1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận chứng vai trò của khoa học công nghệ đối với sự phát triển của ngành công nghiệp dệt may tại việt nam

11 315 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để thấy được vai trò của tri thức khoa học- công nghệ đối với sự phát triển của công nghiệp Dệt may, trước hết chúng ta cần biết về: I.Một số lí lụân chung về tri thức khoa học và công n

Trang 1

BÀI TẬP MÔN NHỮNG NGUYÊN LÍ CƠ BẢN CỦA CHỦ

NGHĨA MÁC- LÊNIN

PHẦN I

Họ và tên: Đoàn Thu Hoài

Mã sinh viên: CQ501003

Lớp: Tài chính công

Khoa: Ngân hàng- tài chính

Học tại giảng đường: hội trường A

Tiết: 4-6 thứ 4

Chủ đề: Luận chứng vai trò của khoa học- công nghệ đối với sự phát triển của ngành công nghiệp dệt may tại Việt Nam.

BÀI VIẾT

Công nghiệp dệt may đã có ở Việt Nam ít nhất là từ một thế kỷ nay, còn những hoạt động thủ công truyền thống như thêu thùa thì đã tồn tại từ lâu hơn nhiều Công nghiệp Dệt May là ngành có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn chuyển đổi của Việt Nam từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường Dệt may cũng là một phần cấu thành quan trọng trong chính sách định hướng xuất khẩu của đất nước, và một cách chung hơn, trong các nỗ lực của Việt Nam để hoà nhập vào nền kinh tế quốc tế Công nghiệp Dệt May tất yếu là một trong các ngành chủ yếu xuất khẩu trong giai đoạn đầu phát triển của

cả nước Sự thành công về xuất khẩu trong ngành này thường mở đường cho sự xuất hiện của một chiến lược phát triển định hướng phát triển có cơ sở rộng hơn Sự thất bại về xuất khẩu của ngành này bao giờ cũng là triệu chứng của sự trở ngại có tính thâm căn cố đế trong nước và của sự bất lực, không phát huy được lợi thế so sánh tiềm năng Vì vậy đây là một ngành công nghiệp quan trọng không chỉ với

Trang 2

tư cách là một nguồn xuất khẩu và tạo việc làm chính, mà còn vì sự tăng trưởng của ngành này cho thấy kết quả hoạt động kinh tế một cách tổng hợp hơn

Một trong nhưng yếu tố quan trọng nhất để phát triển ngành dệt may Việt nam là việc ứng dụng các tri thức khoa học- công nghệ Công nghệ hiện đại ngày nay đã trở thành yêu tố quyết định cho sự phồn vinh của mỗi quốc gia, hay sức mạnh cạnh tranh kinh tế quốc tế của mỗi sản phẩm Chúng ta chỉ có thể thu hẹp khoảng cách so với các nước phát triển và tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế thông qua việc tăng cường năng lực công nghệ quốc gia, tiếp cận và làm chủ công nghệ tiên tiến và công nghệ cao

Để thấy được vai trò của tri thức khoa học- công nghệ đối với sự phát triển của công nghiệp Dệt may, trước hết chúng ta cần biết về:

I.Một số lí lụân chung về tri thức khoa học và công nghệ:

1.Khái niệm tri thức:

* ý thức:

Khái niệm ý thức thường được hiểu theo nhiều góc độ và từ đó có thể có những định nghĩa khác nhau về pham trù này Từ góc độ chung nhất có thể định nghĩa ý thức là “hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan”, là “cái vật chất đã được di chuyển vào bộ óc con người và được cải biến đi ở trong đó” Như vậy, theo định nghĩa này, ý thức thuộc về sự phản ánh, còn vật chất và tồn tại khách quan là cái được phản ánh Tuy nhiên, không phải mọi sự phản ánh của con người về thế giới khách quan đều thuộc về phạm trù ý thức

* Tri thức:

Tri thức là yếu tố cơ bản nhất, là phương thức tồn tại của ý thức

Sự hình thành và phát triển của ý thức liên quan mật thiết tới quá trình

Trang 3

nhận thức của con người Tri thức, hiểu biết của con người về thế giới càng nhiều bao nhiêu thì ý thức càng sâu sắc bấy nhiêu

Tri thức là kết quả của quá trình phản ánh có tính lịch sử- xã hội

về thế giới hiện thực xung quanh và bộ não của con người trên cơ sở của hoạt động thực tiễn.Tri thức là hiểu biết, kiến thức của con người

về thế giới Nói đến tri thức là nói đến học vấn, tri thức là phương thức tồn tại của ý thức Sự hình thành và phát triển của ý thức có liên quan mật thiết với qúa trình con người nhận biết và cải tạo thế giới tự nhiên Con người tích lũy được càng nhiều tri thức thì ý thức thật cao, càng đi sâu vào bản chất sự vật và cải tạo thế giới có hiệu quả hơn Tính năng động của ý thức nhờ đó mà tăng lên Nhấn mạnh tri thức là yếu tố cơ bản, quan trọng nhất của ý thức có nghĩa là chống lại quan điểm giản đơn coi ý thức chỉ là tình cảm, niềm tin và ý chí Quan điểm

đó là biểu hiện chủ quan, duy ý chí của sự tưởng tượng chủ quan Tuy nhiên cũng không thể coi nhẹ nhân tố tình cảm, ý chí Ngược lại nếu tri thức biến thành tình cảm, niềm tin, ý chí của con người hoạt đọng thì tự nó không có vai trò gì đối với đời sống hiện thực

2 Tri thức khoa học- công nghệ:

* Khoa học:

Trong lịch sử phát triển tư duy của nhân loại có rất nhiều các quan niệm khác nhau về khoa học, một mặt nó phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội; mặt khác phụ thuộc vào trình độ nhận thức Xét

về phương diện xã hội, khoa học là một hiện tượng xã hội có nhiều mặt, trong đó biểu hiện sự thống nhất giữa những yếu tố vật chất và những yếu tố tinh thần Về phương diện triết học, khoa học là một hình thái ý thức xã hội đặc biêt Đặc biệt, bởi vì khoa học không chỉ phản ánh tồn tại xã hội, phụ thuộc vào tồn tại xã hội, những chân lý

Trang 4

của nó được thực tiễn xã hội kiểm nghiệm mà khoa học còn là kết quả của quá trình sáng tạo logic, của trực giác thiên tài Còn bởi vì, khoa học (cùng với công nghệ) là những yếu tố ngày càng có vai trò đặc biệt quan trọng của lực lượng sản xuất, quyết định trình độ phát triển của lực lượng sản xuất nói riêng, của phương thức sản xuất và của xã hội nói chung Về phương diện nhận thức luận, khoa học là giai đoạn cao của nhận thức - giai đoạn nhận thức lý luận

Ngày nay, quan niệm về khoa học được phổ biến với những đặc trưng cơ bản sau dây:

- Khoa học là một hệ thống tri thức về tự nhiên, về xã hội, về con người và về tư duy của con người Nó nghiên cứu và vạch ra những mối quan hệ nội tại, bản chất của các sự vật, hiện tượng, quá trình, từ đó chỉ ra những quy luật khách quan của sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy

- Hệ thống tri thức khoa học được hình thành trong quá trình nhận thức của con người từ trực quan sinh động, đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, dưới dạng khái niệm, phạm trù, quy luật, lý thuyết, Như vậy, tri thức khoa học không chỉ là sự phản ánh thế giới hiện thực, mà còn được kiểm nghiệm qua thực tiễn

- Hệ thống tri thức khoa học còn có thể được hình thành nhờ trực giác hoặc tuân theo những quy luật của logic học Loại tri thức khoa học này, xét cho đến cùng cũng là sự phản ánh thế giới hiện thực và được thực tiễn kiểm nghiệm Do đó, một hệ thống tri thức được coi là tri thức khoa học phải bảo đảm tính đúng đắn, tính chân thực

- Nhờ giáo dục, đào tạo, hệ thống tri thức khoa học có sức sống mãnh liệt, được phổ biến rộng rãi và lan truyền rất nhanh chóng Tốc

độ lan truyền đó đã tăng lên rất nhiều lần nhờ vào quá trình toàn cầu

Trang 5

hóa và công nghệ thông tin Nó không chỉ là sức mạnh, là sự biến đổi mau lẹ, mà còn là biểu hiện sự giàu có, thịnh vượng của mọi quốc gia, dân tộc và cá nhân

- Hệ thống tri thức khoa học là sản phẩm của quá trình phát triển lâu dài, liên tục của tư duy nhân loại từ thế hệ này sang thế hệ khác Ngày nay nó đang trở thành tài sản chung của xã hội loài người

Như vậy, qua một số những đặc trưng cơ bản trên đây về quan niệm khoa học, ta thấy nổi lên cái cốt lõi của khoa học - đó là hệ thống tri thức chân thực về tự nhiên, xã hội và tư duy Khoa học là hệ thống tri thức chân thực, nhưng có phải mọi tri thức chân thực đều là khoa học hay không? Để hiểu rõ điều này, chúng ta phải đi tìm hiểu nguồn gốc, bản chất của tri thức, con đường từ tri thức đến khoa học

*Công nghệ:

Công nghệ theo nghĩa chung nhất có thể coi đó là tập hợp tất cả

những sự hiểu biết của con người vào việc biến đổi, cải tạo thế giới nhằm đáp ứng nhu cầu sống của con người, sự tồn tại và phát triển của

xã hội Công nghệ trong sản xuất là một tập hợp các phowng tiện vật chất, các phương pháp, các quy tắc, các kỹ năng được con người sử dụng để tác động vào đối tượng lao động nhằm tạo ra một sản phẩm nào đó cần thiết cho xã hội

Có ba nghĩa chủ yếu về công nghệ được sử dụng phổ biến nhất hiện nay:

Một là, công nghệ được coi như một bộ môn khoa học ứng dụng, triển khai (trong tương quan với khoa học cơ bản), trong việc vận dụng các quy luật tự nhiên và các nguyên lý khoa học nhằm đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng cao của con người

Trang 6

Hai là, công nghệ được hiểu với tư cách như là các phương tiện vật chất - kỹ thuật, hay đó là sự thể hiện cụ thể của tri thức khoa học

đã được vật thể hóa thành các công cụ, các phương tiện kỹ thuật cần cho sản xuất và đời sống

Ba là, công nghệ bao gồm các cách thức, các phương pháp, các thủ thuật, các kỹ năng có được nhờ dựa trên cơ sở tri thức khoa học và được sử dụng vào sản xuất trong các ngành khác nhau để tạo ra các sản phẩm

3.Vai trò của tri thức khoa học- công nghệ đối với sự phát triển của kinh tế:

Trong công cuộc đổi mới, tri thức khoa học được xem là nền tảng và động lực của sự phát triển đất nước Những cơ sở khoa học cùng những luận cứ khoa học đã giúp Đảng có một sự định hướng đúng đắn về đuường lối chính sách phát triển của đất nước; vạch ra kế hoạch phát triển cho từng lĩnh vực cụ thể: Công nghiệp, Nông nghiệp,

du lịch dịch vụ, Khoa học công nghệ Nói đến vai trò nền tảng và động lực của tri thức Khoa học trong công cuộc đổi mới là nối đến con đường công nghiệp hoá hiện đại hoá dựa trên cơ sở Khoa học và công nghệ, coi khoa học-công nghệ là lực lượng sản xuất trực tiếp và hàng đầu Quan điểm này cho tấy rõ sự quyết tâm và lựa chọn sáng suốt của đảng ta trong đổi mới tư duy, đổi mới quan niệm và đổi mới phương thức phát triển phù hợp với những đòi hởi phải tiến hành công nghiệp hoá đi đôi với hiện đại hoá với tốc độ nhanh nhưng vẫn đảm bảo tính bền vững trong những thập niên đầu của thế kỷ 21

Thực tiễn trong những năm qua ở Việt Nam cho thấy: ở đâu có

sự sáng tạo trong công cuộc đổi mới các giải pháp về Khoa học-công nghệ thì ở đó có sự tiến bộ vượt bậc:

Trang 7

Về Nông nghiệp sự sáng tạo của Đảng trong chính sách khoán

áp dụng trong nông nghiệp những năm 80 là một ví dụ điển hình cho thấy vai trò của chính sách trong việc tạo ra mức tăng trưởng sản lượng kỷ lục về lương thực mà không có một yếu tố sản xuất thông thường nào như: vốn, lao động, vật tư có thể mang lại Chính sách mới làm cho người lao động làm việc có trách nhiệm và năng nổ sáng tạo hơn Đảng đẩy mạnh và khuyến khích nông dân đưa khoa học-công nghệ vào sản xuất như: sử dụng các loại giống mới, phân bón, máy móc sản xuất theo công nghệ cao của thế giới; nâng cấp hệ thống thuỷ lợi bằng cách đầu tư, cải tạo, nâng cấp hệ thống sông, đê ngăn chặn nước mặn lên biển ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật và vật liệu mới trong thiết kế và thi công công trình là cho việc thực hiện công trình xảy ra nhanh chóng đáp ứng kịp thời nhu cầu, lợi ích của bà con nông dân

Về công nghiệp qua trình sáng tạo và triển khai chính sách mở cửa thu hút vốn đầu tư nước ngoài đã dẫn tới sự ra đời của một khu vực kinh tế mới - Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài rất năng động đang góp phần tạo ra trên 10% GDP, 30% kim ngạch xuất khẩu của cả nước Các công ty, xí nghiệp nhờ đi thẳng vào công nghệ hiện đại mà đã đạt đước những thắng lợi ngoài cả sự mong đợi Ví dụ điển hình là công ty chế biến sữa Vinamilk từ tình trạng vô cùng khó khăn

đã vươn lên sản xuất ra được những sản phẩm cạnh tranh được với hàng nhập ngoại

Trong các ngành, Bưu chính viễn thông, khia thác dầu khí và các ngành nghề khác nhờ những quyết định táo bạo trong đầu tư vào

Kỹ thuật công nghệ hiện đại mà đạt được mức tăng trưởng cao trong

Trang 8

thời gian dài, ổn đinh Văn hoá-giáo dục được nâng cấp, đầu tư cơ sở một cách thoả đáng

Khoa học-Công nghệ đã có khả năng làm chủ và thích nghi nhiều công nghệ tiên tiến của nước ngoài trong các lĩnh vực như viễn thông, khai thác dầu khí, năng lượng Nhiều vấn đề cấp bách, có ý nghĩa quan trọng đối với đất nước do thực tiễn đặt ra được các lực lượng Khoa học-Công nghệ nghiên cứu và giải quyết như: Cơ sở khoa học cho các phương án phòng chống thiên tai, các phương pháp sản xuất Vacxin phòng bệnh

Rõ ràng, quan niệm về vai trò nền tảng và động lức phát triển của Khoa học - Công nghệ đối với sự phát triển vừa có cơ sở thực tiễn trong nước vừa hợp với xu thế phát triển chung của thế giới, khi lợi thế tương đối của các yếu tố lao động rẻ và tài nguyên thiên nhiên đang chuyển dần sang các yếu tố tri thức Khoa học - Công nghệ

II Vai trò của tri thức khoa học- công nghệ đối với sự phát triển của công nghiệp dệt may Việt Nam:

Ngành công nghiệp Dệt may là một ngành có truyền thống từ lâu

ở Việt Nam Đây là một ngành quan trọng trong nền kinh tế của nước

ta vì nó phục vụ nhu cầu thiết yếu của con người, là ngành giải quyết được nhiều việc làm cho xã hội và đặc biệt nó là ngành có thế mạnh trong xuất khẩu, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển, góp phần cân bằng cán cân xuất nhập khẩu của đất nước.Trong quá trình Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá hiện nay, ngành Dệt may đang chứng tỏ là một ngành mũi nhọn trong nền kinh tế được thể hiện qua kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng trong mấy năm gần đây, các thị trường luôn được rộng mở,số lao động trong ngành ngày càng nhiều và chiếm tỷ trọng lớn trong các ngành công nghiệp, giá trị đong góp của ngành

Trang 9

vào thu nhập quốc dân… Tuy nhiên trong quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế và những biến động của môi trường kinh tế , ngành Dệt may đang đứng trước những khó khăn và thách thức mới cho sự phát triển

1 Đánh giá thực trạng phát triển của ngành dệt may Việt Nam khi còn hạn chế về khoa học- công nghệ:Nhìn chung, mạng

lưới sản xuất hoạt động rời rạc, manh núm và tự phát, chưa có sự liên kết giữa các doanh nghiệp các bộ phận với nhau trong mạng lưới Chính vì những hạn chế phát sinh đó liên quan đến vấn đề thị trường, cập nhật thông tin, đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ, thiếu hẳn một tầm nhìn chiến lược, thiếu sự cân nhắc đến lợi ích chung, và chưa tạo được môi trường đồng bộ cho sự vận động trên phương diện toàn ngành

Toàn ngành vào những thập kỷ 80, tình hình máy móc thiết bị công nghệ còn rất lạc hậu, trải qua nhiều biến đổi và sự cạnh tranh khắc nghiệt của nền kinh tế thị trường, dần dần một số thiết bị đã quá lạc hậu, cũ kỹ, sản xuất ra sợi có chất lượng kém, không có khả năng tiêu thụ trên thị trường, buộc các công ty trong ngành phải thanh lý, thải loại hoặc tự cải tạo nâng cấp…

Công nghệ kéo sợi của ngành vẫn ở tình trạng lạc hậu mức tự động hoá còn rất thấp, công nghệ kéo sợi chảy thô chiếm phần lớn, sản xuất các loại vải sợi chỉ số thấp Sợi chải kỹ chỉ có 3% sản lượng, công nghệ kéo sợi pha PE không vượt quá 16% trong suốt cả thập kỷ 80

Đại bộ phận là máy dệt thoi khổ hẹp chỉ có thể sản xuất được loại vải khổ hẹp chất lượng thấp…

Trang 10

Những hạn chế trên khiến cho tổng sản lượng của ngành trong thời kì đó rất thấp, không đủ cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu

2 khi nước ta chuyển sang cơ chế thị trường, cùng với sự phát

triển kinh tế, nhu cầu về ăn mặc ngày càng gia tăng Việc huy động vốn đầu tư của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong

và ngoài nước tham gia sản xuất đã được Nhà nước ta khuyến khích động viên, đặc biệt đầu tư trong lĩnh vực Dệt - may Cũng như tất cả các ngành kinh tế khác, từ khi ứng dụng các tri thức khoa học- công nghệ, ngành dệt may đã có những bước tiến vượt bậc: Trong hơn 10 năm qua, trong lĩnh vực xuất khẩu với tốc độ tăng trưởng bình quân 23.8%/ năm, vươn lên đứng thứ 2 trong cả nước về kim ngạch xuất khẩu, sau ngành dầu khí Nếu như năm 1990 hàng dệt may Việt Nam mới chỉ có mặt ở gần 30 nước trên thế giới thì đến nay đã hiện diện ở hầu khắp các châu lục với trên 100 nước và vùng lãnh thổ Kim ngạch xuất khẩu không ngừng tăng Năm 1998 xuất khẩu hàng dệt may đạt 1,45 tỷ USD, tới năm 1999 đã tăng lên 1,76 tỷ USD và năm 2000 xuất gần 1,89 tỷ USD, gấp 16 lần so với năm 1990 Năm 2002 kim ngạch xuất khẩu của ngành đạt 2,7 tỷ USD, tăng 30,7% so với năm 2001, vượt kế hoạch 12,5% Năm 2003 là 3,6 tỷ USD và vượt hơn 400 triệu USD so với mục tiêu đề ra, điều này không chỉ góp phần đưa kim ngạch xuất khẩu nói chung của cả nước tăng 20% mà còn tạo cở sở vững chắc cho sự tăng trưởng xuất khẩu cho những năm sau

Công nghệ là trung tâm của công nghiệp hóa, khoa học – công nghệ là nền tảng và động lực để phát triển ngành dệt may nói riêng và tất cả các ngành kinh tế nói chung

Khoa học và công nghệ là yếu tố cấu thành của lực lượng sản xuất Tuy nhiên, nếu như trong những giai đoạn phát triển trước đây, khoa học và công nghệ là những yếu tố gián tiếp của lực lượng sản xuất, đứng ngoài quá trình sản xuất trực tiếp theo nghĩa là từ khoa học,

Ngày đăng: 19/05/2016, 18:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w