Nói một cách ước lệ tổng thu được từ các hoạt động sản xuất kinh đoanh trừ đi tổng chi phí cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh đó gọi là lợi nhuận.. Mác, người có một cái nhìn ti
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2I. KHÁI NIỆM VÀ NGUỒN GỐC CỦA LỢI NHUẬN:
Trước khi nghiên cứu, tìm hiểu nguồn gốc, bản chất của lợi nhuận ta phải tìm hiều lợi nhuận là gì?
1 Khái niệm lợi nhuận:
Lợi nhuận là một khái niệm tưởng chừng đơn giản nhưng lại phức tạp Nói một cách ước lệ tổng thu được từ các hoạt động sản xuất kinh đoanh trừ đi tổng chi phí cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh đó gọi là lợi nhuận Cách hiểu như vậy thật đơn giản Nhưng bản thân khái niệm và trong thực tế hình thành nên 1ãi suất không đơn giản chút nào Khái niệm lợi nhuận là khái niệm mục đích, là khái niệm trọng tâm và là khái niệm phức tạp nhất của kinh doanh Lợi nhuận chủ yếu là thông qua kinh doanh, nhưng ở mức độ nào đó lợi nhuận cũng
có thể không phải từ kinh doanh mà ra; nhưng đó là để chỉ tính trực tiếp hoặc gián tiếp, còn trong tổng thể xã hội thì lợi nhuận chủ yếu được sinh ra trong kinh doanh
Khái niệm lợi nhuận khá phức tạp, để có một khái niệm lợi nhuận như ngày nay chính là sự đấu tranh, nghiên cứu giữa các nhà kinh tế học qua các thời đại Bởi vậy khi xem xét đánh giá ở các góc độ khác nhau, các thời đại khác nhau mà mỗi nhà kinh tế lại có một cách hiểu khác nhau
Từ xa xưa các nhà kinh tế học cổ điển trước Mác khi nhìn nhận lợi nhuận họ đều cho rằng '' cái phần trội lên nằm trong giá bán so với chi phí sản xuất'' là lợi nhuận Họ chưa hiểu được nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận được sinh ra từ
Trang 3đâu, mà họ chỉ hiểu được về mặt lượng, chưa hiểu được về mặt chất của 1ợi nhuận
- Theo C Mác, người có một cái nhìn tinh tế hơn về lợi nhuận dưới góc độ khoa học hơn, ''thì lợi nhuận được hiểu'' là giá trị thặng dư hay cái phần trội 1ên trong toàn bộ giá trị của hàng hoá, trong đó lao động thặng dư hay 1ao động không được trả lương của công nhân đã được vật hoá Ông đã nhìn lợi nhuận, hiểu được nguồn gốc cũng như bản chất của lợi nhuận
- Các nhà kinh tế học hiện đại như Samuesdson và V.D.Nordhous cho rằng ''Lợi nhuận là một khoản thu nhập dôi
ra bằng tổng thu về trừ đi tổng chi ra" hay cụ thể hơn "Lợi nhuận được định nghĩa 1à sự chênh lệch giữa tổng thu nhập của doanh nghiệp và tổng chi phí"
- Theo David Begg, Ftaniey Fisher và RudigewDoven Bush thì "Lợi nhuận là lượng dôi ra của doanh thu so với chi phí"
Đối với nước ta hiện nay đứng trên góc độ đoanh nghiệp
có thể thấy rằng lợinhuận của quá trình kinh doanh là khơản tiền chênh lệch giữa thu nhập và chi phí mà đoanh nghiệp bỏ
ra để đạt được thu nhập đó từ các hoạt động của doanh nghiệp đưa lại trong khuôn khổ pháp luật quy định
Như vậy đứng về mặt lượng mà xét, thì tất cả các định nghĩa trên đều thống nhất ở một quan điểm "Lợi nhuận là số thu dôi ra so với số chi phí bỏ ra" Lợi nhuận là kết quả tài chính
Trang 4cuối cùng của các hoạt động sản xuất kinh doanh, 1à chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
2 Nguồn gốc của lợi nhuận:
Các nhà kinh tế học thuộc nhiều trường phái khác nhau
đã đưa ra nhiều ý kiến tranh luận khác nhau về nguồn gốc của lợi nhuận ở các góc độ và quan điểm riêng của họ
- Theo phái trọng thương họ cho rằng ''Lợi nhuận được tạo ra trong lĩnh vực lưu thông"
- Theo phái trọng nông mà đại biểu nổi tiếng là Kênê lại cho rằng ''Giá trị thặng dư hay sản phẩm thuần túy là quà tặng vật chất của thiên nhiên và ngành nông nghiệp là ngành duy nhất tạo ra sản phẩm thuần tuý"
- Theo phái cổ điển, nổi tiếng như Adam Smith là người đầu tiên tuyên bố rằng "lao động là nguồn gốc sinh ra giá trị và giá trị thặng dư'' và chính ông lại khẳng định "Giá trị thặng dư bao gồm tiền công, lợi nhuận và địa tô" Còn David Ricarddo thì 1ại cho rằng ''Giá trị do lao động của công nhân tạo ra là nguồn gốc sinh ra tiền lương cũng như 1ợi nhuận và địa tô" Như vậy cả Smith và Ricarđđo đều nhầm lẫn giữa giá trị thặng
dư với lợi nhuận
Kế thừa những gì tinh tế nhất do các nhà kinh tế học tư sản để lại, kết hợp với việc nghiên cứu sâu sắc nền kinh tế sản xuất tư bản chủ nghĩa, đặc biệt 1à nhờ có lý luận vô giá về giá trị hàng hoá sức lao động nên C Mác đã đưa ra một số kết
Trang 5luận một cách đứng đắn và khoa học: ông cho rằng "Giá trị thặng dư được quan niệm là con đẻ của toàn bộ tư bản ứng trước, như vậy mang hình thái biến tướng là lợi nhuận thuần tuý"
Dựa vào lý luận về lợi nhuận của C.Mác, kinh tế học hiện đại đã phân tích khá sâu sắc về nguồn 1ợi nhuận của doanh nghiệp Lợi nhuận luôn là mục tiêu, 1à cái đích mà các nhà doanh nghiệp phải có chiến lược và mục tiêu cụ thể trong từng giai đoạn cụ thể Doanh nghiệp nào cũng luôn hướng tới làm sao thu được lợi nhuận cao nhất nếu có thể trong điều kiện cho phép Do vậy đòi hỏi các doanh nghiệp phải biết nhìn nhận mình, phải nhìn thấy những cơ hội mà người khác bỏ qua, phải luôn có chiến lược chính sách nghiên cứu phát hiện ra sản
phẩm mới, tìm ra phương pháp sản xuất mới tốt hơn để có chi
phí thấp nhất hoặc phải liều lĩnh mạo hiểm Nói chung tiến hành tốt tất cả các hoạt động, các khâu trong quá trình sản xuất kinh doanh, nhằm tối thiểu hoá chi phí, tối đa hóa lợi nhuận, chính là góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nhưng thực tế lợi nhuận kinh tế còn được xem như một phần thưởng dành cho các doanh nghiệp
có khả năng và sẵn sàng tiến hành các hoạt động sáng tạo, đổi mới và mạo hiểm để tổ chức kinh doanh những thứ mà thị trường cần và đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng Ngoài ra, cũng có những doanh nghiệp thu được lợi nhuận cao hơn nhờ kiểm sơát, tổ chức và quản lý tốt các quá trình, các
Trang 6sản phẩm hoặc các thị trường đặc biệt, tình hình về một loại hàng hoá và dịch vụ thuộc thế mạnh của hãng Như vậy nguồn gốc của lợi nhuận trong doanh nghiệp bao gồm:
- Thu nhập mặc nhiên của các nguồn 1ực mà các doanh nghiệp đã đầu tư kinh doanh;
- Phần thưởng cho sự mạo hiểm, sáng tạo đổi mới trong doanh nghiệp
- Thu nhập độc quyền
3 Vai trò của lợi nhuận trong doanh nghiệp
Các doanh nghiệp tiến hành hàng loạt các hoạt động sản xuất kinh doanh là để kiếm lợi nhuận Trong nền kinh tế thị trường, lợi nhuận là mục tiêu của kinh doanh, là thước đo hiệu quả hoạt động sản xuất kinh đoanh, là động 1ực kinh tế thúc đẩy các đoanh nghiệp cũng như mỗingười lao động không ngừng sử đụng hợp lý, tiết kiệm các nguồn lực, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh Để tiến hành hoạt động kinh doanh, cung cấp hàng hoá địch vụ đáp ứng nhu cầu của thị trường và người tiêu dùng thì nhà sản xuất phải bỏ ra những chi phí nhất định để phục vụ cho quá trình kinh doanh Họ phải thuê đất đai, lao động và tiền vốn để mua các nguồn lực cho sản xuất kinh doanh hàng hoá dịch vụ Họ mong muốn hàng hóa dịch vụ của họ được mua với giá ít nhất là đủ để bù đắp lại phần chi phí mà họ bỏ ra, có nghĩa là giá bán thấp nhất là tại điểm hoà vốn Ngoài ra người sản xuất kinh doanh nào mà chẳng muốn có phần thừa ra để
Trang 7mở rộng và phát triển sản xuất kinh doanh, nộp thuế, trả cổ tức, thưởng cho các nhà quản lý, cho công nhân viên và cho
cổ động Ngược lại khi tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh mà không có lợi nhuận thì họ cũng không sẵn sàng cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho thị trường và người tiêu dùng như họ mong muốn Do đó lợi nhuận đóng một vai trò khá quan trong đối với tất cả các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường Trong mỗi giai đoạn khác nhau, trong từng điều kiện cụ thể của từng đoanh nghiệp mà đặt ra mục tiêu lợi nhuận khác nhau, nhưng cuối cùng đều hướng tới mục tiêu đó là lợi nhuận Chính vì vậy động cơ lợi nhuận là một
bộ phận hợp thành quyết định tạo ra sự thắng lợi của thị trường sản phẩm
Lợi nhuận là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh toàn bộ kết quả của quy trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,
kể từ khi bắt đầu tìm kiếm nhu cầu thị trường, nghiên cứu thị trường, phân đoạn thị trường, cho đến khi chuẩn bị sản xuất kinh doanh, tổ chức bán hàng hoá, dịch vụ theo giá cả thị trường Nó phản ánh cả về mặt lượng và mặt chất của quá trình kinh doanh Kinh doanh tốt sẽ cho lợi nhuận nhiều; khi có 1ợi nhuận nhiều sẽ tạo khả năng tái đầu tư, tái sản xuất mở rộng, phát triển quy mô sản xuất kinh doanh cả về chiều rộng
và chiều sâu, tiếp tục phát triển quá trình sản xuất có hiệu quả cao hơn
Trang 8Ngược 1ại, làm ăn kém tất yếu sẽ dẫn đến thua lỗ và phá sản Vì vậy có thể nói lợi nhuận tối đa là mục tiêu hàng đầu trong hoạt động sản xuất kinh đoanh của mọidoanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh khắc nghiệt Muốn tồn tại và phát triển được thì hoạt động sản xuất kinh doanh phải có lợi nhuận, có nghĩa là phải sinh lời
Lợi nhuận của doanh nghiệp 1à bộ phận quan trọng của thu nhập thuần tuý của doanh nghiệp, là nguồn thu quan trọng của ngân sách Nhà nước và 1à cơ sở để tăng thu nhập quốc dân của mỗi nước Như vậy ở khía cạnh này ta lại thấy được vai trò của lợi nhuận không những quan trọng đối với bản thân doanh nghiệp- có lợi nhuận thì mớitái sản xuất, mở rộng quy
mô sản xuất, phát triển đầu tư máy móc thiết bị, công nghệ, khoa học kỹ thuật tiên tiến, để luôn tạo ra được sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu, cũng như thị hiếu của người tiêu dùng, tăng sức cạnh tranh, tạo uy tín thương mại, đồng thời bổ sung các nguồn quỹ phúc lợi khen thưởng, quỹ nguồn vốn kinh doanh, nâng cao đời sống của người lao động- mà nó còn giữ vai trò quan trọng đối với xã hội Lợi nhuận góp phần vào việc nộp thuế thu nhập cho ngân sách nhà nước thông qua việc doanh nghiệp nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, là nguồn tích luỹ cơ bản để phát triển nền kinh tế xã hội
Lợi nhuận của doanh nghiệp có quan hệ chặt chẽ với các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật khác như chỉ tiêu về đầu tư, sản xuất,
Trang 9sử dụng các đầu vào, chỉ tiêu chi phí và giá thành, chỉ tiêu các đầu ra và các chính sách tài chính quốc gia
Trong những năm vừa qua từ khi chuyển đổi nền kinh tế
từ tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần dưới sự quản lý vĩ mô của Nhà nước, môi trường hoạt động của các doanh nghiệp có nhiều thay đổi Nhà nước
đã đưa ra nhiều chính sách, chủ chương nhằm tạo hành lang pháp lý, tạo sân chơi bình đẳng, khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh Nhà nước đã buộc các doanh nghiệp thực hiện nguyên tắc hạch toán kinh tế độc lập, lấy thu
bù chi và có lãi theo chế độ chính sách và pháp luật hiện hành Thực tế cho thấy khi chuyển đổi nền kinh tế, có rất nhiều doanh nghiệp đã năng động, linh hoạt, kịp thời thích nghi với điều kiện môi trường kinh doanh mới, tự khẳng định mình và đứng vững trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt Các doanh nghiệp này luôn quan tâm đến hiệu quả sản xuất, tìm kiếm lợi nhuận ngạch, lấy lợi nhuận làm mục tiêu và động lực cho sự tồn tại và phát triển của mình Ngược lại có nhiều các doanh nghiệp từ nhỏ đến lớn biến mất trọng cuộc cạnh tranh trên thương trường do không tìmđược phương án sản xuất kinh doanh đầu tư thích hợp, không có hiệu quả, lúng túng trong việc tháo gỡ khó khăn, khó thích nghi với cơ chế thị trường, do ảnh hưởng nhiều của phong cách kinh đoanh cũ, tâm lý ỷ 1ại, trông chờ vào Nhà nước, kém năng động, linh hoạt trước những biến đổi của thị trường Hậu quả làm cho các doanh
Trang 10nghiệp này làm ăn kộm hiệu quả, thua lỗ kộo dài triền miờn, thậm chớ cờn đẫn đến phải ngừng sản xuất, giải thể doanh nghiệp Điều này gõy rất nhiều khú khăn cho xó hội- người lao động khụng cú việc 1àm, đời sống gặp nhiều khú khăn nảy sinh nhiều tệ nạn xó hội
Như vậy trong điều kiện hiện nay đối với cỏc doanh nghiệp vấn đề lợi nhuận khụng chỉ là mụctiờu hàng đầu mà cũn
là điều kiện quyết định sự tồn tại, phỏt triển của doanh nghiệp
mà là cơ sở phỏt triển nền kinh tế xó hội
4 Các hình thức của lợi nhuận
a Lợi nhuận công nghiệp
Lợi nhuận công nghiệp là phần giá trị thặng d do công nhân tạo
ra và bị nhà t bản chiếm không Thời gian lao động trong ngày của công nhân chia làm hai phần: một phần thời gian lao động trong ngày công nhân tạo ra một lợng giá trị ngang bằng với giá trị sức lao động Phần còn lại của ngày là phần lao động thặng d, lao động trong khoảng thời gian này là lao động thặng d Phần lao động thặng d của công nhân thuộc về nhà t bản Khi hàng hoá đợc bán trên thị trờng thì phần giá trị thặng d này mang hình thức là lợi nhuận Lợi nhuận cao luôn là mục đích của nhà t bản cho nên nhà t bản tìm ra hai phơng pháp để làm tăng lợi nhuận đó là sản xuất giá trị thặng d tuyệt đối và sản xuất giá trị thặng d tơng đối
b Lợi nhuận thơng nghiệp
Lợi nhuận thơng nghiệp là một phần giá trị thặng d đợc tạo ra trong lĩnh vực sản xuất mà nhà t bản công nghiệp nhờng cho nhà t bản thơng nghiệp Lợi nhuận thơng nghiệp có nguồn gốc từ trong
Trang 11lĩnh vực sản xuất, nó là số chênh lệch giữa giá bán và giá mua hàng hoá Nhng điều đó không có nghĩa là nhà t bản thơng nghiệp bán hàng hoá cao hơn giá trị của nó, mà là nhà t bản thơng nghiệp mua hàng hoá thấp hơn giá trị và khi bán thì anh ta bán đúng giá trị của nó
Nhà t bản công nghiệp luôn tìm ra các phơng pháp sản xuất để làm tăng lợi nhuận Vậy tại sao nhà t bản công nghiệp lại chịu nh-ờng một phần lợi nhuận cho nhà t bản thơng nghiệp Sở dĩ nhà t bản công nghiệp bằng lòng nhờng một phần lợi nhuận cho nhà t bản
th-ơng nghiệp là do nhà t bản thth-ơng nghiệp có vai trò đặc biệt quan trọng đối với nhà t bản công nghiệp
T bản thơng nghiệp chỉ hoạt động trong lĩnh vực lu thông, đó là một khâu, một giai đoạn của quá trình sản xuất, không có giai đoạn này thì quá trình sản xuất không thể tiếp diễn đợc T bản thơng nghiệp chuyên trách nhiệm vụ lu thông hàng hoá phục vụ cho nhiều nhà t bản cùng một lúc do vậy lơng t bản và các chi phí bỏ vào lu thông sẽ giảm đi rất nhiều do đó t bản của từng nhà t bản công nghiệp cũng nh của toàn xã hội bỏ vào sản xuất sẽ tăng lên, qui mô sản xuất mở rộng và lợi nhuận cũng tăng lên Mặt khác chủ nghĩa t bản càng phát triển thì mâu thuẫn giữa sản xuất và tiêu dùng càng gay gắt do đó cần phải có các nhà t bản biết tính toán, am hiểu đợc nhu cầu thị trờng, biết kỹ thuật thơng mại chỉ có t bản thơng nghiệp đáp ứng đợc các yêu cầu đó
Đối với nhà t bản công nghiệp, khi lĩnh vực lu thông đã có t bản thơng nghiệp đảm nhiệm nên rảnh tay trong lu thông chỉ tập trung vào đẩy mạnh sản xuất, do đó lợi nhuận cũng tăng lên
Trang 12c Lợi nhuận ngân hàng
Ngân hàng t bản chủ nghĩa là tổ chức kinh doanh t bản tiền tệ làm môi giới giữa ngời đi vay và ngời cho vay Trong nghiệp vụ nhận gửi ngân hàng trả lợi tức cho ngời gửi tiền vào, còn trong nghiệp vụ cho vay ngân hàng thu lợi tức cho ngời đi vay Lợi tức nhận gửi bao giờ cũng nhỏ hơn lợi tức cho vay
Lợi nhuận ngân hàng là chênh lệch giữa lợi tức cho vay và lợi tức nhận gửi trừ đi các khoản chi phí cần thiết về nghiệp vụ ngân hàng cộng với các khoản thu nhập khác về kinh doanh tiền tệ
Lợi nhuận ngân hàng ngang bằng với lợi nhuận bình quân
T bản ngân hàng là t bản hoạt động cho nên lợi nhuận ngân hàng hoạt động theo qui luật tỷ suất lợi nhuận bình quân
d Lợi tức cho vay
Có nhà t bản cần t bản để hoạt động bởi vì họ cha có đủ vốn Một số nhà t bản có tiền nhng cha cần sử dụng vốn Vì vậy nhà t bản cần vốn để hoạt động sẽ đi vay còn nhà t bản cha sử dụng đến
sẽ cho vay Nhà t bản đi vay (nhà t bản hoạt động) vay tiền để sản xuất kinh doanh nên thu đợc lợi nhuận Nhà t bản cho vay đã nhợng quyền sử dụng t bản của mình cho ngời khác trong một thời gian nhất định cho nên họ nhận đợc một số tiền lời do ngời đi vay trả cho
họ Số tiền lời gọi là lợi tức
Lợi tức là một phần lợi nhuận bình quân mà nhà t bản đi vay phải trả cho nhà t bản cho vay căn cứ vào món tiền nhà t bản cho vay đã đa cho nhà t bản đi vay sử dụng
Nguồn gốc của lợi tức là một phần giá trị thặng d do công nhân sáng tạo ra trong lĩnh vực sản xuất