1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lý luận kinh tế hàng hóa của các mác và liên hệ thực tế ở việt nam

21 3,4K 18

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 126 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhìn lại trước những năm đổi mới ta có thể thấy, suốt một thời gian dài các nước xã hội chủ nghĩa trong đó có nước ta đã không nhận thức đúng vai trò của sản xuất hàng hóa, của kinh tế t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

BÀI TẬP LỚN Môn : Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (Học phần

2) Giảng viên hướng dẫn: Th.s Nguyễn Văn Hậu Sinh viên thực hành: Trần Thị Thanh Phương Lớp: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin (học phần 2)

58

Mã sinh viên: 11143529

Hà Nội, ngày … tháng … năm 2015.

Trang 2

MỤC LỤC A.ĐẶT VẤN ĐỀ 2

B.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 3

I/ Lý luận của chủ nghĩa Mác về Kinh tế hàng hóa 3

1 Kinh tế hàng hóa 3

1.1 Điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa 3

1.2 Đặc trưng và tính ưu việt của kinh tế hàng hóa 4

2 Các nhân tố và quy luật vận động của kinh tế hàng hóa 5

2.1 Các nhân tố của kinh tế hàng hóa 5

2.1.1 Hàng hóa 5

2.1.2 Tiền tệ 6

2.2 Quy luật vận động của kinh tế hàng hóa là quy luật giá trị và quy luật cạnh tranh 7

II/ Liên hệ thực tế ở Việt Nam 8

1 Thực trạng kinh tế Việt Nam để chúng ta phải chuyển sang phát triển kinh tế hàng hóa là tất yếu khách quan 8

2 Tiềm năng và hạn chế của nền kinh tế hàng hóa ở nước ta 10

2.1 Tiềm năng 10

Trang 4

Đây chính là bước ngoặt quan trọng thể hiện một quyết định sáng suốt của Đảng và Nhà nước ta, làm thay đổi mọi mặt đời sống xã hội của đất nước.

Nhìn lại trước những năm đổi mới ta có thể thấy, suốt một thời gian dài các nước xã hội chủ nghĩa (trong đó có nước ta) đã không nhận thức đúng vai trò của sản xuất hàng hóa, của kinh tế thị trường, coi nhẹ, thậm chí phủ nhận quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung - cầu, chỉ nhìn thấymặt tiêu cực của kinh tế hàng hóa, phủ nhận quan hệ hàng hóa - tiền tệ Bởivậy chúng ta không tạo được động lực để phát triển sản xuất, vô tình hạn chế những ứng dụng của khoa học - kĩ thuật vào sản xuất, năng suất sản xuất tăng chậm, gây rối loạn và ắc tách trong quá trình phân phối, lưu thông làm cho nền kinh tế rơi vào tình trạng kém năng động, trì trệ

Như vậy từ việc nghiên cứu lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin về kinh tế hànghóa chúng ta sẽ có cái nhìn tổng quát hơn về vai trò cũng như hạn chế của nền sản xuất hàng hóa để từ đó soi rọi vào vấn đề cấp bách hiện nay của nước ta trong công cuộc đổi mới của nước ta đang đi theo con đường xã hội chủ nghĩa

Trang 5

Chính vì vậy em đã quyết định chọn đề tài “ Lý luận kinh tế hàng hóa của Các Mác và liên hệ thực tế ở Việt Nam”.

Do hạn chế về hiểu biết nên trong bài viết này của em sẽ khó tránh được những sai sót Kính mong được thầy chỉ bảo để bài viết thêm phần sâu sắc

B.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I/ Lý luận của chủ nghĩa Mác về Kinh tế hàng hóa.

1 Kinh tế hàng hóa.

Kinh tế hàng hóa là một kiểu tổ chức kinh tế xã hội trong đó sản phẩmđều do những sản xuất ra, mỗi người chuyên làm ra một sản phẩm nhấtđịnh, thành thử muốn thỏa mãn các nhu cầu của xã hội thì cần có mua bán

sản phẩm Vì vậy sản phẩm trở thành hàng hóa trên thị trường ( Lênin toàn tập, tập 1, trang 106)

Như vậy, kinh tế hàng hóa là một nền kinh tế mở, các quan hệ hầu hếtđược thể hiện dưới hình thái giá trị

Kinh tế hàng hóa xuất hiện từ cuối chế độ cộng sản nguyên thủy tan rã,tồn tại trong chế độ chiếm hữu nô lệ và phong kiến, đó là sản xuất hànghóa giản đơn Đến chủ nghĩa tư bản sản xuất hàng hóa trở thành phổ biến

và thống trị trong nền kinh tế, không những thế còn phát triển lên giai đoạncao hơn là kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa Đến chủ nghĩa xã hội vẫncòn sản xuất hàng hóa Đó là sản xuất hàng hóa lớn XHCN hay còn gọi lànền kinh tế thị trường XHCN

Trang 6

1.1 Điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa.

Kinh tế hàng hóa ra đời và tồn tại trong nhiều hình thái kinh tế xã hội gắnliền với hai điều kiện tiền đề:

Một là: Có sự phân công lao đông xã hội Phân công lao động xã hội là

sự chuyên môn hóa sản xuất, mỗi người chỉ sản xuất một hay một số loạisản phẩm nhất định Song nhu cầu cuộc sống lại đòi hỏi nhiều loại sảnphẩm khác nhau Vì vậy người sản xuất này phải dựa vào người sản xuấtkhác, phải trao đổi sản phẩm cho nhau

Ví dụ: Người nông dân thì sản xuất ra lúa gạo, còn người thợ dệt sản xuất

ra vải vóc Nhưng người nông dân cũng phải cần đến vải vóc và người thợdệt cũng cần lúa gạo Để thỏa mãn nhu cầu của mình họ phải nương tựavào nhau, trao đổi sản phẩm cho nhau

Như vậy phân công lao động xã hội là biểu hiện sự phát triển của lựclượng sản xuất làm cho năng xuất lao động tăng lên và làm cho trao đổi sảnphẩm trở thành tất yếu Tuy nhiên theo Các Mác đây mới chỉ là điều kiệncần nhưng chưa đủ để sản xuất hàng hóa ra đời và tồn tại

Hai là: Có chế độ tư hữu hoặc các hình thức khác nhau về tư liệu sản

xuất hàng hóa và sản phẩm, điều này làm cho người sản xuất hàng hóa độclập với nhau và mỗi người có quyền đem sản phẩm của mình trao đổi vớingười khác Đây là điều kiện đủ để sản xuất hàng hóa ra đời và tồn tại Như vậy: Phân công lao động xã hội làm người sản xuất phụ thuộc vào nhau còn chế độ tư hữu lại chia rẽ họ, làm họ độc lập với nhau, đây là một mâu thuẫn Tuy nhiên sản xuất hàng hóa chỉ ra đời khi có đồng thời cả hai điều kiện trên, nếu thiếu một trong hai điều kiện ấy thì không có sản xuất hàng hóa và sản phẩm lao động không mang hình thái hàng hóa

1.2 Đặc trưng và tính ưu việt của kinh tế hàng hóa.

Đặc trưng

- Sản xuất hàng hóa là sản xuất để trao đổi, mua bán

Trang 7

- Lao động của người sản xuất vừa mang tính chất tư nhân, vừa mangtính chất xã hội.

- Mục đích của sản xuất hàng hóa là giá trị, là lợi nhuận

Tính ưu việt

Sản xuất hàng hóa tiếp tục tồn tại và phát triển ở nhiều xã hội là sản

phẩm của lịch sử phát triển sản xuất của loài người Bởi vậy nó có nhiều ưuthế, và là một phương thức hoạt động kinh tế tiến bộ hơn hẳn so với sảnxuất tự cung tự cấp

Nó thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất laođộng xã hội Nó thúc đẩy quá trình xã hội hóa sản xuất nhanh chóng làmcho sự phân công chuyên môn hóa sản xuất ngày càng sâu sắc, hợp tác hóachặt chẽ hình thành các mối quan hệ kinh tế và sự phụ thuộc lẫn nhau củanhững người sản xuất hình thành thị trường trong nước và thế giới Nó thúcđẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, đó là cơ sở để thúc đẩyquá trình dân chủ hóa, bình đẳng và tiến bộ xã hội

Bước chuyển từ kinh tế háng hóa giản đơn sang kinh tế thị trường

Kinh tế hàng hóa và kinh tế thị trường chỉ khác nhau về trình độ pháttriển Kinh tế thị trường là hình thức phát triển cao nhất của kinh tế hànghóa Kinh tế hàng hóa phát triển, điều đó có nghĩa là phạm trù hàng hóa,tiền tệ và thị trường được phát triển, mở rộng Hàng hóa không chỉ baogồm những sản phẩm đầu ra của sản xuất mà còn bao

hàm các yếu tố đầu vào của sản xuất Dung lượng thị trường và cơ cấu thị trường được hoàn thiện và mở rộng Mọi quan hệ kinh tế trong xã hội đều được tiền tệ hóa Khi đó người ta gọi kinh tế hàng hóa là kinh tế thị trường

2 Các nhân tố và quy luật vận động của kinh tế hàng hóa.

2.1 Các nhân tố của kinh tế hàng hóa.

2.1.1 Hàng hóa

Trang 8

* Hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn nhu cầu nào đócủa con người thông qua trao đổi mua bán.

* Hàng hóa có hai thuộc tính là giá trị sử dụng (đem tiêu dùng/ sử dụng)

và giá trị (đem trao đổi/ mua bán)

Giá trị sử dụng là công dụng của vật phẩm có thể thỏa mãn nhu cầu nào đócủa con người thể hiện ở việc sử dụng và tiêu dùng Giá trị sử dụng haycông dụng của hàng hóa trước hết là do thuộc tính tự nhiên của vật thểhàng hóa quyết định Như vậy, giá trị sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn.Một sản phẩm đã là hàng hóa thì nhất thiết phải có giá trị sử dụng Nhưngkhông phải bất cứ vật gì có giá trị sử dụng cũng là hàng hóa (vì hàng hóaphải là sản phẩm lao động của con người) Trong kinh tế hàng hóa, giá trị

sử dụng là vật mang giá trị trao đổi

Theo Các Mác muốn hiểu được giá trị hàng hóa phải đi từ giá trị traođổi Có thể nói trao đổi hàng hóa phải căn cứ vào giá trị, có nghĩa là: haihàng hóa trao đổi với nhau phải ngang nhau về mặt giá trị

Vậy giá trị của hàng hóa là thời gian lao động cần thiết để sản xuất rahàng hóa đó Hay nói cách khác giá trị là lao động xã hội của người sảnxuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa Khi giá trị thay đổi thì giá trị traođổi cũng thay đổi, giá trị trao đổi chính là hình thức biểu hiện của giá trị.Nếu giá trị sử dụng là thuộc tính tự nhiên, thì giá trị là thuộc tính xã hội củahàng hóa

Hàng hóa là sự thống nhất của hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị,nhưng đây là sự thống nhất của hai mặt đối lập Sự mâu thuẫn này thể hiện

ở chỗ:

- Với tư cách là giá trị sử dụng thì hàng hóa khác nhau về chất, còn với

tư cách là giá trị thì với mọi hàng hóa đều đồng nhất về chất

- Quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng khác nhau về không gian

và thời gian

Trang 9

* Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa: Các Mác là người đầutiên đã phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa Đó làlao động cụ thể và lao động trừu tượng.

Lao động cụ thể là lao động sản xuất vật chất của con người, nó tồn tạidưới hình thức nghề nghiệp chuyên môn nhất định, lao động cụ thể tạo ragiá trị sử dụng của vật phẩm, các lao động cụ thể khác nhau về chất, mỗilao động cụ thể có mục đích riêng, phương pháp riêng, đối tượng và kếtquả riêng

Lao động cụ thể là một phạm trù vĩnh viễn, nó gắn liền với lao động sảnxuất vật chất của con người

Lao động trừu tượng là lao động hao phí của người sản xuất hàng hóanói chung về sức thần kinh, cơ bắp, thể lực và trí lực, nếu như gạt bỏ tínhmuôn màu muôn vẻ của các hình thức cụ thể của lao động Lao động trừutượng tạo ra giá trị của hàng hóa nên nó là một phạm trù lịch sử

Tuy nhiên cần chú ý là không phải có 2 thứ lao động kết tinh trong hànghóa mà chỉ là lao động của người sản xuất hàng hóa có tính 2 mặt mà thôi Trong nền sản xuất hàng hóa giản đơn thì tính hai mặt của lao động sảnxuất hàng hóa là sự biếu hiện của mâu thuẫn lao động tư nhân và lao động

xã hội của những người sản xuất hàng hóa Đó chính là mâu thuẫn cơ bảncủa sản xuất hàng hóa giản đơn

2.1.2 Tiền tệ.

* Nguồn gốc, lịch sử ra đời của tiền tệ

Giá trị của hàng hóa rất trừu tượng, nó chỉ được bộc lộ qua giá trị traođổi, giá trị hàng hóa được biểu hiện bằng tiền thì được gọi là giá cả củanó.Tiền tệ xuất hiện là kết quả của quá trình lâu dài của sản xuất và trao đổihàng hóa, của các hình thức giá trị hàng hóa.Đó là: Hình thái giá trị đơngiản hay ngẫu nhiên -> Hình thái giá trị toàn bộ hay mở rộng -> Hình tháigiá trị chung -> Tiền tệ ra đời

Trang 10

* Bản chất của tiền tệ chính là vật ngang giá chung, là một hàng hóa đặcbiệt thể hiện mối quan hệ giữa những người sản xuất hàng hóa.

* Chức năng của tiền tệ: - Là thước đo giá trị

- Phương tiện lưu thông

xã hội thì tổng thời gian hao phí cá biệt bằng tổng thời gian lao động xã hộicần thiết Trong lưu thông, đối với một loại hàng hóa giá cả có thể lênxuống nhưng phải xoay quanh trục giá trị (nguyên nhân là do tác động củaquan hệ cung – cầu) Đối với tổng hàng hóa trên phạm vi xã hội thì giá trịcủa nó được biểu hiện là: tổng giá cả hàng hóa bằng tổng giá trị hàng hóa

Từ nội dung của quy luật giá trị, ta có thể thấy rõ được tác dụng của nótrong nền kinh tế hàng hóa Thứ nhất, quy luật giá trị có tác dụng điều tiết

tự phát sản xuất (phân phối tư liệu sản xuất và sức lao động) và lưu thông(nguồn hàng) qua sự biến động của giá cả thi trường Thứ hai, quy luật giátrị kích thích sự phát triển tự phát koa học công nghệ, lực lượng sản xuất,hiệu quả và năng suất lao động xã hội, làm cho giá trị cá biệt thấp hơn giátri xã hội Ngoài ra quy luật giá trị còn phân hóa người sản xuất thành kẻ

Trang 11

giàu người nghèo, làm cho quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa phát sinh vàphát triển.

Cạnh tranh là động lực, là nguyên tắc cơ bản và tất yếu của kinh tế hànghóa Nó tồn tại trên cơ sở những đơn vị sản xuất hàng hóa độc lâp và khácnhau về lợi ích kinh tế Theo yêu cầu của quy luật giá trị, tất cả các đơn vịsản xuất hàng hóa đều phải sản xuất và kinh doanh trên cơ sở hao phí laođọng xã hội cần thiết Trong điều kiện đó, các đơn vị kinh doanh phải ganhđua, đấu tranh nhằm giành được những điều kiện thuận lợi và thu nhiều lợiích cho mình Đối tượng cạnh tranh của các chủ thể kinh tế

là giành nguồn nguyên liệu, thị trường, lực lượng khoa học kỹ thuật, chấtlượng, giá cả bằng các thủ đoạn kinh tế và phi kinh tế

Cạnh tranh trong lĩnh vực sản xuất bao gồm: cạnh tranh nội bộ ngành vàcạnh tranh giữa các ngành với nhau Cạnh tranh trong lĩnh vực lưu thôngbao gồm: cạnh tranh giữa những người tham gia trao đổi hàng hóa và dich

vụ trên thị trường Hình thức và những biện pháp cạnh tranh có thể rấtphong phú nhưng động lực và mục đích cuối cùng của cạnh tranh là lợinhuận

*Lợi nhuận là động lực mạnh nhất của nền kinh tế hàng hóa.

Trong nền kinh tế hàng hóa lợi nhuận luôn được các nhà đầu tư kinh tế,các tổ chức kinh tế coi là động lực mục tiêu của mình Làm thế nào để chiphí ít nhất mà lợi nhuận thu về nhiều nhất Điều này đòi hỏi tính chuyênmôn cao, sự sắp xếp lại cách tổ chức quản lý Tổ chức lại các bộ phận quản

lý và thiết lập mối quan hệ giữa chúng để quá trình hoạt động nhịp nhàngthông suốt tránh sự trì trệ không cần thiết trong một số khâu nào đó làmảnh hưởng tới cả hệ thống quản lý Hạn chế bớt một số bộ phận cồng kềnhcòn giúp các nhà kinh tế giản bớt được chi phí, đồng nghĩa với việc tănglợi nhuận Ngoài ra còn cải tiến kỹ thuật, nâng cao tay nghề cho đội ngũcán bộ nhân viên Tóm lại lợi nhuận là động lực cơ bản của sự vận độngcủa nền kinh tế hàng hóa

Trang 12

II/ Liên hệ thực tế ở Việt Nam.

Theo quan điểm của Các Mác kinh tế hàng hóa không phải là mộtphương thức sản xuất độc lập mà là một hình thức tổ chức kinh tế tồn tạitrong các phương thức xã hội Với phạm vi và mức độ khác nhau, tuy cùng

là nền kinh tế hàng hóa nhưng bản chất của xã hội quy định đặc điểm củakinh tế hàng hóa xã hội đó Nhà nước ta là nhà nước xã hội chủ nghĩa nênvai trò quản lý của nhà nước định hướng nền kinh tế hàng hóa theo chủnghĩa xã hội ở Việt Nam

1.Thực trạng kinh tế Việt Nam để chúng ta phải chuyển sang phát triển kinh tế hàng hóa là tất yếu khách quan

Sau kháng chiến thắng lợi, dựa vào kinh nghiệm sản xuất của các nướcXHCN, đất nước ta bắt đầu xây dựng mô hình kế hoạch hóa tập trung dựatrên hình thức sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất Với sự nỗ lực củanhân dân ta cộng thêm sự giúp đỡ tận tình của các nước XHCN khác, môhình kế hoạch hóa đã phát huy được những tính ưu việt của nó Từ mộtnền kinh tế hàng hóa lạc hậu và phân tán bằng công cụ kế hoạch Nhà nước

đã tập trung vào tay mình một lực lượng quan trong về đất đai, tài sản vàtiền bạc để ổn định và phát triển kinh tế

Ngay từ tháng 8 năm 1979, Nhà nước ta đã chủ trương phát triển sảnxuất hàng hóa Chỉ thị 1000 của ban Bí thư trung ương và quyết định số 25/

CP của Chính phủ năm 1981 đã để cho các hợp tác xã tự chủ trong sản xuấtkinh doanh

Đại hội Đảng VI, tháng 12 năm 1986 đã khẳng định quá trình từ sản xuấtnhỏ lên sản xuất lởn nước ta là quá trình chuyển từ nền inh tế tự cung tựcấp sang nền kinh tế hàng hóa Điều quan trọng là ở đây chúng ta khôngchỉ thừa nhận từng khâu, từng phần sản phẩm là sản xuất hàng hóa mà là cảmột nền kinh tế hàng hóa, coi đó là một quá trình có tính quy luật đi lênsản xuất XHCN ở nước ta Tại hội nghị TW 6 (khóa VI, 3/1989) và Đại hộiVII (6/1991) trên cơ sở nhận thức sâu hơn về tình hình đất nước, Đảng ta

mới có điều kiện nói rõ và nhấn mạnh “ Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành

Ngày đăng: 19/05/2016, 18:44

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w