Ninh là một huyện miền núi được tái lập tháng 9/1999, nằm ở phíaĐông bắc của tỉnh Phú Thọ, có toạ độ từ 21o15’-21o33’ độ vĩ bắc, 105o13’-
105o24’ độ kinh đông
- Phía Bắc giáp huyện Đoan Hùng
- Phía Nam giáp thành phố Việt Trì, huyện Lâm Thao
- Phía Tây giáp thị xã Phú Thọ và huyện Thanh Ba
- Phía Đông giáp Sông Lô
3.1.1.2 Địa hình
Huyện Phù Ninh trải dài theo dòng sông Lô về phía Đông bắc địa hình củahuyện phức tạp, có địa hình dốc, bậc thang và lòng chảo, tạo cho huyện có hệthống núi thấp, đồi bát úp (xã Phú Mỹ và Phù Ninh), có vùng bán sơn địa, hìnhthành những sườn đồi, ruộng bậc thang, có vùng đồng bằng và hồ đầm
Địa hình của Phù Ninh được phân thành 6 cấp độ dốc với diện tích tươngứng như sau:
các xã và thị trấn trong huyện, tập trung nhiều nhất ở các xã Phú Mỹ, TrạmThản và Phù Ninh
- Cấp II (từ 3o-8o), diện tích 1.072,01 ha, chiếm 6,41% tổng diện tíchđược khảo sát
- Cấp III (từ 8o-15o), diện tích 3.846,53 ha, chiếm 23% tập trung ở một số
xã, nhiều nhất là ở xã Phù Ninh và Trạm Thản
- Cấp IV (từ 15o-20o), diện tích 4.348,25 ha, chiếm 26% tập trung ở nhiều
xã như Phú mỹ và trung Giáp
Trang 20- Cấp V (từ 20o-25o), diện tích 667,29 ha, chiếm 3,99% diện tích đất khảosát.
- Cấp VI (trên 25o), diện tích 92,79 ha, chiếm 1,38%, phân bố ở một số ítcác xã như Phú Mỹ, Phù Ninh, Phú Nham, thị trấn Phong Châu và Phú Lộc
Từ những phân tích trên cho thấy địa hình Phù Ninh tuy phong phú đadạng nhưng ít phức tạp, độ cao trung bình không lớn (không quá 50-60 m), sựphong phú của địa hình là tiền đề phát sinh nhiều loại đất khác nhau và đa dạnghoá các loại cây trồng Địa hình ít phức tạp rất thuận lợi trong việc sử dụng đấtvào sản xuất nông, lâm nghiệp, thuận lợi cho việc bố trí quy hoạch, xây dựngcác công trình công cộng như giao thông, thuỷ lợi Tuy vậy địa hình dốc củaPhù Ninh cũng gây khó khăn không nhỏ đến khả năng sử dụng đất vào các mụcđích nông, lâm nghiệp như hạn hán, úng lụt, vận chuyển đi lại, kiến thiết đồngruộng, cơ giới hoá, ứng dụng các tiến bộ khoa học vào sản xuất nông,lâmnghiệp, cải tạo đồng ruộng
3.1.1.3 Khí hậu
Phù Ninh nằm ở vùng núi phía bắc Việt Nam nên mang đặc điểm chungcủa khí hậu miền Bắc Việt Nam là nhiệt đới gió mùa, một năm chia làm haimùa rõ rệt là mùa nóng và mùa lạnh
Mùa nóng bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 10 Đặc điểm củamùa này là nhiệt độ cao, gió thịnh hành là gió Đông nam và mưa nhiều Theo
số liệu của trạm khí tượng Phú Hộ, mùa nóng có nhiệt độ trung bình ngày là
12,3 ngày/tháng, số giờ nắng trung bình là 4,22 giờ/ ngày, tổng tích ôn toànmùa là 5.752,5oC
Mùa lạnh bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc trong tháng 3 của năm sau
mm, số ngày mưa trung bình trong tháng là 7,8 ngày, số giờ nắng trung bình
là 1,62 giờ/ngày, tổng tích ôn toàn mùa là 2.873,3oC
Theo số liệu quan trắc của trạm khí tượng Phú Hộ, nhiệt độ trung bình
Trang 21hàng năm là 1.715 mm, trung bình tháng là 142,90 mm, độ ẩm trung bình là85,5%, tổng tích ôn trong năm là 8.625,8oC Điều kiện khí hậu trên ảnh hưởnghai mặt tới việc sử dụng đất của huyện Phù Ninh.
Ảnh hưởng tích cực: Phù Ninh có nhiệt độ thích hợp, lượng mưa khá,tổng tích ôn dồi dào thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp, điều kiện khíhậu thuận tiện cho phép Phù Ninh có thể phát triển nhiều loại cây trồng, sảnxuất thâm canh nhiều vụ trong một năm Điều kiện khí hậu thuận lợi làm chođất đai sẽ được khai thác tốt, hệ số sử dụng đất và hiệu quả sử dụng đất ngàycàng cao
Ảnh hưởng tiêu cực: Do chế độ nhiệt, lượng mưa phân bố không đềutrong năm, mưa lớn tập trung vào tháng 6, 7, 8, 9 thường gây xói mòn, rửatrôi rất mạnh đối với đất đồi, lũ và ngập úng đối với đất ruộng
Ngược lại, mưa ít trong tháng 11, 12, 1 và 2 gây hạn hán cho cây trồng
vụ đông xuân, làm tăng khả năng quá trình đá ong hoá đối với đất đồi.
3.1.1.4 Thuỷ văn
Địa phận huyện Phù Ninh có sông Lô chảy qua, từ xã Phú Mỹ qua các xã
Trị Quận, Hạ Giáp, Tiên Du, An Đạo, Bình Bộ, Tử Đà, Vĩnh Phú Tổng chiều
dài phần sông chảy qua Phù Ninh là 32 km, nơi rộng nhất ở xã Phú Mỹ là 625
m, trung bình rộng 425 m, diện tích chiếm đất khoảng 13,80 km2
Theo kết quả tính toán lượng nước chảy qua sông Lô tại điểm huyện PhùNinh hàng năm là khá lớn Trong các tháng mùa mưa, lưu lượng dòng chảy
yếu cho đồng ruộng của các xã Phú Mỹ qua các xã Trị Quận, Hạ Giáp, Tiên
Du, An Đạo, Bình Bộ, Tử Đà, Vĩnh Phú Đây là con sông đảm nhận việc tưới
tiêu chủ yếu cho các xã vùng Đông bắc của huyện Phù Ninh.
* Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên, tài nguyên và cảnh quan môi trường.
- Vị trí địa lý của Phù Ninh rất thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế, vănhoá, xã hội, tạo điều kiện tốt cho phát triển công nghiệp, du lịch, dịch vụ vànông lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá
Trang 22- Có địa hình, đất đai, khí hậu đa dạng, phong phú ít phức tạp, có thểtrồng được nhiều loại cây trồng với năng suất cao và ổn định.
- Ở Phù Ninh có con sông Lô chảy qua, trữ lượng nước lớn, với nguồn phù
sa và nguồn khoáng sản cát sỏi dồi dào, có khả năng đáp ứng cho việc khai tháclâu dài
Địa hình đất đai của Phù Ninh tuy phần nhiều là thuận lợi cho sản xuất,nhưng cũng gây những khó khăn đáng kể trong hoạt động sản xuất nông lâmnghiệp như hiện tượng lũ lụt, hạn hán, xói mòn, rửa trôi Phù Ninh là nơi tậptrung khá nhiều nhà máy, xí nghiệp công nghiệp, dịch vụ, không khí môitrường cảnh quan sẽ nhanh bị phá huỷ theo chiều hướng bất lợi, nếu nhưkhông tăng cường những biện pháp hữu hiệu để bảo vệ chúng
3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội
3.1.2.1 Đặc điểm về đất đai
Đất đai là tư liệu sản xuất không thể thiếu đối với sản xuất nôngnghiệp, nhất là với một huyện mà người dân sống chủ yếu dựa vào nôngnghiệp như huyện Phù Ninh Toàn huyện có tổng diện tích đất tự nhiên là15.651,36 ha Trong đó: đất nông nghiệp là chủ yếu với diện tích năm 2007 là11363,14ha (chiếm tỷ trọng 72,67%), năm 2009 giảm xuống còn 11264,13ha(chiếm tỷ trọng 71,97%) Diện tích đất nông nghiệp giảm dần qua các năm,bình quân 3 năm 2007 – 2009 giảm 99,01ha, nguyên nhân do đất nông nghiệpchuyển sang đất ở, đất chuyên dùng
Trong đất nông nghiệp thì đất trồng trọt chiếm tỷ trọng lớn nhất với70,09% (có diện tích 8057,02ha), từ năm 2007-2009 giảm 82,37ha
Phù Ninh là một huyện miền núi nên đồi núi nhiều Do vậy, còn khánhiều diện đất chưa sử dụng (736,42ha), trong đó có 133,26ha đất bằng chưa
sử dụng, 603,16ha đất đồi núi chưa sử dụng
Trang 23Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất ở huyện Phù Ninh qua 3 năm
1.2 Đất trồng cây hàng năm 5001,94 44,02 4986,40 43,97 4944,50 43,89 99,68 99,15 1.3 Đất trồng cây lâu năm 3055,08 26,89 3050,89 26,90 3030,15 26,90 99,86 99,32
Trang 244 Một số chỉ tiêu BQ
Nguồn: Phòng thống kê huyện Phù Ninh
Nhìn chung dân số huyện Phù Ninh trong 3 năm qua không có sự biếnđộng lớn Toàn huyện có 17 xã và 1 thị trấn,với số dân trung bình năm 2009
là 93.799 người
3.1.2.3 Tình hình sản xuất kinh doanh của huyện
Với mục tiêu khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn lực sẵn có, để đẩynhanh việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghịêp- nông thôn, chuyểnmạnh hướng sản xuất hàng hóa, trong những năm qua nền kinh tế Phù Ninh
đã có những bước phát triển tương đối toàn diện Nền kinh tế có sự chuyểndịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Trang 25Bảng 3.3: Tình hình sản xuất kinh doanh của huyện qua 3 năm (2007-2009)
Chỉ tiêu
GTSX (Triệu đồng)
Cơ cấu (%)
GTSX (Triệu đồng)
Cơ cấu (%)
GTSX (Triệu đồng)
Cơ cấu (%)
2008/200 7
Trang 26a Ngành nông nghiệp
+ Ngành trồng trọt: Tổng diện tích gieo trồng năm 2009 là 4944,50 ha.
Cơ cấu cây trồng có sự chuyển đổi hợp lý, diện tích đất trồng cây rau màunhư: mướp đắng, cà chua, dưa chuột có xu hướng tăng lên Năng suất câytrồng tăng lên rõ rệt do người dân mạnh dạn đầu tư và biết ứng dụng khoa học
kỹ thuật vào sản xuất Đồng thời xây dựng mô hình cánh đồng, khu đồi rừng,
hộ gia đình có thu nhập cao với 6 mô hình điểm để tạo ra vùng sản xuất hànghoá, tập trung theo hướng chuyên canh Bước đầu đã khẳng định hiệu qủakinh tế rõ nét
+ Ngành chăn nuôi: Tổng đàn bò 13401 con ; tổng đàn trâu : 4.497 con;đàn lợn 55.039 con; đàn gia cầm: 815.864 con Tiếp tục thực hiện chươngtrình phát triển chăn nuôi bò thịt giai đoạn 2006-2010, khuyến khích nông dânphát triển chăn nuôi bò thịt Đã hỗ trợ 10 triệu cho các hộ chăn nuôi bò đựcgiống lai sind Tổ chức tiêm phòng cúm gia cầm 2 đợt cho 1.020.038 lượt gà,vịt, tiêm phòng bệnh nhiệt thán, lở mồm long móng cho đàn trâu, bò
Chú trọng thực hiện công tác phòng chống bệnh tai xanh ở lợn; thực hiệntốt công tác phòng dịch, kiểm dịch động vật, vệ sinh thú y, thực hiện 3 đợtphun thuốc vệ sinh tiêu trùng khử độc ở các xã, thị trấn và các chợ trung tâm,hiện tại trên địa bàn không có dịch bệnh phát sinh Thực hiện chuyển đổinhững diện tích một vụ năng suất thấp, những diện tích cấy lúa sản lượng bấpbênh sang nuôi trồng thuỷ sản, với diện tích 15 ha thuộc các xã Tiên Du, TrịQuận, Tử Đà, Phú Nham, Phù Ninh, Vĩnh Phú
+ Trồng cây lâm nghiệp: Thực hiện kế hoạch trồng cây, trồng rừng năm
2009 Toàn huyện đã trồng được 100.000 cây phân tán, thực hiện chươngtrình trồng rừng 661 đã trồng xong 130 ha đạt 100% KH, trong đó Trạm Thản
43 ha, Liên Hoa 20 ha, Trung Giáp 10 ha, Tiên Phú 32 ha, Phú Mỹ 20 ha, Bảothanh 5 ha
Trang 27b Ngành công nghiệp- xây dựng cơ bản
Giá trị sản xuất công nghiệp -TTCN năm 2009 đạt 145,446 triệu đồng(giá cố định 1994) đạt 108% kế hoạch, tăng 20% so cùng kỳ
Nhìn chung sản xuất CN-TTCN phát triển ổn định Một số doanhnghiệp đã đầu tư dây truyền công nghệ lắp đặt máy móc, thiết bị mới như:Công ty CP cơ khí và xây dựng Phú Kim An đầu tư hơn 5 tỷ đồng để sảnxuất máy sản xuất gạch theo công nghệ mới, hiện nay đã có sản phẩm tiêu thụtrên thị trường các tỉnh Yên Bái, Hòa Bình, Hưng Yên Một số mặt hàng tăng
cả về sản lượng sản phẩm và giá trị sản lượng sản phẩm như: Sản xuất hộpcatstong sóng 3 lớp, 5 lớp, Sản xuất khí ôxy đạt 1.686 tấn, Sản xuất phèn đạt
752 tấn Thực hiện có hiệu quả chương trình liên kết giữa nhà khoa học vớidoanh nghiệp để tăng sản lượng sản phẩm và giá trị sản lượng sản phẩm Tiếptục ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất vật liệu xây dựng Tuy nhiên trongsản xuất CN-TTCN có mặt còn hạn chế như Quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ, khảnăng cạnh tranh thị trường còn hạn chế
c Ngành kinh doanh dịch vụ
Hoạt động của các các ngành dịch vụ thương mại, vận tải, bưu chínhviễn thông ổn định Tổng doanh thu thương mại dịch vụ ngoài quốc doanh đạt189.841 triệu đồng, tăng 11% so cùng kỳ Trong đó doanh thu vận tải đạt14.973 triệu đồng, dịch vụ bưu chính viễn thông đạt 16.200 triệu đồng, doanhthu dịch vụ thương mại 158.668 triệu đồng Hoạt động tín dụng ngân hàng cómức tăng trưởng khá, các ngân hàng đã áp dụng các chính sách như tăng lãixuất tiền gửi tiết kiệm huy động tối đa nguồn tiền trong nhân dân Tổng huyđộng vốn đạt 567 tỷ đồng, tăng 29% so cùng kỳ Tổng dư nợ 633,9 tỷ đồng;trong đó ngân hàng Nông nghiệp &PTNT 273 tỷ đồng, ngân hàng Đầu tư
&PT 132 tỷ đồng, ngân hàng công thương 66 tỷ đồng, ngân hàng phát triểnnhà đồng bằng Sông Cửu Long 60 tỷ đồng, ngân hàng chính sách 83,1 tỷđồng, quỹ tín dụng nhân dân xã Phú Lộc: 13,1 tỷ đồng, quỹ tín dụng nhân
Trang 28dân An Đạo 6,7 tỷ đồng.v.v.
Nhìn chung hoạt động kinh doanh dịch vụ, ngân hàng tín dụng có mứctăng trưởng khá Tuy nhiên do các ngân hàng quản lý chặt chẽ nguồn vốn vaynên một số doanh nghiệp; hộ nông dân gặp khó khăn trong vay vốn đã ảnhhưởng một phần tới tiến độ đầu tư và phát triển kinh tế
d Về đầu tư phát triển:
Giá trị thực hiện đạt 125,680 triệu đồng, đạt 132% KH, tăng 51,6% sovới cùng kỳ Đã tập trung thi công xây dựng các công trình thi công đườnggiao thông nông thôn bằng bê tông xi măng, đường HLP3 Tiếp tục xây dựngcông trường 06, thi công chợ trung tâm thị trấn Phong Châu Thi công xâydựng trạm y tế các xã, thị trấn theo kế hoạch, xây dựng đài truyền thanhhuyện, xây dựng trụ sở làm việc Huyện uỷ Chỉ đạo các xã cải tạo và khắcphục những công trình bị hư hỏng do lốc xoáy và mưa đá Công tác quản lýnhà nước đã được chú trọng đảm bảo trình tự và thủ tục về quản lý đầu tư xâydựng công trình và các văn bản hướng dẫn, sửa đổi của các ngành cấp trên.Công tác quản lý chất lượng được tăng cường kiểm tra giám sát và giám sátđầu tư của cộng đồng đảm bảo chất lượng công trình chống thất thoát lãng phítrong đầu tư xây dựng Tuy nhiên do thiếu vốn đầu tư, do chậm giải phóngmặt bằng và năng lực của một số chủ đầu tư còn hạn chế một số công trìnhtiến độ đầu tư xây dựng còn chậm
e Về thu chi ngân sách Nhà nước
Công tác thu chi ngân sách đạt kết quả tốt, có nhiều cố gắng khai thácnguồn thu, thu ngân sách năm sau cao hơn năm trước và vượt kế hoạch đượcgiao Thực hiện chi ngân sách tiết kiệm, đúng mục đích đảm bảo yêu cầu vàđúng quy định Nhìn chung đã có nhiều cố gắng trong thu chi ngân sáchhuyện, đã quản lý chặt chẽ các nguồn thu, đảm bảo thu đúng, thu đủ; việc chingân sách thực hiện theo đúng chế độ quy định Một số khoản thu đạt kết quảcao: Thu thuế chuyển quyền, cấp quyền sử dụng đất và thu thuế trước bạ Tuy
Trang 29nhiên kết quả thu ngân sách huyện còn một số hạn chế như: công tác uỷnhiệm thu ở một số xã kết quả đạt thấp do chưa tích cực triển khai thu thuếkinh doanh vận tải, một số khoản thu đạt thấp như thu: phí và lệ phí, thu hoalợi công sản.
3.1.2.4 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng huyện Phù Ninh- Tỉnh Phú Thọ
a Giao thông:
Hệ thống giao thông của huyện tương đối phát triển, thuận tiện cho việc
đi lại và trao đổi giữa vùng với các địa phương khác Trên địa bàn huyện cóđường quốc lộ 2 chạy qua với chiều dài 32 km, đường tỉnh lộ có 9,25 Km,đường huyện lộ có 72,9 km, gần 1000 km đường liên xã liên thôn và nộiđồng Ngoài ra, còn có 36 km đường thuỷ và 10,7 km đường sắt, 1 bến cảng
và 7 bến đò ngang chủ yếu phục vụ cho việc vận chuyển cát sỏi
Hiện tại diện tích giao thông của huyện Phù Ninh là 962,42 ha chiếm6,15% tổng diện tích đất tự nhiên Tuy nhiên, hệ thống đường giao thông củahuyện Phù Ninh còn kém, mặt đường hẹp, chưa đáp ứng đủ nhu cầu đi lại vàvận chuyển hàng hoá Do vậy, trong những năm tới, diện tích đất dành chogiao thông sẽ tăng đáng kể để mở rộng đường, nâng cấp và xây dựng nhữngđường mới Nhu cầu đất giao thông sẽ gây áp lực đáng kể đối với đất đai trêntoàn huyện
b Thủy lợi
Huyện Phù Ninh có tuyến sông Lô dài 34,4 km chạy dọc theo phía đônghuyện là nguồn cung cấp nước chính phục vụ cho công tác thuỷ lợi của huyện,bên cạnh đó huyện có 04 ngòi tiêu lớn, tiêu nước từ trong đồng ra sông Lô vớitổng chiều dài là 37,9 km Toàn huyện có 100 hồ đập lớn nhỏ phục vụ cho sảnxuất nông nghiệp của các xã vùng đồi và khoảng 1.100 km kênh thuỷ lợi, trong
đó kệnh chính loai II là 20,4 ha, loại III là 14 km đã được kiên cố hoá Tổngdiện tích chiếm đất của hệ thống thuỷ lợi là 560,12 ha chiếm 3,58 % tổng diệntích tự nhiên
Truớc tình hình thời tiết diễn biến phức tạp Phòng NNPTNT đã tham
Trang 30mưu cho UBND huyện ban hành các văn bản chỉ đạo các xã thị trấn tập chungtận dụng mọi nguồn nước, lắp đặt thêm các trạm bơm nạo vét kênh mương,khơi thông dòng chảy ở các tuyến kênh mương, bảo đảm nứoc tưới phục vụ
và các tuyến kênh mương nội đồng, chủ động dặt thêm các trạm bơm dã chiếnbơm liên tục 24/24h phục vụ nước tưới cho các xã ven sông Xây dựng kếhoạch PCLB, đồng thời tiến hành kiểm tra công tác chuẩn bị PCLB ở 18 xã,thi trấn đạt yêu cầu theo đúng kế hoạch Đã hoàn thành hồ sơ thiết kế 4 côngtrình được UBND huyện phê duyệt ở các xã: Liên Hoa, Trung Giáp, An Đạo,Gia Thanh đồng thời tổ chức diễn tập tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ, sơ tán dântrong mùa mưa lũ đạt kết quả tốt
c Điện năng- điện thoại
Hệ thống điện lưới quốc gia đã phát triển ở 18/18 xã và thị trấn, tỷ lệ số
hộ dùng điện đạt 98 % Huyện đã đầu tư xây dựng được 26 trạm biến áp vớitổng dung lượng là 2.940 KVA, 41 Km đường cao thế, 56,6 Km đường hạ thếvới hàng trăm cột cao thế và hạ thế các loại Tổng diện tích chiếm đất cảu cáccông trình điện là hàng nghìn m2 Trong tương lai, đất cho nhu cầu phát triển
hệ thống không lớn và không áp lực nào đáng kể
Hiện nay trên địa bàn huyện có 02 trạm trung chuyển thông tin chính đó làBưu điện huyện đặt tại thị trấn Phong Châu và xã Phú lộc, bên cạnh đó tại 18/18
xã, thị trấn đều đã có điểm bưu điện văn hoá xã đã đáp ứng đầy đủ nhu cầu thôngtin cho nhân dân Trên địa bàn huyện có 7248 máy điện thoại, đạt 6,6 máy/ 100dân, bên cạnh đó hệ thống thông tin di động trong những năm qua đã phát triểnmạnh trên địa bàn huyện, hệ thống thông tin Internet cũng đang phát triển mạnh,góp phần đáng kể vào việc truyền tải và cung cấp thông tin cho nhân dân
d Giáo dục đào tạo
Phát triển quy mô, mạng lưới trường, lớp, học sinh đúng kế hoạch, pháttriển thêm 2 trường tư thục: Mầm non tư thục Thanh Lâm và trường Trunghọc phổ thông Nguyễn Huệ Bố trí, sắp xếp đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý
Trang 31giáo dục đủ về số lượng, khá đồng bộ về bộ môn Tiếp tục thực hiện có hiệuquả cuộc vận động 2 không với 4 nội dung Chất lượng toàn diện và hiệu quảgiáo dục được nâng lên rõ rệt: Đội tuyển học sinh giỏi văn hóa thi cấp tỉnh lớp
9 xếp thứ nhì toàn tỉnh; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp bậc trung học cơ sở đạt 97%sau 2 lần xét; tỷ lệ học tốt nghiệp bậc trung học phổ thông đạt 75,21% sau 2 lầnthi, tăng 21,2% so với năm 2008 Cơ sở vật chất được tăng cường theo hướngkiên cố hóa, chuẩn hóa, sở Giáo dục và đào tạo đã thẩm tra 3 trường: Mầm nonBình Bộ, tiểu học Vĩnh Phú, trung học cơ sở Phù Ninh để công nhận trường đạtchuẩn quốc gia năm 2009 về cơ bản theo 5 tiêu chí đã đạt được
e Y tế
Tiếp tục thực hiện đề án xây dựng xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tếgiai đoạn 2006-2010, đã tiến hành mua sắm các trang thiết bị trị giá trên 150triệu đồng để phục vụ khám chữa bệnh cho nhân dân Năm 2008 tỉnh đã quyếtđịnh công nhận 2 xã Tiên Du và Liên Hoa đạt chuẩn quốc gia về y tế; đang đềnghị Sở Y tế thẩm định công nhận 2 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế Hạ Giáp,Bảo Thanh để đề nghị UBND tỉnh ra quyết định công nhận trong tháng12/2008 Duy trì khám chữa bệnh thường xuyên tại cơ sở y tế trên địa bànhuyện; thực hiện khám chữa bệnh tại các trạm y tế xã, thị trấn cho 95.821 lượtngười đạt 121,2%KH Tiêm chủng thường xuyên 100% ở các xã, thị trấn, có1.807 cháu trong độ tuổi được tiêm chủng miễn dịch cơ bản, đạt 122%KH.Đẩy mạnh công tác phòng chống dịch bệnh Năm 2009 trên địa bàn huyệnkhông có dịch xảy ra Tổ chức khám bệnh, cấp thuốc miễn phí cho 2.428 lượtngười, đạt 59% KH Thành lập mới 3 chốt cấp cứu nhân đạo tại xã BảoThanh, Phù Ninh và Phú Nham đạt 100% KH Duy trì hoạt động sơ cấp cứumiễn phí, tại 14 chốt cấp cứu CTĐ trên địa bàn huyện
Chú trọng công tác vệ sinh an toàn thực phẩm Tổ chức 02 lớp tập huấncho 120 người thuộc các đối tượng; Kiện toàn ban chỉ đạo vệ sinh an toànthực phẩm của huyện; thành lập đội kiểm tra liên ngành; tiến hành kiểm tra
626 lượt đối với 296 cơ sở sản xuất kinh doanh Qua kết quả kiểm tra các đơn
Trang 32vị đã thực hiện đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
Thực hiện tốt công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em, chuẩn bị đưa 7 trẻ em
bị mắc bệnh tim bẩm sinh; 16 trẻ em có tật; 3 trẻ em bị dị tật đi phẫu thuật Côngtác y tế, dân số kế hoạch hóa gia đình; đã được các cấp, các ngành quan tâm chútrọng, triển khai thực hiện tốt các chương trình, kế hoạch và dự án Tuy nhiên tỷ
lệ người sinh con thứ 3 tuy có giảm so cùng kỳ song vẫn ở mức cao
f Thể dục thể thao
Trên địa bàn huyện đã xây dựng nhà văn hoá trung tâm, có trạm phátthanh và truyền thanh ở trung tâm huyện lỵ với sự tham gia của Công ty giấyBãi Bằng những cơ sở vật chất phục vụ cho văn hoá thể dục thể thao khá pháttriển Ở một số xã có sân bóng chuyền nền đất đơn giản, phong trào tập luyệnbóng bàn, bóng truyền, cầu lông và đặc biệt là bóng đá rất sôi nổi, huyện cómột sân vận động ở trung tâm thị trấn Phong Châu và một sân vận động thuộcCông ty giấy Bãi Bằng Hiện tại theo số liệu thống kê đất năm 2009, diện tíchđất cơ sở văn hoá và đất cơ sở thể dục - thể thao là 23,84 ha chiếm 0,15 %tổng diện tích toàn huyện
g Văn hóa:
Thực hiện tốt công tác quản lý văn hóa Tăng cường công tác thanh tra,kiểm tra các hoạt động kinh doanh văn hóa trên địa bàn, nhằm xây dựng môitrường văn hóa trong sạch lành mạnh; góp phần thúc đẩy học tập, lao động vàsản xuất Tổ chức kiểm tra 23 hộ kinh doanh dịch vụ văn hoá, qua kiểm traphát hiện và xử phạt 15 trường hợp vi phạm, đã xử phạt 3,2 triệu đồng
Đẩy mạnh cuộc vận động toàn dân đoàn kết, xây dựng đời sống văn hoácoi đây là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt Toàn huyện có 20.355 hộ gia đìnhvăn hóa; có 195/199 khu dân cư xây dựng xong nhà văn hoá đạt 98% Việc thựchiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội được tổ chức tiết kiệm,đảm bảo trang trọng, lịch sự 100% các xã, thị trấn đã ra nghị quyết chuyên đề vềthực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội; gắn với thựchiện xây dựng gia đình văn hoá, khu dân cư, làng xã, thị trấn văn hoá
Trang 33Tổ chức lễ hội “chọi trâu Phù Ninh” năm 2009 góp phần bảo tồn và pháthuy các giá trị văn hóa truyền thống trên quê hương Phù Ninh.
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Chọn điểm nghiên cứu
Nghiên cứu này sử dụng các số liệu để đánh giá sự tham gia của giớitrong các hoạt động khuyến nông tại huyện Phù Ninh Toàn huyện có 18 xã
và 1 thị trấn Để tiến hành nghiên cứu đề tài tôi chọn 2 xã là xã Phú Mỹ và xãTiên Phú Xã Phú Mỹ là một xã miền núi, xã Tiên Phú là xã đồng bằng để đạidiện cho hai vùng của huyện Ở mỗi xã được chọn, tôi tiến hành phỏng vấn và
sử dụng bảng câu hỏi điều tra để hỏi các hộ nông dân sản xuất nông nghiệpvới số mẫu là 60 hộ, trong đó mỗi xã 30 hộ Bao gồm cả những hộ có chủ hộ
là nam và những hộ có chủ hộ là nữ, để thấy được mức độ tham gia của namgiới và phụ nữ vào các hoạt động khuyến nông
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
3.2.2.1 Thu thập số liệu đã công bố
STT Nội dung số liệu Địa điểm thu thập Phương pháp thu thập
1 Số liệu về cơ sở lý luận, thực tiễn ở
Việt Nam và thế giới
Sách, báo, Internet có liên quan
Tra cứu, chọn lọc thông tin
2
Số liệu về đặc điểm địa bàn nghiên cứu:
Tình hình phân bố đất đai, lao động,
tình hình phát triển kinh tế, CSHT
Báo cáo UBND huyện, phòng thống kê, phòng nông nghiệp của huyện, phòng địa chính
Tìm hiểu, tổng hợp từ các báo cáo
3 Số liệu về nguồn nhân lực, trình độ cán
bộ khuyến nông của Trạm KN huyện
Báo cáo tổng kết của Trạm khuyến nông huyện
Tìm hiểu, chọn lọc tổng kết từ các báo cáo 4
Số liệu về kết quả tập huấn, xây dựng
mô hình qua 3 năm 2007 - 2009.
Báo cáo tổng kết của Trạm khuyến nông huyện
Chọn lọc, tổng hợp từ các báo cáo
3.2.2.2 Thu thập số liệu mới
- Phỏng vấn theo phiếu điều tra đã chuẩn bị sẵn
- Phương pháp đánh giá có sự tham gia
Trang 34Phương pháp này giúp thu thập được thông tin trực tiếp từ phía ngườidân Từ đó có thể đưa được những giải pháp phù hợp với người dân Trongnghiên cứu này tôi sử dụng một số phương pháp như:
+ Thảo luận nhóm: thảo luận nhóm thông qua các buổi tập huấn, các
mô hình trình diễn, để thấy được việc đưa ra các ý kiến có sự cân bắng giữanam và nữ hay không
+ Phân tích giới:
phân công lao động giữa nam và nữ trong gia đình để thấy được sự bất bìnhđẳng về giới
công việc gia đình, công việc sản xuất, công việc cộng đồng Từ đó, xem xétxem ai là người phải gánh vác công việc nhiều hơn Để từ đó tìm ra nguyênnhân của sự mất cân bằng đó và đưa ra giải pháp phù hợp hơn cho nam và nữ
Nghiên cứu này sẽ đề cập đến vấn đề tiếp cận khoa học công nghệ đó làkhả năng tiếp cận và quyền ra quyết định của nam giới và phụ nữ trong cáchoạt động khuyến nông (tập huấn, mô hình trình diễn, hội thảo đầu bờ ).Xem phụ nữ hay nam giới ai là người được tiếp cận và ai là người ra quyếtđịnh trong các hoạt động KN Từ đó có những giải pháp phù hợp hơn cho phụ
nữ và nam giới
3.2.2.3 Phương pháp phỏng vấn (KIP)
Phương pháp KIP là phương pháp phỏng vấn để thu thập thông tin ởnhững người nắm thông tin chủ chốt, thông tin chung, thông tin quan trọngmang tính chung nhất của vấn thực trạng vấn đề, những thuận lợi, khó khăncũng như là những gợi ý chung nhất về những định hướng và giải pháp chủyếu về vấn đề nghiên cứu
Trang 35Trong nghiên cứu này tôi dự định sẽ phỏng vấn các cán bộ khuyếnnông ở trạm khuyến nông huyện, các khuyến nông viên cơ sở và nông dân ở 2
xã được chọn
3.2.3 Chỉ tiêu nghiên cứu
- Tỷ lệ nam giới và nữ giới tham gia vào tổ chức khuyến nông huyện Phù Ninh
+ Tỷ lệ nam giới = (Số lượng nam cán bộ KN/Tổng số cán bộ KN) × 100+ Tỷ lệ nữ giới = (Số lượng nữ cán bộ KN/Tổng số cán bộ KN) × 100
- Tỷ lệ nam và nữ cán bộ KN tham gia vào lãnh đạo hệ thống KN huyện (%)
+ Tỷ lệ nữ lãnh đạo = (Số lượng nữ lãnh đạo/Tổng số cán bộ KN) × 100+ Tỷ lệ nam lãnh đạo = (Số lượng nam lãnh đạo/Tổng số cán bộ KN) × 100
- Tỷ lệ nam và nữ tham gia vào các hoạt động khuyến nông (%)
+ Tỷ lệ nữ giới tham gia vào tập huấn = (Số lượng nữ giới tham gia tậphuấn/Tổng số người tham gia tập huấn) × 100
+ Tỷ lệ nam giới tham gia tập huấn = (Số lượng nam giới tham gia tậphuấn/Tổng số người tham gia tập huấn) × 100
+ Tỷ lệ nữ giới tham gia vào tập huấn về trồng trọt (chăn nuôi, thủysản) = (Số lượng nữ giới tham gia tập huấn trồng trọt (chăn nuôi, thủysản)/Tổng số người tham gia tập huấn) × 100
+ Tỷ lệ nam giới tham gia vào tập huấn về trồng trọt (chăn nuôi, thủysản) = (Số lượng nam giới tham gia tập huấn trồng trọt (chăn nuôi, thủysản)/Tổng số người tham gia tập huấn) × 100
+ Tỷ lệ nữ giới áp dụng kiến thức tập huấn vào sản xuất = (Số lượng nữgiới áp dụng kiến thức tập huấn vào sản xuất/Tổng số người tham gia tậphuấn) × 100
+ Tỷ lệ nam giới áp dụng kiến thức tập huấn vào sản xuất = (Số lượngnam giới áp dụng kiến thức tập huấn vào sản xuất/Tổng số người tham gia tậphuấn) × 100
Trang 36+ Tỷ lệ nam giới được tham gia MHTD = (Số nam giới được tham giavào MHTD/Tổng số hộ điều tra) × 100
+ Tỷ lệ nữ giới được tham gia MHTD = (Số nữ giới được tham gia vàoMHTD/Tổng số hộ điều tra) × 100
+ Các tỷ lệ như: người được thông báo đầu tiên, người tiếp xúc với cán
bộ khuyến nông nhiều nhất, người ra quyết định thực hiện mô hình, ngườithực hiện mô hình, người tham gia lớp tập huấn kỹ thuật để thực hiện mô hình
= (Số người cho rằng nam hoặc nữ được thông báo đầu tiên, /Tổng số ngườiđược tham gia mô hình) × 100
- Tỷ lệ thời gian làm nội trợ trong ngày (%) = (Số giời làm nội trợ trongngày/24 giờ) × 100
- Tỷ lệ thời gian nghỉ ngơi trong ngày (%) = (Số giời nghỉ ngơi trong ngày/24giờ) × 100
3.2.4 Phương pháp xử lý thông tin, số liệu
Các thông tin sau khi thu thập về được chúng tôi tiến hành tổng hợp, xử
lý trên chương trình Excel trong Microsoft - Office
3.2.5 Phương pháp phân tích số liệu
3.2.5.1 Phương pháp thông kê mô tả
Dựa vào bảng số liệu đã được xử lý bằng các bảng biểu để phân tíchnhững thông số qua đó thấy được sự thay đổi của giới theo thời gian, hiệu quảcủa giới trong các hoạt động khuyến nông Từ đó rút ra những nhận xét vềvấn đề mà mình vừa phân tích
3.2.5.2 Phương pháp so sánh
Số liệu thu thập được sẽ được phân loại và xử lý bằng phần mềmexcel, so sánh qua các năm, kế hoạch và thực hiện, cái đạt được và cái tồntại So sánh giữa nam và nữ về các vấn đề như tỷ lệ nam nữ tham gia vàocác hoạt động khuyến nông, nhu cầu tiếp cận khuyến nông của nam và nữ,
Trang 37vai trò của nam và nữ trong khuyến nông, lợi ích nam và nữ được hưởngsau khi tiếp cận với các hoạt động khuyến nông Trên cơ sở đó tìm ranguyên nhân và đưa ra được những giải pháp phù hợp cho nam và nữ.
Trang 38PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Thực trạng vấn đề giới trong khuyến nông ở huyện Phù Ninh
4.1.1 Vấn đề giới trong tổ chức mạng lưới khuyến nông ở huyện Phù Ninh
Trạm KN huyện Phù Ninh được thành lập năm 1993 và là một đơn vịhoạt động độc lập Từ khi thành lập đến nay Trạm đã tổ chức được nhiều hoạtđộng góp phần nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi và mang lại nhiều lợiích cho người nông dân trong huyện Chức năng của Trạm:
- Tiếp nhận những chương trình KN do TTKN tỉnh Phú Thọ giao cho,báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của UBND huyện và tổ chức thực hiện, giám sát vàbáo cáo kết quả lên trung tâm
- Tổ chức các hoạt động KN cho nông dân như: tập huấn kỹ thuật, xâydựng MHTD, tham quan, hội thảo đầu bờ để chuyển giao những kỹ thuậttiến bộ đến con nông dân
- Cung cấp cho nông dân những thông tin cần thiết thiết về giống câytrồng, vật nuôi, phân bón, thuốc trừ sâu, kỹ thuật chăn nuôi, phòng trừ dịchbệnh cho gia súc, gia cầm Thu thập những thông tin khoa học kỹ thuật trongnhững lĩnh vực khác để hỗ trợ cho nông dân khi cần
- Chỉ đạo hoạt động mạng lưới KNVCS, ttoor chức tập huấn nâng caotrình độ và kỹ năng KN cho đội ngũ các KNVCS
- Phối hợp với những cơ quan chức năng khác trong huyện như Trạmbảo vệ thực vật, trạm thú y, phòng nông nghiệp,các tổ chức đoàn thể củahuyện, xã để thực hiện các chương trình KN
Mạng lưới KN từ huyện đến xã đã được hình thành và đi vào hoạt độngngày càng có hiệu quả hơn, góp phần vào sự phát triển sản xuất nông nghiệpcủa huyện Tuy nhiên, hoạt động KN của huyện vẫn còn nhiều bất cập:
- Lực lượng cán bộ KN của huyện có năng lực chuyên môn cao, được
Trang 39đào tạo qua trường lớp nhưng vẫn chưa thật sự phát huy được hết khả năngcủa mình, chưa có sự năng động Đội ngũ KNVCS còn nhiều hạn chế về trình
độ cũng như chuyên môn, tuy thường xuyên được đào tạo để nâng cao taynghề nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của công việc đặt ra Chú trọngđào tạo nhiều về kỹ thuật nhưng chưa chú trọng đào tạo về phương pháp KN,đào tạo bổ sung theo chuyên ngành hẹp như trồng trọt, chăn nuôi, chưa chútrọng đào tạo bổ sung các kiến thức tổng hợp, không có cán bộ KN về lâmnghiệp và thủy sản
- Nội dung tập huấn còn hạn hẹp, hầu hết tập trung vào hướng dẫn kỹthuật trồng trọt, chăn nuôi đơn thuần, các thông tin về thị trường, quản lý kinh
tế ít được đề cập đến
- Đa số các MHTD được chỉ đạo từ trên xuống nên một số mô hìnhchưa phù hợp với yêu cầu của người dân và điều kiện của xã, chưa quan tâmđến vấn đề cho sản phẩm mà mô hình chuyển giao
Đó là những hạn chế mà Trạm KN huyện Phù ninh cần phải khắc phục trongthời gian tới để hoạt động KN thực hiện tốt hơn vai trò của mình, thật sự làngười ban thân thiết của người dân
Để tìm hiểu sự tham gia của giới trong hệ thống khuyến nông huyệnPhù Ninh ta có bảng số liệu sau:
Trang 40Bảng 4.1: Nguồn nhân lực trong tổ chức Khuyến nông huyện Phù Ninh
Chỉ tiêu
Số lượng (Người)
Cơ cấu (%)
Số lượng (Người)
Cơ cấu (%)
Số lượng (Người)
Cơ cấu (%)
Số lượng (Người)
Cơ cấu (%)